Tải bản đầy đủ

Tổng quan về vắc xin

Tổng quan về vắc xin
Sử dụng vắc xin là tạo miễn dịch chủ động nhân tạo. Sự bảo vệ hình thành nhờ
sự đáp ứng miễn dịch vừa dịch thể (globulin miễn dịch đặc hiệu nhất là IgG, có
thể IgA và IgM), vừa trung gian tế bào (đại thực bào và tế bào lympho).
Cường độ và hiệu quả của sự đáp ứng miễn dịch biến thiên theo:
- Vắc xin: Tính chất và hàm lượng của kháng nguyên, những chất phụ gia miễn
dịch, thường sử dụng là những muối kim loại: Al hoặc Ca có thể tăng cường sự
đáp ứng của một vài vắc xin bất hoạt.
- Vật chủ: Tuổi là một nhân tố quan trọng. sự đáp ứng miễn dịch giảm dần với
tuổi nhưng không biến mất ở người lớn tuổi. Những nhân tố di truyền, còn chưa
biết rõ cũng ảnh hưởng, một vài nhân tố làm suy giảm sự đáp ứng miễn dịch,
như không có γ globulin huyết, giảm sút tế bào miễn dịch hoặc do mắc phải như
trong bệnh u ác tính, điều trị giảm miễn dịch, suy dinh dưỡng...
2.3. Đặc tính cơ bản của vắc xin:
- Tính kháng nguyên đặc thù: Là khả năng kích thích cơ thể tạo thành kháng
thể. Kháng nguyên mạnh là kháng nguyên khi đưa vào cơ thể một lần đã sinh ra
nhiều kháng thể. Kháng nguyên yếu là những chất phải đưa vào nhiều hoặc phải
kèm theo một tá dược mới sinh được một ít kháng thể.
- Tính sinh miễn dịch: Vắc xin gây miễn dịch bằng một vi khuẩn hoặc vi rút giảm
độc lực, hoặc với một loại protein đặc hiệu có tính kháng nguyên để gây ra một
đáp ứng miễn dịch tạo ra hiệu quả đề kháng cho cơ thể về sau khi tác nhân gây

bệnh xâm nhập với đầy đủ độc tính.
2.4. Phân loại vắc xin:
- Vắc xin sống giảm độc lực: Là những tác nhân nhiễm trùng tự nhiên, được
làm giảm độc một cách nhân tạo ở phòng thí nghiệm. Vắc xin đậu mùa là loại
vắc xin đầu tiên trong lịch sử, là một vi rút động vật (đậu bò) có khả năng đem lại
sự bảo vệ chéo chống lại virus đậu mùa mà nó rất gần gũi. Phần lớn những vắc
xin sống hiện có là những vaccine vi rút: Vắc xin sốt vàng, vắc xin bại liệt, sởi,
rubella, quai bị. Một vắc xinvi khuẩn sống thường sử dụng là BCG. Đối với vắc
xin sống, sự chủng ngừa thường một lần, gây nên sự nhiễm trùng nhẹ hoặc
không biểu hiện, sự nhân lên của vi rút trong cơ thể gây nên miễn dịch
thườnglâu bền, tương đương với sự miễn dịch do sự nhiễm trùng tự
nhiên.Những thuận lợi của vắc xin sống là tiện lợi (tiêm 1 lần), giá thành thường
rẻ. Điều bất tiện là có thể đem lại nguy cơ nhiễm trùng (phản ứng và biến
chứng).
- Vắc xin chết: Là những chế phẩm kháng nguyên đã mất khả năng nhiễm trùng
nhưng còn bảo tồn tính chất gây miễn dịch. Người ta phân biệt:


