Tải bản đầy đủ

Thảo Luận Sở Hữu Trí Tuệ Lần 2: QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ HAI:
QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN TÁC GIẢ
------------------------------A. NỘI DUNG THẢO LUẬN TẠI LỚP VỚI GIẢNG VIÊN:
1) Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” (“fair use”) là gì? Tìm hiểu quy định của pháp luật
nước ngoài về vấn đề này và so sánh với các quy định hiện hành của pháp luật sở hữu
trí tuệ Việt Nam.
* Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” (“fair use”):
Nguyên tắc “sử dụng hợp lý” là tình huống sử dụng các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
không xâm phạm quyền tác giả hoặc đôi khi còn được gọi là sử dụng hợp lý (fair use) mang
bản chất là giới hạn phạm vi độc quyền đối với chủ sở hữu quyền tác giả. Tuy nhiên, việc sử
dụng này phải đảm bảo rằng người thực hiện hành vi sử dụng đó không được làm ảnh hưởng
đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả,
chủ sở hữu quyền tác giả và phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác
phẩm.
* Quy định của pháp luật nước ngoài:
- Pháp luật Hoa Kỳ1:
Quy định tại Điều 107, Luật Quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về Hạn chế đối với
các quyền độc quyền - sử dụng hợp lý:
“Không trái với các quy định tại Điều 106 và 106A, sử dụng được phép một tác phẩm
được bảo hộ quyền tác giả bao gồm các hình thức sử dụng thông qua hình thức sao chép
dưới dạng bản sao hoặc bản ghi hoặc bởi bất kỳ một phương thức nào được quy định trong

Điều này cho mục đích bình luận, phê bình, đưa tin hoặc giảng dạy (bao hàm cả việc sử
dụng nhiều bản sao cho lớp học), nghiên cứu, học tập là không vi phạm quyền tác giả. Để
xác định xem liệu việc sử dụng tác phẩm trong các trường hợp cụ thể có phải là sử dụng
được phép hay không cần xem xét các nhân tố sau:
(1) Mục đích và đặc điểm của việc sử dụng, bao gồm việc sử dụng đó có tính chất
thương mại không hay là chỉ nhằm mục đích giáo dục phi lợi nhuận;
(2) Bản chất của tác phẩm được bảo hộ;
1

truy cập ngày 26/08/2018

1


(3) Số lượng và thực chất của phần được sử dụng trong tác phẩm được bảo hộ như là
một tổng thể; và
(4) Vấn đề ảnh hưởng của việc sử dụng đó đối với tiềm năng thị trường hoặc đối với giá
trị của tác phẩm được bảo hộ;
Ghi nhận là một tác phẩm chưa công bố về bản chất không ngăn cản việc tìm kiếm để sử
dụng hợp lý nếu việc tìm kiếm này được thực hiện dựa trên việc xem xét tất cả các nhân tố
kể trên”.
- Pháp luật Thuỵ Điển2: Được quy định tại Chương 2: Giới hạn quyền tác giả, Luật Quyền
tác giả tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1960 (sửa đổi, bổ sung năm 2000), cụ thể là các
trường hợp: Sao chép nhằm mục đích sử dụng cá nhân (Điều 12), Sao chép trong hoạt động
giáo dục (Điều 13 và Điều 14), Sao chép phục vụ các hoạt động trong bệnh viện (Điều 15),
Sao chép trong cơ quan lưu trữ và thư viện (Điều 16), Sao chép dành cho những người
khiếm thị (Điều 17), Tác phẩm hỗn hợp sử dụng trong hoạt động giảng dạy (Điều 18), Phân
phối bản sao (Điều 19), Trưng bày bản sao (Điều 20), Biểu diễn công cộng (Điều 21),…
- Pháp luật Việt Nam: Được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 25, Luật Sở hữu trí tuệ về Các
trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận
bút, thù lao, cụ thể là các trường hợp từ Điểm a đến Điểm k.
Nhìn chung, vấn đề về “sử dụng hợp lý” đều được pháp luật các nước ghi nhận trong văn
bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ của quốc gia mình. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia khác
nhau thì cũng có những cách quy định khác nhau nhất định.
Pháp luật của Hoa Kỳ không sử dụng cách liệt kê các trường hợp được xem là giới hạn
quyền tác giả như quy định của Thuỵ Điển và Việt Nam mà quy định một cách khái quát,
nêu ra các điều kiện để xét xem một trường hợp có “sử dụng hợp lý” hay không. Cách quy
định này mang tính phổ quát, trong mọi trường hợp chỉ cần xét các điều kiện để tránh bỏ sót
các trường hợp trên thực tế mà luật chưa đề cập.
Còn đối với việc liệt kê các trường hợp như Thuỵ Điển và Việt Nam, các trường hợp “sử


dụng hợp lý” của Việt Nam quy định khá giống với các trường hợp “sử dụng hợp lý” của
Thuỵ Điển. Tuy nhiên, trong khi quy định của Thuỵ Điển dành một chương để đề cập về vấn
đề này, mỗi điều luật quy định mỗi trường hợp một cách cụ thể, rõ ràng thì quy định của Việt
2

