Tải bản đầy đủ

Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc An thần kinh trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Sơn La

MỤC LỤC
Trang
PHẦN A.THÔNG TIN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI ……………………….

1

PHẦN B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI……………………………………

2

CHƯƠNG I. ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………....…..

2-4

CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU………………………………..

5

2.1. Khái niệm về bệnh tâm thần phân liệt..............................................

5-6


2.1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh tâm thần phân liệt ………….

6-8

2.1.2. Những nghiên cứu về bệnh nguyên và bệnh sinh bệnh tâm
thần phân liệt ………………………………………………………...

8

2.1.2.1. Giả thuyết về sinh hoá ………………………………………

8-9

2.1.2.2. Giả thuyết về rối loạn cấu trúc và chức năng não …………..

9-10

2.1.2.3. Một số giả thuyết về di truyền học ………………………….

10

2.1.2.4. Một số giả thuyết khác ……………………………………... 10-11
2.2. Đặc điểm lâm sàng chung trong tâm thần phân liệt ……………...
2.3. Các triệu chứng âm tính. Các triệu chứng dương tính của tâm
thần phân liệt …………………………………………………………….
2.3.1. Các triệu chứng dương tính ……………………………………...

11

2.3.1.1. Hoang tưởng ……………………………………………………..

11-12

11
11

2.3.1.2. Ảo giác …………………………………………………………... 12-13
2.3.1.3. Ngôn ngữ thanh xuân …………………………………………….


13

2.3.1.4. Hành vi thanh xuân ………………………………………………

13

2.3.1.5. Hành vi căng trương lực …………………………………………

13-14

2.3.2. Các triệu chứng âm tính ………………………………………….

14

2.3.2.1. Cùn mòn cảm xúc ………………………………………………..

14

2.3.2.2. Ngôn ngữ nghèo nàn ……………………………………………..

14

2.3.2.3. Mất ý chí …………………………………………………………

15

2.4. Chẩn đoán tâm thần phân liệt ………………………………..........

15

2.4.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL theo ICD-10 năm 1992 …… 15-16
2.4.2. Chẩn đoán phân biệt ……………………………………………...

16


2.4.2.1. Loạn thần do bệnh cơ thể ………………………………………...

16

2.4.2.2. Loạn thần do nghiện rượu, ma tuý ………………………………. 16-17
2.4.2.3. Rối loạn cảm xúc có loạn thần …………………………………...

17

2.4.2.4. Loạn thần cấp …………………………………………………….
2.5. Các thể tâm thần phân liệt và triệu chứng cụ thể. Dựa theo bảng
phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) ………………………………….
2.5.1. Thể paranoid F20.0 ..……………………………………………….

17

2.5.2. Thể thanh xuân F20.1 .……………………………………………..

17-18

2.5.3. Thể căng trương lực F20.2 ..………………………………………..

18

2.5.4. Thể không biệt định F20.3 ..………………………………………..

18

2.5.5. Thể Trầm cảm sau phân liệt F20.4 ………………………………...

18

2.5.6. Thể di chứng F20.5 ..……………………………………………….

18

17
17

2.5.7. Tâm thần phân liệt thể đơn thuần F20.6 …………………………... 18-19
2.5.8. Các thể tâm thần phân liệt khác F20.8 ……………………………..

19

2.6. Điều trị tâm thần phân liệt …………………………………………

19

2.6.1. Nguyên tắc điều trị ……………………………………………….

19

2.6.2. Điều trị tấn công …………………………………………………..

19

2.6.1.1. Điều trị bằng thuốc ………………………………………………

19-20

2.6.1.2. Sốc điện ………………………………………………………….. 20-21
2.6.2. Điều trị củng cố …………………………………………………...

21

2.7. Các liệu pháp điều trị, liệu pháp hóa dược ……………………….

21-24

CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU …

25

3.1. Đối tượng ……………………………………………………………

25

3.1.1. Mẫu nghiên cứu ………………………………………………

25

3.1.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu ………………………

25

3.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ …………………………………………… 25-26
3.2. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………..

26

CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU …………………………….

27

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu ……………………….

27

4.1.1. Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu ……………………………..

27


4.1.2. Tuổi trung bình bệnh nhân nội và ngoại trú ………………………..

27

4.1.3. Tiến triển của các bệnh nhân nghiên cứu ………………………….. 27-28
4.2. Một số vấn đề liên quan đến chỉ định thuốc của các bệnh nhân
28
trong nghiên cứu ………………………………………………………...
4.2.1. Tỉ lệ đơn trị liệu và đa trị liệu
28
4.2.2. Liều CPZeq trung bình của bệnh nhân nội trú và ngoại trú (mg)
28-29
4.2.3. So sánh liều CPZeq trung bình của nhóm bệnh nhân ổn định và
29
nhóm bệnh nhân còn triệu chứng …………………………………………
4.2.4. Số bệnh nhân dùng liều cao ở người bệnh nội trú và ngoại trú …………. 29
4.2.5. CPZeq ở nhóm đơn trị liệu và nhóm đa trị liệu ……………………. 29-30
4.2.6. BMI của người bệnh trong nhóm nghiên cứu ……………………...

30

4.2.7. Số bệnh nhân được theo dõi Điện tim khi dùng ATK ……………..

30

CHƯƠNG V. BÀN LUẬN …………………………………………........ 31-35
CHƯƠNG VI. KẾT LUẬN ……………………………………………..

36

CHƯƠNG VII. KIẾN NGHỊ …………………………………………...

37

TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TTPL

Tâm thần phân liệt

ATK

An thần kinh

WHO

Tổ chức Y tế thế giới

ICD-10

Bảng phân loại quốc tế lần thứ 10

CPZeq

Lều trung bình tương đương Chlorpromazine

ĐK

Động kinh

TCYTTG

Tổ chức y tế thế giới

DSM III-R

Bảng phân loại năm 1987của Hội tâm thần học Mỹ

DSM IV

Bảng phân loại năm 1994 của Hội tâm thần học Mỹ


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Trang
Bảng 2.1. Một số thuốc ATK đại diện cho hai nhóm ……………………. 22-23
Bảng 2.2. Liều tương đương của một số ATK thường dung ……………..
Bảng 2.3. Sự đồng thuận của ADA/AAP đối với một số tác dụng phụ
trên chuyển hóa của các ATK không điển hình …………………………..

23
23-24

Bảng 4.1.1. Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu ………………………

27

Bảng 4.1.2. Tuổi trung bình bệnh nhân nội và ngoại trú …………………

27

Bảng 4.1.3. Tiến triển của các bệnh nhân nghiên cứu …………………… 27-28
Bảng 4.2.1. Tỉ lệ đơn trị liệu và đa trị liệu ………………………………..

