Tải bản đầy đủ

Ảnh hưởng của phương thức nuôi trên hai loại nền chuồng khác nhau đến lợn con (♂(♂Pietrain x ♀Duroc) x ♀ (♂Yorkshire x ♀Landrace)) sau cai sữa tại công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam

LỜI CẢM ƠN
Sau khi bảo vệ bài tốt nghiệp cũng là lúc mỗi sinh viên chúng em hoàn
thành khóa học, trở thành kỹ sư mà nhà trường đã đào tạo trong suốt 4 năm
qua. Để có được kết quả như hôm nay cũng như việc làm tốt bài tốt nghiệp
này. Em nhận được rất nhiều sự giúp đỡ nhiệt tình của các cá nhân, tập thể
trong và ngoài trường.
Em xin chân thành cảm ơn rất nhiều! Trước tiên em xin được cảm ơn
các thầy, cô giáo trong khoa Nông – Lâm – Ngư trường Đại học Hùng Vương
đã trực tiếp dạy và trang bị tri thức cho em suốt thời gian qua. Đặc biệt, em
xin được bày tỏ lòng biết ơn tới cô giáo, ThS. Hoàng Thị Hồng Nhung - Cô là
người trực tiếp giúp đỡ em thực tập và hoàn thành bài tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn các cô chú anh chị trong trang trại sinh thái
Thanh Xuân xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian nghiên cứu làm đề tài tốt nghiệp.
Do kiến thức thực tế của em chưa nhiều, nên bài báo cáo thực tập tốt
nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của quý thầy cô, các bạn, những người làm công tác nghiên cứu, để
bài khóa luận được hữu ích trong thực tiễn.

Việt Trì, ngày 3 tháng 4 năm 2014
Sinh viên


Trần Anh Hoàng

0


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Nghĩa
Lợn con 4 máu (♂(♂Pietrain x ♀Duroc) x ♀

PDYL

(♂Yorkshire x ♀Landrace)), nuôi trong giai đoạn 4 –

TNTA

7 tuần tuổi.
Thu nhận thức ăn

TTTA

Tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng kg

TLNS

Tỷ lệ nuôi sống

TLTC

Tỷ lệ tiêu chảy

TLVP

Tỷ lệ viêm phổi

EM

Effective Microorganisms



DANH MỤC BẢNG

1


SH

Tên bảng

Trang

3.1

Thành phần dinh dưỡng thức ăn thí nghiệm

18

3.2

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

19

3.3

Quy trình tiêm phòng vacxin cho lợn con thí nghiệm

20

4.1

Nhiệt độ, ẩm độ trong chuồng nuôi lợn thí nghiệm

25

4.2

Tỷ lệ nuôi sống của lợn thí nghiệm

26

4.3

Sinh trưởng tích luỹ của lợn thí nghiệm

27

4.4

Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm

30

4.5

Sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm

33

4.6

Khả năng thu nhận thức ăn của lợn thí nghiệm

35

4.7

Tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng của lơn thí nghiệm

37

4.8

Tỷ lệ mắc bệnh của lợn thí nghiệm

38

4.9

So sánh chi phí trực tiếp cho sản xuất lợn con (đ/kg khối lượng)

41

DANH MỤC HÌNH

2


SH

Tên hình

Trang

4.1

Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm

30

4.2

Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm

33

4.3

Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm

35

4.4

Biểu đồ thu nhận thức ăn của lợn thí nghiệm

36

4.5

Biểu đồ tiêu tốn thức ăn của lợn thí nghiệm

38

4.6

Biểu đồ tỷ lệ nhiễm bệnh của lợn thí nghiệm

40

3


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài.
Ở Việt Nam, nghề chăn nuôi lợn đã có từ lâu đời và đã đi sâu vào đời
sống văn hóa, phong tục tập quán, tín ngưỡng của người dân. Trong những
năm gần đây ngành chăn nuôi đã có những bước phát triển mạnh mẽ, việc áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc làm
tăng nhanh số lượng và chất lượng vật nuôi của cả nước. Trong đó nghề chăn
nuôi lợn giữ một vị trí hết sức quan trọng do thịt lợn là loại thịt cung cấp dinh
dưỡng cho con người, hợp khẩu vị của đại đa số người dân và dễ chế biến.
Mặt khác, lợn có khả năng tăng trọng cao, thời gian nuôi ngắn, thời gian quay
vòng vốn nhanh, vì vậy mà nghề chăn nuôi lợn đang được phát triển rất mạnh
mẽ. Cụ thể : Thịt lợn chiếm 70% tổng sản lượng thịt các loại, năm 2012 tổng
số đàn lợn cả nước đạt 26,69 triệu con, tăng 1,49% so với năm 2011, sản
lượng thịt xuất chuồng là 1,93 triệu tấn, tăng 4,78% so với cùng thời điểm
năm 2011 [1]. Để đạt được mục trên Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương
chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển nghề chăn nuôi lợn.
Các giống lợn nội phổ biến ở nước ta với các tính năng dễ nuôi, có khả
năng đẻ nhiều con/lứa, chịu đựng tốt với điều kiện chăn nuôi trong nước, song
do khả năng tăng trọng thấp, tỷ lệ nạc thấp nên không được người chăn nuôi
ưa chuộng. Chiến lược chăn nuôi lợn của Việt Nam trong thời gian tới là tăng
số lượng đầu lợn, nâng cao khả năng sản xuất và chất lượng sản phẩm bằng
cách tăng tỉ lệ máu ngoại cho đàn lợn nuôi trong nước. Thực hiện chiến lược
chăn nuôi này trong thời gian qua nhà nước ta đã cho nhập hàng loạt các
giống lợn ngoại có năng suất cao như Yorkshire, Landrace, Pietrian và Duroc.
Từ đó tiến hành lai tạo ra các con lai 2 máu, 3 máu, 4 máu nhằm nâng cao khả
năng sản xuất và khả năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi Việt Nam.