truy cập ngày 26/08/2018

2


Nam chỉ dành một điều luật để đề cập về vấn đề này. Mặt khác, quy định của Việt Nam về
các trường hợp “sử dụng hợp lý” chỉ đơn thuần là liệt kê.
Tóm lại, pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam khi đề cập vấn đề “sử dụng hợp
lý” còn khá sơ sài, chưa có quy định rõ ràng so với pháp luật của một số nước về vấn đề này.
2) “Đạo văn” là gì? “Đạo văn” có phải là hành vi xâm phạm quyền tác giả không?
Hiện nay định nghĩa về đạo văn vẫn chưa được pháp luật quy định rõ ràng.
Có thể tạm hiểu, đạo văn được hiểu đơn giản là sử dụng ý tưởng hay câu văn của người
khác một cách không thích hợp (tức không ghi rõ nguồn gốc) như là ý tưởng và từ ngữ của
chính mình. Đạo văn được thể hiện dưới các hình thức sao chép nguyên văn đoạn văn, tái
cấu trúc câu văn, sử dụng những nguồn tài liệu trích dẫn lại từ một nguồn tài liệu thứ cấp,
sao chép cấu trúc của nguồn tài liệu trích dẫn, sao chép ý tưởng.
Mặt khác, trong các quy định được ban hành bởi các trường đại học thì có quy định cụ thể
về hành vi này. Chẳng hạn như theo Quy định về trích dẫn và chống đạo văn của trường Đại
học Luật TP.HCM thì: “Đạo văn là sử dụng tác phẩm của người khác vào tác phẩm của
mình mà không tuân thủ các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, quy định của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, và quy định này”3. Đạo văn theo Quy định này được thể hiện qua các hình thức
như: “Sử dụng các đoạn văn, thông tin, hình ảnh từ tác phẩm của người khác đưa vào tác
phẩm của mình mà không chỉ dẫn nguồn gốc tác phẩm được trích dẫn, hoặc có chỉ dẫn
nguồn gốc tác phẩm được trích dẫn nhưng không tuân thủ quy định trong Quy định này.
Diễn giải đoạn văn, nội dung trong tác phẩm của người khác bằng ngôn ngữ của mình mà
không trích dẫn nguồn gốc tác phẩm được sử dụng, tóm tắt nội dung các tác phẩm của
người khác nhưng không trích dẫn nguồn gốc tác phẩm được sử dụng, Trích dẫn một hoặc
nhiều tác phẩm của người khác đê hình thành tác phẩm của mình (có dung lượng chiếm từ
50% nội dung tác phẩm đó trở lên), dù có thực hiện đúng quy định về trích dẫn nguồn. Quy
định này không áp dụng đối với các tác phẩm mang mục đích bình luận theo quy định tại
Điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ. Chiếm đoạt tác phẩm của người khác và trình bày như tác
phẩm của mình”4.

3
4

Khoản 3, Điều 3, chương I, Quy định về trích dẫn và chống đạo văn của trường Đại học Luật TP.HCM
Điều 5, Chương 2, Quy định về trích dẫn và chống đạo văn của trường Đại học Luật TP.HCM

3


Xét về mặt thuật ngữ, đối với hành vi “đạo văn”, theo quy định tại Điều 28, Luật Sở hữu trí
tuệ về Hành vi xâm phạm quyền tác giả thì không có hành vi nào là hành vi “đạo văn” được
liệt kê trong quy định trên để được xem là hành vi xâm phạm đến quyền tác giả.
Xét về mặt bản chất, “đạo văn” là một hình thức sao chép và trích dẫn không hợp lý tác
phẩm của người khác. Với cách hiều như trên thì ta có thể thấy hành vi trích đẫn không
thoản mãn điều kiện để được coi là trích dẫn hợp lý một tác phẩm mà không làm sai ý tác
giả để bình luận hoặc minh họa trong tại phẩm của mình được quy định tại điểm b, Điều 25
Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 23 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP. Do vậy, theo quy định tại
khoản 8, Điều 28, đây có thể được xem là hành vi sử dụng tác phẩm mà không được phép
của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo
quy định của pháp luật – là hành vi xâm phạm quyền tác giả. Do vậy, xét ở góc độ này, hành
vi “đạo văn” có thể được xem là hành vi xâm phạm quyền tác giả.
3) Nghiên cứu tình huống và trả lời các câu hỏi:
a) Căn cứ xác lập quyền tác giả? Trong vụ việc trên, chủ thể nào có quyền tác giả đối
với bức ảnh chụp người phi công Mỹ?
Căn cứ xác lập quyền tác giả:
Tại Khoản 1, Điều 6, Luật Sở hữu trí tuệ về Căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ:
“1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một
hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện,
ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký”.
Từ quy định trên, ta thấy có hai căn cứ để phát sinh quyền tác giả:
- Phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo.
- Được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định.
Trong vụ việc trên, ông Bảo là phóng viên làm việc tại Thông tấn xã Việt Nam đã chụp
tấm ảnh người phi công Mỹ bị bắt tại Hà Bắc vào năm 1966 và đặt tên bức ảnh là “Từ thần
sấm lộn cổ xuống xe trâu”. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 6, Luật Sở hữu trí tuệ, quyền
tác giả của ông Bảo phát sinh kể từ khi bức ảnh được chụp nên ông Bảo là người có quyền
tác giả đối với bức ảnh chụp người phi công Mỹ.