28

Bảng 4.2.2. Liều CPZeq trung bình của bệnh nhân nội trú và ngoại trú (mg) … 28-29
Bảng 4.2.3. So sánh liều CPZeq trung bình của nhóm bệnh nhân ổn định
và nhóm bệnh nhân còn triệu chứng ……………………………………...
Bảng 4.2.4. Số bệnh nhân dùng liều cao ở người bệnh nội trú và ngoại trú

29
29

Bảng 4.2.5. CPZeq ở nhóm đơn trị liệu và nhóm đa trị liệu ……………... 29-30
Bảng 4.2.6. BMI của người bệnh trong nhóm nghiên cứu ……………….

30

Bảng 4.2.7. Số bệnh nhân được theo dõi Điện tim khi dùng ATK ……….

30


CHƯƠNG I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo tổ chức Y tế thế giới “Sức khoẻ không những là tình trạng không
bệnh không tật mà còn là trạng thái hoàn toàn thoải mái dễ chịu về cơ thể, tâm
thần và xã hội”. Trong đó sức khoẻ tâm thần có vị trí trung tâm, là giá trị quí
báu đối với mọi người.
Tâm thần phân liệt (TTPL) là một trong những bệnh tâm thần nặng và
thường gặp nhất trong các rối loạn tâm thần. Bệnh có xu hướng tiến triển mạn
tính, dẫn đến rối loạn nặng nề về tư duy, hành vi, cảm xúc, trí tuệ, làm giảm
hoặc mất khả năng thích nghi, lao động, sáng tạo, gây ra những tổn thất lớn về
kinh tế và xã hội.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh
tâm thần phân liệt ở các khu vực khác nhau trên thế giới khoảng 0,5 - 1,5% dân
số. Tại Việt Nam, tỷ lệ này khoảng 1% [4]. Tuy tỷ lệ mắc bệnh không cao
nhưng đây là bệnh có khuynh hướng tiến triển mạn tính, cần phải theo dõi điều
trị lâu dài, nguy cơ tái phát cao, thường để lại hậu quả nặng nề cho bệnh nhân,
gia đình và trở thành gánh nặng cho xã hội.
Từ năm 1999 đến nay, bệnh TTPL đã dược đưa vào chương trình quốc
gia về chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng. Sau thời gian điều trị tại bệnh
viện, bệnh nhân được tiếp tục điều trị duy trì bằng các thuốc hướng thần tại
cộng đồng để đạt được sự ổn định bệnh, giảm sự tiến triển và dự phòng tái phát.
Xu hướng mới này đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân TTPL trong
việc hòa nhập với cộng đồng.
Tuy nhiên, việc điều trị tại cộng đồng cũng có những khó khăn nhất định
như quá trình quản lý và giám sát sự chấp hành y lệnh của người bệnh, vấn đề
theo dõi điều trị (theo dõi sử dụng thuốc) trong và sau điều trị vẫn còn gặp
nhiều khó khăn. Ngoài ra, các thuốc an thần kinh cổ điển thường có một số tác
dụng không mong muốn như buồn ngủ, giảm huyết áp, tác dụng kháng
cholinergic… làm cho bệnh nhân ngại dùng thuốc kéo dài, dùng thuốc không
đều hoặc bỏ thuốc, dẫn tới tăng nguy cơ tái phát.
1


Do đó, vấn đề theo dõi, điều trị nội trú bệnh nhân tâm thần phân liệt tại
Bệnh viện tâm thần tỉnh là việc làm rất quan trọng có ý nghĩa thiết thực cho
chính bệnh nhân, gia đình và cả xã hội.
Kể từ những năm 1950 của thế kỷ XX việc điều trị bệnh nhân tâm thần
phân liệt (TTPL) đã có nhiều thay đổi do sự xuất hiện của các thuốc an thần
kinh (ATK).
Nếu như trước đây các bệnh nhân tâm thần phân liệt bị nuôi nhốt trong
các bệnh viện, các nhà tù và bị cách ly hoàn toàn với thế giới bên ngoài thì kể từ
khi thuốc an thần kinh ra đời, họ có thể trở về cuộc sống tại gia đình và cộng
đồng. Bệnh viện chỉ là nơi lưu giữ bệnh nhân trong giai đoạn cấp tính.
Hiệu quả điều trị của các thuốc an thần kinh đối với bệnh tâm thần phân
liệt là vấn đề không cần bàn cãi. Nhưng việc chỉ định thuốc, liều lượng và phối
hợp thuốc ở các quốc gia khác nhau cũng có nhiều sự khác biệt.
Mặc dù có những đồng thuận về nguyên tắc sử dụng thuốc ATK trong
điều trị tâm thần phân liệt trên thế giới, tuy nhiên vẫn có những khác biệt nhất
định trong cách dùng thuốc như chọn thuốc, liều dùng, phối hợp thuốc, ... ở các
quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau.
Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đã có một số nghiên cứu về vấn
đền này.
Tại Việt Nam hiện đang có một số nghiên cứu khảo sát về vấn đề này, tuy
nhiên chưa công bố kết quả.
Để góp phần làm rõ hiệu quả việc sử dụng thuốc điều trị bệnh tâm thần
phân liệt tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Sơn La, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
“Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc An thần kinh trong điều trị bệnh tâm
thần phân liệt tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Sơn La năm 2018” nhằm ba mục
tiêu sau:
1.1. Mô tả đặc điểm bệnh nhân tâm thần phân liệt được điều trị tại bệnh
viện tâm thần tỉnh.
1.2. Khảo sát tình hình sử dụng thuốc An thần kinh điều trị bệnh tâm thần
phân liệt.
2


1.3. Đánh giá hiệu quả điều trị của các thuốc An thần kinh điều trị bệnh
tâm thần phân liệt.

