Tải bản đầy đủ

DẠY HỌC TÁC PHẨM TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

A. TÁC GIẢ CHUYÊN ĐỀ
- Họ và tên: ................................
- Chức vụ: Giáo viên
- Đơn vị công tác: Trường THPT .............................
B. TÊN CHUYÊN ĐỀ
- Tên chuyên đề: DẠY HỌC TÁC PHẨM TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ
CHÂU – TRỌNG THỦY THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC
SINH
Chương trình Ngữ Văn lớp 10 THPT- Ban cơ bản
- Đối tượng học sinh: Học sinh lớp 10.
- Số tiết dự kiến: 02 tiết
C. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH DẠY HỌC
Chuyên đề: DẠY HỌC TÁC PHẨM TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ
CHÂU – TRỌNG THỦY THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC
SINH

1


A. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Giáo dục là một hoạt động mang tính sáng tạo, vận động không ngừng theo xu

thế của thời đại. Chính vì thế trong những năm qua cùng với xu hướng đổi mới trên mọi
lĩnh vực, giáo dục cũng ưu tiên nhiệm vụ đổi mới. Theo đó, giáo dục hướng vào nhiệm
vụ đổi mới căn bản, toàn diện; đổi mới đồng bộ các yêu tố của quá trình giáo dục. Đồng
thời với đó là đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá. Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp
tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối
truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ,
khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng,
phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa
dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu
về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, việc đổi mới
phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học là vô cùng cần
thiết.
2. Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của nhà
trường THPT. Việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn trường THPT theo
định hướng phát triển năng lực sẽ góp phần vô cùng quan trọng để hình thành những
con người có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu quý trọng gia đình, bè bạn; có lòng
yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như
lòng nhân ái, biết tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, căm ghét cái xấu, cái ác.
Đó là những con người biết rèn luyện để có tính tự lập, có tư duy sáng tạo, bước đầu có
năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật; trước hết là trong văn học,
có năng lực thực hành và sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp.
3. Truyền thuyết là thể loại văn học dân gian khá gẫn gũi với học sinh. Tuy nhiên
cách dạy thể loại này trong nhà trường nói chung chưa có sự thay đổi. Hướng tiếp cận
tác phẩm vẫn là giáo viên cung cấp kiến thức để học sinh ghi nhớ, học sinh vẫn thụ
động lĩnh hội tri thức do thầy cung cấp. Cách dạy ấy sẽ rất khó để học sinh thấy được
đầy đủ vẻ đẹp của tác phẩm truyền thuyết, đồng thời cũng không giúp học sinh phát huy
được sự chủ động, sáng tạo, không góp phần hình thành những năng lực cần thiết cho
2


học sinh trong thời đại mới. Vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm truyền
thuyết “Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy” là vấn đề cần lưu tâm.
Từ những lí do trên, tôi quyết định lấy đề tài “DẠY HỌC TÁC PHẨM TRUYỆN
AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU – TRỌNG THỦY THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH” để tham gia Hội thảo chuyên đề đổi mới sinh hoạt
chuyên môn cấp THPT năm học 2018 – 2019 này.
B.NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ


I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Lí thuyết về dạy học theo định hướng phát triển năng lực
1.1.1 Khái quát chung về năng lực và năng lực cốt lõi và năng lực đặc thù bộ
môn Ngữ Văn.
- Khái niệm: Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ
chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,…nhằm đáp ứng
hiệu quả một yêu cầu phức tạp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực thể
hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố được thể hiện thông qua các hoạt động của cá
nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó. Năng lực bao gồm nhiều các yếu tố cơ
bản mà mọi người lao động, mọi công dân đều cần phải có đó là các năng lực chung cốt
lõi. Yếu tố năng lực cốt lõi xuyên suốt mọi hoạt động cơ bản của con người.
- Định hướng xây dựng chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 của nước
ta xác định một số năng lực cốt lõi mà học sinh Việt Nam đều cần có để thích ứng với
nhu cầu phát triển của xã hội. Các năng lực này liên quan đến nhiều môn học, theo đó
mỗi môn học với đặc trưng và thế mạnh riêng của mình sẽ tập trung đến một số năng
lực để cùng với những môn học khác sẽ có mục tiêu hình thành và phát triển một số
năng lực chung cốt lỗi cần thiết đối với mỗi học sinh.
Các năng lực chung, cốt lõi được sắp xếp theo các nhóm sau:
+ Năng lực làm chủ và phát triển bản thân. Năng lực này bao gồm: năng lực tự
học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực quản lí bản thân.
+ Năng lực xã hội, gồm: năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác.
+ Năng lực công cụ, gồm: năng lực tính toán; năng lực sử dụng ngôn ngữ; năng
lực ứng dụng công nghệ thông tin.