4


b) Hành vi của ông Cần có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với bức ảnh trên không,
vì sao?
Hành vi của ông Cần có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với bức ảnh trên.
Căn cứ vào Điều 5, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP về Xác định hành vi xâm phạm, xét các
điều kiện:
- Thứ nhất, đối tượng bị xem xét (bức ảnh) thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ
quyền tác giả.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 6, Luật Sở hữu trí tuệ, quyền tác giả của ông Bảo phát
sinh kể từ khi bức ảnh được chụp nên ông Bảo là người có quyền tác giả đối với bức ảnh
chụp người phi công Mỹ. Mặt khác, bức ảnh này là tác phẩm nhiếp ảnh theo quy định tại
Điểm h, Khoản 1, Điều 14, Luật Sở hữu trí tuệ về Các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền
tác giả. Do vậy, đối tượng bị xem xét trong tình huống này là đối tượng được bảo hộ quyền
tác giả.
- Thứ hai, có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét.
NXB Văn hóa dân tộc xuất bản sách “Việt Nam cuộc chiến 1858-1975”, trong đó có đăng
bức ảnh trên mà không được sự đồng ý của ông Bảo cũng như Thông tấn xã Việt Nam. Đồng
thời, trong cuốn sách cũng không ghi tên ông Bảo là tác giả và khi đăng đã cắt xén một phần
bức ảnh này. Do vậy, đây là trường hợp phần tác phẩm bị trích đoạn, sao chép, lắp ghép trái
phép nên theo quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 7, Nghị định 105/2006/NĐ-CP về Yếu tố
xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan thì trường hợp này có yếu tố xâm phạm.
- Thứ ba, người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền tác giả và không
phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định tại các
Điều 25, 26 Luật Sở hữu trí tuệ.
Trong trường hợp này, tác giả của bức ảnh là ông Bảo và chủ sở hữu quyền tác giả của bức
ảnh trên là Thông tấn xã Việt Nam. Do vậy, NXB Văn hóa dân tộc hay ông Cần đều không là
là chủ thể quyền tác giả, cũng không là người được pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền
cho phép theo quy định tại các Điều 25, 26 Luật Sở hữu trí tuệ.
- Thứ tư, hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam: Hành vi sao chép bức ảnh của ông Cần
không được sự cho phép của ông Bảo và hành vi sao chép tác phẩm xảy ra trên lãnh thổ Việt
Nam.
5


Từ các phân tích trên, có thể thấy rằng, hành vi của ông Cần đã xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ đối với bức ảnh trên.
c) Các yêu cầu của ông Bảo có được chấp nhận không? Nêu cơ sở pháp lý.
Các yêu cầu của ông Bảo có cơ sở chấp nhận.
- Yêu cầu 1: Đăng cải chính, xin lỗi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Yêu cầu này
là có cơ sở để được chấp nhận theo quy định tại Khoản 2, Điều 202, Luật Sở hữu trí tuệ.
- Yêu cầu 2: Bồi thường tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng do bức ảnh bị cắt xén gây ảnh
hưởng đến danh dự, uy tín của ông.
Căn cứ vào Khoản 2, Điều 205, Luật Sở hữu trí tuệ về Căn cứ xác định mức bồi thường
thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:
“2. Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Tòa án quyết định mức bồi
thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tùy thuộc vào mức độ
thiệt hại”.
Theo quy định trên, nếu ông Bảo chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì Toà án có thể chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt
hại tinh thần 10.000.000 đồng (nằm trong mức giới hạn từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng)
của ông Bảo.
- Yêu cầu 3: Thanh toán tiền nhuận bút 1.000.000 đồng.
Căn cứ vào Khoản 3, Điều 20, Luật Sở hữu trí tuệ về Quyền tài sản:
“3. Tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử dụng một, một số hoặc toàn bộ các quyền quy định
tại khoản 1 Điều này và khoản 3 Điều 19 của Luật này phải xin phép và trả tiền nhuận bút,
thù lao, các quyền lợi vật chất khác cho chủ sở hữu quyền tác giả”.
Ông Cần – tác giả của cuốn sách “Việt Nam cuộc chiến 1858-1975” đã đăng bức ảnh trong
tác phẩm mà không được sự đồng ý của ông Bảo. Do vậy, ông Cần đã sử dụng quyền sao
chép tác phẩm trong quyền tài sản (theo Điểm c, Khoản 1, Điều 20, Luật Sở hữu trí tuệ).
Theo quy định trên, khi ông Cần sử dụng quyền này thì phải xin phép và trả tiền nhuận bút
cho ông Bảo. Như vậy, yêu cầu thanh toán tiền nhuận bút 1.000.000 đồng của ông Bảo có cơ
sở chấp nhận.