3


CHƯƠNG II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Khái niệm về bệnh tâm thần phân liệt:

Bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh loạn thần nặng tiến triển
từ từ, có khuynh hướng mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm
cho người bệnh dần dần tách khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế
giới bên trong, làm cho tình cảm trở lên khô lạnh, khả năng làm việc và
học tập ngày càng sút kém, có những hành vi và ý nghĩ kỳ dị, khó hiểu
[1],[5],[12].
Theo Alpert J.E. và cs: bản chất chung của các thể bệnh TTPL khác
nhau là sự phân ly giữa các khu vực khác nhau của đời sống tinh thần,
thậm chí là sự phân ly ngay cả bên trong mỗi khu vực này. Hậu quả của sự
phân ly này là các biểu hiện lập dị trong đời sống hàng ngày của bệnh nhân
[24].
Theo Nguyễn Việt, bệnh TTPL làm biến đổi nhân cách người bệnh
theo kiểu phân liệt, có nghĩa là sự mất dần tính thống nhất giữa các mặt của
hoạt động tâm thần, mất dần sự liên hệ với thực tại xung quanh người
bệnh. Bệnh tiến triển làm cho cảm xúc ngày càng khô lạnh, tư duy lệch lạc
ngày càng trầm trọng cả về nội dung lẫn hình thức, tác phong kỳ dị, khó
hiểu [20].
Theo Trần Đình Xiêm, bệnh TTPL làm cho người bệnh tách khỏi thế
giới bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, thế giới tự kỷ của riêng
người bệnh [22]. Kecbicop O.V. cũng cho rằng bản chất của quá trình phân
liệt là sự tan rã tính thống nhất của tâm thần, sự chia cắt tâm thần [12].
Tóm lại, đa số các nhà tâm thần học đều thống nhất rằng: bản chất
của bệnh TTPL là sự chia cắt tính thống nhất của hoạt động tâm thần, gây
rối loạn các chức năng tâm thần. Quá trình tiến triển mạn tính của bệnh dẫn
đến sự biến đổi nhân cách người bệnh theo kiểu phân liệt: thiếu hoà hợp, tự
4


kỷ, tư duy nghèo nàn, cảm xúc cùn mòn, trí tuệ sa sút, hành vi lập dị thụ
động, ...
2.1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh tâm thần phân liệt:
Theo các tài liệu kinh điển, bệnh TTPL đã có hàng nghìn năm nay,
lịch sử nghiên cứu bệnh TTPL gắn liền với các quan niệm và các giả
thuyết về bệnh sinh. Các tác giả cho rằng mức độ phổ biến của bệnh TTPL
từ thời nguyên thủy cho đến nay cũng không thay đổi nhiều, nhưng nội
dung của các rối loạn phân liệt thì mang tính thời đại sâu sắc. Đến thế kỷ
XVIII bệnh TTPL mới được mô tả trong y văn, các nghiên cứu về bệnh chỉ
hoàn toàn dựa vào quan sát và mô tả lâm sàng [5],[15].
Fodere F.E. (1817) mô tả nhóm bệnh tâm thần cấp tính với các biểu
hiện rối loạn ý thức và tăng thân nhiệt gọi là " bệnh hoang tưởng" (delire).
Morel B. (1857) mô tả một loại bệnh tâm thần dẫn đến mất trí sớm
(Dementia Precox) ở người trẻ tuổi.
Magnan V. (1893) mô tả bệnh hoang tuởng mạn tính (Delire
Chonique) trong đó một số bệnh nhân kết thúc bằng mất trí-vô cảm
(Dementia-Apathia).
Kandinski V.Kh. (1882) đã mô tả bệnh tâm thần tư duy (Idiophrenia)
là một bệnh độc lập mà các triệu chứng cơ bản phù hợp với bệnh tâm thần
phân liệt hiện nay.
Korsacop S.S. (1891) mô tả bệnh Dysnoia như là một bệnh loạn thần
cấp tính có nhiều nét lâm sàng phù hợp với bệnh tâm thần phân liệt tiến
triển cấp.
Kraepelin E. (1898) thống nhất các bệnh độc lập do các tác giả trên
mô tả thành một bệnh tâm thần riêng gọi là bệnh "mất trí sớm".
Bleuler P.E. (1911) nhà tâm thần học Thuỵ sĩ, thấy rằng sự mất trí
không phải là đặc điểm thường xuyên của sa sút sớm. Và Ông đã đề xuất

5


thuật ngữ "Schizophrenia - bệnh tâm thần phân liệt", có nghĩa là sự chia cắt
trong tâm thần.
Theo quan điểm của Bleuler P.E., quá trình chia cắt là nền tảng của
bệnh và là cơ sở cho biểu hiện đa dạng của các triệu chứng bệnh TTPL.
Nghĩa là, mặc dù có nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau, nhưng TTPL là
một nhóm bệnh thống nhất, có sự giống nhau về nguyên nhân và cơ chế
sinh bệnh cho tất cả các bệnh nhân. Đặc trưng của sự thiếu thống nhất giữa
các mặt hoạt động tâm thần làm biến đổi nhân cách kiểu phân liệt, cảm xúc
ngày càng cùn mòn, tư duy nghèo nàn, ý chí suy đồi, ... [1],[23].
Schneider K. (1939) cho rằng các triệu chứng cơ bản của Bleuler
P.E. xuất hiện chậm và cũng có thể gặp trong các bệnh tâm thần khác, tác
giả dựa vào các triệu chứng dương tính để đưa ra tiêu chẩn đoán bệnh
TTPL gồm có 11 triệu chứng đặc trưng. Quan điểm của Schneider K. được
tiếp thu và thể hiện trong các bảng phân loại bệnh của TCYTTG và của
Hội Tâm thần học Mỹ [11],[16].
Xnhegiơnhepxki A.V. (1966) đưa ra các kết luận về chẩn đoán sớm
TTPL [20]:
+ Bệnh TTPL tiến triển động và đa dạng.
+ Sự biến chuyển và thay thế nhau giữa các hội chứng được chẩn
đoán theo các triệu chứng tâm thần hiện tại và quá trình tiến triển của bệnh
theo thời gian.
+ Sự chuyển biến của 9 triệu chứng dương tính thay thế nhau từ nhẹ
đến nặng.
+ Các hội chứng loại trừ không có trong TTPL.
+ Mối liên quan giữa các hội chứng âm tính và dương tính quyết
định sự hình thành các thể lâm sàng của bệnh.