+ Vắc xin chết toàn thể: Loại vắc xin này chứa tất cả các thành phần của tác
nhân nhiễm trùng, giết chết bằng nhiệt, formol hoặc β-propiolacton, bao gồm vắc
xin vi khuẩn như ho gà, thương hàn TAB, tả uống hoặc vắc xin vi rút như cúm,
bại liệt, dại....
+ Vắc xin giải độc tố: Những vắc xin này chết nhưng chỉ chứa kháng nguyên
tinh chế: Loại vắc xin này chỉ bao gồm thành phần kháng nguyên quan trọng
nhất về phương diện sinh miễn dịch của vi khuẩn hoặc vi rút được tinh khiết và
làm bất hoạt. Ví dụ như vắc xin chứa giải độc tố vi khuẩn bản chất protein (vắc
xin uốn ván, vắc xin bạch hầu)
- Vắc xin tách chiết (vắc xin dưới đơn vị) là vắc xin công nghệ cao, loại chỉ tách
lấy một phần vách (vỏ) chứa thành phần kháng nguyên đặc thù Polysaccharide
của vi khuẩn (vắc xin não mô cầu, vắc xin phế cầu), vắc xin chứa thành phần
kháng nguyên vi rút (vắc xin vi rút viêm gan B được điều chế từ HBsAg có trong
huyết tương những người nhiễm kháng nguyên này). Những vắc xin chết có ưu
điểm không có nguy cơ nhiễm trùng. Những bất lợi bao gồm: giá thành thường
cao, nguy cơ mẫn cảm, một lịch chủng ngừa nhiều lần và lặp lại.
- Vắc xin tái tổ hợp (vắc xin công nghệ mới): Là những vắc xin được sản
xuất dựa vào kỹ thuật di truyền và công nghệ gen, như vắc xin viêm gan B
tái tổ hợp.

3.3. Thời gian tiêm chủng
- Thời điểm tổ chức tiêm chủng: Khi đã xác định được quy luật xuất hiện dịch,


cần phải tiến hành tiêm chủng đón trước mùa dịch, để cơ thể có đủ thời gian
hình thành miễn dịch. Đối với vaccine được tiêm chủng lần đầu, thời gian tiềm
tàng kéo dài từ 24 giờ (trung bình khoảng 1 tuần), tuỳ thuộc vào bản chất vắc xin
và tính phản ứng của cơ thể. Hiệu giá kháng thể đạt được đỉnh cao nhất sau
khoảng 4 ngày đến 4 tuần (trung bình 2 tuần). Đó là kết quả của đáp ứng tiên
phát. Khi tiêm chủng nhắc lại, thời gian tiềm tàng sẽ rút ngắn, hiệu giá kháng thể
đạt được đỉnh cao nhất chỉ sau một số ngày nhờ những tế bào lympho có trí nhớ
miễn dịch. Đó là kết quả của đáp ứng miễn dịch thứ phát.
- Khoảng cách giữa các lần tiêm chủng: Đối với những vắc xin phải tiêm chủng
nhiều lần (khi tạo miễn dịch cơ bản), khoảng cách hợp lý giữa các lần tiêm
chủng là 1 tháng. Nếu khoảng cách này ngắn hơn, mặc dù tiêm chủng lần sau
nhưng kết quả đáp ứng của cơ thể vẫn chỉ như tiên phát, đáp ứng miễn dịch thứ
phát sẽ không có hoặc bị hạn chế. Ngược lại vì một lý do nào đó phải tiêm chủng
lần tiếp theo sau hơn 1 tháng, hiệu quả miễn dịch vẫn được đảm bảo, vì vậy lần
tiêm chủng trước vẫn được tính. Tuy nhiên không nên kéo dài việc tiêm chủng
nếu không có những lý do bắt buộc, vì trẻ có thể bị măc bệnh trước khi được
tiêm chủng đầy đủ.


