Tải bản đầy đủ

Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường THPT ở đà nẵng

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

VÕ VĂN VŨ

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ GIÁO DỤC THỂ CHẤT VÀ HOẠT ĐỘNG THỂ
THAO
TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất
Mã số:

62.14.01.03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


Cán bộ hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Vũ Đức Thu
2. PGS.TS Đồng Văn Triệu

Hà Nội – Năm 2014


2

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
TDTT trường học, bao gồm GDTC và HĐTT, là một bộ phận quan trọng
trong việc thực hiện mục tiêu phát triển con người toàn diện, góp phần nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu, là vốn quý của mọi gia đình; là mục
tiêu của mỗi quốc gia trong đào tạo nguồn nhân lực để xây dựng và phát triển đất
nước. Vì vậy, chăm lo thể chất cho HS là trách nhiệm của toàn xã hội, các cấp, các
ngành, đặc biệt là ngành GD&ĐT. Trong Chỉ thị 133/TTg, Thủ tướng đã yêu cầu:
"Bộ GD&ĐT cần đặc biệt coi trọng việc GDTC trong nhà trường, cải tiến nội dung
giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho
HS ở các cấp học" [108, tr.130]. Trong Chỉ thị số 17-CT/TW về phát triển TDTT
đến năm 2010, Ban chấp hành Trung ương Đảng cũng chỉ đạo: "Đẩy mạnh hoạt
động TDTT trong trường học. Tiến tới bảo đảm mỗi trường đều có GV chuyên trách
và lớp học TD đúng tiêu chuẩn, tạo điều kiện nâng cao chất lượng GDTC " [2, tr.3].
Từ các chủ trương, chính sách đã được thực hiện cho thấy Đảng và Nhà nước
luôn quan tâm đến TDTT trường học, coi đây là nhiệm vụ quan trọng góp phần tạo
ra con người mới, đóng góp tích cực trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Tuy nhiên trong thực tế, công tác TDTT trường học chưa được coi trọng,
chưa đáp ứng yêu cầu duy trì, nâng cao sức khỏe người học; các trường học thiếu
nhiều sân bãi, phòng tập, dụng cụ phục vụ nhu cầu tập luyện, thi đấu và vui chơi
của HSSV; đội ngũ giáo viên TD thiếu và yếu; nội dung chương trình TD chính
khóa và HĐTT ngoại khóa nghèo nàn, xơ cứng, không thu hút HS tham gia học tập
và rèn luyện [92].
Nằm ở trung điểm của đất nước, thành phố Đà Nẵng là trung tâm văn hoá,
KHCN và giáo dục, là địa bàn chiến lược của miền Trung – Tây nguyên. Đà Nẵng
còn là địa phương có phong trào TDTT phát triển khá mạnh mẽ, trong đó TDTT
trường học được các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể và xã hội quan
tâm. Với hơn 170 trường phổ thông, trong đó có 20 trường THPT, công tác TDTT