6


Bảng phân loại DSM III-R năm 1987, DSM IV năm 1994 của Hội
tâm thần học Mỹ đã tập hợp các triệu chứng thành 6 nhóm giúp chẩn đoán
xác định bệnh TTPL.
Năm 1992, TCYTTG tập trung trí tuệ của 915 nhà Tâm thần học có
uy tín của 52 Quốc gia trên thế giới, thống nhất đưa ra bảng phân loại bệnh
Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10F) và xếp bệnh TTPL vào mục F20-F29. Từ đó,
bệnh TTPL được trình bày kết hợp giữa các quan điểm cổ điển và quan
điểm tâm thần học hiện đại [13].
2.1.2. Những nghiên cứu về bệnh nguyên và bệnh sinh bệnh tâm
thần phân liệt:
Trong suốt quá trình lịch sử của ngành tâm thần học, các tác giả đã
kiên trì nghiên cứu và thử nghiệm, nhưng cho đến nay bệnh nguyên và
bệnh sinh của TTPL vẫn chưa xác định được rõ ràng. Có nhiều giả thuyết
của các chuyên ngành liên quan đến Tâm thần học như: Hoá sinh học, Di
truyền học, Thần kinh học, Triết học,...Song cho đến nay vẫn chưa có một
giả thuyết nào mang đến một kết quả thuyết phục tuyệt đối [1],[19].
2.1.2.1. Giả thuyết về sinh hoá:
Có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng ở bệnh nhân
TTPL có rối loạn chuyển hoá các chất trung gian hoá học thần kinh như
Serotonin Catecholamin. GABA... [5],[32].
Giả thuyết về dopamine cho rằng sự tăng thái quá dopamine liên
quan đến triệu chứng nhận thức và triệu chứng dương tính, còn sự thiếu hụt
dopamine liên quan đến triệu chứng âm tính của TTPL [ 38],[41],[69].
Theo Hoàng Tích Huyền sự tăng hoạt động của hệ thống dopamine
đi từ vùng trung não đến hồi viên sẽ dẫn đễn các triệu chứng dương tính
như: Hoang tưởng, ảo giác, tăng vận đông. Còn sự giảm hoạt động của hệ
thống dopamine đi từ trung não đến vỏ não sẽ dẫn đền các triệu chứng âm
tính như cảm xúc cùn mòn, thu hẹp xã hội [8].
7


Một số tác giả cũng cho rằng ở não người bình thường hoạt động của
dopamine trong thuỳ trước trán kìm hãm sự phát triển các con đường
dopamine trong thể vân. Nhưng ở não bệnh nhân TTPL lượng dopamine
hoạt động trong thuỳ trước trán giảm đi dẫn đến tăng nhiều dopamine ở thể
vân và gây ra triệu chứng bệnh. Ngoài ra giả thuyết dopamine còn dựa trên
hiệu quả của việc sử dụng thuốc hướng thần làm phong toả các Receptor
dopamin để làm mất các triệu chứng loạn thần của TTPL [14],[44],[54].
Giả thuyết về vai trò của Glutamate trong bệnh sinh của TTPL xuất
phát từ sự hiểu biết về thụ cảm thể chủ yếu của hệ thống glutamat là Nmethỵ-D-aspartate (NMDA). Giả thuyết cho rằng nếu giảm Glutamate sẽ
sinh ra các triệu chứng TTPL và để điều trị cần hoạt hoá phức hợp thủ cảm
thể NMDA [28],[73].
Giả thuyết về vai trò của serotomin xuất phát thông qua việc quan sát
thấy ảo giác xuất hiện ở những người uống chất lysergic acid điethyllamid
(LSD). Hợp chất LSD tương tự về hoá học với serotonin và chẹn các vị trí
thụ cảm thể serotonin. Qua đo´các tác giả đưa ra giả thuyết về sự suy giảm
serotonin trong bệnh TTPL [27],[41].
2.1.2.2. Giả thuyết về rối loạn cấu trúc và chức năng não:
Qua các nghiên cứu cấu trúc não của các bệnh nhân TTPL. Các tác
giả nhận thấy có sự giảm thể tích chất xám và chất trắng vùng trước trán,
những bất thường của tế bào thần kinh. Những rối loạn chuyển hoá, những
rối loạn dòng máu vùng trước trán, sự giảm thể tích hồi hải mã và thuỳ
khứu... có liên quan đến sinh bệnh học TTPL [1],[64].
Các tác giả cũng nêu ra rằng sự phát triển sớm con đường
dopaminergic tới vùng trước trán đã dẫn đến rối loạn chức năng cả vùng
trước trán lẫn hệ limbic và biểu hiện bằng các triệu chứng âm tính, dương
tính và suy giảm nhận thức ở bệnh nhân TTPL [25],[29].

8


Các rối loạn chức năng của vùng trước trán - lưng bên là nguồn gốc
của những triệu chứng âm tính nguyên phát kéo dài hoặc những thiếu sót
TTPL [27],[60].
Một số tác giả cũng mô tả mạng thần kinh cơ sở cho tiến trình ngôn
ngữ, bao gồm các vùng Werniker và Broca và cấu trúc vỏ não - dưới vỏ
liên quan đến sự phát sinh những ảo giác, hoang tưởng và những rối loạn
tư duy khác [15],[27].
2.1.2.3. Một số giả thuyết về di truyền học:
Bệnh TTPL và những rối loạn liên quan đến TTPL xảy ra với tỷ lệ
cao trong số những người có mối liên hệ sinh học với bệnh nhân TTPL.
Một số nghiên cứu cho thấy rằng nếu bố hoặc mẹ mắc bệnh thì khả
năng mắc bệnh của con cái từ 10% - 20% và nếu cả bố và mẹ mắc bệnh thì
tỷ lệ con mắc bệnh tăng lên đến 65% - 70% [1],[5].
Trong trường hợp sinh đôi cùng trứng, tỷ lệ mắc bệnh tương hợp là
40% - 50% cao gấp 4 lần tỷ lệ tương hợp ở sinh đôi khác trứng hoặc quan
hệ họ hàng thân thuộc. Có từ 15% - 20% người bệnh TTPL có thành viên
trong gia đình có mỗi quan hệ họ hàng cũng mắc bệnh TTPL [14],[27].
Tuy nhiên trở ngại của giả thuyết này là cho đến nay người ta vẫn
chưa biết TTPL được di truyền theo phương thức nào. Thêm nữa có rất
nhiều trường hợp bệnh nhân TTPL không phát hiện thấy trong họ hàng có
người mắc bệnh TTPL.
2.1.2.4. Một số giả thuyết khác:
+ Nơi sinh và mùa sinh: theo một số tác giả nguy cơ mắc bệnh TTPL
tăng lên khoảng 10% cho những người sinh vào mùa đông và mùa xuân.
Những người sinh ở thành phố có nguy cơ mắc bệnh TTPL cao gấp 2 lần
những người sinh ở nông thôn [15].
+ Các biến chứng khi mang thai và sinh đẻ: những biến chứng khi
thai nghén hoặc sinh đẻ có thể gây ra tình trạng thiếu ôxy. Những vùng
9


nhạy cảm với sự thiếu hụt oxy nhất trong quá trình phát triển như vùng
Hyppocampus có liên quan nhiều đến TTPL [15],[60].
+ Vấn đề nhiễm khuẩn trước khi sinh (nhiễm virut cúm hoặc virut
khác) và khả năng đáp ứng của người mẹ với nhiễm khuẩn (đặc biệt là giai
đoạn phân bào gian kỳ) cũng như sự thiếu dinh dưỡng như: axit folic,
vitanin D,...có thể góp phần gây ra nguy cơ mắc bệnh TTPL [13].
+ Nhiễm độc hoá học và lạm dụng chất: ở những người nhiễm độc
một số chất hóa học như thuỷ ngân, chì. Thuốc trừ sâu hay ở những người
thường xuyên sử dụng rượu ma tuý,...thấy tăng rõ rệt các nguy cơ loạn thần
cũng như tăng nguy cơ tái phát bệnh TTPL [11].
2.2. Đặc điểm lâm sàng chung trong tâm thần phân liệt:

Các triệu chứng lâm sàng của bệnh TTPL là vô cùng phong phú,
phức tập và luôn biến đổi. Tuy nhiên đa số các tác giả đều chia ra 2 loại
triệu chứng lâm sàng gồm các triệu chứng âm tính và các triệu chứng
dương tính [1],[5],[16].
2.3. Các triệu chứng âm tính. Các triệu chứng dương tính của tâm
thần phân liệt:
2.3.1. Các triệu chứng dương tính:
2.3.1.1. Hoang tưởng:
- Hoang tưởng là triệu chứng loạn thần cơ bản của bệnh tâm thần phân
liệt. Hoang tưởng phải có các đặc trưng sau:
+ Sai lầm.
+ Cố định trên bệnh nhân.
+ Chi phối hành vi của bệnh nhân.
+ Không phải là các niềm tin tôn giáo phổ biến.
+ Bệnh nhân mất hoàn toàn khả năng phê phán (nghĩa là không bao giờ
thừa nhận ý nghĩ của mình là sai lầm).
- Nội dung hoang tưởng có thể bao gồm nhiều chủ đề khác nhau, hay gặp
nhất trong tâm thần phân liệt là:
10


+ Hoang tưởng bị hại: bệnh nhân tin rằng họ bị hành hạ, bị tra tấn, đầu
độc, sẽ bị giết bởi một người hoặc một thế lực nào đó.
+ Hoang tưởng liên hệ: bệnh nhân tin rằng một số sách báo, bài bình luận,
bài hát hoặc một số thông tin khác ở bên ngoài ám chỉ họ dưới các hình thức đặc
biệt.
+ Hoang tưởng bị kiểm tra, chi phối: bệnh nhân tin rằng có một người
hoặc một thế lực nào đó đang chi phối bệnh nhân bằng các phương tiện đặc biệt.
+ Các hoang tưởng kỳ quái: hoang tưởng được coi là kỳ quái nếu như
chúng rất lập dị, không phù hợp và không phải là kết quả của mọi kinh nghiệm
trong cuộc sống.
2.3.1.2. Ảo giác:
Ảo giác là tri giác không có đối tượng. ảo giác có thể ở bất kỳ giác quan
nào (ví dụ ảo thanh, ảo thị, ảo khứu, ảo xúc, ảo vị giác) nhưng ảo thanh là hay
gặp nhất và có giá trị chẩn đoán cao cho tâm thần phân liệt.
- Ảo thanh có ở 60-70% số bệnh nhân tâm thần phân liệt. Bệnh nhân nghe
thấy những tiếng nói không có thật, nhưng được bệnh nhân cho là thật. Chúng
thường được chia làm ảo thanh thật và ảo thanh giả.
Nội dung của ảo thanh có thể rất khác nhau, căn cứ vào nội dung người ta
chia làm các loại ảo thanh sau:
+ Ảo thanh bình phẩm là tiếng người khen hoặc chê bai bệnh nhân nhưng
xúc phạm hoặc đe dọa bệnh nhân là hay gặp nhất.
+Ảo thanh xui khiến, ra lệnh: là tiếng nói xui khiến hoặc ra lệnh cho bệnh
nhân phải làm một việc gì đó. Thông thường, bệnh nhân không thể cưỡng lại các
mệnh lệnh của ảo thanh đưa ra.
+ Ảo thanh là tiếng người trò chuyện với bệnh nhân: bệnh nhân nói
chuyện với ảo thanh (giống như ta nói chuyện qua điện thoại) mà người ngoài có
thể thấy bệnh nhân nói chuyện một mình to thành tiếng.
+ Ảo thanh là 2 hay nhiều giọng nói đối thoại với nhau hoặc giọng nói
bình phẩm về ý nghĩ và hành vi của bệnh nhân.

11


- Ảo thị giác: là những hình ảnh không có thật nhưng được bệnh nhân
nkinf thấy như thật. Ảo thị giác gặp ở 10% số bệnh nhân tâm thần phân liệt,
chúng ít có giá trị chẩn đoán cho bệnh tâm thần phân liệt hơn ảo thanh.
Các ảo thị có thể có nội dung dễ chịu, vui vẻ; tuy nhiên, các ảo thị thường
là các hình ảnh ghê sợ khiến bệnh nhân rất lo lắng và sợ hãi. Bệnh nhân có thể
có các hành vi nguy hiểm như đánh người, tự sát do sự chi phối của ảo thị.
- Ảo xúc giác: ít gặp trong tâm thần phân liệt và ít có giá trị chẩn đoán
cho bệnh này. Bệnh nhân có cảm giác có các con côn trùng bò dưới da, có con
rắn đang bò trong dạ dày bệnh nhân...
2.3.1.3. Ngôn ngữ thanh xuân:
Ngôn ngữ thanh xuân là một triệu chứng rất có giá trị chẩn đoán trong
tâm thần phân liệt. Triệu chứng này thường chỉ gặp trong tâm thần phân liệt thể
thanh xuân. Bệnh nhân có tư duy (lời nói) rất hỗn loạn, kỳ dị, khó hiểu.
2.3.1.4. Hành vi thanh xuân:
Hành vi thanh xuân là rối loạn hành vi nặng, rất có giá trị chẩn đoán cho
tâm thần phân liệt. Triệu chứng này hay gặp trong tâm thần phân liệt thể thanh
xuân và thể không biệt định.
Các hành vi này có thể biểu hiện ở các mức độ khác nhau, từ đi lại không
ngừng đến kích động. Các hành vi này thường là rất lố lăng, hời hợt, kỳ dị, khó
hiểu.
2.3.1.5. Hành vi căng trương lực:
Hành vi căng trương lực bao gồm:
- Sững sờ căng trương lực: là sự giảm sút rõ ràng các phản ứng lại mọi tác
động của môi trường. Một số trường hợp đạt đến mức độ vô thức quá mức, bệnh
nhân giữ ở một tư thế rất lâu.
- Kích động căng trương lực: là kích động do căng trương lực cơ. Các
kích động này rất lố lăng, kỳ quái nhưng chỉ xuất hiện trong không gian hẹp
(trên giường, trong phòng) chứ không xảy ra trong không gian rộng như hưng
cảm.