3


- Môn Ngữ Văn được coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng
Việt và năng lực thưởng thức văn học là năng lực mang tính đặc thù của môn học.
Ngoài ra, năng lực giao tiếp , năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng
lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định
các nội dung dạy học của môn học.
Các năng lực cần hình thành cho học sinh trong dạy học Ngữ văn
Năng lực giải quyết vấn đê: Trên thực tế, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác
nhau về năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ). Tuy nhiên, các ý kiến và quan niệm đều
thống nhất cho rằng GQVĐ là một NL chung, thể hiện khả năng của mỗi người trong
việc nhận thức, khám phá được những tình huống có vấn đề trong học tập và cuộc sống
mà không có định hướng trước về kết quả, và tìm các giải pháp để giải quyết những vấn
đề đặt ra trong tình huống đó, qua đó thể hiện khả năng tư duy, hợp tác trong việc lựa
chọn và quyết định giải pháp tối ưu.
Với môn học Ngữ văn, năng lực này cũng cần được hướng đến khi triển khai các
nội dung dạy học của bộ môn, do tính ứng dụng thực tiễn và quy trình hình thành năng
lực có thể gắn với các bối cảnh học tập (tiếp nhận và tạo lập văn bản) của môn học, khi
nảy sinh những tình huống có vấn đề. Với một số nội dung dạy học trong môn Ngữ văn
như: xây dựng kế hoạch cho một hoạt động tập thể, tiếp nhận một thể loại văn học mới,
viết một kiểu loại văn bản, lí giải các hiện tượng đời sống được thể hiện qua văn bản,
thể hiện quan điểm của cá nhân khi đánh giá các hiện tượng văn học,… quá trình học
tập các nội dung trên là quá trình giải quyết vấn đề theo quy trình đã xác định. Quá trình
giải quyết vấn đề trong môn Ngữ văn có thể được vận dụng trong một tình huống dạy
học cụ thể hoặc trong một chủ đề dạy học.
Năng lực sáng tạo: Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học
sinh trong việc suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập
và cuộc sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để
thực hiện ý tưởng. Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ óc tò mò,
niềm say mê tìm hiểu khám phá.
Việc hình thành và phát triển năng lực sáng tạo cũng là một mục tiêu mà môn học
Ngữ văn hướng tới. Năng lực này được thể hiện trong việc xác định các tình huống và
những ý tưởng, đặc biệt những ý tưởng được gửi gắm trong các văn bản văn học, trong
việc tìm hiểu, xem xét các sự vật, hiện tượng từ những góc nhìn khác nhau, trong cách
4


trình bày quá trình suy nghĩ và cảm xúc của HS trước một vẻ đẹp, một giá trị của cuộc
sống. Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìm hiểu của
HS, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức. Trong các giờ đọc hiểu văn bản, một
trong những yêu cầu cao là HS, với tư cách là người đọc, phải trở thành người đồng
sáng tạo với tác phẩm (khi có được những cách cảm nhận riêng, độc đáo về nhân vật, về
hình ảnh, ngôn từ của tác phẩm; có cách trình bày, diễn đạt giàu sắc thái cá nhân trước
một vấn đề,…).
Năng lực hợp tác: Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong
nhóm nhỏ để hoàn thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau. Khi làm việc
cùng nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghe người
khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ. Đây là hình thức học
tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả về quan hệ xã hội lẫn thành tích học tập.
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân và tập thể
trong học tập và cuộc sống. Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làm việc hiệu quả của
cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương trợ lẫn nhau để cùng
hướng tới một mục đích chung. Đây là một năng lực rất cần thiết trong xã hội hiện đại,
khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một không gian rộng mở của quá trình
hội nhập.
Trong môn học Ngữ văn, năng lực hợp tác thể hiện ở việc HS cùng chia sẻ, phối
hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực hiện các nhiệm vụ học tập diễn
ra trong giờ học. Thông qua các hoạt động nhóm, cặp, học sinh thể hiện những suy nghĩ,
cảm nhận của cá nhân về những vấn đề đặt ra, đồng thời lắng nghe những ý kiến trao
đổi thảo luận của nhóm để tự điều chỉnh cá nhân mình. Đây là những yếu tố rất quan
trọng góp phần hình thành nhân cách của người học sinh trong bối cảnh mới.
Năng lực tự quản bản thân: Năng lực này thể hiện ở khả năng của mỗi con
người trong việc kiểm soát cảm xúc, hành vi của bản thân trong các tình huống của cuộc
sống, ở việc biết lập kế hoạch và làm việc theo kế hoạch, ở khả năng nhận ra và tự điều
chỉnh hành vi của cá nhân trong các bối cảnh khác nhau. Khả năng tự quản bản thân
giúp mỗi người luôn chủ động và có trách nhiệm đối với những suy nghĩ, việc làm của
mình, sống có kỉ luật, biết tôn trọng người khác và tôn trọng chính bản thân mình.

5


Cũng như các môn học khác, môn Ngữ văn cũng cần hướng đến việc rèn luyện và
phát triển ở HS năng lực tự quản bản thân. Trong các bài học, HS cần biết xác định các
kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kế hoạch để đạt được mục tiêu
đặt ra, nhận biết những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp thu kiến thức và rèn luyện
kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố
tiêu cực, từ đó xác định được các hành vi đúng đắn, cần thiết trong những tình huống
của cuộc sống.
Năng lực giao tiếp tiếng Việt : Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa
người nói và người nghe, nhằm đạt được một mục đích nào đó. Việc trao đổi thông tin
được thực hiện bằng nhiều phương tiện, tuy nhiên, phương tiện sử dụng quan trọng nhất
trong giao tiếp là ngôn ngữ. Năng lực giao tiếp do đó được hiểu là khả năng sử dụng các
quy tắc của hệ thống ngôn ngữ để chuyển tải, trao đổi thông tin về các phương diện của
đời sống xã hội, trong từng bối cảnh/ngữ cảnh cụ thể, nhằm đạt đến một mục đích nhất
định trong việc thiết lập mối quan hệ giữa những con người với nhau trong xã hội. Năng
lực giao tiếp bao gồm các thành tố: sự hiểu biết và khả năng sử dụng ngôn ngữ, sự hiểu
biết về các tri thức của đời sống xã hội, sự vận dụng phù hợp những hiểu biết trên vào
các tình huống phù hợp để đạt được mục đích.
Trong môn học Ngữ văn, việc hình thành và phát triển cho HS năng lực giao tiếp
ngôn ngữ là một mục tiêu quan trọng, cũng là mục tiêu thế mạnh mang tính đặc thù của
môn học. Thông qua những bài học về sử dụng tiếng Việt, HS được hiểu về các quy tắc
của hệ thống ngôn ngữ và cách sử dụng phù hợp, hiệu quả trong các tình huống giao
tiếp cụ thể, HS được luyện tập những tình huống hội thoại theo nghi thức và không nghi
thức, các phương châm hội thoại, từng bước làm chủ tiếng Việt trong các hoạt động giao
tiếp. Các bài đọc hiểu văn bản cũng tạo môi trường, bối cảnh để HS được giao tiếp cùng
tác giả và môi trường sống xung quanh, được hiểu và nâng cao khả năng sử dụng tiếng
Việt văn hóa, văn học. Đây cũng là mục tiêu chi phối trong việc đổi mới phương pháp
dạy học Ngữ văn là dạy học theo quan điểm giao tiếp, coi trọng khả năng thực hành,
vận dụng những kiến thức tiếng Việt trong những bối cảnh giao tiếp đa dạng của cuộc
sống.
Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ năng cơ
bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình
huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống.
6


Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mi: Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể
hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật,
hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái
đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái
thiện. Như vậy, năng lực cảm thụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm
nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân. Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận
thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác,
của các nhóm cảm xúc.
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với tư
duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học. Năng lực cảm xúc được thể hiện ở
nhiều khía cạnh: Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những
hình ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc
sống qua ngôn ngữ nghệ thuật; Nhận ra được những giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong
tác phẩm văn học: cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn,….từ đó cảm
nhận được những giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện
qua tác phẩm; Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm
văn học, hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của cá nhân; biết cảm
nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có những hành
vi đẹp đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội; hình thành thế giới quan thẩm mĩ cho
bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương.
1.1.2 Dạy học phát triển năng lực người học được xem như một nội dung giáo
dục, một phương pháp giáo dục rất cần thiết trong đổi mới giáo dục nói chung. Giáo dục
định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục
tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức
trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các
tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của
người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng
phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là ”sản phẩm
cuối cùng” của quá trình dạy học. Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều
khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS. Chương trình
dạy học định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết
7


mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cở sở đó đưa
ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh
giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết
quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình định hướng phát triển năng lực, mục tiêu
học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các
năng lực. Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá
được. HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình. Việc đưa
ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định
hướng kết quả đầu ra.
Bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và
chương trình định hướng phát triển năng lực:
Chương trình định hướng nội Chương trình định hướng phát triển
dung
năng lực
tiêu Mục tiêu dạy học được mô tả Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi

Mục
giáo dục

không chi tiết và không nhất thiết tiết và có thể quan sát, đánh giá được;
phải quan sát, đánh giá được

Nội

thể hiện được mức độ tiến bộ của HS

một cách liên tục
dung Việc lựa chọn nội dung dựa vào Lựa chọn những nội dung nhằm đạt

giáo dục

các khoa học chuyên môn, không được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với
gắn với các tình huống thực tiễn. các tình huống thực tiễn. Chương trình
Nội dung được quy định chi tiết chỉ quy định những nội dung chính,

Phương
pháp
học

trong chương trình.
không quy định chi tiết.
GV là người truyền thụ tri thức, - GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ
dạy là trung tâm của quá trình dạy HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức.
học. HS tiếp thu thụ động những Chú trọng sự phát triển khả năng giải
tri thức được quy định sẵn.

quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…;
- Chú trọng sử dụng các quan điểm,
phương pháp và kỹ thuật dạy học tích
cực; các phương pháp dạy học thí

Hình
dạy học

nghiệm, thực hành
thức Chủ yếu dạy học lý thuyết trên Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú
lớp học

ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng
8


tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và
Đánh

học
giá Tiêu chí đánh giá được xây dựng Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu

kết quả học chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình
tập của HS tái hiện nội dung đã học.

học tập, chú trọng khả năng vận dụng
trong các tình huống thực tiễn.

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý
tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề
gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí
tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới
quan hệ GV- HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã
hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên
môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các
vấn đề phức hợp. Đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo
dục định hướng phát triển năng lực là: Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của
người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi
chép, tìm kiếm thông tin,...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập,
sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và
phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương
pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ
nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”. Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn
chặt với các hình thức tổ chức dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều
kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học
trong lớp, học ở ngoài lớp... Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành
để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn,
nâng cao hứng thú cho người học. Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn
học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần
thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh. Tích cực vận dụng công nghệ
thông tin trong dạy học.
Một số phương pháp và hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát
triển năng lực học sinh trong môn ngữ văn
9