4


Trong chăn nuôi lợn, việc giữ ấm và vệ sinh chuồng trại là một khâu
hết sức quan trọng nhằm hạn chế tối đa khả năng mắc bệnh đặc biệt là bệnh
viêm phổi và tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa. Việc tạo điều kiện chăn nuôi tốt
sẽ thúc đẩy khả năng sinh trưởng, phát triển, phòng bệnh cho lợn con sau cai
sữa. Ý thức được tầm quan trọng của việc giữ ấm và vệ sinh chuồng trại cho
lợn con sau cai sữa, người chăn nuôi cũng đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật
vào trong thực tế. Họ sử dụng những vật liệu đơn giản như rơm làm vật liệu
lót nền chuồng để giữ ấm cho lợn con. Một số người chăn nuôi khác thay vì
dùng rơm, họ lại sử dụng vật liệu làm nền chuồng bằng gỗ. Phải chăng sự
thay đổi này có hiệu quả hơn?
Xuất phát từ mục đích đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ảnh hưởng của phương thức nuôi trên hai loại nền chuồng khác nhau
đến lợn con (♂(♂Pietrain x ♀Duroc) x ♀ (♂Yorkshire x ♀Landrace)) sau
cai sữa tại công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam”
1.2. Mục tiêu đề tài
- Đánh giá tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng của đàn lợn con nuôi trên
hai loại nền chuồng khác nhau (nền chuồng bằng gỗ và nền chuồng có lót rơm).
- Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh của lợn nuôi trên hai loại nền chuồng khác nhau.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế khi nuôi lợn trên hai loại nền chuồng khác nhau.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đánh giá, so sánh được hiệu quả khi nuôi lợn con
sau cai sữa trên hai loại nền chuồng khác nhau.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đưa ra những khuyến cáo cho người chăn nuôi
trong việc lựa chọn loại nền chuồng nào ưu việt hơn để đưa vào sử dụng
phương pháp nuôi lợn con sau cai sữa.

5


PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.1.1.1. Đặc điểm sinh lý lợn con sau cai sữa
- Trong vòng 20 ngày đầu sau khi lợn con cai sữa, từ chỗ lợn con đang
phụ thuộc vào lợn mẹ và thức ăn bổ sung, khi cai sữa lợn con phải sống độc
lập và tự lấy dinh dưỡng để nuôi cơ thể.
- Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh, đặc biệt là các tổ chức như
xương, cơ bắp và bộ máy tiêu hoá, cũng như cơ năng hoạt động của nó.
- Sức đề kháng của lợn con còn kém, nhạy cảm với các yếu tố môi
trường xung quanh nên lợn con rất dễ bị nhiễm bệnh tật, đặc biệt là các bệnh
về đường tiêu hoá.
- Lợn con sống độc lập nên thường xảy ra hiện tượng nhớ mẹ, nhớ đàn
và có thể cắn xé lẫn nhau để tranh dành thứ bậc trong đàn.
- Đây là giai đoạn nuôi có hiệu quả nhất bởi vì lợn con có khả năng
tăng trọng nhanh, khả năng tích luỹ nạc cao và các đặc điểm tốt như: Có tỷ lệ
nuôi sống cao, có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ
lệ lợn mắc bệnh thấp.
2.1.1.2.Cai sữa lợn con
- Cai sữa lợn con phải đảm bảo các yêu cầu: Sau khi cai sữa lợn con
phải có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh, sau khi cai sữa không mắc các
bệnh về đường tiêu hoá và rút ngắn thời gian lợn con bú sữa mẹ.
- Những nguyên tắc để cai sữa con thành công:
+ Thời gian phải phù hợp với đặc điểm sinh lý của lợn con. Khi cai sữa
lợn con đã có khả năng tự độc lập sống một mình.

6


+ Tránh sự thay đổi đột ngột đối với lợn con và lợn mẹ khi cai sữa, tức
là lợn con sau khi cai sữa không bị khủng hoảng về dinh dưỡng cho sinh
trưởng và phát triển. Lợn mẹ sau khi cai sữa không xảy ra viêm vú hay sốt
sữa.
+ Thời gian cai sữa: Việc xác định ngày cai sữa cho lợn con tùy thuộc
vào điều kiện từng cơ sở ở từng nơi, trình độ kỹ thuật của người chăn nuôi, độ
đồng đều đàn lợn con, khả năng ăn thức ăn nhân tạo cũng như khả năng nuôi
con và khả năng sinh sản lứa tiếp theo của lợn mẹ. Tuy nhiên không nên cai
sữa lợn con trước 18 ngày tuổi, nếu cai sữa quá sớm không có lợi về sức sinh
sản của lợn mẹ nhưng cai sữa quá 4 - 5 tuần sẽ làm giảm số lứa đẻ và số lợn
con sản xuất bởi nái trong một năm. Tuy nhiên trọng lượng lợn con phải đạt
tối thiểu 5 kg khi cai sữa để lợn con phát triển tốt trong giai đoạn sau cai sữa
Nguyễn Khắc Tích, (1993) [12].
2.1.1.3. Chăm sóc nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa
- Thức ăn, dinh dưỡng: Lợn con ở giai đoạn này cần dinh dưỡng cho
phát triển bộ xương và cơ bắp là chủ yếu. Thức ăn phải đảm bảo hàm lượng
cao protein, hàm lượng axit amin thiết yếu đầy đủ và cân đối. Nếu chúng ta
cung cấp lượng thức ăn tinh bột cao, lợn con béo quá sớm, khả năng lớn sẽ
giảm. Khả năng tiêu hoá chất xơ ở lợn con còn kém, tỷ lệ xơ trong khẩu phần
ăn cao, lợn con dễ táo bón, viêm ruột và dẫn đến còi cọc.
- Chuồng trại: Tuỳ theo điều kiện chăn nuôi của mỗi nơi mà nền
chuồng của lợn con có thể lát bằng gạch, bê tông hay bằng nhựa. Đảm bảo
nhiệt độ từ 28 – 320C, độ ẩm từ 65 – 70%.
- Phân lô và phân đàn theo độ tuổi và trọng lượng. Cần chú ý trước khi
phân lô và phân đàn chúng ta thả lợn con tiếp xúc với nhau để tránh lợn con
cắn xé lẫn nhau.
- Phòng bệnh cho lợn con sau khi cai sữa: Tiến hành tiêm phòng các
bệnh bằng các vắc xin như tụ huyết trùng, phó thương hàn, viêm phổi, lở