6


d) Theo quy định của Luật SHTT hiện hành, có những biện pháp nào để xử lý hành vi
xâm phạm quyền tác giả? Trong tranh chấp trên, biện pháp nào đã được áp dụng?
Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, có ba biện pháp để xử lý các hành vi xâm
phạm quyền tác giả. Tuỳ theo tính chất và mức độ xâm phạm, hành vi xâm phạm có thể bị
xử lý bằng biện pháp sau:
- Biện pháp dân sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm theo yêu cầu của tác giả hoặc
chủ sở hữu quyền tác giả bị thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra. Các biện pháp này được
quy định tại Điều 202, Luật Sở hữu trí tuệ như: buộc chấm dứt hành vi xâm phạm; buộc xin
lỗi, cải chính công khai; buộc bồi thường thiệt hại,…
- Biện pháp hành chính theo Điểm a, Khoản 1, Điều 211, Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm các
biện pháp quy định tại Điều 214 là cảnh cáo và phạt tiền.
- Biện pháp hình sự được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm trong trường hợp hành vi đó
có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự (theo Điều 212, Luật Sở
hữu trí tuệ).
Trong tranh chấp trên, biện pháp dân sự đã được áp dụng, cụ thể là buộc xin lỗi, cải chính
công khai (Khoản 2, Điều 202) và buộc bồi thường thiệt hại (Khoản 4, Điều 202).
4) Nghiên cứu Bản án số 213/2014/DS-ST (Tòa án nhân dân quận Tân Bình) ngày
14/8/2014. Và trả lời các câu hỏi sau:
a) Ai là tác giả tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian”? Tác phẩm này có
được bảo hộ quyền tác giả không? Vì sao?
Ông Nguyễn Văn Lộc là tác giả tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian”.
Tác phẩm này được bảo hộ quyền tác giả. Bởi tác phẩm này đã được Cục bản quyền cấp
giấy chứng nhận đăng ký bản quyền số 169/2013/QTG ngày 07/01/2013 và ông Lộc có kèm
theo bản photo hình ảnh đăng ký bản quyền chứng minh điều này.
b) Từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian” có
được bảo hộ quyền tác giả không? Vì sao?
Từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân gian” không được
bảo hộ quyền tác giả.

7


Về nguồn gốc, các cụm hình ảnh được thể hiện trong tác phẩm của ông Nguyễn Văn Lộc là
những hình ảnh đã được lưu truyền trong văn hóa dân gian từ lâu đời (hình ảnh múa lân, ông
địa, liễn chúc tết, ông đồ viết chữ...) các tác giả chỉ thay đổi một số đường nét và sắp xếp
theo một bố cục và hình thức thể hiện để tạo nên tác phẩm riêng của mình. Do đó, quyền tác
giả của các hình ảnh riêng rẽ đã được lưu truyền lâu đời trong văn hóa dân gian không thể
xác định là của ai. Quyền tác giả đối với tác phẩm ở đây được xác định chính là bố cục sắp
xếp, hình thức thể hiện trong một tổng thể thống nhât không thể tách rời ra theo từng bộ
phận để xác định quyền tác giả.
Mặt khác, ông Lộc đã gộp chung cả 05 cụm hình vào trong một tác phẩm để đăng ký
quyền tác giả. Bởi lẽ, theo trình tự đăng ký quyền tác giả nếu muốn bảo hộ cho từng cụm
hình ảnh thì ông phải lập từng hồ sơ tương ứng với từng cụm hình ảnh (ở đây là 05 cụm hình
ảnh tương ứng với 05 hồ sơ) để đăng ký quyền tác giả. Điều này sẽ mất nhiêu thời gian nên
ông đã gộp chung cả 05 cụm hình vào trong một tác phẩm để đăng ký quyền tác giả.
Từ đó, có thể nhận thấy, quyền tác giả của ông Lộc đối với từng cụm hình riêng rẽ chưa
được xác lập. Theo đó từng “cụm hình ảnh” trong tác phẩm “Hình thức thể hiện tranh tết dân
gian” sẽ không đươc bảo hộ quyền tác giả.
c) Hành vi của bị đơn có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn không? Nêu
cơ sở pháp lý.
Hành vi của bị đơn có xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của nguyên đơn. Bởi lẽ:
Thứ nhất, khi xét các chứng cứ cung cấp, tác phẩm của ông Lộc và hình ảnh trang trí tại
showroom của Công ty Mặt Trời Mọc có bố cục và hình thức thể hiện là khác nhau, những
hình ảnh này do ông chụp bằng điện thoại và không có gì chứng minh là các bức tranh được
trang trí tại cửa hàng trưng bày 18 Cộng Hòa, phường 4, Tân Bình đúng với nguyên bản là
các bức tranh của ông.
Thứ hai, quyền tác giả đối với tác phẩm ở đây được xác định chính là bố cục sắp xếp, hình
thức thể hiện trong một tổng thể thống nhất không thể tách rời ra theo từng bộ phận để xác
định quyền tác giả. Công ty Đăng Viễn không sử dụng tác phẩm của ông Lộc để trang trí tại
showroom của công ty Mặt Trời Mọc, mà công ty Đăng Viễn sưu tầm, mua lại các hình ảnh
riêng rẽ tại các websites (vectordep.vn, nguyenthehien.com) từ đó thiết kế, sắp xếp, bố cục
hình thành hình thức thể hiện không khí Tết dân gian cho tác phẩm trang trí của mình. Mặt
8


