Tải bản đầy đủ

KIẾN THỨC TRỌNG TÂM NGỮ VĂN 12 ÔN THI THPT QUỐC GIA 2019

KIẾN THỨC TRỌNG TÂM NGỮ VĂN 12
B. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
I. TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG
1. Nhà thơ Quang Dũng Quang Dũng (1921 - 1988) là một nhà thơ đa tài. Hồn
thơ phóng khoáng, đậm chất trữ tình lãng mạn; giàu chất nhạc, chất họa...Năm
2001, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Tác phẩm
tiêu biểu: Rừng biển quê hương (1957); Rừng về xuôi (1968); Mây đầu ô (1986)
2. Bài thơ Tây Tiến
2.1. Hoàn cảnh ra đời: Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm
1947, hoạt động ở biên giới Việt - Lào. Nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo
vệ biên giới Việt - Lào. Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội.
Quang Dũng là đại đội trưởng ở đơn vị đó từ đầu năm 1947 đến cuối năm1948
rồi chuyển sang đơn vị khác. Nhớ đơn vị cũ, nhà thơ viết Nhớ Tây Tiến tại Phù
Lưu Chanh, sau đó đổi lại là Tây Tiến.
2.2. Nội dung: - Đoạn đầu bài thơ là nỗi “nhớ chơi vơi” của tác giả về thiên
nhiên núi rừng Tây Bắc xa xôi hoang vắng, hùng vĩ, dữ dội, khắc nghiệt, bí
hiểm với những con đường đèo dốc: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút cồn mây,
ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống; với những âm thanh của thác, của chúa
sơn lâm những buổi chiều hoang, những đêm sương lạnh. Người lính trên
đường hành quân có lúc mệt mỏi, kiệt sức: Anh bạn dãi dầu không bước
nữa/Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

Tuy nhiên núi rừng Tây Bắc cũng rất thơ mộng, trữ tình: cảnh Pha Luông
xa mờ trong mưa và hình ảnh: cơm lên khói, hương thơm nếp xôi...Đó là


những kỉ niệm ấm áp không thể nào quên.. Thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ,
hùng vĩ, hình ảnh đoàn quân trên miền đất lạ, mờ ảo trong sương khói tạo nét
hấp dẫn, huyền ảo, người lính vừa khổ vừa rất kiêu hùng.
Đoạn thơ thứ hai là nỗi nhớ về những kỉ niệm đẹp chung vui với bản làng xứ
lạ, về con người và thiên nhiên thơ mộng miền Tây. Người lính chịu nhiều
gian khổ, hi sinh mà tâm hồn vẫn trẻ trung lãng mạn, say mê, đắm đuối trong
đêm liên hoan rực rỡ, lung linh với đuốc hoa, cùng nàng e ấp, tình tứ trong
man điệu. Bằng bút pháp lãng mạn, tác giả khám phá vẻ đẹp rất đỗi nên thơ
của sông nước miền Tây một chiều sương giăng mờ ảo với những bến bờ bạt
ngàn hoa lau trắng, với dòng nước lũ hoa đong đưa. Cảnh vừa thực vừa ảo
với đường nét uyển chuyển, mềm mại gợi ra vẻ đẹp hắt hiu hoang vắng một
buổi chiều Tây Bắc. - Đoạn thơ thứ ba là nỗi nhớ của Quang Dũng về đoàn
quân Tây Tiến trong với nét đẹp bi tráng. Người lính hiện ra nguyên sơ giữa
núi rừng lẫm liệt, kiêu hùng với ngoại hình độc đáo không mọc tóc, da xanh
màu lá dữ oai hùm, Mắt trừng gửi mộng qua biên giới. Nhưng họ cũng rất
hào hoa, lãng mạn: Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm. Lí tưởng ra đi không
hẹn ngày, quên đời vì nước, chấp nhận hi sinh trong thiếu thốn: Chiến trường
đi chẳng tiếc đời xanh/ Áo bào thay chiếu anh về đất đã bộc lộ cốt cách anh
hùng của người chiến binh Tây Tiến.
2.3. Nghệ thuật: Bài thơ được viết chủ yếu bằng cảm hứng bi tráng và bút
pháp lãng mạn; cách sử dụng ngôn từ đặc sắc; kết hợp chất nhạc và chất hoạ
độc đáo.
II. VIỆT BẮC (TRÍCH) CỦA TỐ HỮU
1. Hoàn cảnh sáng tác Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954), miền Bắc
được giải phóng, Trung ương Đảng và chính phủ rời chiến khu VB về thủ đô
(10/1954), sự kiện đó là nguồn cảm xúc để Tố Hữu sáng tác bài thơ này.
2. Nội dung: 2.1. Khung cảnh chia tay 2.2. Những kỉ niệm về Việt Bắc hiện
lên trong hoài niệm Tâm trạng bao trùm phần đầu bài thơ là nỗi nhớ da diết,
mênh mông. Những kỉ niệm kháng chiến sống lại trong hồi tưởng của nhà
thơ qua lời hỏi - đáp. Theo đó, Việt Bắc hiện lên với những nét đặc trưng,
với tất cả yêu thương, gắn bó, gian nan, nghĩa tình.
- Việt Bắc trong trí nhớ của người cán bộ cách mạng từng là chiến khu an
toàn. Con người Việt Bắc mộc mạc, nghĩa tình, cần cù, ân tình thuỷ chung
hết lòng với cách mạng trong những ngày kháng chiến gian lao “miếng cơm
chấm muối”, “bát cơm sẻ nửa”, “đậm đà lòng son”. Việt Bắc còn là nơi có
những sự kiện, địa điểm lịch sử khó quên: cây đa Tân Trào, mái đình Hồng