- Các phương pháp dạy học tích cực:
+ Thảo luận nhóm: Học sinh tham gia trao đổi, bàn bạc, chia sẻ yes kiến về vấn
đề cả nhóm quan tâm.
+ Đóng vai: là phương pháp tổ chưc cho học sinh thực hành để trình bày những
suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một vai giả định. Phương pháp giúp học sinh suy
nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong
cuộc.
+ Nghiên cứu tình huống: Là phương pháp mà trong đó trọng tâm của quá trình
dạy học là việc phân tích và giải quyết các vấn đề của một tình huống được lựa chọn
trong thực tiễn.
+ Dạy học theo dự án: Là phương pháp dạy học trong đó người học thực hiện
một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành.
Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học
tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều
chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
- Các kỹ thuật dạy học tích cực
+ Kĩ thuật chia nhóm: Đây là kĩ thuật dạy học chia học sinh thành các nhóm đối
tượng. Từ đó, đưa nhiệm vụ học tập đến từng nhóm học sinh được hiệu quả. Học sinh
được làm việc theo nhóm sẽ phát huy được tính tập thể, khả năng sẻ chia và góp ý.
+ Kĩ thuật giao nhiệm vụ: Giáo viên giao cho học sinh nhiệm vụ cụ thể, thường là
những câu hỏi đặt ra những tình huống có vấn đề cần phải giải quyết.
+ Kĩ thuật đặt câu hỏi: Là kĩ thuật dạy học trong đó, giáo viên xây dựng hệ thống câu
hỏi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài. Đồng thời, học sinh có thể tham gia vào quá trình
đặt câu hỏi để để hỏi lại, hỏi thêm giáo viên và các học sinh khác về những nội dung bài
học chưa sáng tỏ. Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa học
sinh và giáo viên, giữa học sinh và học sinh. Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ
tham gia của học sinh càng nhiều; học sinh sẽ học tập tích cực hơn.
+ Kĩ thuật khăn trải bàn: Kĩ thuật dạy học dựa trên cơ sở nhóm học sinh. Giáo viên
giao nhiệm vụ cho từng nhóm học sinh. Nhóm học sinh cùng thảo luận. Nội dung sau
thảo luận được trình bày trên mặt giấy Ao như một chiếc khăn trải bàn.

10


+ Kĩ thuật động não: Động não là kĩ thuật giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn
nảy sinh được nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó. Các thành viên
được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng.
+ Kĩ thuật “Trình bày một phút”: Là kĩ thuật tạo cơ hội cho học sinh tổng kết lại kiến
thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài
trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả
lời học sinh đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho giáo viên thấy
được các em đã hiểu vấn đề như thế nào.
+ Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”: Lược đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ
ràng những ý tưởng hay kết quả làm việc của cá nhân/ nhóm về một chủ đề.
1.2 Thể loại truyền thuyết
Để có thể vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực để thiết kế bài
học thì việc nắm chắc các tri thức về thể loại là rất cần thiết.
1.2.1 Khái niệm: truyền thuyết là tác phẩm tự sự dân gian kể về sự kiện và nhân vật
lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo xu hướng lí tưởng hóa, qua đó thể hiện sự
ngưỡng mộ và tôn vinh của nhân dân đối với những người có công với đất nước, dân
tộc hoặc cộng đồng dân cư của một vùng.
Điều chủ yếu mà truyền thuyết muốn phản ánh không phải là lịch sử như thế nào
mà là lịch sử đem lại cái gì cho nhận thức và tình cảm của nhân dân. Nếu lịch sử quan
tâm đến các sự kiện , diễn biến sự kiện thì truyền thuyết quan tâm đến các mô típ, chi
tiết mang đậm màu sắc nhân văn.
1.2.2 Đặc trưng của truyền thuyết
- Truyền thuyết phản ánh lịch sử một cách độc đáo: Cốt lõi của truyền thuyết
là lịch sử. Đối tượng phản ánh nổi bật của truyền thuyết cũng là lịch sử. Song truyền
thuyết không phải là lịch sử. Tất cả những sự kiện trọng đại của dân tộc hoặc của nhân
dân đều có mặt trong truyền thuyết, những vấn đề sinh hoạt đời thường, sinh hoạt gia
đình… không phải là đối tượng của thể loại này.
Nhưng phản ánh lịch sử của truyền thuyết không phải là sao chép mà là lựa chọn
và tái tạo. Nhiều nhân vật truyền thuyết là sản phẩm của những hư cấu, chỉ có “cốt lõi là
sư thật lịch sử”.
- Truyền thuyết gắn liền với những nghi lễ, lễ hội:

11


+ Nhân vật truyền thuyết đồng thời cũng là những nhân vật lịch sử nổi tiếng, vì
vậy họ được thiêng hóa, lập đền, đình, miếu để thờ cúng, được tổ chức lễ hội tưởng
niệm. Gắn với nghi lễ thờ cúng chính là một tín hiệu để nhận diện các nhân vật và tác
phẩm truyền thuyết.
+ Truyền thuyết và nghi lễ, lễ hội là hai lĩnh vực khác nhau nhưng có liên quan
chặt chẽ. Truyền thuyết khiến lễ hội có nội dung thiêng liêng, còn lễ hội làm cho việc
diễn xướng truyền thuyết sinh động, thu hút được sự gắn bó và cộng cảm của tập thể. Lễ
hội là nơi di dưỡng truyền thuyết, ngược lại nhờ truyền thuyết mà lễ hội được tiếp thêm
sức sống dồi dào, phong phú. Tất cả tạo nên một diện mạo văn hóa hoàn chỉnh, mamg
dấu ấn riêng của làng hay của nước.
1.2.3 Một số vấn đề nghệ thuật của truyền thuyết
- Kết cấu của truyền thuyết: Truyền thuyết có kết cấu theo khuynh hướng
chung của các loại tự sự dân gian. Cốt truyện thường có ba chặng: Chặng 1: Hoàn cảnh
xuất hiện và đặc điểm của nhân vật. Chặng 2: Hành trạng và chiến công của nhân vật.
Chặng 3: Nhân vật hóa và hiển linh, âm phù (mô típ về sự hóa thân, sự hiển linh của
nhân vật thể hiện sự ngưỡng mộ, tôn sùng của dân gian vơi các anh hùng.)
- Nhân vật truyền thuyết: Truyền thuyết là sự nhào nặn lịch sử bằng cách hình
tượng hóa và kì ảo hóa các nhân vật theo quan điểm lịch sử của nhân dân. Cảm quan
lịch sử đã chi phối nghệ thuật xây dựng hình tượng truyền thuyết. Họ dù có là hư cấu
hay đích thực thì cũng đều có tên tuổi, gốc gác…nói chung, có một lí lịch rõ ràng gắn
với địa phương hay thời đại.
+ Nhóm nhân vật của truyền thuyết thời Văn Lang – Âu Lạc mang đậm màu
sắc thần thoại. Họ là những anh hùng được nhào nặn, thần thánh hóa, vũ trụ hóa qua trí
tưởng tương bay bổng của nhân dân mà trở thành thần thánh. Thế giới quan thần thoại
và niềm tự hào dân tộc chính là cơ sở sáng tạo nên những hình tượng nghệ thuật như
Thánh Gióng, Sơn Tinh, Cao Lỗ, An Dương Vương…
2.Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực trạng dạy học môn Ngữ Văn trong trường THPT
Dạy học Văn trong trường THPT hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại với các hiện tượng:
Dạy học đọc chép. Hiện tượng dạy học đọc chép trong môn văn rất phổ biến ở
các trường phổ thông hiện nay. Đọc chép trong giờ chính khóa và trong các lò luyện thi.
Thầy cô đọc trước, HS chép sau, hay thầy cô vừa đọc vừa ghi bảng rồi HS chép theo.
12