7


mồm long móng, dịch tả lợn. Trong thời gian này chúng ta phải tẩy giun sán
cho lợn con bằng các loại thuốc dể tẩy và ít gây ngộ độc cho lợn con.
2.1.2. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển
- Sinh trưởng là quá trình tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích
của cơ thể theo từng giai đoạn khác nhau ở mỗi giai đoạn khác nhau thì con
vật có thể sinh trưởng nhanh hay chậm khác nhau phù hợp với quy luật phát
triển của mỗi giống.
- Phát triển là quá trình tăng lên về khối lượng, kích thước, thể tích
trong từng giai đoạn khác nhau và các tế bào mới sinh hình thành nên các cơ
quan tổ chức với một chức năng mới, Vũ Duy Giảng, (2007) [5].
2.1.2.1. Một số đặc điểm của lợn con liên quan đến sự sinh trưởng
Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh và không đồng đều qua các giai
đoạn. Nhanh nhất là ở 21 ngày tuổi đầu, sau đó tốc độ có phần giảm xuống do
lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng hemogobin trong máu lợn con
giảm, Phạm Quang Hùng, (2002) [6].
Trong quá trình sinh trưởng của con vật xương phát triển đầu tiên rồi
đến cơ và cuối cùng là mỡ. Từ sơ sinh đến trưởng thành thì lợn tăng trọng
nhanh, sau đó trưởng thành thì tăng khối lượng rất chậm rồi ngừng hẳn. Khi
con vật lớn lên khối lượng kích thước các cơ quan, các bộ phận của chúng
không tăng lên một cách đều đặn, trái lại tăng với các mức độ khác nhau,
Nguyễn Văn Đức và Lê Thanh Hải, (1999) [4].
Quy luật sinh trưởng phát triển của gia súc nói chung cũng như của lợn
nói riêng đều tuân theo quy luật tự nhiên của sinh vật: Quy luật sinh trưởng
không đồng đều, quy luật phát triển theo giai đoạn và chu kỳ. Cường độ sinh
trưởng thay đổi theo tuổi, tốc độ tăng khối lượng cũng vậy, các cơ quan bộ
phận khác nhau trong cơ thể cũng sinh trưởng phát triển khác nhau. Ví dụ: Cơ
thể lợn còn non tốc độ sinh trưởng của các cơ bắp phát triển mạnh hơn do đó

8


cần tác động thức ăn sao cho lợn phát triển đạt khối lượng nhanh, tăng tỉ lệ
nạc ở giai đoạn đầu.
2.2. Một số giống lợn ngoại và ưu thế lai trong chăn nuôi
2.2.1. Đặc điểm của một số giống lợn ngoại
* Lợn Yorkshire
Nguồn gốc xuất xứ: vào đầu thế kỉ XVI tại Anh, năm 1884 hoàng gia
Anh đã công nhận giống lợn này. Hiện nay đây là giống lợn nuôi phổ biến nhất
trên thế giới, lợn được nuôi ở nhiều nơi. Ở nước ta lợn được nhập vào từ năm
1920 ở Miền Nam để tạo ra giống lợn Thuộc Nhiêu Nam Bộ, sau đó đến năm
1964 lợn được nhập vào miền bắc thông qua Liên Xô cũ. Đến năm 1978, chúng
ta nhập lợn Yorkshire từ Cu Ba. Những năm sau 1990, lợn Yorkshire được nhập
vào nước ta qua nhiều con đường qua nhiều nước và nhập về nhiều dòng.
Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có màu trắng, lông có ánh vàng, đầu
nhỏ dài, tai to hơi hướng về phía trước thân dài lưng hơi vồng lên, chân cao
khoẻ và vận động tốt, chắc chắn, tầm vóc lớn.
Khả năng sản xuất: Lợn cái đẻ trung bình 10 – 12 con/lứa. Có lứa đạt
17 – 18 con. Trọng lượng sơ sinh trung bình 1 – 1.2 kg/con. Lợn cai sữa 60
ngày tuổi đạt 16 – 20 kg/con. Lợn trưởng thành đạt 350 – 380 kg, lợn nái
nặng 250 – 280 kg, lợn thuộc giống cho nhiều nạc. Hiện nay giống lợn này
đang được sử dụng trong chương trình nạc hoá đàn lợn của Việt Nam.
* Lợn Landrace
Nguồn gốc xuât xứ: được hình thành vào khoảng năm 1924 – 1925, tại
Đan Mạch. Chúng được nuôi phổ biến ở các nước châu Âu từ năm 1990 và
được tạo thành bởi quá trình lai tạo giữa giống lợn Youtland (Đức) với lợn
Yorkshire.
Đặc điểm ngoại hình: Toàn thân có màu trắng tuyền. Tầm vóc to, dài
mình bụng thon ngực rộng, mông đùi phát triển. Toàn thân có dáng hình thoi
tiêu biểu của lợn hướng nạc.