- Thời gian tiêm chủng nhắc lại: Thời gian tiêm chủng nhắc lại tuỳ thuộc vào
thời gian duy trì được tình trạng miễn dịch có đủ hiệu lực bảo vệ của mỗi loại vắc
xin. Thời gian này khác nhau đối với các loại vắc xin khác nhau.
Đường tiêm chủng: Mỗi loại vắc xin đòi hỏi một cách thức chủng ngừa thích hợp.
Người ta sử dụng nhiều phương pháp chủng ngừa:
- Chủng (rạch da): đây là đường cổ điển nhất, được thực hiện ngay từ lúc
Jenner sáng chế ra vắc xin phòng bệnh đậu mùa. Đối với vắc xin này, đường
chủng vẫn được dùng cho đến khi bệnh đậu mùa bị tiêu diệt hoàn toàn trên hành
tinh của chúng ta (1979), không cần phải chủng đậu nữa. Ngày nay đường
chủng vẫn còn được sử dụng cho một số ít vắc xin (BCG, dịch hạch).
- Đường tiêm: có thể tiêm trong da, tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, không bao giờ
tiêm vắc xin vào đường tĩnh mạch. Đa số các vắc xin có thể tiêm dưới da, chỉ
một số vắc xin không cho phép sử dụng cách chủng ngừa này, BCG phải tiêm
trong da, tiêm dưới da thường hay gây loét. Phương pháp tiêm trong da có nhiều
ưu điểm: chỉ cần một lượng vắc xin tương đối nhỏ (0,1ml), ít gây phản ứng, hiệu
ứng miễn dịch không kém gì phương pháp tiêm dưới da. Tiêm trong da có thể
được thực hiện bằng bơm kim tiêm hoặc bằng bơm nén áp lực không kim,
phương pháp này giúp việc tiêm chủng nhanh chóng dễ thực hiện với quy mô
rộng rãi, nhưng cần lưu ý đúng kỹ thuật.
- Đường uống: Đường uống là đường đưa vắc xin vào cơ thể dễ thực hiện
nhất. Tuy nhiên chỉ thực hiện được đối với những vắc xin không bị dịch đường
tiêu hoá phá huỷ. Sự hiểu biết tốt hơn về vai trò của miễn dịch tại chỗ do IgA tiết,
những vắc xin phòng nhiễm trùng đường tiêu hoá hoặc nhiếm trùng ở nơi khác
nhưng vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể theo đường tiêu hoá đã được sử dụng
(như vắc xin bại liệt) hoặc đang được nghiên cứu đưa vào cơ thể bằng cách
uống. Đường uốnglợi điểm là kích thích miễn dịch tại chỗ mạnh hơn nhiều so với
đường tiêm, nhưng đường uống không bảo đảm sự cố định của vi rút trong vắc
xin, cho nên uống 3 lần liên tiếp vắc xin bại liệt được xem như cần thiết để tạo
thành miễn dịch.
- Ngậm dưới lưỡi: hiện nay đã có một số vắc xin đường ruột điều chế dưới
dạng viên để ngậm dưới lưỡi. Cần phải có một liều lượng kháng nguyên cao mới
bảo đảm tác dụng gây miễn dịch.
- Nhỏ mũi: Được sử dụng rộng rãi cho vắc xincúm.
- Ngoài ra vắc xincòn được đưa vào cơ thể theo một số đường khác như khí
dung, thụt đại tràng, những đường này ít được sử dụng.
3.5. Các phản ứng phụ do tiêm chủng
- Phản ứng tại chỗ: Những phản ứng nhẹ thường gặp sau tiêm chủng là nơi
tiêm có thể hơi đau, mẩn đỏ, hơi sưng hoặc nổi cục nhỏ. Những phản ứng này
sẽ mất đi nhanh chóng sau một vài ngày, không cần phải can thiệp gì. Nếu tiêm
chủng không đảm bảo vô trùng, thì nơi tiêm chủng có thể bị viêm nhiễm, làm mủ.


-Phản ứng toàn thân: Trong các phản ứng toàn thân, sốt hay gặp hơn cả (1020%). Sốt thường hết nhanh sau một vài ngày. Co giật có thể gặp nhưng với tỷ
lệ rất thấp (1/10.000), hầu hết khỏi không để lại di chứng gì. Một số vắc xin có
thể gây ra phản ứng nguy hiểm hơn, trong đó có sốc phản vệ nhưng tỷ lệ rất
thấp. Khi bàn đến những phản ứng do vắc xin, rất cần thiết phải nhấn mạnh rằng
mức độ nguy hiểm do vắc xin nhỏ hơn rất nhiều so với mức độ nguy hiểm do
bệnh nhiễm trùng tương ứng gây ra. Thí dụ, tỷ lệ biến chứng nguy hiểm do bệnh
ho gà gấp hàng trăm đến hàng nghìn lần phản ứng nguy hiểm do vắc xin bạch
hầu - ho gà - uốn ván (vắc xin DPT) gây ra.
3.6. Bảo quản vắc xin
Thường quy bảo quản các vắc xin không giống nhau, nhưng nói chung các vắc
xin đều cần được bảo quản trong điều kiện khô, tối và lạnh.
Nhiệt và ánh sáng phá huỷ tất cả các loại vắc xin, nhất là những vắc xin sống
như vắc xinsởi, bại liệt và vắc xinBCG sống. Ngược lại, đông lạnh phá huỷ
nhanh các vắc xingiải độc tố (như vắc xin phòng uốn ván và bạch hầu). Trong
quá trình sử dụng ở cộng đồng, các vắc xin cần được bảo quản ở nhiệt độ trong
khoảng từ 20C đến 80C. Một trong những công việc quan trọng nhất trong việc tổ
chức tiêm chủng là tạo lập được dây chuyền lạnh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×