3

trường học ở Đà Nẵng được duy trì khá tốt; có nhiều thành tích trong các giải thể
thao học đường và HKPĐ toàn quốc. Hoạt động học tập, rèn luyện và thi đấu thể
thao đã trở thành nhu cầu của một bộ phận HSSV.
Tuy vậy, TDTT trường học ở Đà Nẵng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của
xã hội. Nhận thức về công tác GDTC và HĐTT trong nhà trường của một bộ phận
cán bộ quản lý, và các nhà GD chưa đầy đủ; nhiều HS và gia đình chưa đánh giá
đúng mức vai trò, vị trí môn TD trong trường học nên vẫn có quan điểm xem môn
TD là môn học phụ. Việc đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị TDTT trong nhà trường, bồi
dưỡng phát triển đội ngũ GV TD còn nhiều bất cập. Hoạt động TDTT trong nhà
trường chưa gắn liền với phong trào TDTT quần chúng nên chưa huy động được
các nguồn lực của xã hội cũng làm giảm hiệu quả công tác TDTT trường học.
Thực tiễn đó đòi hỏi cần thiết có những nghiên cứu đầy đủ hiện trạng công
tác TDTT trường học ở Đà Nẵng một cách khoa học, làm rõ các yếu tố tác động đến
hiệu quả GDTC và HĐTT trong nhà trường để tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất
lượng TDTT trường học phù hợp với tình hình, đặc điểm riêng của Đà Nẵng, giúp
các nhà quản lý GD và GV TD có những luận cứ khoa học, những giải pháp ứng
dụng phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động TDTT trường học.
Trong những năm qua, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu liên quan
đến TDTT trường học. Các công trình thường đề cập các vấn đề lý luận chung hoặc
từng lĩnh vực khác nhau như: hình thái và thể chất HSSV, các tiêu chuẩn – tiêu chí
về rèn luyện thân thể, phương pháp giảng dạy, huấn luyện, hoạt động CLB TDTT
trường học... Những nghiên cứu liên quan ở bậc học phổ thông, có thể kể đến các
luận án của Hoàng Công Dân (2005) “Nghiên cứu phát triển thể chất cho HS các
trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực phía Bắc từ 15-17 tuổi”
(2008)


4

,

(2011)
....

Phần lớn các đề tài thường nghiên cứu ở đối tượng HS tiểu học và THCS, hầu như
chưa có công trình đi sâu, đánh giá toàn diện thực trạng cũng như nghiên cứu giải
pháp nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường THPT ở phạm vi một tỉnh,


4

thành phố. Đặc biệt ở các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây nguyên hầu như chưa
có công trình khoa học nào đề cập đến vấn đề này.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu luận án với tên đề
tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất và
hoạt động thể thao trong trường trung học phổ thông ở Đà Nẵng”.
2. Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở đánh giá thực trạng GDTC và
HĐTT của các trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, phân tích các cơ sở lý
luận, thực tiễn, các yếu tố tác động để lựa chọn giải pháp phù hợp nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án xác định các mục tiêu sau:
3.1. Các yếu tố đảm bảo hiệu quả GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở
Đà Nẵng.
3.2. Đánh giá thực trạng GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà


5

Nẵng.
3.3. Nghiên cứu lựa chọn và ứng dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả
GDTC và HĐTT trong các trường THPT ở Đà Nẵng.
4. Giả thiết khoa học.
Nếu đổi mới nội dung chương trình môn học TD theo chủ đề tự chọn đáp
ứng nhu cầu người học và tổ chức mô hình CLB TDTT trường học phù hợp với
thực tiễn địa phương, sẽ có tác dụng nâng cao hiệu quả GDTC và HĐTT trong nhà
trường. Kết quả nghiên cứu của luận án mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có thể
ứng dụng trên địa bàn Đà Nẵng, đồng thời góp phần bổ sung vào Đề án đổi mới
chương trình và sách giáo khoa sau năm 2015 đối với môn học TD theo tinh thần
đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH
mà Nghị quyết Đại hội Đảng (khóa XI) đã xác định cho ngành GD&ĐT nước nhà.
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về TDTT trường học
trong thời kỳ mới.