khác, quyền tác giả của ông Nguyễn Văn Lộc đối với từng cụm hình riêng rẽ chưa được xác
lập. Do vậy, việc các sử dụng biểu tượng văn hóa dân gian được lưu truyền lâu đời của bị
đơn mặc dù có nét tương đồng với nguyên đơn nhưng cách sắp xếp, bố trí khác nhau thì sẽ
tạo ra một chỉnh thể khác nhau, mang thông điệp và nội dung cụ thể khác nhau.
Thứ ba, bị đơn có kí Hợp đồng số 241212/DV-MTM ngày 24/12/2012 thuê Công ty TNHH
dịch vụ quảng cáo Đăng Viễn thi công, lắp đặt, trang trí tại cửa hàng trưng bày 18 Cộng
Hòa, phường 4, Tân Bình; Công ty TNHH dịch vụ quảng cáo Đăng Viễn đã hoàn thành và
hai bên đã nhiệm thu, thanh lý ngày 05/12/2012 ; trước ngày ông Lộc được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký bản quyền số 169/2013/QTG ngày 07/01/2013, có kèm theo hình ảnh đăng ký
bản quyền.
Từ những phân tích trên cho thấy, hành vi của bị đơn không thuộc bất kỳ trường hợp nào
được quy định tại Điều 28, Luật Sở hữu trí tuệ về Hành vi xâm phạm quyền tác giả. Do vậy,
bị đơn không xâm phạm quyền tác giả của nguyên đơn.
d) Việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có những điểm khác biệt nào so
với các loại hình tác phẩm khác?
Tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian là loại tác phẩm có các đặc điểm đặc biệt so với
các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học khác, dó đó, việc bảo hộ tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian cũng sẽ có những điểm khác biệt so với loại hình tác phẩm khác.
Thứ nhất, Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là sáng tạo tập thể trên nền tảng truyền
thống của của một nhóm hoặc cá nhân nhằm phản ánh khát vọng của cộng đồng thể hiện
tương xứng đặc điểm văn hóa và xã hội của họ, do đó rất khó xác định được ai là tác giả của
loại tác phẩm này, nên khác với việc bảo vệ sự toàn vẹn như quy định đối với các tác phẩm
thông thường tại khoản 4, Điều 19 thì tại khoản 2, Điều 23, Luật Sở hữu trí tuệ có quy định
tổ chức, các nhân khi sử dụng tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ
của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị đích thực của tác phẩm, văn học, nghệ
thuật, dân gian.
Thứ hai, cũng vì đặc tính không xác định được tác giả nên các quyền nhân thân như đặt tên
cho tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh cho tác phẩm không được để cập đến trong các
quy định bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Mặt khác, tác phẩm văn học, nghệ
thuật dân gian chủ yếu tồn tại dưới hình thức truyền miệng nên có nhiều dị bản, do vậy việc
9


bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian phải đảm bảo tính nguyên gốc là khó thực
hiện được.
Thứ ba, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian có nhiều dị bản và chúng có một số chi tiết
khác nhau nên tất cả các dị bản đó sẽ được tự động bảo hộ mà không cần đảm bảo tính
nguyên gốc của tác phẩm.
B. Phần Câu hỏi sinh viên tự làm và KHÔNG thảo luận trên lớp với Giảng viên:
Đọc, nghiên cứu Bản án số 5 “Tác phẩm phái sinh” Chương 2 (gồm cả phần tình huống
và bình luận) trong Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và trả lời các câu
hỏi sau đây:
1) Theo quy định của pháp luật SHTT, tác phẩm phái sinh là gì? Đặc điểm của tác
phẩm phái sinh?
Theo quy định của pháp luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, cụ thể là tại Khoản 8, Điều 4 về Giải
thích từ ngữ thì “tác phẩm phái sinh là tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác,
tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn”.
Đặc điểm của tác phẩm phái sinh5:
- Tác phẩm phái sinh được sáng tạo trên nền tác phẩm gốc (có thể là tác phẩm được bảo hộ
quyền tác giả với quyền thuộc về chủ sở hữu hoặc tác phẩm thuộc về công chúng).
- Sự thể hiện tác phẩm dưới hình thức khác.
2) Với hướng lập luận của Tòa án, hành vi của Hãng phim truyện I và đạo diễn Lộc có
xâm phạm quyền tác giả của ông Ánh không? Đoạn nào trong bản án thể hiện điều
này?
Với hướng lập luận của Toà án, hành vi của Hãng phim truyện I và đạo diễn Lộc không
xâm phạm quyền tác giả của ông Anh.
Đoạn trong bản án thể hiện điều này:
“Như vậy, khi làm phim, Hãng phim truyện I (mà người được giao nhiệm vụ làm đạo diễn
là ông Phạm Lộc) có sửa chữa, bổ sung kịch bản văn học nhưng không đến mức làm thay
đổi hoàn toàn chủ đề, nội dung kịch bản như đánh giá của ông Ánh. Do đó, Hãng phim
truyện I và ông Phạm Lộc không vượt quá quyền đã được xác định tại Điều 4 của Hợp đồng
5

Trường Đại học Luật TP.HCM, Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, NXB Hồng Đức, 2017, tr.98.