Thái... - Niềm hồi niệm khơng chỉ làm sống dậy những kỉ niệm sâu nặng
với con người thiên nhiên Việt Bắc mà còn với cuộc kháng chiến gian lao
nhưng hào hùng. Thiên nhiên Việt Bắc ấm áp gợi cảm, đẹp đa dạng: lúc sáng
sớm, trăng khuya, nắng chiều, trong các mùa thay đổi (Ta về mình có nhớ
ta.../nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung). Việt Bắc anh hùng trong kháng
chiến:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất
rung
Qn đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ
nan...” Đoạn thơ là lời đồng vọng thiết tha về chiến khu Việt Bắc, là khúc
hát ân tình của những người kháng chiến.
2.3. Nghệ thuật: Bài thơ đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ
của Tố Hữu: thơ luc bát, lối đối đáp, cách xưng hơ mình ta, ngơn từ mộc
mạc, giàu sức gợi. ...
III. ĐẤT NƯỚC (TRÍCH MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG) CỦA NGUYỄN
KHOA ĐIỀM
1. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa Điềm sinh 1943 tại tỉnh
Thừa Thiên Huế, trong một gia đình có truyền thống u nước và cách
mạng; thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong những năm kháng chiến
chống Mĩ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, xúc cảm dồn nén,
mang màu sắc trữ tình chính luận. Tác phẩm chính: Đất ngoại ơ (thơ, 1972);
Mặt đường khát vọng (trường ca,1974), Ngơi nhà có ngọn lửa ấm (thơ,
1986)...
2. Đất nước
2.1. Hồn cảnh sáng tác
- Mặt đường khát vọng là tập trường ca hùng tráng thiết tha được Nguyễn Khoa
Điềm hồn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971 - Khái qt q trình thức
tỉnh của tuổi trẻ các đơ thị vùng tạm chiếm miền Nam. Họ nhận thức rõ bộ mặt
xâm lược của đế quốc Mĩ, ln hướng về nhân dân, đất nước; ý thức trách
nhiệm của thế hệ mình nên đứng dậy đấu tranh cùng dân tộc.
- Đoạn trích Đất nước thuộc phần đầu của Chương V trường ca Mặt đường khát
vọng.
2.2. Nội dung
Đoạn trích là sự cảm nhận đất nước tồn vẹn, có chiều sâu văn hố trên các
phương diện cội nguồn, lịch sử, địa lí, thời gian, khơng gian...
2.2.1. Phần đầu đoạn trích chủ yếu thể hiện những cảm nhận riêng của nhà
thơ về đất nước: - Tác giả chọn cách thể hiện tự nhiên và bình dị về cội nguồn


Đất nước: Khi ta lớn lên Đất nước đã có rồi”. Đất nước có trong những câu
chuyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích “ngày xửa, ngày xưa mẹ thường hay
kể”. Đất nước tồn tại trong những thuần phong mỹ tục (ăn trầu); sinh tồn bởi
nhân dân biết trồng tre đánh giặc. Đất nước hình thành trong tình nghĩa thuỷ
chung của cha mẹ: thương nhau bằng gừng cay muối mặn. Đất nước hiển hiện
trong từng ngôi nhà, từng cái kèo, cái cột và trong cả cuộc sống lao động vất vả
của người dân một nắng hai sương để làm ra hạt gạo.
- Đất nước được cảm nhận và suy tư mới mẻ mang tính cá thể và táo bạo: Đất là
nơi anh đến trường/Nước là nơi em tắm... Đất nước là nơi nơi ta hò hẹn...Đất
là nơi chim... về núi, Nước là nơi con cá... biển khơi. Đất nước được cảm nhận
từ không gian nhỏ hẹp của “anh” và “em đến không gian rộng lớn là rừng bể.
Đất nước còn là không gian sinh tồn của cộng đồng, nơi yêu nhau và sinh con
đẻ cái từ thế hệ này sang thế hệ khác. Từ những hình ảnh mang màu sắc dân
gian, đất nước trong sự cảm nhận của nhà thơ thật gần gũi, gắn bó nhưng cũng
thật lớn lao và thiêng liêng. - Đất nước là máu xương của mình. Những từ
“phải biết”,“gắn bó”,“san sẻ”,“hoá thân” nhấn mạnh trách nhiệm mỗi người
với đất nước, với nhân dân.
2.2.2. Phần sau đoạn thơ tập trung làm rõ tư tưởng đất nước của nhân dân:
Nhà thơ quy nạp hàng loạt hiện tượng tự nhiên núi Vọng Phu, hòn Trống Mái...
để đưa đến một kết luận khái quát sâu sắc: “Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò
bãi/... Những cuộc đời đã hoá núi sông ta”.
- Mạch thơ dồn nén cảm xúc trữ tình mang tư tưởng cốt lõi: đất nước là của
nhân dân:“Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại/...Đi trả
thù mà không sợ dài lâu”. Ca dao thần thoại chính là ngọn nguồn văn hoá của
dân tộc, là vẻ đẹp tinh thần của nhân dân - Đất nước không là của các vương
triều mà hiện lên như một huyền thoại của nhân dân, những con người vô danh
bình dị, lao động và đánh giặc. Nhân dân là người truyền lại cho đời sau những
giá trị văn hoá tinh thần, vật chất. Nhân dân ta là người quí trọng tình nghĩa,
thủy chung trong tình yêu. Đây là phát hiện mới đầy thú vị của tác giả. Nhà thơ
có kiểu định nghĩa riêng về đất nước.
2.3. Nghệ thuật: Sử dụng chất liệu văn hoá dân gian: ngôn từ, hình ảnh bình dị,
dân dã giàu sức gợi; giọng điệu biến đổi linh hoạt; chất chính luận quyện lẫn
chất trữ tình tạo nên sức truyền cảm.
IV. SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH
1. Nhà thơ Xuân Quỳnh
Xuân Quỳnh (1942 - 1988), quê ở Hà Đông (tỉnh Hà Tây); từng là diễn viên
múa. Từ năm 1963, Xuân Quỳnh chuyển sang viết báo, làm thơ.Cuộc đời bất