12


- Phủ định căng trương lực là bệnh nhân chống lại mọi tác động bên
ngoài. Ví dụ: khi ta kéo tay bệnh nhân ra thì bệnh nhân co tay chống lại.
- Uốn sáp căng trương lực là bệnh nhân giữ lâu ở một số vị trí vô lý và kỳ
lạ (ví dụ: khi ta đưa tay bệnh nhân lên đầu làm tư thế chào, bệnh nhân sẽ giữ
nguyên tư thế đó hàng tiếng đồng hồ). Trong lâm sàng, người ta thường làm
nghiệm pháp gối không khí, bệnh nhân có thể giữ đầu ở tư thế không chạm
xuống giường trong nhiều chục phút.
- Nếu tình trạng căng trương lực quá nặng, bệnh nhân sẽ không đáp ứng
với các kích thích bên ngoài mà chỉ nằm im một chỗ.
2.3.2. Các triệu chứng âm tính:
Triệu chứng âm tính của tâm thần phân liệt rất hay gặp, chúng là nền tảng
của bệnh tâm thần phân liệt; tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, chúng rất kín đáo,
khó phát hiện. Sau một vài năm bị bệnh, các triệu chứng này ngày càng rõ ràng
và đến giai đoạn di chứng thì bệnh nhân chỉ còn các triệu chứng âm tính mà
thôi.
Có 3 triệu chứng âm tính chính trong tâm thần phân liệt, đó là: vô cảm
xúc, ngôn ngữ nghèo nàn và mất ý chí.
2.3.2.1. Cùn mòn cảm xúc:
Bệnh nhân có nét mặt đơn điệu, không thay đổi, không sinh động như vốn
có của mình. Bệnh nhân giảm sút sự tiếp xúc bằng ánh mắt, ngôn ngữ cơ thể;
tuy nhiên một bệnh nhân cùn mòn cảm xúc đôi khi có thể cười, có nét mặt sinh
động, nhưng biểu hiện cảm xúc của họ giảm sút rõ ràng trong phần lớn thời gian
còn lại.
Khi bệnh tâm thần phân liệt đã chuyển thành thể di chứng, cùn mòn cảm
xúc sẽ phát triển thành vô cảm. Lúc này, bệnh nhân không hề biểu hiện cảm xúc
vui buồn, cáu giận... với bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào ngoài môi trường.
2.3.2.2. Ngôn ngữ nghèo nàn:
Nghèo nàn lời nói thể hiện bởi các câu trả lời cộc lốc, ngắn cụt ngủn.
Bệnh nhân với nghèo nàn ngôn ngữ có thể có giảm sút lượng suy nghĩ, điều đó
phản ánh sự giảm sút quá trình ảnh hưởng và tạo ra ngôn ngữ.
13


2.3.2.3. Mất ý chí:
Mất ý chí là sự giảm sút hoạt động định hướng về một mục đích nào đó.
Người bệnh mất hết sáng kiến, mất động cơ, hoạt động không hiệu quả. Các thói
quen nghề nghiệp cũ mất dần đến nỗi bệnh nhânh không muốn làm bất kỳ việc
gì nữa. Do vậy họ giảm sút khả năng lao động, mất việc làm dẫn đến lối sống
ngày càng suy đồi, không muốn làm gì, chỉ nằm lỳ một chỗ.
2.4. Chẩn đoán tâm thần phân liệt:
2.4.1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL theo ICD-10 năm 1992:
a/ Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy bị
phát thanh.
b/ Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động có liên quan rõ rệt
với vận động thân thể hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghĩ, hành vi
hay cảm giác đặc biệt và tri giác hoang tưởng.
c/ Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay
thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất hiện từ một bộ
phận nào đó của cơ thể.
d/ Các hoang tưởng dai dẳng không thích hợp về mặt văn hoá và hoàn
toàn không thể có được tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc những khả
năng và quyền lực siêu nhiên như: khả năng điều khiển thời tiết hoặc đang tiếp
xúc với người ở thế giới khác.
e/ Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng
qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ rệt hoặc kèm theo ý
tưởng quá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng.
f/ Tư duy gián đoạn, hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan
hay lời nói không thích hợp hoặc ngôn ngữ bịa đặt.
g/ Tác phong căng trương lực như: kích động, giữ nguyên dáng, uốn sáp,
phủ định và không nói hoặc sững sờ.
h/ Các triệu chứng âm tính như: vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, đáp
ứng cảm xúc cùn mòn hoặc không thích hợp thường dẫn đến cách li xã hội hoặc

14


giảm sút hiệu suất lao động và các triệu chứng trên phải rõ ràng là không do
trầm cảm hay thuốc an thần gây ra.
i/ Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập
tính cá nhân biểu hiện như: mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái độ mải
mê suy nghĩ về bản thân và cách li xã hội.
* Yêu cầu chẩn đoán bệnh TTPL theo ICD-10:
- Phải có ít nhất 1 triệu chứng rõ ràng hoặc phải có tối thiểu 2 triệu chứng
(nếu các triệu chứng đó ít rõ ràng) thuộc các nhóm từ a đến d kể trên.
- Nếu là nhóm từ e đến i thì phải có ít nhất là 2 nhóm triệu chứng.
- Thời gian của các triệu chứng phải tồn tại ít nhất là 1 tháng.
- Không được chẩn đoán TTPL nếu có triệu chứng trầm cảm hoặc hưng
cảm mở rộng xuất hiện trước các triệu chứng nói trên.
- Không được chẩn đoán TTPL khi có bệnh não rõ rệt hoặc bệnh nhân
đang ở trong trạng thái nhiễm độc ma tuý.
- Không được chẩn đoán TTPL khi có bệnh ĐK và các bệnh tổn thương
thực thể não khác.
2.4.2. Chẩn đoán phân biệt
2.4.2.1. Loạn thần do bệnh cơ thể:
Có nhiều bệnh có triệu chứng loạn thần như các bệnh mất trí Alzheimer,
Pic, Parkinson ...; các bệnh nhiễm trùng trong và ngoài hộp sọ như viêm não,
viêm màng não, sốt rét ác tính thể não, thương hàn ... cũng có hoang tưởng bị
hại và ảo thị. Căn cứ khám lâm sàng cùng các xét nghiệm chuyên biệt mà xác
định căn nguyên cụ thể, từ đó có biện pháp điều trị thích hợp.
2.4.2.2. Loạn thần do nghiện rượu, ma tuý:
- Bệnh nhân nghiện rượu có thể có hoang tưởng (bị hại), ảo giác (ảo thanh
thật, ảo thị, ảo xúc giác) giống với tâm thần phân liệt.
- Bệnh nhân nghiện heroin thường có các triệu chứng ảo xúc giác (giòi bò
trong xương, côn trùng bò trên da), hoang tưởng bị hại.
- Bệnh nhân nghiện amphetamin thường có ảo thanh thật, bình phẩm xấu
về bệnh nhân; họ cũng có thể có hoang tưởng bị hại, bị theo dõi.
15