9


Khả năng sản xuất: Lợn nái Landrace có khả năng sinh sản cao, mắn đẻ
và đẻ nhiều: Trung bình đạt 1.8–2 lứa/năm, mỗi lứa đẻ 10 – 12 con. Trọng
lượng sơ sinh của lợn con trung bình đạt 1.2 – 1.3 kg/con, trọng lượng cai sữa
đạt 12 – 15 kg/con, sức tiết sữa 5 – 9 kg/ngày. Khả năng sinh trưởng của lợn
thịt rất tốt, tăng trọng 750 – 800 g/ngày, 6 tháng tuổi có thể đạt 105 – 125
kg/con. Lợn đực trưởng thành nặng 400 kg, lợn nái nặng 280 – 300 kg. Giống
Landrace được nhập vào Việt Nam từ năm 1970 từ Cu Ba và được xem là một
trong những giống lợn được sử dụng trong chương trình nạc hoá đàn lợn ở
Việt Nam.
* Lợn Duroc
Nguồn gốc xuất xứ: Lợn Duroc có nguồn gốc từ miền Đông nước Mỹ
và vùng CornBelt. Giống lợn Durk - Jersay có nguồn gốc từ 2 dòng khác biệt
Jersay Red của NewJersay và Duroc của NewYork. Dòng lợn Jersay Red
được tạo ra vào những năm 1850 ở vùng NewJersay bởi Clark Pettit.
Đặc điểm ngoại hình: Lợn toàn thân có màu hung đỏ (lợn bò), thân
hình vững chắc, bốn chân to khoẻ, cao, đi lại vững vàng, tai to ngắn, phía đầu
tai gập về phía trước. Đầu to, mõm thẳng và dài vừa phải, đầu mũi và 4 móng
chân có màu đen, 2 mắt lanh lợi, bộ phận sinh dục lộ rõ, lưng cong. Giống
Duroc hiện nay có mông vai rất nở, nạc cao.
Khả năng sản xuất: Trọng lượng trưởng thành của con đực trên 300
kg/con. Sử dụng trong lai hai, ba máu hoặc bốn máu giữa các giống ngoại đạt
hiệu quả cao về năng suất và chất lượng thịt. Lai với nái địa phương Việt Nam
(Móng Cái) không đạt kết quả tốt, da con lai dày, tốc độ lớn không nhanh số
con trên ổ không cao. Ở Việt Nam hướng sử dụng lợn Duroc lai với các giống
khác tạo lợn thương phẩm.
* Lợn Pietrain
Pietrain cổ điển là giống lợn xuất xứ từ làng Pietrain ở Vương quốc Bỉ.
Đây là một trong những giống lợn có tỷ lệ nạc cao nhất trên thế giới, có thể

10


đạt 60 – 62%. Lợn đực trưởng thành nặng 270 – 350 kg/con, lợn cái nặng 220
– 250 kg/con, nuôi 6 tháng tuổi đạt 100 kg/con, song lợn Pietrain có nhược
điểm lớn là tim yếu, thích nghi kém với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, khi hoạt
động mạnh dễ bị vỡ tim, gây chết đột tử. Lợn rất nhạy cảm với stress, tỷ lệ
thịt bị nhão và nhạt màu cao, pH của thịt sau khi giết mổ giảm mạnh do thịt bị
biến tính nhanh. Do đó, dù có ngoại hình đẹp và tỷ lệ nạc cao nhưng khả năng
tiêu thụ lợn giống thấp do không được thị trường ưa chuộng.
Tháng 10/2011, đàn lợn hạt nhân Pietrain kháng stress đã được Trường
ĐH Nông nghiệp Hà Nội nhập độc quyền vào giao cho Trung tâm Giống lợn
công nghệ cao nuôi dưỡng, khai thác. Trải qua quá trình nghiên cứu, các nhà
khoa học ĐH Nông nghiệp Hà Nội kết hợp với các giáo sư thuộc trường ĐH
Liege (Vương quốc Bỉ) đã nhân giống thành công đàn lợn hạt nhân Pietrain
kháng stress tại Việt Nam. Đàn lợn đã cho ra các thế hệ có chất lượng tốt,
bước đầu cung cấp cho thị trường cả nước lợn đực giống Pietrain kháng
stress, dùng để lai với lợn cái Duroc nhằm tạo ra lợn đực cuối cùng (đực
PiDu) nhằm nâng cao tỷ lệ nạc và năng suất thịt mông.
2.2.2. Ưu thế lai
2.2.2.1. Khái niệm và biểu hiện của ưu thế lai
Ưu thế lai là hiện tượng con lai giữa các cá thể không cùng nguồn gốc
huyết thống có sức sống, sức chống chịu bệnh tật và sức sản xuất cao hơn
mức trung bình của thế hệ bố mẹ. Ưu thế lai được tính bằng % năng suất tăng
lên của con lai so với bố mẹ của chúng. Trong thực tế ưu thế lai cũng có thể
chỉ biểu hiện theo từng mặt, từng tính trạng một, có khi chỉ một vài tính trạng
biểu hiện ưu thế lai còn các tính trạng khác vẫn giữ nguyên như khi chưa lai
tạo, thậm chí có tính trạng còn giảm đi.
Thông thường các tính trạng liên quan đế khả năng nuôi sống, khả năng
sinh sản có ưu thế lai cao nhất. Điều đó chứng tỏ các tính trạng có hệ số di
truyền thấp thường có ưu thế lai cao. Vì vậy để cải tiến tính trạng này so với

11


chọn lọc, lai giống và chăm sóc nuôi dưỡng là một trong những biện pháp
nhanh và hiệu quả hơn. Hai quần thể vật nuôi khác nhau về di truyền bao
nhiêu thì kết quả thu được khi lai giữa chúng càng cao bấy nhiêu, ưu thế lai
phụ thuộc rất lớn vào điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Khi điều kiện chăm sóc
nuôi dưỡng tốt thì tiềm năng ưu thế lai được phát huy một cách tối đa và
ngược lại.
Hiện nay, trong việc lai tạo con giống người ta chỉ quan tâm đến tính
trạng sản xuất chính của nó. Một số công thức lai mặc dù ưu thế lai tổng số
không cao nhưng tính trạng đáng quan tâm lại có ưu thế lai lớn thì công thức
lai đó vẫn được chọn để sử dụng. Các tính trạng liên quan đến khả năng sinh
sản, sinh trưởng thường được ưu tiên hàng đầu.
Trong chăn nuôi việc ứng dụng ưu thế lai là rất phổ biến nhằm mục
đích tạo con lai có tính năng vuợt trội, làm tăng năng suất và chất lượng sản
phẩm. Để tận dụng được ưu thế lai của cả giống nội và giống ngoại vào điều
kiện chăn nuôi nước ta, có thể lai 2 máu, 3 máu hoặc 4 máu. Dùng lợn Móng
Cái lai với lợn đực giống ngoại (Yorkshire, Landrace, Pietrian, Duroc) tạo ra
con lai F1 rồi dùng con lai F1 làm giống lai với một trong các giống lợn ngoại
trên để tạo ra con lai F2, F3 có 3/4 hay 7/8 máu ngoại.
Nguyễn Khắc Tích (1993) [12] cho biết con lai của hai giống Yorkshire x
Landrace tăng trọng nhanh hơn so với trung bình hai giống gốc. Con lai ba
máu Duroc x Landrace x Yorkshire tăng trọng nhanh hơn con lai hai máu
Yorkshire x Landrace. Lai kinh tế có thể làm tăng khả năng sinh sản 12 –
16%, tỷ lệ chết ở lợn con giảm 6 – 8%, tăng trọng nhanh hơn 7 – 26%, chi phí
thức ăn cho 1kg tăng trọng giảm 0.5 đơn vị thức ăn so với lợn thuần chủng
nội, tăng hiệu quả chăn nuôi lên 8 – 10%.
2.2.2.2. Lai kinh tế
Lai kinh tế là lai giữa hai cá thể, hai dòng khác giống, khác loài hoặc
các cá thể của hai dòng phân hoá về di truyền cũng như hai dòng cận huyết