hạnh; khao khát, tình yêu hạnh phúc gia đình Thơ có giọng điệu trong trẻo,
hồn nhiên, cảm xúc tinh tế, chân thành; giàu yêu thương, nhiều khát vọng.
Tác phẩm chính: Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Hoa
cỏ may (1989)
2. Bài thơ Sóng
2.1. Hoàn cảnh sáng tác:
1. Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ ra đời năm 1967 trong chuyến nhà thơ đến
vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968).
2. Nội dung:
2.1. Hình tượng sóng: Mang ý nghĩa ẩn dụ cho tâm hồn người phụ nữ đang
yêu 2.2. Phần 1: Sóng và em những nét tương đồng - Ở hai khổ thơ đầu là
hình ảnh sóng quen thuộc nhưng cũng lạ lùng đầy những đối nghịch thất
thường: Dữ dội và dịu êm /Ồn ào và lặng lẽ. Nó rất giống tâm trạng người
phụ nữ khi yêu. Sóng tìm ra bể cũng là tìm thấy chính mình. Đó cũng là cái
nỗi khát vọng muôn đời của tình yêu. - Sóng trong hai khổ thơ tiếp là đối
tượng để nhà thơ gửi gắm suy tư về tình yêu bí ẩn. Hàng loạt những câu hỏi
về ngọn nguồn của sóng, của tình yêu: Từ nơi nào sóng lên?, Gió bắt đầu từ
đâu?, Khi nào ta yêu nhau?. Thiên nhiên dù bí ẩn nhưng còn có thể lí giải
được... còn tình yêu không “làm sao cắt nghĩa được”. - Qua hình tượng
sóng ở ba khổ tiếp, nỗi nhớ cũng được giãi bày mãnh liệt: sóng vỗ bờ ngày
đêm - em nhớ anh khắc khoải mọi thời gian, tràn ngập cả không gian, rất
thật: Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức”. Khổ thơ diễn tả nỗi nhớ
sâu sắc của một tình yêu chân thành, thuỷ chung, khát khao gắn bó bền lâu.
2.3. Phần 2: Những suy tư lo âu trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình
yêu Trong cái hữu hạn của đời người, con người vẫn khao khát tình yêu của
mình là vô hạn, bền vững muôn đời. Hai khổ cuối thể hiện niềm khao khát
ấy: Làm sao được tan ra.../Để ngàn năm còn vỗ.
3. Nghệ thuật: Thể thơ 5 chữ truyền thống, cách ngắt nhịp gieo vần độc đáo,
giàu sức liên tưởng Xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết .
VẤN ĐỀ 3 : ĐỌC HIỂU TRUYỆN, KÍ VIỆT NAM 1945 - 1975
A. CƠ SỞ TIẾP CẬN: - Văn xuôi phát triển mạnh mẽ về thể loại, độc đáo
về bút pháp, phong cách. Truyện ngắn nổi trội hơn cả. - Tiểu thuyết không


thuận lợi phát triển trong chiến tranh. Nhưng có một số tác phẩm để lại dấu
ấn. - Quan điểm nghệ thuật về con người: con người cộng đồng. - Tiếp cận
văn xuôi 1945 - 1975: chú ý đến giọng điệu sử thi, quan điểm về con người
khác với trước đó
B. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN
I. VỢ NHẶT (TRÍCH) CỦA KIM LÂN
1. Kim Lân - Kim Lân (1920 - 2007), là cây bút chuyên viết truyện ngắn.
Những sáng tác của Kim Lân thường viết về nông thôn và người nông dân.
Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê. Dù viết
về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp
thoáng cuộc sống và con người làng quê Việt Nam nghèo khổ nhưng tâm
hồn trong sáng, lạc quan, thật thà. - Tác phẩm: Nên vợ nên chồng (1955),
Con chó xấu xí (1962)...
2. Truyện ngắn Vợ nhặt
2.1. Hoàn cảnh sáng tác: Vợ nhặt in trong tập Con chó xấu xí (1962), được
viết dựa trên một phần tiểu thuyết Xóm ngụ cư.
2.2. Nội dung
2.2.1. Bối cảnh câu chuyện
Thảm họa nạn đói 1945: người sống bồng bế, dắt díu nhau xanh xám như
những bóng ma, người chết như ngả rạ... thây nằm còng queo bên đường,
không khí vẩn mùi ẩm thối ... mùi gây của xác người. Xóm ngụ cư trong
thảm họa đói như một bãi tha ma. Cái đói đã bộc lộ hết sức mạnh hủy diệt
cuộc sống. Con người bị đẩy vào lằn ranh giữa sự sống và cái chết.
2.2.2. Người vợ nhặt
Cái đói quay quắt đã ném thị vào đời sống vất vưởng. Đời sống vất vưởng
đã biến thị thành một phụ nữ có ngoại hình tàn tạ. Thị đã theo không về làm
vợ Tràng. Con người thật của thị thể hiện rõ khi về nhà. Người vợ nhặt vô
danh nhưng không vô nghĩa, bóng dáng của thị không lộng lẫy nhưng gợi
được sự ấm áp cho một gia đình đang bên lề cái chết.
2. 2.3. Nhân vật Tràng Người lao động nghèo, tốt bụng,..luôn khao khát
hạnh phúc và có ý thức xây dựng hạnh phúc.Buổi sáng đầu tiên khi có vợ,