Đối với các bài khái quát về giai đoạn văn học hay khái quát về tác gia thầy cô cũng
thường tóm tắt rồi đọc cho HS chép. Đối với bài “giảng văn” thầy cô cũng thường nêu
“câu hỏi thu từ”, rồi giảng, sau đó đọc chậm cho HS chép các kết luận, nhận định. Trong
cách dạy này HS tiếp thu hoàn toàn thụ động, một chiều.
Dạy nhồi nhét. Dạy nhồi nhét cũng là hiện tượng phổ biến do thầy cô sợ dạy
không kĩ, ảnh hưởng đến kết quả làm bài thi của HS, cho nên dạy không lựa chọn trọng
tâm, không có thì giờ nêu vấn đề cho HS trao đổi. Kết quả của lối dạy này cũng là làm
cho HS tiếp thu một cách thụ động, một chiều.
Học sinh học thụ động, thiếu sáng tạo. Tương ứng với cách dạy học như trên
HS tất nhiên chỉ tiếp thu một cách thụ động mà thôi. Tính chất thụ động thể hiện ở việc
học thiếu hứng thú, học đối phó, và về nhà chỉ còn biết học thuộc để trả bài và làm bài.
Cách học đó tất nhiên cũng không có điều kiện tìm tòi, suy nghĩ, sáng tạo, cũng không
được khuyến khích sáng tạo.
Học sinh không biết tự học. Cách học thụ động chứng tỏ HS không biết tự học,
không có nhu cầu tự tìm hiểu, nghiên cứu, không biết cách chủ động tự đọc SGK để tìm
hiểu kiến thức, không biết cách phân biệt cái chính và cái phụ, không biết tìm kiến thức
trọng tâm để học, không biết từ cái đã biết mà suy ra cái chưa biết. Nói tóm lại là chưa
biết cách tự học.
Học tập thiếu sự hợp tác giữa trò và thầy, giữa trò với trò. Mỗi cá nhân trong
quá trình học tập đều có hạn chế, bởi mỗi người thường chỉ chú ý vào một số điểm, bỏ
qua hoặc không đánh giá hết ý nghĩa của các kiến thức khác. Trong điều kiện đó, nếu
biết cách hợp tác trong học tập, giữa thầy giáo và HS, HS với HS có thể nhắc nhở nhau,
bổ sung cho nhau, làm cho kiến thức được toàn diện và sâu sắc.
Học thiếu hứng thú, đam mê. Kết quả củ việc học thụ động là học tập thiếu cảm
hứng, thiếu lửa, thiếu niềm ham mê, mà thiếu những động cơ nội tại ấy việc học tập
thường là ít có kết quả.
2.2 Thực trạng dạy tác phẩm truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu –
Trọng Thủy.
Tình trạng dạy học tác phẩm Truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị Châu
Trọng Thủy cũng không là trường hợp ngoại lệ trong dạy học văn hiện nay. Giáo viên
vẫn là người truyền thụ tri thức, là trung tâm của quá trình dạy học. HS tiếp thu thụ
động những tri thức được quy định sẵn. Đa số giáo viên chưa được chú trọng đến việc
13