12


trong cùng một giống. Các con lai sinh ra không dùng để làm giống mà chỉ sử
dụng để sản xuất thương phẩm.
Mục đích của lai kinh tế là: Tăng mức độ dị hợp tử của con lai thông
qua đó lợi dụng ưu thế lai. Mức độ dị hợp tử của con lai phụ thuộc vào mức
độ đồng hợp của các giống, dòng tham gia. Tuy nhiên cần kiểm tra khả năng
tổ hợp giữa các giống và dòng để có thể phát hiện được tổ hợp lai thích hợp
có khả năng biểu hiện ưu thế lai cao.
Tuỳ theo mục đích mà người ta chia lai kinh tế thành lai kinh tế đơn
giản và lai kinh tế phức tạp:
- Lai kinh tế đơn giản: là lai giữa hai cá thể của hai giống hoặc hai
dòng. Lai kinh tế đơn giản có ưu điểm là đơn giản, dễ tiến hành, ở ngay thế hệ
F1 tất cả con lai đều được sử dụng vào mục đích làm kinh tế để tận dụng ưu
thế lai. Bằng phương pháp lai này các giống vật nuôi Việt Nam vốn có năng
suất thấp được lai với các giống cao sản nhập từ nước ngoài.
- Lai kinh tế phức tạp là lai giữa ba giống, dòng trở lên. Người ta tiếp
tục cho lai thế hệ con cái của các phép lai kinh tế đơn giản hơn với các giống
khác để tạo ra con lai mang nhiều máu của nhiều giống khác nhau. Lai kinh tế
phức tạp lợi dụng triệt để ưu thế lai ở nái lai F1 để khắc phục nhược điểm của
lai kinh tế đơn giản, lợi dụng được ưu thế lai từ các giống dòng khác nhau.
Lai kinh tế là phép lai rất quan trọng trong chăn nuôi do phép lai này có
thể phối hợp được nhiều đặc điểm tốt của các giống khác nhau vào con lai,
tận dụng ưu thế lai của các giống lợn ngoại và lợn nội, đáp ứng được nhu cầu
của thị trường nhờ việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Lợn lai
của phép lai kinh tế giữa nái nội và đực cao sản có các đặc điểm: khoẻ, biết ăn
sớm, tiêu tốn thức ăn ít hơn so với lợn nội, tận dụng được thức ăn thô xanh và
có khả năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi Việt Nam [7].
2.3. Tình hình nghiên cứu trong nước và thế giới
2.3.1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

13


Thời gian qua, trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội đã nghiên cứu
thành công và phổ biến rộng rãi phương pháp nuôi heo trên đệm lót sinh thái
được người chăn nuôi quan tâm hưởng ứng do cải thiện đáng kể môi trường
chăn nuôi, tiết kiệm nhân công, giúp vật nuôi giảm bệnh, tăng hiệu quả chăn
nuôi. Công nghệ này đã được phổ biến cho một số tỉnh phía Nam.
Một số nông dân ở xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng
Tháp đã ứng dụng nuôi heo bằng đệm lót sinh thái cho biết: chuồng nuôi thông
thường cần nơi chứa chất thải, mùi heo từ chuồng trại phát tán gây khó chịu cho
người xung quanh... Nuôi bằng đệm lót được rảnh tay vì không lo tắm heo, dội
chuồng; cải thiện quan hệ hàng xóm; heo khỏe và tăng trọng hơn, ít bệnh hơn so
với chuồng nuôi xi măng. Ngoài ra, nuôi trên đệm lót, heo không bị trầy xước
chân, tránh tiếp xúc môi trường dơ bẩn; do môi trường sống sạch sẽ, đi êm chân,
heo thoải mái nên phát triển nhanh; tiết kiệm đến 80% nước vì không phải tắm
heo, dội chuồng.
Với cách nuôi mới này, sau thời gian sử dụng 2 – 4 năm, phần đệm lót
đưa ra làm phân bón cho vườn cây rất tốt. Cách làm đệm lót khá đơn giản, tận
dụng trấu, mùn cưa, bã mì..., rải 50% trấu + 50% mùn cưa thành 3 lớp, mỗi
lớp dày 15 – 20cm, mỗi lớp rải đều dịch lên men, độ ẩm 50%, để 3 – 7 ngày
cho lên men, giữ nhiệt độ 20 – 250C, sử dụng 2 – 4 năm tùy bảo quản.
Gần đây với công nghệ trên, tháng 7/2012, phòng Kinh tế thành phố Bảo
Lộc (Lâm Đồng) đã phối hợp với Hội Nông dân các phường, xã xây dựng mô
hình chăn nuôi heo trên đệm lót sinh thái tại các trang trại, hộ gia đình có quy
mô lớn và gần khu dân cư, hiệu quả bước đầu rất khả quan. Ý nghĩa khoa học
của quy trình công nghệ này được hiểu như sau: với nguyên lý sử dụng các loại
vật liệu “trơ”, nhưng thấm nước, không mủn để làm giá thể cho vi sinh vật phân
giải chất thải lên men, tốt nhất là mùn cưa. Vi sinh vật sẽ phân giải phân, nước
tiểu để sinh trưởng và phát triển làm giảm ô nhiễm do chất thải, giảm được đáng
kể mùi hôi thối, ruồi muỗi. Đặc biệt, protêin vi sinh vật tạo ra trong mùn cưa của