anh nhận thấy không gian xung quanh thay đổi. Tràng thay đổi suy nghĩ, ý
thức được trách nhiệm với vợ con, anh dự cảm một tương lai tươi đẹp cho
cuộc đời của mình “Bỗng nhiên hắn thấy...tu sửa căn nhà”. Những thay đổi
lớn trong tâm lí, tính cách của anh Tràng là biểu hiện cao nhất của tinh thần
hướng về sự sống quên đi cái chết đang bủa vây.
2.2.4. Nhân vật bà cụ Tứ: Bà cụ Tứmột bà mẹ nghèo nhưng giàu lòng nhân
ái; đói khát đã khiến người ta phải sống, phải ăn thức ăn của loài vật (cháo
cám) nhưng cái đói không hủy diệt được tình nghĩa và niềm hi vọng của con
người Tư tưởng: dù ở bên lề cái đói, cái chết, người ta vẫn khao khát hạnh
phúc ...vẫn hi vọng ở tương lai”`
2.3. Những thành công về nghệ thuật
Tạo tình huống truyện độc đáo; miêu tả, phân tích diễn biến tâm lí, tính cách
nhân vật tinh tế; cách kể chuyện hấp dẫn; sử dụng ngôn ngữ mộc mạc giản dị
nhưng chắt lọc giàu sức gợi.
II. VỢ CHỒNG A PHỦ CỦA TÔ HOÀI
1. Tô Hoài - Tô Hoài (1920) quê Hà Nội, là một trong những nhà văn lớn của
văn học Việt Nam hiện đại. Ông có vốn hiểu biết phong phú sâu sắc về phong
tục, tập quán nhiều vùng khác nhau của đất nước, Văn ông có lối trần thuật
hóm hỉnh, sinh động của người từng trãi, vốn từ vựng phong phú. Năm 1996
được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. . - Tác phẩm: Dế
Mèn phiêu lưu kí (truyện, 1941); Truyện Tây Bắc (tập truyện,1953); Miền
Tây (tiểu thuyết, 1967)
2. Vợ chồng A Phủ
2.1. Hoàn cảnh ra đời Vợ chồng A Phủ (1952) in trong tập truyện Tây Bắc,
là kết quả chuyến đi thực tế của Tô Hoài cùng bộ đội giải phóng Tây Bắc
2.2. Nội dung
2.2.1. Nhân vật Mị Cách giới thiệu nhân vật gợi nỗi đau đớn về thân
phận con người: Mị xuất hiện bên cạnh tảng đá, tàu ngựa ở nhà thống lí Pá
Tra với hàng loạt công việc quay sợi gai, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi, cõng
nước lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi. Thật ra, Mị đủ phẩm chất để
sống cuộc sống ấm êm, hạnh phúc nhưng chỉ vì món nợ truyền kiếp của gia
đình mà phải làm con dâu gạt nợ nhà thống lí. Cuộc sống thống khổ, bị đối
xử tàn tệ, mất ý thức về cuộc sống - Lúc đầu Mị phản kháng: có đến hàng
mấy tháng đêm nào Mị cũng khóc và cả tìm cái chết.Về sau cuộc sống nô lệ
đã biến Mị thành con người khác ở lâu trong cái khổ Mị quen khổ rồi...Cam
phận nô lệ vì tin rằng Nó đã bắt ta về trình ma cho nhà nó rồi chỉ còn biết
đợi ngày rũ xương ở đây thôi. Thông qua bi kịch cuộc đời Mị, Tô Hoài đã tố
cáo bọn phong kiến miền núi đã lợi dụng hình thức cho vay nặng lãi và thế
lực thần quyền (cúng ma) để trói buộc người nghèo vào số phận nô lệ triền


miên. Sức sống tiềm tàng và niềm khát khao hạnh phúc ở Mị Mùa xuân
về trên đất Hồng Ngài cùng với tiếng sáo đánh thức Mị: cô muốn đi chơi. Bị
A Sử trói đứng Mị vừa sợ, vừa thổn thức bồi hồi. A Sử trói thể xác nhưng
không trói được tâm hồn Mị. Càng bị đè nén, tâm hồn ham sống của Mị càng
trỗi dậy, không sức mạnh nào hủy diệt được. Sức phản kháng mạnh mẽ Mị
cởi trói cho A Phủ: Mị chợt xúc động khi thấy A Phủ khóc, trong tâm hồn Mị
trào lên nỗi đồng cảm, thương cho thân phận của A Phủ. Dòng nước mắt của
A Phủ đã giúp Mị thấy rõ thân phận nô lệ trong đó có mình. Qua việc miêu tả
diễn biến tâm lí và sức sống tiềm tàng của Mị, nhà văn Tô Hoài muốn khẳng
định: không có bạo lực đen tối nào có thể vùi dập sức sống và niềm khao
khát tự do của con người. Đó là giá trị nhân đạo của tác phẩm.
2.2.2. Nhân vật A Phủ Số phận éo le, là nạn nhân của hủ tục lạc hậu và
cường quyền phong kiến miền núi Phẩm chất tốt đẹp: có sức khỏe, dũng cảm,
yêu tự do, yêu lao động, có sức sống tiềm tàng.
2.2.3.Giá trị tác phẩm Giá trị hiện thực Miêu tả chân thực số phận cực khổ
của người dân nghèo; phơi bày bản chất tàn bạo của giai cấp thống trị miền
núi Giá trị nhân đạo Thể hiện tình yêu thương sự đồng cảm với thân phận
đau khổ của ngưởi dân lao động miền núi; tố cáo, lên án, phơi bày bản chất
xấu xa tàn bạo của giai cấp thống trị; trân trọng và ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn,
sức sống mãnh liệt và khả năng cách mạng của nhân dân Tây Bắc.
2.3. Nghệ thuật Nghệ thuật xây dựng nhân vật; trần thuật uyển chuyển linh
hoạt; nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, phong tục miền núi; ngôn ngữ sinh động
chọn lọc và sáng tạo, câu văn giàu tính tạo hình và thấm đẫm chất thơ.
III. RỪNG XÀ NU CỦA NGUYỄN TRUNG THÀNH
1. Nguyễn Trung Thành Nguyễn Trung Thành (Nguyên Ngọc), trong hai
cuộc kháng chiến gắn bó mật thiết với mảnh đất Tây Nguyên. Những tác
phẩm thành công của ông gắn với mảnh đất ấy.
2. Rừng xà nu
2.1. Hoàn cảnh sáng tác Truyện ngắn Rừng xà nu được viết năm 1965 khi
đế quốc Mĩ đổ quân vào miềm Nam với những chiến dịch càn quét rầm rộ.
Truyện đăng trên tập chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ (số 2,
năm 1965), sau đó được in trong tập Trên quê hương những anh hùng Điện
Ngọc.
2.2. Nội dung 2.2.1. Hình tượng cây xà nu. Nó đã trở thành một phần máu
thịt trong đời sống và tinh thần của dân làng Xô Man, tượng trưng cho phẩm
chất và số phận của nhân dân Tây Nguyên trong chiến tranh. 2.2.2. Hình
tượng nhân vật Tnú : - Gan góc, dũng cảm, mưu trí - Tính kỉ luật cao, tuyệt
đối trung thành với cách mạng


- Có trái tim yêu thương và sôi sục căm thù giặc. - Cuộc đời bi tráng của Tnú
và con đường đến với cách mạng của người dân Tây Nguyên, góp phần làm
sáng tỏ chân lí thời đại: Phải dùng bạo lực cách mạng để tiêu diệt bạo lực
phản cách mạng, đấu tranh vũ trang là con đường tất yếu để giải phóng:
Chúng nó đã cầm súng mình phải cầm giáo... 2.2.3. Hình tượng cây xà nu và
Tnú có quan hệ khắng khít, bổ sung cho nhau. Rừng xà nu chỉ giữ được màu
xanh bất diệt khi có những con người biết hi sinh như Tnú.