đổi mới phương pháp, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học
sinh. Học sinh học thiếu hứng thú, thiếu sáng tạo, học sinh và giáo viên thiếu hợp tác và
vì thế, không rèn luyện được khả năng tự học, tự tìm hiểu và giải quyết vấn đề.
Mặt khác, truyền thuyết là một thể loại tự sự dân gian với những đặc trưng riêng
về cả nội dung và nghệ thuật. Việc dạy học tác phẩm này hiện nay chưa được người dạy
thực sự chú ý kết nối với đặc trưng thể loại.
Như vậy, thực tiễn giảng dạy tác phẩm Truyền thuyết Truyện An Dương Vương
và Mị Châu Trọng Thủy trong nhà trường phổ thông vẫn còn nhiều bất cập. Bởi vậy
việc vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực vào việc dạy tác phẩm theo
hướng phát huy năng lực học sinh là rất cần thiết.
II.GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM
Ngày soạn:
Ngày giảng:
Tiết 11 – Đọc Văn
TRUYỆN AN DƯƠNG VƯƠNG VÀ MỊ CHÂU - TRỌNG THỦY
(Truyền thuyết– tiết 1/2)
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Về kiến thức, kĩ năng, thái độ
* Kiến thức:
- Nắm được đặc trưng cơ bản của truyền thuyết qua việc tìm hiểu một tác phẩm cụ thể
kể về thành Cổ Loa, mối tình Mị Châu – Trọng Thủy.
- Thấy được vai trò, đóng góp của An Dương Vương đối với đất nước và đánh giá của
nhân dân đối với những đóng góp của nhân vật.
- Bài học lịch sử về tinh thần cảnh giác với kẻ thù và cách xử lí đúng đắn mối quan
hệ giữa riêng với chung, nhà với nước, cá nhân với cộng đồng.
* Kĩ năng:
- Đọc (kể) diễn cảm truyền thuyết dân gian.
- Phân tích nhân vật và văn bản truyền thuyết theo đặc trưng thể loại.
* Thái độ: Có tinh thần cảnh giác với kẻ ngoại bang, biết xử lí đúng đắn mối quan hệ
giữa riêng vàc chung, cá nhân với cộng đồng.
14


2. Các năng lực cần hình thành cho học sinh
- Năng lực chung: Năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực
thẩm mỹ, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực công nghệ thông tin và truyền
thông.
- Năng lực riêng:
+ Năng lực đọc – hiểu tác phẩm truyền thuyết theo đặc điểm thể loại.
+ Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản.
+ Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản.
+ Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản.
+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong văn bản.
+ Năng lực đọc diễn cảm….
II. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
Giáo viên
– Giáo án
– Phiếu bài tập, trả lời câu hỏi
– Hình ảnh về cụm di tích Cổ Loa, lễ hội Cổ Loa
– Bảng phân công nhiệm vụ cho học sinh hoạt động trên lớp.
– Bảng giao nhiệm vụ học tập cho học sinh ở nhà
Học sinh
– Đọc trước văn bản các tác phẩm để trả lời câu hỏi tìm hiểu bài
– Các sản phẩm thực hiện nhiệm vụ học tập ở nhà (do giáo viên giao từ trước: tranh ảnh
về di tích Cổ Loa, lễ hội Cổ Loa)
– Đồ dùng học tập
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1.Ổn định tổ chức
2.Kiểm tra bài cũ: Không
3.Bài mới
Mục tiêu,
Hoạt động

ý
thiết

tưởng
kế

hoạt động
A. KHỞI ĐỘNG (5 phút)

Hoạt động Hoạt
của

học của

sinh

viên

động
giáo Kiến thức cơ bản cần đạt

15


Trò chơi ô - Tạo tâm

Nghe

chữ

nhìn

câu câu hỏi, đọc

động cả lớp) thú cho HS hỏi,

phán yêu cầu câu

(hoạt thế hứng

- Khơi gợi đoán,
khả

– - Chiếu các

tìm hỏi.

năng câu trả lời.

phán đoán

Phụ lục I.

nhanh.
- Tạo kết

-

GV

dẫn

nối vào bài

vào bài mới:

học.

Kết nối Âu
Lạc với An
Dương
Vương



mối tình Mị
Châu



Trọng Thủy
trong truyền
thuyết.
B. HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
Hướng
Hoạt

động

dẫn I. TIỂU DẪN

học sinh tìm

1: Tìm hiểu

hiểu

phần

Tiểu dẫn

Tiểu

phần 1. Thể loại truyền thuyết

dẫn
Sử dụng kĩ
- Ôn tập Đọc

phần thuật

lại,

khắc Tiểu

dẫn, câu hỏi

sâu

hơn vận

dụng Từ phần tiểu

kiến

thức kiến

thức dẫn và bài

về thể loại đã học về khái

đặt

quát

truyền

tiểu thuyết, VHDG Việt - Khái niệm: Là loại truyện

thuyết.

trả lời câu Nam,

trình dân gian, kể về nhân vật và sự
16


hỏi.

bày hiểu biết kiện lịch sử theo hướng lí
của em về tưởng hóa, qua đó thể hiện
thể

loại hiện thái độ của nhân dân đối

truyền

với các sự kiện và nhân vật

thuyết?

lịch sử

- Chốt ý, sử - Đặc trưng: Có sự kết hợp:
dụng

kĩ + Cốt lỗi lịch sử

thuật “Bản + Yếu tố tưởng tượng, hư cấu.
đồ tư duy” - Môi trường sinh thành, lưu
trình

chiếu truyền, biến đổi: Lễ hội và các

sơ đồ về thể di tích lịch sử, văn hóa
loại

truyền

thuyết.
Khắc
ấn

sâu

2.Cụm di tích lịch sử, văn

tượng

hóa và lễ hội Cổ Loa

về cụm di

- GV: Giao

tích

nhiệm

Cổ

vụ

Loa trong

cho

quan

hệ -HS

HS chuẩn bị

với

tác Sưu

tầm trước ở nhà

phẩm.

nhóm

tranh ảnh, (tìm hiểu di

- Phát huy vi deo, tích tích Cổ Loa,
năng

lực hợp

giải quyết thức

kiến sưu

tầm

lịch tranh ảnh…)

vấn đề, khả sử, địa lý,
năng

tìm văn

kiếm,

sắp chuẩn

xếp
liệu,

hóa, - Nhận xét,
bị chốt ý:

tài bài thuyết +
khả trình.