1.1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng về TDTT trường học.
Đảng lãnh đạo công tác TDTT nói chung và công tác TDTT trường học nói
riêng bằng việc hoạch định chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo và được thể
hiện cụ thể qua các thời kỳ cách mạng. Quan điểm chủ đạo xuyên suốt của Đảng là:
xã hội chủ nghĩa
"
[108, tr.14].
Bước vào thế kỷ 21, thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, Ban Bí thư Trung
ương Đảng ban hành Chỉ thị số 17/CT-TW (23/10/2002) về phát triển TDTT đến
năm 2010, giao cho ngành TDTT và ngành GD&ĐT đẩy mạnh hoạt động TDTT
trường học [3]. Chỉ thị 17/CT-TW đã ghi dấu cho sự phát triển mới của nền TDTT
Việt Nam, nhiều nội dung của Chỉ thị đi vào cuộc sống, có tác động rất lớn đối với
sự nghiệp phát triển TDTT nước nhà nói chung và công tác TDTT trường học nói
riêng trong những năm đầu thế kỷ XXI, góp phần tích cực vào những thành tựu
chung của công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội.
Một trong những mục tiêu và phương hướng tổng quát của giai đoạn 20062010 được Đại hội Đảng (khóa X) xác định là: “GD&ĐT cùng với KHCN là quốc
sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”. Đề cập đến vấn đề sức khỏe của nhân dân, Đại hội khẳng định cần phải:
“Xây dựng chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con người Việt Nam,
tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng giống nòi. Tăng cường thể lực của thanh niên”
[4, tr.43].
Báo cáo chính trị tại Đại hội XI khẳng định phát triển, nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững
đất nước. Vì vậy, Đại hội yêu cầu phải “Đổi mới căn bản, toàn diện nền GD theo
hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH; đổi mới chương trình, nội dung, phương
pháp dạy và học” [5, tr. 41]
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh “GD&ĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát
triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất
nước...” [5, tr.77]. Theo đó, cần phải “Đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT theo


nhu cầu phát triển của xã hội, nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện
đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”[5, tr.77].
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/12/2011 của Bộ chính trị về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020; trong
phần đánh giá những tồn tại, hạn chế đã chỉ rõ: “GDTC và HĐTT trong HSSV
chưa thường xuyên và kém hiệu quả”[6, tr.1]. Nghị quyết đã đề ra các giải pháp
nâng cao chất lượng GDTC và HĐTT trường học, một trong những giải pháp quan
trọng là đổi mới chương trình và phương pháp GDTC, gắn GDTC với GD ý chí,
đạo đức, quốc phòng, sức khỏe và kỹ năng sống của HSSV. Đãi ngộ hợp lý và
phát huy năng lực đội ngũ GV TD, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ GV TD cho trường học…[6].
Nghị quyết 29/NQ-TƯ (khóa XI) “về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT;
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã đề ra quan điểm chỉ đạo:
“Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn
diện năng lực và phẩm chất người học” và “Đổi mới hệ thống GD theo hướng mở,
linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và phương thức đào tạo” [8, tr.78].
Có thể nói Nghị quyết 29/NQ-TƯ là sự tổng kết toàn diện Nghị quyết Trung ương
2 (khóa VIII) về phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa,
qua đó đề ra mục tiêu đổi mới toàn diện GD&ĐT từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo
đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực
hiện… Mục tiêu của Nghị quyết đã tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất
lượng, hiệu quả GD&ĐT, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ
tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Đồng thời mở ra cơ hội để ngành
GD&ĐT quyết tâm đổi mới toàn diện công tác GD, trong đó có đổi mới, cải tiến
công tác TDTT trường học ngày càng hiệu quả, chất lượng hơn.
1.1.2. Chủ trương, chính sách của Nhà nước về TDTT trường học:
Năm 2000, Pháp lệnh TDTT được ban hành, hoạt động TDTT lần đầu tiên
được luật hóa. Sau một thời gian chuẩn bị, Luật TDTT được Quốc hội thông qua
năm 2006 ghi dấu ấn mới cho sự phát triển TDTT của nước nhà. Luật TDTT đã
dành riêng một mục gồm 6 điều để quy định về công tác GDTC và HĐTT trong nhà