2.3. Nghệ thuật: - Màu sắcTây Nguyên thể hiện ở bức tranh thiên nhiên, ở
ngôn ngữ, tâm lí, hành động của các nhân vật. - Khắc hoạ thành công hình
tượng cây xà nu - một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc tạo nên màu sắc sử thi và
cảm hứng lãng mạn bay bổng cho thiên truyện; lời văn giàu tính tạo hình,
giàu nhạc điệu. - Xây dựng thành công các nhân vật vừa có nét cá tính sống
động vừa mang những phẩm chất khái quát, tiêu biểu cho cộng đồng.

V. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

1. Nguyễn Tuân - Nguyễn Tuân (1910 - 1987), sinh ra trong một gia đình
nhà nho khi Hán học đã tàn. Con người tài hoa uyên bác, suốt đời đi tìm cái
đẹp. - Sau Cách mạng Tháng 8, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng,
trở thành cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Nguyễn Tuân sáng tác ở
nhiều thể loại, đặc biệt thành công ở thể loại tùy bút với phong cách tài hoa,
độc đáo. - Tác phẩm chính: Vang bóng một thời (1940), Người lái đò sông
Đà (1960)...

2. Người lái đò sông Đà


2.1. Hoàn cảnh ra đời: Người lái đò Sông Đà là kết quả sau nhiều lần nhà
văn đến Tây Bắc, đặc biệt là chuyến đi năm 1958; thực tiễn xây dựng cuộc
sống mới vùng cao đem đến cảm hứng sáng tạo tập tùy bút Sông Đà (1960).
Người lái đò Sông Đà là một trong 15 bài tùy bút của Nguyễn Tuân được in
trong tập này.

2.2. Nội dung:

2.2.1. Hình ảnh sông Đà như một nhân vật có tâm hồn, tính cách, trạng
thái vừa hung bạo vừa trữ tình. - Tính chất hung bạo được tô đậm bằng
bút pháp nghệ thuật độc đáo: so sánh, nhân hóa gợi liên tưởng sâu sắc: Mặt
nước hô la vang dậy...đá trái, thúc gối vào bụng...thuyền; ngôn ngữ giàu
hình ảnh với đường nét gân guốc, bạo khỏe miêu tả thạch trận sông Đà rất ấn
tượng: Nó bày thạch trận trên sông...bong ke chìm, pháo đài nổi...dòng nước
hùm beo tế hồng hộc...đánh đòn hiểm...”; vận dụng ngôn ngữ của nhiều
ngành (võ thuật, điện ảnh, quân sự, văn chương) tả tỉ mỉ, công phu, hấp dẫn
thể hiện sự uyên bác, tài hoa. Con sông Đà hiện ra như là một loài thủy quái
khổng lồ, hung tợn. - Nguyễn Tuân còn phát hiện Sông Đà thơ mộng với
dòng chảy uốn lượn đẹp như mái tóc trữ tình người thiếu nữ Tây Bắc, màu
nước biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng, rất kì ảo. Cảnh vật
hai bên bờ sông Đà vừa hoang sơ nhuốm màu cổ tích vừa trù phú, tràn trề
nhựa sống: Thuyền tôi trôi trên sông Đà... - Cảm nhận và miêu tả sông Đà,
Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm của mình. Hình
ảnh sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao
động trong chế độ mới.


2.2.2. Hình ảnh người lái đò được tác giả khắc họa độc đáo, là chân
dung nghệ thuật hấp dẫn: - Người lái đò có tư thế hiên ngang như một
viên dũng tướng xông vào thạch trận oai phong, lẫm liệt. Chống chọi thác
ghềnh cuồng bạo mà bình tĩnh, ung dung, xử lí tình huống thông minh, khéo
léo: phối hợp mắt, tay, chân...giữ chặt tay lái, cưỡi sóng như cưỡi hổ...vượt
qua các cửa tử..vào cửa sinh khéo léo, tài hoa, tay lái mềm mại; anh
dũng“nén vết thương...nắm quy luật thác đá. Sau khi vượt thác xong “chẳng
bàn về chiến công...”. Người lái đò anh hùng trên sông nước, người nghệ sĩ
tài hoa vượt thác ghềnh, trí dũng song toàn đáng khâm phục. - Nguyên nhân
chiến thắng: sự ngoan cường, dũng cảm, kinh nghiệm sông nước → khúc
hùng ca ca ngợi con người, ca ngợi lao động vinh quang. - Hình ảnh người
lái đò cho thấy Nguyễn Tuân đã tìm được nhân vật mới:những người đáng
trân trọng ngợi ca không thuộc tầng lớp đài các Vang bóng một thời mà là
những người lao động bình thương – chất vàng mười của Tây Bắc.Người
anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động
thường ngày.

2.3. Đặc sắc nghệ thuật: - Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng
độc đáo, bất ngờ và rất thú vị - Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh
và có sức gợi cảm cao; vận dụng kiến thức đa ngành trong miêu tả.
- Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì
chậm rãi, trữ tình...

VẤN ĐỀ 4 : ĐỌC – HIỂU TRUYỆN KÍ VIỆT NAM SAU 1975


A. CƠ SỞ TIẾP CẬN: - Văn xuôi sau 1975 có nhiều thành tựu. Nhiều nhà
văn khẳng định được phong cách độc đáo của mình. Trong đó Nguyễn Minh
Châu là người “mở đường tài năng và tinh anh”. - Đề tài mở rộng, tiếp cận
đời sống ở phương diện đời tư thế sự. - Đổi mới quan niệm nghệ thuật (nghệ
thuật trần thuật), quan niệm về con người (con người cá nhân), hướng tới
tinh thần nhân bản. - Hiện thực được soi chiếu từ nhiều bình diện. - Tiếp cận
văn xuôi sau 1975 cần chú ý đến sự đổi mới tư duy nghệ thuật, cần có cái
nhìn đa chiều, đa diện...

B. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM: I. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG
SÔNG? CỦA HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

1. Hoàng Phủ Ngọc Tường - Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937), là một trí
thức yêu nước, nhà văn gắn bó mật thiết với xứ Huế, có vốn hiểu biết trên
nhiều lĩnh vực, chuyên viết về bút kí, là “một trong những nhà văn viết kí
hay nhất của văn học ta hiện nay” (Nguyên Ngọc); sáng tác luôn có sự kết
hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, nghị luận và tư duy đa chiều
với một lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm, tài hoa. - Tác phẩm
chính: Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Ai đã đặt tên cho dòng sông
(1986), Hoa trái quanh tôi (1995)...

2. Ai đã đặt tên cho dòng sông?

2.1. Hoàn cảnh sáng tác Ai đã đặt tên cho dòng sông viết tại Huế năm
1981, in trong tập sách cùng tên. Tác phẩm gồm ba phần, đoạn trích là phần
thứ nhất.
2.2. Nội dung 2.2.1. Vẻ đẹp sông Hương được phát hiện ở cảnh sắc thiên
nhiên:
- Sông Hương đầu nguồn được nhân hóa mang sức sống mãnh liệt, hoang dại,
nhưng cũng rất đỗi dịu dàng, say đắm. Đó là vẻ đẹp rầm rộ, mãnh liệt của một
bản trường ca của rừng già khi nó đi qua giữa lòng Trường Sơn để sống nửa
đời mình như một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại; vẻ đẹp dịu dàng và


say đắm khi nó chảy giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên
rừng.

- Đến ngoại vi thành phố Huế: SH như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng...”
được người tình mong đợi đến dánh thức.Thủy trình của con sông như cuộc tìm
kiếm có ý thức người tình nhân đích thực của người con gái đẹp ... -Đến giữa
thành phố Huế: SH như tìm được chính mình” vui hẳn lên...”Nó có những nét
tinh tế đẹp như điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế... -Trước khi từ biệt Huế:
SH giống như “người tình dịu dàng và chung thủy”Con sông giống “như nàng
Kiều trong đêm tình tự”, trở lại tìm Kim Trọng” ...
Nhà văn khai thác vẻ đẹp thiên nhiên của sông Hương bằng những rung cảm
tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm, tài hoa. 2.2.2. Vẻ đẹp nhìn từ góc độ văn
hóa: - Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế. Có một dòng thi ca
về sông Hương, một dòng sông không lặp lại mình “dòng sông trắng, lá cây
xanh” (thơ Tản Đà), vẻ đẹp hùng tráng “kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao
Bá Quát, là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ Bà huyện Thanh Quan, là sức mạnh
phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu.
2. 2.3.Vẻ đẹp nhìn từ góc độ lịch sử
Từng là dòng sông bảo vệ biên thùy Tổ quốc Đại Việt, từng soi bóng kinh thành
Phú Xuân của Nguyễn Huệ, từng chứng kiến bao cuộc khởi nghĩa, những chiến
công rung chuyển rồi đến cách mạng T8- 1945, chiến dịch Mậu Thân1968.
2.2.4. Vẻ đẹp trong trí tưởng tượng sáng tạo tài hoa của tác giả Sông Hương
như một cô gái Huế tài hoa, dịu dàng, sâu sắc, đa tình, kín đáo, lẳng lơ nhưng
rất mực chung tình, khéo trang sức mà không lòe loẹt phô phang, giống như
những cô dâu ngày xưa trong sắc áo điều lục đấy cũng chính là màu của sương
khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn
dấu khuôn mặt thật của chính dòng sông. Lối so sánh độc đáo kết hợp biện
pháp nhân hóa, ẩn dụ làm cho câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc.
2.3. Nhan đề - Tiêu đề lưu ý người đọc về cái tên đẹp của dòng sông, cái tên
gợi bao cảm xúc, nỗi niềm xưa cũ. Cái tên đẹp đó được tác giả lí giải bằng một
bài tùy bút. - Gợi lên niềm biết ơn đối với những người đã khai phá miền đất lạ;
làm đọng lại một niềm bâng khuâng trong tâm hồn người đọc.
2.4. Nét đẹp của văn phong Hoàng Phủ Ngọc Tường Ngôn ngữ phong phú,
giàu hình ảnh, sử dụng nhiều biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa tạo
khả năng liên tưởng kì diệu; lối kí phóng khoáng, tài hoa, giàu thông tin văn
học, lịch sử; giàu chất thơ trữ tình lãng mạn.


II. CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
1. Nguyễn Minh Châu Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) là một nhà văn quân
đội. - Trước 1975, là ngòi bút sử thi có thiên hướng trữ tình lãng mạn. - Sau
1975, chuyển sang cảm hứng thế sự với những vấn đề đạo đức và triết học nhân
sinh . Ông là người “mở đường tinh anh và tài năng” cho công cuộc đổi mới
văn học. - Tác phẩm: Những vùng trời khác nhau (truyện ngắn, 1970), Dấu
chân người lính (tiểu thuyết, 1972), Chiếc thuyền ngoài xa (1987)...
2. Chiếc thuyền ngoài xa
2.1. Hoàn cảnh ra đời: Chiếc thuyền ngoài xa được viết tháng 8 - 1983, in đậm
phong cách tự sự, triết lí của Nguyễn Minh Châu; tiêu biểu cho xu hướng chung
của văn học Việt Nam thời kì đổi mới: hướng nội khai thác sâu sắc số phận cá
nhân và thân phận con người trong cuộc sống đời thường. Lúc đầu in trong Bến
quê; sau làm tên chung một tập truyện ngắn. 2.2. Nội dung 2.2.1. Hai phát hiện
của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng - Phát hiện thứ nhất rất thơ mộng, một “cảnh đắt
trời cho”: chiếc thuyền lưới vó ẩn hiện trong biển sớm mờ sương có pha đôi
chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào đẹp như một bức hoạ thời cổ một vẻ đẹp toàn bích, Phùng tưởng mình “vừa khám phá thấy cái chân lí của sự
toàn thiện” trước “vẻ đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh”. - Phát hiện thứ hai mang
nghịch lí như trong câu chuyện cổ đầy quái đản: Cảnh người chồng đánh vợ,
đứa con thương mẹ đánh lại bố. Phùng không ngờ sau cảnh đẹp tuyệt đỉnh mà
anh vừa bắt gặp lại là bao trái ngang, trớ trêu giữa đời thường. Anh nhận ra sự
xa cách giữa cái đẹp của ngoại cảnh với số phận cực nhọc, tăm tối của con
người, một cảnh tượng phi thẩm mĩ.
- Tình huống truyện cho thấy: cuộc đời chứa đựng nhiều nghịch lí. Chiếc
thuyền ngoài xa mang đến bức ảnh đẹp toàn bích nhưng khi chiếc thuyền ở gần
lại phơi bày một hiện thực nghiệt ngã về thân phận con người. Đằng sau cái đẹp
không phải bao giờ cũng là chân lí của sự hoàn thiện, là đạo đức. 2.2.2. Câu
chuyện của người đàn bà ở toà án huyện: - Đó là người đàn bà nhọc nhằn,
nghèo khổ thân hình cao lớn, với những đường nét thô kệch, khuôn mặt mệt
mỏi, tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới. Bị chồng đánh đập, hành hạ thường
xuyên “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Những trận đòn trút lên
chị thật tàn bạo và chị chịu đựng “cơn giận như lửa cháy” của người chồng
bằng sự cam chịu nhẫn nhục “không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng
không tìm cách chạy trốn”, không chịu bỏ chồng theo đề nghị của chánh án
Đẩu . - Lí do chị không li dị là vì vì chị cần có người đàn ông chèo chống lúc
phong ba,... đàn bà ở thuyền phải sống cho con chứ không thể sống cho mình;


vui khi nhìn đàn con được ăn no. Sợ con cái bị tổn thương nên chị xin chồng
đưa lên bờ mà đánh. - Người đàn bà thấu hiểu lẽ đời đáng được chia sẻ, cảm
thông trong những cay đắng, khổ nhục đời thường và rất đáng trọng ở vẻ đẹp
tình mẫu tử, lòng bao dung, đức hi sinh. Đó cũng là vẻ đẹp tâm hồn của người
phụ nữ Việt Nam. - Câu chuyện của người đàn bà khiến chánh án Đẩu vỡ ra và
suy nghĩ: muốn con người thoát khỏi đau khổ cần có những giải pháp thiết thực
chứ không phải chỉ là thiện chí hay lí thuyết đẹp đẽ. Phùng đã thay đổi cách
nhìn về con người và quan niệm nghệ thuật: đừng nhìn cuộc đời, con người một
cách đơn giản, phiến diện; phải đánh giá sự việc, hiện tượng trong mối quan hệ
đa chiều. 2.2.3. Tấm ảnh được chọn trong bộ lịch năm ấy→Nghệ thuật chân
chính không thể thoát li cuộc sống. nghệ thuật chính là đời, vì cuộc đời. 2. 3.
Đặc sắc về nghệ thuật - Tạo tình huống truyện độc đáo, có ý nghĩa khám phá
phát hiện về đời sống. - Cách khắc hoạ nhân vật chân thực, đậm nét, đọng lại ấn
tượng nhức nhói trong lòng người đọc. - Ngôn ngữ nhân vật sinh động, phù hợp
với tính cách. Lời văn giản dị mà sâu sắc, đa nghĩa. - Lựa chọn ngôi kể và điểm
nhìn thích hợp, làm cho câu chuyện trở nên gần gũi, chân thực, có sức thuyết
phục.
VẤN ĐỀ 5 : ĐỌC – HIỂU KỊCH HIỆN ĐẠI VIỆT NAM HỒN TRƯƠNG BA,
DA HÀNG THỊT CỦA LƯU QUANG VŨ
1. Lưu Quang Vũ - Lưu Quang Vũ (1948 - 1988) là một tài năng đa dạng: làm
thơ, sáng tác văn xuôi, vẽ tranh và soạn kịch. Kịch là phần đóng góp đặc sắc nhất .
- Lưu Quang Vũ trở thành một hiện tượng đặc biệt của sân khấu, kịch trường
những năm 80 của thế kỉ trước, nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ
thuật hiện đại. - Tác phẩm: Hương cây – Bếp lửa (thơ), Tôi và chúng ta (kịch) ...
2. Hồn Trương Ba da hàng thịt
2.1. Hoàn cảnh sáng tác: - Hồn Trương Ba da hàng thịt viết năm 1981, công diễn
lần đầu 1984, là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang Vũ. - Vở
kịch được xây dựng dựa trên một câu chuyện dân gian nhưng chứa đựng nhiều vấn
đề mới mẻ có ý nghĩa tư tưởng và triết lí nhân sinh sâu sắc. - Đoạn trích thuộc cảnh
VII và đoạn kết của vở kịch. 2.2. Nội dung 2.
2.1. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với xác hàng thịt: - Là ẩn dụ về cuộc
đấu tranh giữa tâm hồn và thể xác trong một con người. Đó là tiếng nói của bản
năng và những tác động ghê gớm của nó vào linh hồn. Linh hồn luôn đấu tranh để
vượt lên những đòi hỏi không chính đáng của thể xác. - Cảnh báo khi con người