- Di tích lịch sử văn hóa, gồm
Trình đền thờ An Dương Vương, am

chiếu

hình thờ Mị Châu và giếng Ngọc.

năng

ảnh

về

di - Lễ hội Cổ Loa: từ ngày 6

thuyết

tích và lễ hội đến 16 tháng Giêng

trình.

làng Cổ Loa.
17


3. Truyền thuyết Truyện An
Dương Vương và Mị Châu Nêu

Tim

xuất

Trọng Thủy

xứ, bố cục, GV yêu cầu

- Xuất xứ: trích từ “Truyện

tóm tắt tác tóm tắt ngắn

Rùa Vàng” trong “Lĩnh Nam

hiểu phẩm, trình gọn tác

xuất xứ, bố bày

trước phẩm theo

chích quái”- sưu tập truyện
dân gian ra đời vào cuối thế kỉ

cục và tóm lớp.

sự việc, chi

tắt

tiết tiêu biểu. - Bố cục:

phẩm.

tác


XV.
+ Đoạn 1: Từ đầu đến “Bèn

Phát

huy

- Theo em

xin hòa”: An Dương Vương

năng

lực

có thể chia

xây thành chế nỏ bảo vệ vững

tóm tắt văn

văn bản

chắc đất nước.

bản, năng

thành mấy

+ Đoạn 2: Tiếp đó đến … dẫn

lực

trình

đoạn, nêu

vua xuống biển: Cảnh nước

bày

trước

nội dung của

mất nhà tan.

mỗi đoạn?

+ Đoạn 3: Còn lại: Mượn

đám đông.

hình ảnh ngọc trai - nước
giếng để thể hiện thái độ của
GV nhận

tác giả dân gian đối với Mị

xét, chuẩn

Châu.

xác kiến

- Tóm tắt:

thức.

(Phụ lục II)

Sử dụng kĩ
thuật “Bản
đồ tư duy”
trình chiếu
tranh và tóm
tắt tác phẩm
theo nội
dung các
18


bức tranh
trình chiếu.
Hoạt

động

Hướng dẫn II. ĐỌC HIỂU

2: Đọc hiểu

học

sinh

văn bản

đọc

hiểu

văn bản
1.Nhân
Tìm

hiểu Tìm

quá

trình công

xây

hiểu HS:Kĩ
An hợp

tác, thuật

đặt Vương.

hoạt động câu hỏi, nêu

nước của An Vương.



Dương

- Rèn năng suy

vương

lực

nhân, vấn đề: An
nghĩ, Dương

đọc tìm chi tiết, Vương



+ Hoạt động đọc

diễn đánh giá ý những công

cá nhân

khả nghĩa

phiếu

học chi

tập và thảo nhận
luận nhóm

vấn đề.

Dương

Vương

chế nỏ, giữ Dương

+ Sử dụng năng

An

lao thuật đọc Sử dụng kĩ a.Công lao của An Dương

thành, của

cảm,

vật

của lao gì với

tìm chi tiết.

đất nước? (3

tiết,

công

xét

xây

thành,

chế

nỏ,

lao:

chiến thắng
+

Trả

lời

Triệu Đà)

câu hỏi, làm

- Yêu cầu * Xây thành:

việc cá nhân

học sinh đọc - Chi tiết:
diễn
đoạn
An

cảm + Ban đầu đắp đến đâu lại lở
“Vua tới đấy
Dương + Vua lập đàn, trai giới, cầu

Vương…cao
lắm”.

đảo bách thần.

Tìm + Sứ Thanh Giang giúp, xây

các chi tiết thành nửa tháng thì xong
kể về quá + Thành “rộng hơn ngàn
19


trình

xây trượng”, “xoắn như hình trôn

thành,

ý ốc”, được gọi là “Loa Thành”,

nghĩa

của “Quỷ Long Thành”…

các chi tiết - Ý nghĩa:
ấy?

+ Thể hiện con người An
Dương Vương:
Kiên trì, quyết tâm, không
nản chí trước thất bại.
+ Sức mạnh to lớn của nhà
nước, sự sáng tạo độc đáo của
người Âu Lạc.

Tìm

hiểu

Sử dụng kĩ * Chế nỏ

các chi tiết Nhận phiếu thuật
chế

nỏ, học

thắng Triệu thảo

tập, nhóm, phát
luận phiếu

Đà, qua đó nhóm, trình tập
đánh

giá bày

chia * Chiến thắng Triệu Đà

trước phân

học
số

1,
công

phẩm chất, lớp.

nhiệm vụ.

công

+ Nhóm 1,

lao

của vua An

2: Chế nỏ

Dương

+ Nhóm 3,4:

Vương.

Chiến thắng

- Phát huy

Triệu Đà

năng

lực

hợp

tác,

GV kiểm tra

làm

việc

đánh giá sản

nhóm,
trình
vấn đề.

bày

phẩm

hoạt

động

của

học

sinh,

nhận

xét,

- Phụ lục III
- Phụ lục IV
20


chốt

ý:
*Chi tiết thần kỳ
Phụ lục V.

Xác

định

các chi tiết Nhận phiếu Phát phiếu
thần

kì. học

tập, học tập số

Thấy được thảo

luận 2, yêu cầu

đánh

giá cặp

đôi: học

sinh

của

nhân xác

định làm

việc

dân

với chi

tiết cặp đôi.

nhân vật và đúng, nêu ý Xác định các
đặc

trưng nghĩa.

thể

chi tiết thần

loại

kỳ . Nêu ý

truyền

nghĩa

thuyết.

chi tiết đó?
GV

các

nhận

xét, chốt ý
- Đánh giá

theo phụ lục =>Đánh

khái

IV

quát

Vương là một minh quân, có

về nhân vật

tinh thần cảnh giác, ý thức

An Dương Làm
Vương.

giá: An Dương



việc Sử dụng kĩ trách nhiệm cao, được nhân
nhân, thuật

đặt dân và thần linh ủng hộ, tôn

- Năng lực trình bày ý câu hỏi: Từ vinh.
đánh

giá, kiến.

trình

bày Thảo luận việc, chi tiết

vấn đề

những

nhóm, trình trên,
bày ý kiến

sự
nhận

xét về nhân
vật?