7

trường, đây là cơ sở pháp lý để toàn xã hội tăng cường trách nhiệm đối với công tác
TDTT trường học [110].
Không chỉ lãnh đạo bằng đường lối, chính sách, mà Nhà nước còn đề ra
những giải pháp chỉ đạo thực hiện sâu sát. Một trong những giải pháp là đẩy mạnh
công tác XHH. Với quan điểm GD và TDTT là sự nghiệp của toàn dân, Chính phủ
đã ban hành Nghị quyết số 05/NQ-CP về đẩy mạnh XHH các lĩnh vực GD và
TDTT (2005) và Nghị định số 69/NĐ-CP (2008) về chính sách XHH đối với các
hoạt động trong lĩnh vực GD, dạy nghề, văn hóa, thể thao nhằm huy động nguồn lực
của toàn xã hội cho sự nghiệp GD và TDTT. Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý
để các ngành tăng cường công tác XHH, làm cho mọi thành phần trong xã hội đổi
mới quan điểm, nhận thức và giải pháp thực hiện XHH, tạo điều kiện để người dân
tham gia hoạt động và đầu tư các nguồn lực để phát triển GDTC trường học, phong
trào thể thao cho mọi người, nâng cao thành tích thể thao đỉnh cao và hội nhập quốc
tế [90],[91].
Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2020 dành một phần quan
trọng cho GDTC và HĐTT trường học. Chiến lược đã đề cập đến những tồn tại của
công tác TDTT trường học: “Công tác GDTC trong nhà trường và các HĐTT ngoại
khóa của HSSV chưa được coi trọng, chưa đáp ứng yêu cầu duy trì và nâng cao sức
khỏe cho HS, là một trong số các nguyên nhân khiến cho thể lực và tầm vóc người
Việt Nam thua kém rõ rệt so với một số nước trong khu vực… Chương trình chính
khóa cũng như nội dung hoạt động ngoại khóa còn nghèo nàn, chưa hợp lý, không
hấp dẫn HS tham gia các hoạt động TDTT ngoại khóa” [92, tr.5].
Chiến lược đã đề ra các chỉ tiêu đến năm 2015 có 100% số trường phổ thông
thực hiện đầy đủ chương trình GDTC nội khóa, 45% số trường phổ thông có CLB
TDTT, có CSVC đủ phục vụ cho hoạt động TDTT, có đủ GV và hướng dẫn viên
TDTT, thực hiện tốt HĐTT ngoại khóa, 75% số HS được đánh giá và phân loại thể
lực theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể [23],[92].
Nhằm phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án
tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030; trong đó
có chương trình phát triển thể lực, tầm vóc bằng giải pháp tăng cường GDTC. Một


8

trong những nội dung chủ yếu của chương trình này là: “Đảm bảo chất lượng dạy
và học TD chính khóa, các hoạt động TDTT ngoại khóa cho HS, xây dựng chương
trình GDTC hợp lý..” và “Tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn để phục vụ
cho hoạt động GDTC trong trường học” [23, tr.162].
Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016 đã đề ra yêu
cầu nâng cao chất lượng GD&ĐT, trong đó có chất lượng GDTC. Mục 5 của Nghị
quyết 06/NQ-CP (2012) ghi rõ: “Nâng cao chất lượng GD toàn diện, đặc biệt là
GDTC. Đổi mới chương trình, nội dung, PPDH, gắn với việc đổi mới quy chế thi,
kiểm tra, đánh giá kết quả học tập HS” [93, tr.4].
Trên cơ sở phân tích và đánh giá hiện trạng tình hình GD Việt Nam, bối
cảnh, thời cơ và thách thức đối với GD trong thập kỷ tới, Thủ tướng ra Quyết định
số 771/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển GD 2011-2020", khẳng định quan
điểm chỉ đạo: "Đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển. Đổi mới căn bản, toàn diện
nền GD theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, XHH, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế,
thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển GD
gắn với phát triển KHCN, tập trung vào nâng cao chất lượng GD đạo đức, lối sống,
năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành… Chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của
mỗi người học." [94, tr.8].
Để đạt được mục tiêu, Chiến lược đã đề ra 8 giải pháp, trong giải pháp đổi
mới nội dung và PPDH, Chiến lược đã đưa ra biện pháp: "Đổi mới chương trình và
sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát triển năng lực HS, vừa đảm
bảo tính thống nhất trong toàn quốc, vừa phù hợp với đặc thù của mỗi địa phương.
Chú trọng nội dung GD đạo đức, pháp luật, thể chất…" [94, tr.11].
Tóm lại, TDTT trường học luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và được
xác định là một nội dung chủ yếu trong nhiệm vụ cách mạng, là nhiệm vụ quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Theo đó, TDTT là một yêu
cầu khách quan của xã hội nhằm góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất
lượng cuộc sống nhân dân. Đầu tư cho TDTT trường học là đầu tư cho con người,
cho sự phát triển của đất nước. Vì vậy, thường xuyên chăm lo công tác TDTT
trường học là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền, các đoàn thể
và toàn xã hội.