14


đệm lót sẽ trở thành thức ăn sinh thái cho vật nuôi. Khi được phân giải, các chất
dinh dưỡng trong phân vật nuôi sẽ chuyển hóa thành protêin của vi sinh vật có
lợi. Các vi sinh vật có lợi sẽ thúc đẩy quá trình tiêu hóa của vật nuôi được tốt
hơn, nhờ đó đã làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của vật nuôi.
Kết quả thực tế tại các mô hình cho thấy, chất thải được phân giải hoàn
toàn, chuồng nuôi gần như không có mùi hôi, giảm hẳn côn trùng, ruồi muỗi...
Sự kết hợp giữa đệm lót lên men làm từ trấu hay mùn cưa với chế phẩm
Balasa, công nghệ chăn nuôi không mùi hôi với đệm lót sinh thái mang lại
những lợi ích như: do phân được phân hủy hoàn toàn bằng tự nhiên, không gây
ra mùi hôi nên môi trường sống của người dân xung quanh hoàn toàn không bị
ảnh hưởng. Do đó, ruồi muỗi và các tác nhân gây dịch bệnh cũng không có cơ
hội phát triển, cũng không cần dọn phân, rửa chuồng nên lượng nước tiêu dùng
trong chăn nuôi cũng giảm thiểu rất nhiều. Bên cạnh đó, chi phí cho nhân công
hay điện cũng được giảm; do môi trường sạch nên vật nuôi cũng ít bị mắc
bệnh, nhờ vậy giảm được chi phí chữa bệnh; nhờ các vi sinh vật có trong mùn
cưa mà các vật nuôi tiêu hóa tốt hơn, từ đó chất lượng thịt tốt hơn; hiệu quả
kinh tế của người chăn nuôi cũng được tăng lên.
Với phương pháp nuôi mới này, người chăn nuôi có thể lãi hơn 10-20%
so với kiểu nuôi trên nền xi măng, nhưng giảm rất nhiều cho đầu tư ban đầu
và nhất là cải thiện đáng kể về mặt môi trường, một điều kiện quan trọng cho
phát triển chăn nuôi bền vững và thân thiện với môi trường. Nguyễn Văn Re,
(2013) [8].
2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Ứng dụng vi sinh vật ở dạng đơn chủng hay đa chủng vào mục đích
chăn nuôi nói chung và xử lý môi trường nói riêng đã được các nước có nền
công nghệ vi sinh áp dụng từ lâu và phổ biến dưới các dạng sản phẩm vi sinh
khác nhau. Các loại này được áp dụng cho từng công đoạn chăn nuôi cũng
như áp dụng cho toàn bộ quá trình chăn nuôi tùy thuộc vào đặc tính của các

15


chủng vi sinh vật cũng như mục đích sử dụng.
Tại Nhật Bản, chế phẩm EM (Effective Microorganisms) có nghĩa là vi
sinh vật hữu hiệu do giáo sư Tiến sĩ Teruo Higa - Trường Đại học Tổng hợp
Ryukius, Okinawa, Nhật Bản nghiên cứu và ứng dụng thành công vào sản
xuất nông nghiệp vào đầu những năm 1980. Chế phẩm này gồm tới trên 87
chủng vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí thuộc các nhóm: vi khuẩn quang hợp, vi
khuẩn lactic, nấm mem, nấm mốc, xạ khuẩn được phân lập, chọn lọc từ 2.000
chủng được sử dụng phổ biến trong công nghiệp thực phẩm và công nghệ lên
men. Chế phẩm này đã được thương mại hóa toàn cầu, đang được phân phối ở
Việt Nam và được người chăn nuôi tin dùng.
Tuy nhiên, việc ứng dụng hệ vi sinh vật để làm đệm lót sinh học trong
chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng mới được áp dụng ở một số
nước trong đó có Việt Nam. Quy trình chung tương đồng ở các nước là sử
dụng môi trường lên men được làm từ các vật liệu có hàm lượng xenluloza
cao để cho hệ vi sinh vật hoạt động hiệu quả thông qua quá trình phân hủy
chất hữu cơ. Thành phần, số lượng và chất lượng các chủng vi sinh vật có sự
khác biệt tùy thuộc vào từng nước, từng sản phẩm, đối tượng vật nuôi.
Trong chăn nuôi lợn trên đệm lót lên men được áp dụng ở Nhật Bản,
Trung Quốc, Hồng Kông, Hoa Kỳ, Anh, Thái Lan, Hàn Quốc... Ở các nước
này việc ứng dụng hệ vi sinh vật được chọn tạo hoặc sản phẩm tách chiết từ
chúng vào chăn nuôi cũng như xử lý chất thải đã mở ra tiềm năng rất lớn cho
chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi sinh thái và đảm bảo quyền động vật trong
những năm tới.