sống chung với dung tục, sẽ bị cái dung tục lấn át, thắng thế và tàn phá những gì
tốt đẹp cao quý trong con người
. 2.2.2. Màn đối thoại giữa hồn Trương Ba với người thân: - Trước phản ứng
của người thân (người vợ buồn bã đau khổ muốn chết, có ý định bỏ đi nhường
chồng cho cô vợ hàng thịt, Cái Gái quyết liệt và dữ dội không nhận ông nội...)
Trương Ba lúc đầu biện minh cho mình Sao bà lại nói thế nhưng sau đó đau khổ,
bế tắc, thất vọng về mình (thẫn thờ, lặng ngắt như tảng đá, tay ôm đầu, run rẩy,
lập cập, cầu cứu) - Bi kịch được đẩy lên đến đỉnh điểm buộc nhân vật phải đứng
trước sự lựa chọn. Lời độc thoại nội tâm của Trương Ba là những câu mang tính
chất tự vấn bộc lộ thái độ quyết liệt trong đấu tranh - Đỉnh điểm của bi kịch là nhân
vật không thỏa hiệp mà đấu tranh mạnh mẽ quyết liệt.
2.2.3. Màn đối thoại giữa hồn T.Ba với Đế Thích: - Đế Thích khuyên Trương Ba
chấp nhận vì thế giới không toàn vẹn, thể hiện cái nhìn quan liêu hời hợt về cuộc
sống con người.
- Trương Ba không thể bên trong một đằng,... Tôi muốn được là tôi toàn vẹn; Sống
nhờ vào đồ đạc,...nhưng sống thế nào thì ông chẳng cần biết! Trương Ba từ chối
không nhập vào xác cu Tị. - Con người là một thể thống nhất, hồn xác phải hài hòa
đồng thuận. Sống phải là chính mình. Sự bất tử của con người nằm trong ý nghĩa
sự sống và sự hóa thân vào cuộc sống xung quanh - Truyện có ý nghĩa phê phán và
giá trị nhân văn sâu sắc:
2.3.Giá trị nghệ thuật : - Sáng tác từ cốt truyện dân gian; nghệ thuật dựng tình
huống độc đáo, xây dựng, dẫn dắt xung đột kịch hợp lí. - Nghệ thuật dựng hành
động kịch, đối thoại, độc thoại nội tâm sinh động.
VẤN ĐỀ 6 : ĐỌC – HIỂU VĂN NGHỊ LUẬN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
A. CƠ SỞ TIẾP CẬN: - Chú ý đến tư duy lô-gíc, tư duy khoa học, những vấn
đề của đời sống đặt ra hàng ngày mà con người sẽ phải đối mặt. - Kĩ năng viết
văn nghị luận, khám phá và khai thác vẻ đẹp riêng về trí tuệ, về tư duy, về
phương pháp luận cũng như cách kết cấu và văn phong độc đáo của loại văn
nghị luận này.
B. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM:
I. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA HỒ CHÍ MINH


1. Hoàn cảnh sáng tác - Tuyên ngôn Độc lập được viết ngày 26/8/1945 tại căn
nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội. Ngày 2/9/1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên
ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. - Trên thế giới, phe Đồng
minh vừa thắng phát xít. Ở Việt Nam nhân cơ hội Nhật hàng Đồng minh, Việt
Minh đã lãnh đạo nhân dân ta tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Nhưng chính
quyền non trẻ bị đe doạ bởi dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc, thực dân
Anh, Pháp, Mĩ và hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch. - Hồ Chí Minh viết
Tuyên ngôn Độc lập để cảnh cáo, ngăn chặn âm mưu xâm lược của các nước đế
quốc; tuyên bố khai sinh nước Việt Nam độc lập; kêu gọi khích lệ tinh thần
chiến đấu của nhân dân ta.
2. Nội dung 2.1. Nguyên lí chung của bản Tuyên ngôn Độc lập - Trích dẫn
bản Tuyên ngôn Độc lập của Mĩ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có
rộng ra...”. Từ đó suy rộng ra: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra
bình đẳng...”. Từ quyền bình đẳng, tự do của con người, Hồ Chí Minh suy rộng
ra quyền bình đẳng, tự do của các dân tộc. Đây là đóng góp của Người vào lịch
sử tư tưởng nhân loại. - Trích dẫn bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền
của Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Từ đó
khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai có thể chối cãi được”. - Đây là
những thành tựu tư tưởng lớn của nhân loại vừa tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho
lập luận vừa mang tính chiến đấu cao; đặt cuộc cách mạng ta ngang các cuộc
cách mạng trên thế giới. Cách vận dụng khéo léo và sáng tạo.
2.2. Cơ sở thực tế của bản Tuyên ngôn Độc lập - Tội ác của thực dân Pháp:
Đó là những sự thật mà Pháp đã thực hiện ở Việt Nam trong 80 năm thống trị
nước ta về chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục. Biện pháp liệt kê, ẩn dụ:
“Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu” có giá trị tố cáo mạnh,
gây xúc động hàng triệu trái tim, khơi dậy lòng phẫn nộ cao độ. - Phủ nhận vai
trò của Pháp ở Việt Nam: Nếu như thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là
thuộc địa của chúng, chúng có quyền quay trở lại, thì Tuyên ngôn vạch rõ: “Sự
thật là...chứ không phải là ”(trang 40). Thực tế chúng đã bán nước ta cho Nhật.
Cách lập kết cấu cú pháp này có tác dụng: Xoá bỏ mọi đặc quyền của Pháp ở
Việt Nam; đập tan luận điệu xảo trá của chúng; tăng thêm âm hưởng hùng hồn
của Tuyên ngôn.
2.3. Tuyên bố độc lâp: Từ những cứ liệu lịch sử hiển nhiên đó bản Tuyên ngôn
nhấn mạnh những thông điệp quan trọng: Tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với
Pháp, kêu gọi toàn dân đoàn kết, chống Pháp, kêu gọi cộng đồng quốc tế công


nhận quyền độc lập, tự do của Việt Nam; khẳng định quyết tâm bảo vệ quyền
độc lập, tự do ấy.
3. Giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập: - Giá trị lịch sử: Tuyên bố chấm dứt
chế độ thực dân phong kiến ở nước ta và mở ra một kỉ nguyên độc lập tự do cho
dân tộc. - Giá trị tư tưởng: Bản Tuyên ngôn Độc lập là tác phẩm kết tinh lí
tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập, tự do. Tác
phẩm có tính nhân văn sâu sắc. - Giá trị nghệ thuật: Tuyên ngôn Độc lập là một
bài văn chính luận mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác
thực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn.
4.Nghệ thuật : Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực giàu
sức thuyết phục; Ngôn ngữ chính xác gợi cảm; Giọng văn linh hoạt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×