9

1.1.3. Quy định của Bộ GD& ĐT về TDTT trường học.
Xác định tầm quan trọng của mục tiêu GDTC trong nhà trường phổ thông,
Bộ GD&ĐT rất quan tâm tạo điều kiện để các trường học tổ chức nghiên cứu, ứng
dụng, phổ biến những tiến bộ khoa học về GDTC và HĐTT. Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo
việc giảng dạy TD chính khoá và tổ chức HĐTT ngoại khoá cùng với việc ban hành
các văn bản quy định về công tác GDTC trong nhà trường. Điều đó được thể hiện rõ
trong Quy chế GDTC và Y tế trường học; theo đó giờ học nội khóa là giờ học môn
TD, sức khỏe theo chương trình quy định; còn hoạt động TDTT ngoại khóa được
thực hiện theo kế hoạch của nhà trường và các cấp quản lý GD [10].
Đối với dạy học chính khóa, Bộ GD&ĐT đã ban hành CTGD phổ thông môn
TD. Do đặc điểm dạy và học môn TD phụ thuộc nhiều vào sân bãi, dụng cụ TDTT
và khí hậu ở các vùng miền, Bộ đã giao cho các ngành GD&ĐT địa phương căn cứ
thực tiễn để xây dựng kế hoạch phân phối chương trình cụ thể ở địa phương mình.
Với HS THPT, mỗi năm học có 2 tiết/tuần và dạy học trong 35 tuần, tương ứng 70
tiết/năm [11].
Để giảm tải áp lực nặng nề cho HS trong hệ thống trường trung học, Bộ
GD&ĐT đã ban hành quy chế đánh giá xếp loại THCS và THPT, trong đó môn TD
được thay đổi từ đánh giá bằng điểm sang đánh giá bằng nhận xét kết quả học tập.
Việc đánh giá này phần nào giúp cho HS yên tâm hơn trong học tập môn TD, đồng
thời cũng giúp cho GV tự tin sáng tạo, đổi mới PPDH phù hợp với năng lực và điều
kiện học tập của HS [19].
Để thay đổi tiêu chuẩn rèn luyện sức khỏe phù hợp thực tiễn và quá trình hội
nhập quốc tế, Bộ GD&ĐT đã ban hành quy định về việc đánh giá, xếp loại thể lực
HSSV, qui định về đối tượng thực hiện và các yêu cầu, độ tuổi, các nội dung đánh
giá cũng như tiêu chuẩn cụ thể của từng độ tuổi và giới tính của HS các cấp [16].
Trong thực tế, số giờ quy định của môn học TD không nhiều nên công tác
TDTT trường học chỉ có thể đạt được hiệu quả khi tổ chức tốt các hoạt động ngoại
khoá cho HS. Khoa học đã chứng minh muốn nâng cao thể chất thì phải tập luyện
tích cực và thường xuyên. Một trong những nguyên tắc của phương pháp GDTC có
liên quan đến tính thường xuyên trong tập luyện là hệ thống luân phiên lượng vận
động với nghỉ ngơi, cũng như tính tuần tự trong tập luyện và mối liên hệ lẫn nhau