C. LUYỆN TẬP
Tổng

kết - HS làm GV đặt câu
21


lại

kiến việc

cá hỏi:

Thông

điệp

quan

học và đặt

trọng

nhất

những câu

các em học

hỏi

về

được qua bài

những điều

học hôm nay

còn

là gì?

thức

đã nhân.

băn

khoăn.

GV yêu cầu
mỗi HS đưa
ra một thông
điệp.
GV

nhận

xét, chốt ý.
D. VẬN DỤNG, MỞ RỘNG
Hỏi và trả Vận dụng

-

lời

kiến

hỏi: Từ câu + Để thành công cần kiên trì,

Sáng tạo

của

thức
tác

Đặt

chuyện

phẩm vào HS đưa tìm thành
đời

sống ra

thực tiễn

câu Bài học:

những của

bền bỉ, quyết tâm,có ý chí
công nghị lực, tinh thần vượt khó.
An + Thời đại công nghệ hiện

phẩm chất Dương

nay, những âm mưu, thủ đoạn

- Phát huy cần có để Vương, em của kẻ thù rất phong phú, tinh
năng

lực thành công. thấy

thẩm

mĩ, -

trí

Nêu

ý thành

để vi, bởi vậy dù đất nước hòa
công bình nhưng mỗi công dân vẫn

tưởng kiến

về chúng ta cần cần tỉnh táo, nâng cao tinh

tượng của tinh

thần những phẩm thần cảnh giác để không mắc

học sinh

cảnh

giác chất gì?

trong

thời - Nước ta

bình

đang

mưu kẻ thù.
hòa

- Vẽ tranh bình vậy có
chân dung cần
theo

trí giác

cảnh


tưởng

không ? Vì

tượng.(Về

sao?
22


nhà)

- Phác họa
chân

dung

nhân vật An
Dương
Vương theo
trí

tưởng

tượng

của

em (Nộp sản
phẩm

tiết

sau)
5.Dặn dò: VN học bài, vẽ chân dung An Dương Vương, chuẩn bị phần sau: các nhân
vật: An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy và hình ảnh ngọc trai – giếng nước.
Phụ lục 1: Năm câu hỏi ô chữ
Câu 1: Tên của người mẹ đẻ ra bọc trăm trứng?
Câu 2: Tên của nhân vật gắn với giai thoại “bóp nát quả cam”
Câu 3: Vị vua đã lãnh đạo nhân dân chiến thắng giặc Minh?
Câu 4: Tên người cha gắn với dòng dõi “Con rồng cháu tiên” của dân tộc?
Câu 5: Môn học nghiên cứu về quá khứ, đặc biệt những sự kiện liên quan đến con
người?
ĐÁP ÁN:
Câu 1
Câu 2
Câu 3
Câu 4
Câu 5

T

R



N
L
L

Q
Ê
L


Â
U
L

C

U


L
H

C
C
I
O
S

Ơ
T O Ả N
N G Q U Â N


Phụ lục II.

23


Phiếu học tập 1: Nhóm1, 2
VUA AN DƯƠNG VƯƠNG: CÔNG LAO CHẾ NỎ
LIỆT KE CHI TIẾT
Ý NGHĨA

Phiếu học tập 1: Nhóm 3,4
VUA AN DƯƠNG VƯƠNG: CÔNG LAO ĐÁNH GIẶC
LIỆT KE CHI TIẾT
NGUYÊN NHÂN CHIẾN THẮNG

24


Phụ lục III
VUA AN DƯƠNG VƯƠNG CHẾ NỎ
LIỆT KE CHI TIẾT
Ý NGHĨA
- Thể hiện con người An Dương Vương:
- Vua băn khoăn: “Nếu có giặc ngoài thì + Tinh thần trách nhiệm cao với đất nước
lấy gì mà chống?”

+ Tinh thần cảnh giác cao độ trước kẻ thù

- Rùa Vàng cho vua vuốt làm lẫy nỏ.

- Thể hiện niềm tự hào về trình độ sản xuất

- Vua sai Cao Lỗ làm nỏ,lấy vuột làm lẫy, vũ khí, tài năng, sức mạnh con người Đại
gọi là nỏ “Linh Quang Kim Quy thần cơ”

Việt.

Phụ lục IV
VUA AN DƯƠNG VƯƠNG: CÔNG LAO ĐÁNH GIẶC
LIỆT KE CHI TIẾT
- Triệu Đà cử binh sang xâm lược

NGUYÊN NHÂN
- Có thành cao, hào sâu, vũ khí linh

- Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Triệu Đà nghiệm
thua lớn, bèn xin hoà.

- Tầm nhìn xa trông rộng, tinh thần cảnh
giác cao độ của Vua.

Phiếu học tập 2: (Làm việc cặp đôi)
CHI TIẾT THẦN KỲ (Phần 1)
CHI TIẾT GÂY NHIỄU
- Vua xây thành ở đất Việt Thường
- Đắp tới đâu lại lở tới đấy
- Vua lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần
- Cụ già từ phương Đông
- Vua chờ ở cửa đông
- Sứ Thanh Giang
- Vua sai cao Lỗ làm nỏ
- Triệu Đà cử binh sang xâm lược
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×