10


số 174/PT1-HĐ ngày 11/8/1997 và các quy định của pháp luật về quyền tác giả. Án sơ thẩm
đã bác yêu cầu của Ánh là có cơ sở, đúng pháp luật”.
3) Pháp luật nước ngoài có quy định nào về việc bảo hộ tác phẩm phái sinh?
- Pháp luật Hoa Kỳ6:
Quy định tại Điều 101 (D3), Luật Quyền tác giả Hợp chủng quốc Hoa Kỳ về Định nghĩa:
“Tác phẩm phái sinh là tác phẩm được hình thành trên cơ sở một hoặc nhiều tác phẩm đã
có như là các tác phẩm dịch, các tác phẩm được phổ nhạc, được chuyển thể thành kịch,
được tiểu thuyết hóa, được điện ảnh hoá, âm nhạc hoá, mỹ nghệ hoá, tóm tắt, tóm lược,
hoặc bất kỳ hình thức nào khác mà trong đó tác phẩm có thể được cải biên, chuyển thể hoặc
bổ sung. Một tác phẩm bao hàm các bản thảo đã được biên tập lại, các lời bình chú, phân
tích hoặc các sửa chữa khác một về tổng thể là một tác phẩm nguyên thuỷ độc đáo hoàn
chỉnh của tác giả là tác phẩm phái sinh”.
- Pháp luật Anh7:
Luật Quyền tác giả, Kiểu dáng và Sáng chế Anh quốc 1988 (bản sửa đổi năm 2009) không
dùng thuật ngữ tác phẩm phái sinh, nhưng có quy định chi tiết về tác phẩm phóng tác, cải
biên chuyển thể (adaptation)8, cơ sở dữ liệu (databases) 9 và tuyển tập (collections), điều kiện
bảo hộ quyền tác giả đối với các loại tác phẩm này10.
- Pháp luật Pháp11:
Quy định tại Điều L.112-3, Bộ luật Sở hữu trí tuệ Pháp:
“Tác giả của tác phẩm dịch, tác phẩm phóng tác, chuyển thể hoặc cải biên sẽ được hưởng
sự bảo hộ theo Luật này, miễn là không phương hại đến quyền tác giả của các tác phẩm
gốc. Điều này cũng áp dụng tương tự đối với tác giả của tác phẩm hợp tuyển, tuyển tập hay
sưu tập dữ liệu mà sự lựa chọn hay sắp xếp nội dung của chúng tạo thành nững tác phẩm có
tính sáng tạo”.
Và quy định tại Điều L.113-2, Bộ luật Sở hữu trí tuệ Pháp quy định về tác phẩm tuyển
chọn, tác phẩm hợp tuyển và tác phẩm hợp tác.

6

truy cập ngày 23/08/2018
truy cập ngày 23/08/2018
8
Điều 21, 76, 177, Luật Quyền tác giả, Kiểu dáng và Sáng chế Anh quốc 1988 (bản sửa đổi năm 2009)
9
Điều 3A, Luật Quyền tác giả, Kiểu dáng và Sáng chế Anh quốc 1988 (bản sửa đổi năm 2009)
10
Trần Văn Hải, Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm phái sinh,Tạp chí Khoa học pháp lý, số 04 (71)/2012, tr.18-23.
11
truy cập ngày 23/08/2018
7

11


Pháp luật về Sở hữu trí tuệ của Pháp cũng không định nghĩa cụ thể thế nào là tác phẩm
phái sinh mà chỉ liệt kê các loại hình tác phẩm thuộc tác phẩm phái sinh.
- Pháp luật Nhật Bản12:
Quy định tại Điều 11, Luật Quyền tác giả Nhật Bản năm 1970 (sửa đổi 2013) về Tác phẩm
phái sinh:
“Việc bảo hộ tác phẩm phái sinh của Luật này không gây ảnh hưởng đến quyền tác giả
của tác phẩm gốc”.
Quy định tại Điều 12, Luật Quyền tác giả Nhật Bản năm 1970 (sửa đổi 2013) về Tác phẩm
sưu tập:
“1. Một tác phẩm sưu tập (Ngoại trừ kho dữ liệu database, áp dụng tương tự sau đây) nếu
có tính sáng tạo ở sự chọn lọc hoặc sắp xếp tài liệu sẽ được bảo hộ như một tác phẩm.
2. Quy định của khoản trên không gây ảnh hưởng đến quyền tác giả của tác phẩm có
trong từng phần cấu thành nên tác phẩm sưu tập”.
Và quy định tại Điều 12.2, Luật Quyền tác giả Nhật Bản năm 1970 (sửa đổi 2013) về Tác
phẩm kho dữ liệu database:
“1. Một kho dữ liệu database nếu có tính sáng tạo ở sự chọn lọc thông tin hoặc sắp xếp
một cách hệ thống sẽ được bảo hộ như một tác phẩm.
2. Quy định của khoản trên không gây ảnh hưởng đến quyền tác giả của tác phẩm có trong
từng phần cấu thành nên kho dữ liệu database”.
- Pháp luật Trung Quốc13:
Quy định tại Điều 12, Luật Bản quyền của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa 2010:
“Trong trường hợp tác phẩm được tạo ra bằng cách chuyển thể, dịch, chú thích hoặc sắp
xếp từ một tác phẩm có trước, bản quyền trong tác phẩm do người chuyển thể, dịch, chú
thích hoặc người sắp xếp tạo ra sẽ được bảo hộ quyền tác giả, nếu không làm phương hại
đến quyền tác giả của tác phẩm đã tồn tại”.
4) Quan điểm của tác giả bình luận về tranh chấp này như thế nào?
- Về khái niệm tác phẩm phái sinh:
Ông Ánh là tác giả kịch bản phim truyện “Hôn Nhân không giá thú” được cấp giấy chứng
nhận bản quyền, đây là tác phẩm đã được bảo hộ theo quy định của pháp luật về quyền tác
12
13