10

giữa các mặt khác nhau trong nội dung tập luyện. Tính liên tục của quá trình GDTC
và luân phiên hợp lý giữa lượng vận động với nghỉ ngơi, tập thường xuyên mang lại
hiệu quả tất nhiên lớn hơn tập thất thường [96]. Ý thức vấn đề đó, Bộ GD&ĐT đã
ban hành Quy định về tổ chức HĐTT ngoại khoá cho HSSV. Văn bản này ra đời đã
tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các cơ sở GD&ĐT tổ chức các hoạt động ngoại
khoá thể thao trong HSSV [17]. Đồng thời, để thể chế hóa vai trò của GDTC và thể
thao trong nhà trường, Bộ GD&ĐT đã tổ chức nhiều lần lấy ý kiến dự thảo Nghị
định về GDTC và thể thao trong nhà trường để trình Chính phủ ban hành [95].
Nhìn chung, từ cơ sở lý luận và thực tiễn chỉ đạo của Bộ GD&ĐT về TDTT
trường học đã khẳng định vai trò của nó trong việc bảo vệ, tăng cường sức khoẻ, thể
chất, giúp hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu GD toàn diện cho
HSSV. Đây là mặt GD có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và sự phát triển tầm vóc,
thể trạng của thế hệ trẻ Việt Nam. Chính vì vậy, trong những năm qua, Bộ GD&ĐT
đã quan tâm, tạo điều kiện để các trường học triển khai các nhiệm vụ GDTC và
HĐTT, đồng thời thông qua việc ban hành các văn bản, quy định liên quan đã tạo ra
hành lang pháp lý chặt chẽ để tổ chức quản lý công tác này.
1.2. Những vấn đề cơ bản về TDTT trường học.
1.2.1. Khái niệm GDTC và HĐTT trong trường học.
1.2.1.1. Khái niệm GDTC.
Thể chất chỉ chất lượng cơ thể con người, đó là đặc trưng tương đối ổn định về
hình thái và chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di
truyền và điều kiện sống (bao gồm cả giáo dục và rèn luyện). Theo định nghĩa này,
thể chất bao gồm cả hình thái, chức năng và khả năng thích ứng (thể lực) [88].
GDTC (physical education) theo nghĩa rộng là bộ phận của văn hóa thể chất
(physical cultural), một bộ phận hữu cơ của GD toàn diện nhằm tác động sư phạm
có hệ thống những năng lực thể chất toàn diện của con người.
GDTC trong trường học được quy định ở Luật TDTT và được định nghĩa: “là
môn học chính khóa thuộc CTGD nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ
bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện
mục tiêu GD toàn diện” [110, tr 17].


11

Dự thảo Nghị định Quy định về GDTC và thể thao trong nhà trường (2014)
đưa ra khái niệm GDTC là quá trình GD mà nội dung chuyên biệt là dạy học động
tác vận động, GD toàn diện các tố chất thể lực, lĩnh hội các tri thức chuyên môn về
TDTT và hình thành nhu cầu tập luyện tự giác ở người học [95].
GDTC là một loại hình GD nên nó là một quá trình giáo dục có tổ chức, có
mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức chuyên môn, kỹ năng kỹ xảo
vận động, tăng cường thể lực và hình thành thói quen rèn luyện thể chất suốt đời ở
người học. Điều đó có nghĩa GDTC là một quá trình sư phạm với đầy đủ những dấu
hiệu chung của nó, đó là vai trò chủ đạo của một nhà sư phạm trong dạy học, tổ
chức các hoạt động phù hợp với HS, với các nguyên tắc sư phạm.
Giờ học TD trong nhà trường đóng vai trò chủ đạo trong thực hiện GDTC
trường học, nội dung GDTC có các giờ học lý thuyết và giờ học thực hành.
- Giờ học lý thuyết là giờ học cơ bản nhằm trang bị kiến thức về TDTT và vệ
sinh, sức khoẻ cho HS. Những kiến thức đó không chỉ cần thiết đối với HS mà còn
là yếu tố văn hoá, là một phần cấu thành của kết quả học tập môn TD của HS.
- Giờ học thực hành là giờ học đặc trưng của dạy học TDTT, có những đặc
điểm chung của hình thức lớp – bài, trong đó GV giữ vai trò chủ đạo, điều khiển và
trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học. Sự tác động giữa GV và HS tạo nên điều kiện
sư phạm tốt nhất cho quá trình GDTC. Ưu thế của giờ học thực hành còn thể hiện ở
chỗ có kế hoạch học tập chặt chẽ theo thời khoá biểu chung; lớp học có số lượng
HS ổn định, cùng lứa tuổi, hoạt động chung, đã liên kết thành tập thể [21],[55],[100].
1.2.1.2. Khái niệm HĐTT.
Luật TDTT định nghĩa “HĐTT trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của
người học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới
tính, lứa tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui
chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao” [110, tr.17].
Theo Dự thảo Nghị định GDTC và thể thao trường học, HĐTT trong nhà
trường là hoạt động tự nguyện của HSSV với các nội dung tập luyện TDTT ngoại
khóa và thi đấu các môn thể thao phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức
khỏe theo các hình thức cá nhân, nhóm, CLB, nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực đáp
ứng yêu cầu môn học và phát triển năng khiếu, tài năng thể thao. Hoạt động thể thao