16


PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Lợn con 4 máu (♂(♂Pietrain x ♀Duroc) x ♀ (♂Yorkshire x
♀Landrace)), nuôi trong giai đoạn 4 – 7 tuần tuổi.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: tại trang trại sinh thái Thanh Xuân (thôn Đại Tài, xã Nghĩa Trụ,
huyện Văn Giang, tỉnh hưng Yên) - công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam.
- Thời gian: 12/2013 – 3/2014
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Xác định tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng (tích luỹ, tuyệt đối,
tương đối) của lợn con (♂(♂Pietrain x ♀Duroc) x ♀ (♂Yorkshire x
♀Landrace)) nuôi trên hai loại nền chuồng khác nhau (nền chuồng bằng gỗ và
nền chuồng có lót rơm).
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh tiêu hóa và hô hấp của lợn thí nghiệm
(♂(♂Pietrain x ♀Duroc) x ♀ (♂Yorkshire x ♀Landrace)) khi nuôi trên hai
loại nền chuồng khác nhau.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế khi nuôi lợn thí nghiệm trên hai loại nền
chuồng khác nhau.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Bố trí thí nghiệm
3.4.1.1. Bố trí đàn lợn con thí nghiệm
Đối với đàn lợn con, thí nghiệm được tiến hành theo phương pháp phân
lô so sánh, đảm bảo giữa các lô nguyên tắc đồng đều về giống lợn, tuổi, khối
lượng và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng (sử dụng cùng một loại thức ăn)…
- Lợn thí nghiệm được chia thành 2 lô. Lợn con được theo dõi và cân
khối lượng chính xác theo từng giai đoạn.

17


- Lợn con được tập ăn sớm và thời gian cai sữa là như nhau, từ 22 – 28
ngày tuổi ăn cám HIGRO 550S, từ 29 – 35 ngày tuổi ăn cám HIGRO 550S +
CP 951từ 36 – 49 ngày tuổi ăn cám CP 951 với thành phần dinh dưỡng như sau:
Bảng 3.1: Thành phần dinh dưỡng thức ăn thí nghiệm
Tên cám HIGRO 550S

CP 951

Thành phần
Độ ẩm tối đa

14%

14%

Protein tối thiểu

21%

20%

Xơ tối thiểu

3.5%

5%

Canxi tối thiểu – tối đa

0.6 – 1.2%

0.6 – 1.2%

Photpho tối thiểu – tối đa

0.4 – 0.9%

0.4 – 0.9%

1.3%
0.8%

1.3%
0.7%

3300 Kcal/kg

3300 Kcal/kg

Colistin tối đa
Flortenicol tối đa

180 mg/kg
30 mg/kg

180 mg/kg
30 mg/kg

Halpuinol tối đa

180 mg/kg

180 mg/kg

Kitazamycin tối đa

110 mg/kg

110 mg/kg

Amoxicilin tối đa

300 mg/kg

150 mg/kg

Lysin tổng số tối thiểu
Methionine + Cystine tổng số tối thiểu
Năng lượng trao đổi

Ghi chú: Thành phần là kháng sinh trong thức ăn chỉ chứa một loại là
Colistin hoặc Flortenicol hoặc Halpuinol hoặc Kitazamycin hoặc Amoxicilin.
- Theo dõi : 12 đàn lợn con thí nghiệm, phân làm 2 lô lớn, mỗi lô 3 đàn
mỗi đàn 10 con và lặp lại 2 lần theo sơ đồ bố trí thí nghiệm sau:

18


Bảng 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Chỉ tiêu
Yếu tố thí
nghiệm
Giống
Tuổi
Số con
Số lần lặp lại
Thức ăn

Lô I

Lô II

Nuôi nền trên chuồng

Nuôi trên nền chuồng

bằng gỗ
có lót rơm
PDYL
PDYL
22 – 49 ngày tuổi
22 – 49 ngày tuổi
30
30
2
2
Từ 22 – 28 ngày tuổi ăn cám HIGRO 550S
Từ 29 – 35 ngày tuổi ăn cám HIGRO 550S + CP 951
Từ 36 – 49 ngày tuổi ăn cám CP 951

Thời gian

28 ngày

theo dõi

Ghi chú: PDYL là giống lợn 4 máu (♂(♂Pietrain x ♀Duroc) x ♀
(♂Yorkshire x ♀Landrace)).
3.4.1.2. Phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng lợn thí nghiệm
Lợn con thí nghiệm được nuôi trong chuồng nuôi khép kín với hệ thống
quạt hút, dàn mát và bạt úm cũng như hệ thống bóng đèn sưởi. Chế độ ăn của
lợn là 6 bữa/ngày và được chia đều vào các khung giờ cố định, cụ thể là buổi
sáng ăn 3 bữa vào 7h30, 9h và 10h45 còn buổi chiều cũng 3 bữa vào 2h, 3h và
4h15, lợn được uống nước tự do với các núm uống tự động có sẵn trong
chuồng nuôi. Lợn con thí nghiệm được nuôi trong chuồng sạch sẽ và đảm bảo
độ thông thoáng, không bị gió lùa và được tiêm phòng đầy đủ theo đúng quy
trình vacxin.
Bảng 3.3: Quy trình tiêm phòng vacxin cho lợn con thí nghiệm

Vacxin tiêm phòng
Tiêm sắt

Ngày tuổi
3

19

Liều lượng
2 ml/con


Tiêm vacxin phòng E.Coli
Tiêm vacxin suyễn lần 1
Tiêm vacxin tai xanh lần 1
Tiêm vacxin suyễn lần 2
Tiêm vacxin phó thương hàn lần 1
Tiêm vacxin phù đầu
Tiêm vacxin lơ mồm long móng lần 1
Tiêm vacxin phó thương hàn lần 2
Tiêm vacxin tả lần 1
Tiêm vacxin tai xanh lần 2
Tiêm vacxin tả lần 2
Tiêm vacxin lở mồm long móng lần 2
Tiêm vacxin đóng dấu

3
7
20 – 21
20 – 21
20 – 21
28 – 30
28 – 30
28 – 30
35 – 38
45
60
60
70

2ml/con
2 ml/con
2 ml/con
2 ml/con
2 ml/con
2 ml/con
2 ml/con
2 ml/con
1 ml/con
2 ml/con
1 ml/con
2 ml/con
2 ml/con

3.4.2. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi
3.4.2.1. Xác định tỷ lệ nuôi sống của lợn con thí nghiệm
Số con còn sống
TLNS =

× 100%
Tổng số con

3.4.2.2. Những chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng
a. Sinh trưởng tích lũy (Vi)
Là khối lượng cơ thể, kích thước và thể tích tăng lên được tích lũy lại
sau thời gian sinh trưởng.
Sinh trưởng tích lũy được tính theo công thức:
Vi = V1, V2, V3,…., Vn
Đơn vị tính: kg, g
Trong đó: V1: Khối lượng, kích thước tương ứng với khoảng thời gian t1,
V2: Khối lượng, kích thước tương ứng với khoảng thời gian t2,
V3: Khối lượng, kích thước tương ứng với khoảng thời gian t3,
Vn: Khối lượng, kích thước tương ứng với khoảng thời gian tn,
i = 1, 2, 3,…., n
n: Số lần cân, đo tại một khoảng thời gian là t.