Cần khai thác bệnh sử, khám lâm sàng và làm các xét nghiệm tìm ma túy
trong máu hoặc nước tiểu để xác định chẩn đoán.
2.4.2.3. Rối loạn cảm xúc có loạn thần:
Trong rối loạn cảm xúc có loạn thần (thường là hoang tưởng phù hợp với
khí sắc), các triệu chứng loạn thần xuất hiện khi rối loạn cảm xúc nặng nề nhất.
Nếu triệu chứng loạn thần không còn tồn tại khi rối loạn cảm xúc đã hết thì chẩn
đoán sẽ là rối loạn cảm xúc có yếu tố loạn thần; còn nếu bệnh nhân còn loạn
thần khi đã hết rối loạn cảm xúc thì chẩn đoán sẽ là tâm thần phân liệt.
2.4.2.4. Loạn thần cấp:
Trong loạn thần cấp, bệnh nhân cũng có đầy đủ các triệu chứng như trong
bệnh TTPL, tuy nhiên, thời gian bị bệnh chưa đủ 1 tháng.
- Nếu bệnh nhân khỏi bệnh hoàn toàn trong 1 tháng, chẩn đoán xác định
là loạn thần cấp.
- Nếu bệnh kéo dài trên 1 tháng hoặc có tái phát, chẩn đoán sẽ là TTPL.
2.5. Các thể tâm thần phân liệt và triệu chứng cụ thể. Dựa theo bảng
phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD-10):
Tâm thần phân liệt được chia là các thể khác nhau căn cứ vào triệu chứng
nổi bật trong thời gian đánh giá bệnh.
2.5.1. Thể paranoid: F20.0
Thể bệnh này có đặc điểm là các hoang tưởng hoặc các ảo thanh rõ ràng
trong phạm vi liên quan tới chức năng nhận thức và cảm xúc. Đây là thể bệnh
hay gặp nhất, chiếm hơn 50% số bệnh nhân tâm thần phân liệt.
Thể paranoid có khởi phát muộn hơn các thể khác của tâm thần phân liệt.
Nhiều nghiên cứu cho rằng tiên lượng của thể paranoid có thể tốt hơn các thể
khác của tâm thần phân liệt, đặc biệt là chức năng xã hội và khả năng có một
cuộc sống độc lập.
2.5.2. Thể thanh xuân: F20.1
Thể thanh xuân có các triệu chứng ngôn ngữ thanh xuân, hành vi thanh
xuân, vô cảm xúc hoặc cảm xúc không phù hợp. Thể bệnh này có khởi phát rất

16


sớm (từ 15-25 tuổi), bệnh tiến triển liên tục (mặc dù điều trị), bệnh nhân nhanh
chóng sa sút. Do vậy tiên lượng của tâm thần phân liệt thể thanh xuân rất xấu.
2.5.3. Thể căng trương lực: F20.2
Thể bệnh này có các triệu chứng căng trương lực như bất động vận động,
kích động, phủ định, vận động cường độ lớn kỳ dị, nhại lời, nhại vận động.
Ngày nay thể bệnh này hiếm gặp hơn thế kỷ trước đặc biệt ở các nước phát triển.
Người ta cho rằng do được phát hiện và điều trị sớm nên tâm thần phân liệt khó
phát triển thành thể căng trương lực. Thể bệnh này đáp ứng rất tốt với điều trị
bằng sốc điện.
2.5.4. Thể không biệt định: F20.3
Thể không biệt định có các triệu chứng thuộc tiêu chuẩn của tâm thần
phân liệt, nhưng không thoả mãn các tiêu chuẩn cho thể paranoid, thanh xuân
hoặc căng trương lực.
2.5.5. Thể Trầm cảm sau phân liệt: F20.4
Một trạng thái trầm cảm kéo dài, xuất hiện sau một quá trình phân liệt rõ,
một số triệu chứng phân liệt vẫn còn song không chiếm ưu thế trong bệnh cảnh
lâm sàng. Các triệu chứng đó thường là âm tính nhiều hơn.
Hội chứng trầm cảm ở đây không trầm trọng và mở rộng đến mức đáp
ứng tiêu chuẩn một giai đoạn trầm cảm trong các rối loạn cảm xúc.
2.5.6. Thể di chứng: F20.5
Tất cả các thể bệnh của tâm thần phân liệt đều có thể chuyển sang thể di
chứng sau nhiều năm bị bệnh. Thể di chứng của tâm thần phân liệt có ít nhất 1
giai đoạn của tâm thần phân liệt trong tiền sử, nhưng hiện tại bảng lâm sàng
không còn các triệu chứng loạn thần rõ ràng. Trái lại, biểu hiện của triệu chứng
âm tính (ví dụ: vô cảm xúc, ngôn ngữ nghèo nàn, hoặc mất ý chí) lại nổi bật
trong bảng lâm sàng.
2.5.7. Tâm thần phân liệt thể đơn thuần: F20.6
Bệnh bắt đầu bằng các triệu chứng âm tính như giảm sút dần khả năng
học tập, công tác, không thích ứng với các yếu tố xã hội, cảm xúc cùn mòn, ý trí
giám sút. Các triệu chứng này ngày càng sâu sắc, bệnh nhân thu vào thế giới tự
17