12

trong nhà trường có 2 nội dung cơ bản là tập luyện TDTT ngoại khóa và thi đấu thể
thao [95].
HĐTT ngoại khóa có vị trí rất quan trọng trong công tác TDTT trường học.
Thể thao ngoại khóa kết hợp với dạy học TD cấu thành một cấu trúc TDTT trường
học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu GD. Theo Lê Văn Lẫm, Phạm Xuân
Thành và một số tác giả, HĐTT ngoại khóa có ý nghĩa: (1) Thỏa mãn nhu cầu tham
gia hoạt động của HS, thúc đẩy sự sinh trưởng phát dục có hiệu quả, giúp tăng
cường thể chất cho HS. (2) Hình thành chế độ lao động – nghỉ ngơi khoa học, thỏa
mãn tính hiếu kỳ của người tập, giúp phát triển toàn diện. (3) Làm phong phú sinh
hoạt nghiệp dư của HS. (4) Bồi dưỡng hứng thú và năng lực TDTT cho HS, qua đó
góp phần bồi dưỡng cán bộ TDTT và nhân tài thể thao [55],[80].
Việc tổ chức HĐTT ngoại khóa nhằm động viên, khuyến khích HS tự giác
tập luyện thể thao, hình thành thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên. Tổ chức
hoạt động ngoại khóa phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản: Phù hợp với đường lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều kiện cụ thể của từng địa phương, trường
học, tránh lãng phí, hình thức. Người tham gia phải tự nguyện, tự giác, phù hợp với
sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe. Có chương trình, kế hoạch và có thể được
lồng ghép với hoạt động có ý nghĩa của nhà trường.
1.2.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của GDTC trong nhà trường phổ thông.
Mục tiêu GD và mục tiêu GDTC có các cấp độ cụ thể khác nhau của các tiêu
chí. Mục tiêu chung của GD phổ thông được xác định trong Luật GD là: “…giúp HS
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản,
phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa…” [14, tr.20].
Từ mục tiêu chung dẫn đến xác định mục tiêu GDTC cụ thể cho từng cấp
học, bậc học; tiếp đó là sự cụ thể hơn trong các mục tiêu, tiêu chí của môn học, bài
học. Cấp độ sau là sự cụ thể hoá cấp độ trước, là thành phần cấu trúc, mục tiêu của
cấp độ trước. Việc xác định mục tiêu càng cụ thể, càng chi tiết đến đơn vị cuối cùng
để có thể mô tả, đo đếm được thì càng thuận lợi, chính xác cho việc xác định các
yếu tố như nội dung, chương trình, biên soạn sách giáo khoa, PPDH, đào tạo và sử
dụng đội ngũ GV, quản lý quá trình giảng dạy và đánh giá chất lượng GD.