20


b. Sinh trưởng tuyệt đối (Ai)
Là quá trình tăng trưởng về khối lượng, kích thước, thể tích cơ thể gia
súc trong một đơn vị thời gian.
Đơn vị tính là: g/ngày; kg/tháng.
Sinh trưởng tuyệt đối được tính theo công thức sau:

Vi  Vi  1

A t
i

i

 t i 1

Trong đó:
Ai: Sinh trưởng tuyệt đối.
Vi-1: Sinh trưởng khối lượng kích thước ở thời kỳ đầu tương ứng với một
khoảng thời gian ti-1.
Vi: Khối lượng kích thước ở thời kỳ tiếp theo tương ứng với một khoảng thời
gian là ti
c. Sinh trưởng tương đối (Ri %)
Là tỉ lệ phần trăm của khối lượng cơ thể hay kích thước các chiều đo
tăng lên của lần khảo sát sau so với lần khảo sát trước.
Sinh trưởng tương đối được tính theo công thức:

Ri 

Vi  Vi 1
0.5(V i  V i  1 )

100

Trong đó i = 1,… n,
Ri: Sinh trưởng tương đối,
Vi-1: Khối lượng, kích thước ở thời kỳ đầu và
Vi: Khối lượng kích thước ở thời kỳ tiếp theo.
d. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cho sinh trưởng
Hàng tuần cân thức ăn ở các lô thí nghiệm để theo dõi về khối lượng
thức ăn mà gà ăn hết trong tuần từ đó tính:
+ Thu nhận thức ăn kg/con/ngày:

21


Tổng lượng thức ăn trong ngày (g)
TNTA =
Số con
Trong đó: TNTA là thu nhận thức ăn kg/con/ngày
+ Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (trong tuần):
Tổng lượng thức ăn tiêu thụ trong kỳ (kg)
TTTA =
Tổng khối lượng lợn tăng trong kỳ (kg)
Trong đó : TTTA la tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng
3.4.2.3. Tỷ lệ nhiễm bệnh tiêu chảy và bệnh đường hô hấp
- Tỷ lệ lợn bị mắc tiêu chảy (%): Là tỷ lệ số con bị tiêu chảy so với số
con trong ổ.
Số con bị tiêu chảy
TLTC =

× 100%
Tổng số con

Trong đó: TLTC là tỷ lệ lợn con thí nghiệm bị tiêu chảy
- Tỷ lệ lợn bị mắc bệnh về đường hô hấp: Là tỷ lệ số con bị bệnh viêm
phổi so với số con trong ổ.
Số con bị viêm phổi
TLVP =

× 100%
Tổng số con

Trong đó: TLVP là tỷ lệ lợn con thí nghiệm bị viêm phổi.

22


3.4.2.4. Các phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng chương trình Excel Minitab 1.6 xác định các thông số thống
kê, Nguyễn Văn Thiện và cs (2002) [8].
- Sử dụng phương pháp và công thức để so sánh hai số trung bình
(Nguyễn Văn Đức và Lê Thanh Hải, 2002) [3].
- Tính sự sai khác theo công thức sau:

TTN 

| X1  X 2 |
m X2 1  m X2 2

Với (n1 + n2)  30
- Dựa trên Ttn để kết luận:

+ Nếu Ttn(P>0.05 ).
+ Nếu Ttn>T0.05 (=1.96) thì kết luận hai số trung bình khác nhau rõ rệt
(P<0.05).
+ Nếu Ttn>T0.01 (=2.78) thì kết luận hai số trung bình khác nhau khá rõ rệt
(P<0.01).
+ Nếu Ttn>T0.001 (=3.30) thì kết luận hai số trung bình khác nhau rất rõ rệt
(P<0.001).
- Xác định theo các thông số thống kê:

+ Giá trị trung bình cộng:

 Xi

X

 Xi
n

: Tổng các giá trị khác nhau của các tính trạng.
n : Số lượng giá trị ta theo dõi.

+ Độ chênh lệc ( S X ): Biểu thị mức độ phân tán (mức độ biến động tuyệt đối)
của các giá trị khác nhau của các tính trạng quanh số trung bình mẫu. Số
lớn tức biến động lớn, mức đại diện của trung bình thấp.

23

S

X


Biểu thức:

S

X



 ( Xi  X )

2

n 1

+ Hệ số biến dị (Cv %): Là tỷ lệ phần trăm giữa độ lệch chuẩn và số trung
bình, biểu thị mức độ biến động tương đối của tính trạng, là tham số đặc trưng
cho mức độ phân tán của các giá trị quan sát được.

Biểu thức:

C

V

(%)  S X 100
X

+ Độ lệch chuẩn (Standard Deviation) là một đại lượng thống kê mô tả dùng
để đo mức độ phân tán của một tập dữ liệu đã được lập thành bảng tần số. Có
thể tính ra độ lệch chuẩn bằng cách lấy căn bậc hai của phương sai. Khi hai
tập dữ liệu có cùng giá trị trung bình cộng, tập nào có độ lệch chuẩn lớn hơn
là tập có dữ liệu biến thiên nhiều hơn. Trong trường hợp hai tập dữ liệu có giá
trị trung bình cộng không bằng nhau, thì việc so sánh độ lệch chuẩn của
chúng không có ý nghĩa. Độ lệch chuẩn còn được sử dụng khi tính sai số
chuẩn. Khi lấy độ lệch chuẩn chia cho căn bậc hai của số lượng quan sát trong
tập dữ liệu, sẽ có giá trị của sai số chuẩn.

Biểu thức:

24


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×