truy cập ngày 24/08/2018
truy cập ngày 24/08/2018

12


giả. Bộ phim “Hôn nhân không giá thú” là tác phẩm được bảo hộ theo Điều 4, Nghị định
76/CP ngày 11/11/1997 với tư cách là tác phẩm chuyển thể. Ở đây có sự thay đổi loại hình
thể hiện tác phẩm từ kịch bản sang một bộ phim hoàn chỉnh. Theo pháp luật hiện hành bộ
phim này cũng thỏa mãn điều kiện tác phẩm theo quy định tại Khoản 7, Điều 4 và Khoản 1,
Điều 6, Luật Sở hữu trí tuệ.
Để được xem là tác phẩm phái sinh phải thỏa mãn 2 điều kiện:
+ Được sáng tạo trên nền tác phẩm gốc: Bộ phim và kịch bản văn học đều có chung một
nội dung là “ca ngợi tình yêu tình đồng đội và sự hi sinh của người lính không quân”, kịch
bản văn học còn có những chủ đề khác nhưng bộ phim tập trung chủ yếu vào chủ đề chính
của kịch bản. Theo đó, bộ phim đã lược bỏ một số ý tưởng và nội dung của kịch bản nhưng
không làm sai lệch chủ đề chính và nội dung của kịch bản văn học. Bộ phim đã sáng tạo dựa
trên tác phẩm gốc và thoả mãn điều kiện này để trở thành tác phẩm phái sinh.
+ Là sự thể hiện tác phẩm góc dưới dạng hình thức khác.
Để được xem là “chuyển thể” của một tác phẩm đã tồn tại đòi hỏi phải có sự thay đổi
“loại hình nghệ thuật” của tác phẩm mới tạo ra so với tác phẩm gốc. Khái niệm thế nào là
“loại hình nghệ thuật” thực chất vẫn còn mơ hồ theo quy định của pháp luật, bởi không có
quy định cụ thể nào trong lĩnh vực quyền tác giả cho biết vấn đề này. Mặt khác, nhiều loại
hình tác phẩm phái sinh khác được ghi nhận nhưng không làm rõ nội hàm khái niệm dẫn đến
khó khăn trong việc đánh giá tác phẩm phái sinh.
Theo quan điểm của tác giả, “chuyển thể” là tác làm tác phẩm phái sinh phù hợp nhất
trong trường hợp này, bởi lẽ cách thức xây dựng tác phẩm mới dựa trên tác phẩm gốc là thức
chuyển đổi loại hình nghệ thuật của tác phẩm, đó là những bản chất nội dung cũng như chủ
đề mà tác phẩm gốc nêu lên. Từ kịch bản văn học, bộ phim đã được thực hiện dưới một hình
thức biểu đạt khác. Điểm khác biệt lớn nhất giữa hai tác phẩm là loại nghệ thuật dùng để thể
hiện tác phẩm, cách thức truyền đạt đến công chúng. Do đó, có thể thấy đây là hình thức
chuyển thể tác phẩm từ kịch bản văn học thành bộ phim, thoả mãn khái niệm tác phẩm
chuyển thể “là việc những từ loại hình nghệ thuật này loại hình nghệ thuật khác” - một loại
tác phẩm phái sinh được bảo hộ theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề “không làm sai lệch chủ đề chính và nội dung của văn bản văn học” và lấy đó
để làm căn cứ xác định có vi phạm hay không thì pháp luật hiện hành không có quy định rõ
13