kỷ. Triệu chứng dương tính như hoang tưởng, ảo giác không rõ ràng như các thể
khác.
2.5.8. Các thể tâm thần phân liệt khác: F20.8
Gồm TTPL thể loạn cảm giác bản thê. Rối loạn dạng phân liệt không xếp
cách khác.
Loại trừ: Rối loạn giống phân liệt cấp (F23.2), TTPL chu kỳ (F25.2),
TTPL tiềm tàng (F23.2).
2.6. Điều trị tâm thần phân liệt:
2.6.1. Nguyên tắc điều trị:
- TTPL là bệnh chưa rõ căn nguyên nên điều trị triệu chứng là chủ yếu.
- Liệu pháp hóa dược đóng vai trò quan trọng, đặc biệt đối với triệu chứng
dương tính.
- Cần phối hợp nhiều liệu pháp điều trị.
- Cần phát hiện sớm và can thiệp sớm.
- Điều trị duy trì sau cơn loạn thần đầu tiên, quản lý phòng tái phát.
- Sớm phục hồi chức năng cho bệnh nhân.
- Phối hợp tốt giữa thầy thuốc, gia đình và cộng đồng.
- Phát hiện và can thiệp kịp thời các yếu tố thúc đẩy bệnh tái phát.
- Giáo dục thay đổi thái độ đối với bệnh nhân TTPL.
- Chăm sóc lâu dài, đảm bảo cơ thể khỏe mạnh.
- Điều trị bệnh TTPL cần theo hai giai đoạn:
+ Giai đoạn cấp tính: Điều trị làm giảm đến mức tối thiểu các triệu chứng
của bệnh. Bệnh nhân cần điều trị nội trú tại bệnh viện để có điều kiện đánh giá,
chẩn đoán xác định, chọn thuốc và liều thuốc, điều trị tấn công (liều cao, tiêm),
hay sử dụng các biện pháp điều trị tích cực khác và theo dõi tác dụng phụ.
+ Giai đoạn duy trì: Cho thuốc liều thấp để điều trị duy trì phòng ngừa tái
phát bệnh.
2.6.2. Điều trị tấn công:
2.6.2.1. Điều trị bằng thuốc:

18


- Haloperidol: đây là thuốc an thần cổ điển, đa năng, có hiệu quả cao cho
các triệu chứng loạn thần và dương tính như hoang tưởng, ảo giác, căng trương
lực. Thuốc có nhiều tác dụng phụ như ngoại tháp, vì vậy bắt buộc phải dùng kết
hợp với trihex hoặc pipolphen.
. Dạng ống tiêm 5mg/1 ml dùng tiêm bắp sâu hoặc tiêm tĩnh mạch chậm.
. Dạng viên nén 1mg, 1,5mg và 5mg.
. Liều dùng: 8 - 20mg/ngày. Chia làm 2 lần: trưa 1/2 liều, tối 1/2 liều.
Ví dụ cụ thể:
(1). Haloperidol 5mg x 2 viên (trưa 1 viên, tối 1 viên).
(2). Trihex 2mg x 4 viên (trưa 2 viên, tối 2 viên).
Dùng thuốc 4-6 tuần, sau đó chuyển sang điều trị củng cố.
- Olanzapin: Olanzapin là thuốc an thần mới; có tác dụng chống loạn
thần mạnh, giải lo âu, gây ngủ, chống trầm cảm nhẹ. Thuốc có hiệu quả tốt cả
trên các triệu chứng dương tính (sau 4-6 tuần) và triệu chứng âm tính (sau 6-12
tháng).
Đóng viên 5mg, 7,5mg và 10mg. Liều dùng từ 5-20mg, liều trung bình
10mg/ngày, uống buổi tối trước khi đi ngủ.
2.6.2.2. Sốc điện:
Liệu pháp sốc điện là biện pháp điều trị tấn công cho tâm thần phân liệt
hiệu quả và an toàn nhất. Sốc điện có kết quả ngay cả với các trường hợp tâm
thần phân liệt kháng thuốc.
- Chỉ định:
+ Bệnh nhân TTPL có ý định và hành vi tự sát.
+ Bệnh nhân TTPL từ chối ăn uống.
+ Tâm thần phân liệt thể căng trương lực.
+ Các trường hợp kích động dữ dội, hoang tưởng, ảo giác ... kéo dài mà
điều trị bằng thuốc không có kết quả.
- Chống chỉ định:
+ Các bệnh tim mạch như nhồi máu cơ tim, thiếu máu cơ tim, rối loạn dẫn
truyền nhĩ-thất, cao huyết áp.
19


+ Các bệnh hô hấp như phổi phế quản tắc nghẽn mạn tính.
+ Chấn thương sọ não, u não, tai biến mạch máu não.
+ Các bệnh gãy xương, sai khớp (chống chỉ định tương đối vì có thể làm
sốc điện dưới gây mê).
+ Động kinh.
- Số lần làm sốc điện: thường làm 8-12 lần, cá biệt có trường hợp đến 15
lần. Có thể làm mỗi ngày 1 lần hoặc cách ngày. Nếu bệnh nhân có lú lẫn nhiều,
nên làm cách ngày.
2.6.2.3. Điều trị củng cố:
- Nếu không điều trị củng cố, đa số bệnh nhân sẽ tái phát sau một năm.
Sau 2 năm bỏ thuốc, tỷ lệ tái phát là 90%. Tỷ lệ tái phát ở các bệnh nhân tâm
thần phân liệt điều trị củng cố liên tục bằng thuốc là rất thấp.
Tốt nhất là bệnh nhân dùng thuốc an thần mới đường uống, liều thuốc
trong điều trị củng cố cần bằng 1/2-2/3 giai đoạn tấn công.
- Một số phác đồ cụ thể:
Haloperidol 5mg x 2 viên/ngày (trưa 1 viên, tối 1 viên).
Trihex

2mg x 4 viên/ngày (trưa 2 viên, tối 2 viên).

Hoặc: Olanzapin 10mg x 1 viên uống tối.
- Các trường hợp bệnh nhân không chịu uống thuốc: có thể dùng một
trong những phác đồ sau:
Haloperidol decanoat 50mg x 1-2 ống/tiêm bắp sâu 2-4 tuần/lần.
Hoặc:
Fluphenazin decanoat 25mg x 1-2 ống/tiêm bắp 2-4 tuần/lần.
- Thời gian điều trị củng cố: bệnh nhân tâm thần phân liệt phải được điều
trị củng cố suốt đời.
2.7. Các liệu pháp điều trị, Liệu pháp hóa dược:
Thuốc an thần kinh (neuroleptic) hay còn gọi là thuốc chống loạn thần
(antipsychotic), là một nhóm thuốc được phát triển từ những năm 1950 để điều
trị các rối loạn loạn thần mà trong đó chủ yếu là tâm thần phân liệt.

20


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×