và có lẽ các vụ việc diễn ra trên thực tế sẽ được giải quyết thông qua cơ sở thẩm định nội
dung của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo quan điểm của tác giả, cần có quy định về
phạm vi làm tác phẩm phái sinh, mức độ thay đổi, sửa chữa tác phẩm phái sinh so với tác
phẩm gốc theo hướng đảm bảo toàn vẹn chủ đề và nội dung chính của tác phẩm gốc.
Tóm lại, liên quan đến khái niệm tác phẩm phái sinh, hướng giải quyết của tòa án về việc
xác định một tác phẩm có phải là tác phẩm phái sinh hay không thì pháp luật tại thời điểm có
phán quyết cũng như pháp luật hiện hành chưa giải quyết được. Đối với vấn đề so sánh nội
dung giữa hai tác phẩm, để đánh giá có phải là tác phẩm phái sinh hay không, không nhất
thiết có sự tương thích hoàn toàn về nội dung của những đối tượng được mang ra so sánh.
Về mặt hình thức tòa án, xác định rằng chuyển thể từ kịch bản văn học sang loại hình phim
là một hình thức chính thể được ghi nhận trong các loại tác phẩm phát sinh theo quy định
pháp luật. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa có văn bản pháp luật nào điều chỉnh cụ thể và sự
đánh giá của tòa án ở đây là sự vận dụng linh hoạt các quy định về tác phẩm phái sinh.
- Về điều kiện bảo hộ tác phẩm phái sinh:
Khi xây dựng một tác phẩm phái sinh thì theo pháp luật hiện hành cần phải có sự đồng ý
của tác giả, chủ sở hữu. Trong trường hợp này, hãng phim truyện I làm phim từ kịch bản của
ông Ánh và các bên đã thỏa thuận với nhau về việc này thông qua hợp đồng. Điều này là phù
hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Một tác phẩm phái sinh được bảo hộ quyền tác giả thì tác phẩm phái sinh không phương
hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc. Điều này là một vấn đề phức tạp, vì ranh giới giữa
việc sáng tạo là tác phẩm phái sinh với việc xâm phạm quyền tác giả của tác phẩm gốc rất
khó xác định trong nhiều trường hợp. Khi ký hợp đồng với hãng phim ông Ánh biết là thực
chất phim đang quay, không rõ về những sửa chữa, bổ sung của đạo diễn nhưng ông tin rằng
việc sửa chữa, bổ sung chỉ để kịch bản phong phú hay hơn. Tuy nhiên, sau khi xem qua thì
ông nhận thấy nội dung phim hoàn toàn khác kịch bản.
Tòa án đã xác định, hãng phim truyện I có sửa chữa, bổ sung kịch bản văn học nhưng
không đến mức làm thay đổi hoàn toàn chủ đề nội dung của kịch bản, không vượt quá quyền
đã được xác định tại Điều 4 của hợp đồng và các quy định của pháp luật về quyền tác giả.
Từ đó kết luận rằng hành vi của hãng phim truyện I và ông Lộc không vi phạm quyền tác giả
đối với kịch bản “Hôn nhân không giá thú” cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến quyền
14


tác giả của ông Ánh. Phân tích quy định tại Điểm đ, Khoản 1, Điều 751, BLDS 1995, tác giả
có quyền có về sự toàn vẹn của tác phẩm cho phép và không cho phép người khác sửa đổi,
bổ sung tác phẩm. Ở đây, hãng phim truyện I đã sửa đổi một phần tác phẩm của mình nhưng
vẫn được đã chấp nhận là không xâm phạm quyền tác giả dựa trên thỏa thuận của các bên
trong hợp đồng. Về vấn đề này, hướng giải quyết của Toà án là phù hợp với quy định của
pháp luật.
5) Theo quan điểm của bạn (nhóm bạn), bộ phim do Hãng phim truyện I và ông Lộc
sản xuất có phải là tác phẩm phái sinh từ kịch bản của ông Ánh không? Giải thích vì
sao. Điều kiện bảo hộ tác phẩm phái sinh có điểm gì đặc biệt?
Bộ phim truyện do Hãng phim truyện I và ông Lộc sản xuất là tác phẩm phái sinh từ tác
phẩm của ông Ánh vì nó đáp ứng đủ hai điều kiện sau:
- Thứ nhất, có sự liên kết về mặt nội dung giữa bộ phim và tác phẩm gốc, cả hai tác phẩm
này đều xoay quanh nội dung chính là “ca ngợi tình yêu, tình đồng đội và sự hy sinh của
người lính không quân”, tuy bộ phim đã lượt bỏ một số tình huống so với tác phẩm của ông
Ánh, nhưng không làm sai lệch chủ đề chính cũng như nội dung mà tác phẩm của ông Ánh
hướng tới. Do đó,có thể khẳng định “bộ phim” trên được sáng tạo dựa trên tác phẩm gốc kịch bản phim của ông Ánh.
- Thứ hai, nếu tác phẩm gốc được thể hiện dưới loại hình nghệ thuật là “kịch bản phim” thì
tác phẩm của hãng phim I được thể hiện dưới loại hình nghê thuật là “phim”. Từ đó, có thể
thấy bộ phim “Hôn nhân không giá thú” là hình thức thể hiện khác của kịch bản phim “Hôn
nhân không giá thú”.
Điều kiện bảo hộ tác phẩm phái sinh, vì là tác phẩm được sáng tạo dựa trên “nền” của một
tác phẩm khác, cho nên quyền tác giả của tác phẩm “nền” được đặt lên hàng đầu khi xem xét
đến khía cạnh bảo hộ quyền tác giả. Do đó, theo khoản 2, Điều 14, Luật Sở hữu trí tuệ để tác
phẩm phái sinh được bảo hộ thì tác phẩm phái sinh không được gây phương hại đến quyền
tác giả được dùng để làm tác phẩm phái sinh.

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×