13

Như vậy, giữa mục tiêu và các yếu tố cấu thành chất lượng GD nói chung và
chất lượng GDTC nói riêng do mục tiêu đặt ra có mối quan hệ tương hỗ, trong đó
mục tiêu với tư cách như bản thiết kế, có vai trò quy định các yếu tố còn lại; các yếu
tố còn lại với tư cách như vật liệu thi công theo thiết kế, vừa chịu sự chi phối của
mục tiêu, vừa có tác động trở lại điều chỉnh, bổ sung, chính xác hoá mục tiêu. Các
tiêu chí chất lượng càng cụ thể, mức độ tường minh của mục tiêu càng cao và khả
năng định hướng, xác định các yếu tố còn lại tạo thành chất lượng GD càng thuận
lợi thì việc đánh giá chất lượng GD chỉ còn là vấn đề kỹ thuật.
Mục tiêu dạy học được xác định căn cứ vào mục tiêu GD. Đề đạt được mục
tiêu này, quá trình dạy học cần tác động lên 3 mặt đời sống tâm lý HS: mặt nhận
thức, mặt xúc cảm - tình cảm và mặt hành động. Vì vậy, mục tiêu cơ bản ở trường
phổ thông được xác định bao gồm 3 nhóm hệ thống được sắp xếp theo thứ tự là:
- Những kiến thức HS cần biết;
- Những kỹ năng, kỹ xảo HS cần tập luyện, rèn luyện;
- Những thái độ ứng xử (giá trị) thích hợp HS cần được bồi dưỡng.
Việc tổ chức, điều khiển HS nhằm nắm vững kiến thức; thực hiện thành thạo
những kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết; những kinh nghiệm về thái độ sống cần
được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý [11],[14].
GDTC là một thành phần quan trọng cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ
bản cho người học, góp phần thực hiện mục tiêu GD toàn diện nhằm giúp HS có sự
tăng tiến về sức khỏe, thể lực; đạt tiêu chuẩn sức khỏe theo lứa tuổi và giới tính; có
những kiến thức, kỹ năng cơ bản về TDTT và phương pháp tập luyện; các kỹ năng
vận động cần thiết trong đời sống. Hình thành thói quen tập luyện TDTT thường
xuyên và nếp sống lành mạnh, tác phong nhanh nhẹn, kỷ luật, tinh thần tập thể và
các phẩm chất đạo đức ý chí. Biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học vào
các hoạt động ở nhà trường và trong đời sống [1],[10],[16],[21].
Khi xây dựng CTGD môn TD, Bộ GD&ĐT đã căn cứ mục tiêu để đưa ra các
quan điểm xây dựng và phát triển với các nội dung cụ thể: “(1) CTGD môn TD phải
góp phần thực hiện mục tiêu, kế hoạch dạy học chung và những đổi mới về PPDH,
đánh giá ở từng cấp học. (2) Lấy việc nâng cao sức khỏe, thể lực HS là mục tiêu
quan trọng nhất, xuyên suốt. (3) Đảm bảo tính sư phạm, khoa học, liên thông, kết


14

hợp truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học
GDTC hiện đại. (4) Chương trình phải có tính khả thi, phù hợp với tâm sinh lý lứa
tuổi và giới tính, với sức khỏe, thể lực HS, đồng thời định hướng cho việc nâng cao
trình độ của đội ngũ GV và tăng cường cơ sở vật chất cho việc dạy và học môn TD.
(5) Đảm bảo tính thống nhất của chương trình, đồng thời mở rộng quyền chủ động
sáng tạo của địa phương trong quá trình thực hiện chương trình.” [11, tr.5,6].
Từ quan điểm xây dựng và phát triển chương trình cho thấy, giữa mục tiêu
và chương trình, nội dung, hình thức GD có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Chương
trình, nội dung GD được xây dựng trên cơ sở mục tiêu GD, là sự thể hiện mục tiêu
GD và ngược lại, mục tiêu GD như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, giúp chương trình,
nội dung và hình thức GD được định hướng chính xác, tránh những lệch lạc trong
quá trình GD. Việc đổi mới chương trình, nội dung GD theo hướng bám sát mục
tiêu là một trong những giải pháp phát triển GD.
Trong GDTC trường học, môn TD được xác định là một môn học bắt buộc,
là hoạt động chủ yếu nhằm trang bị cho HS kiến thức và kỹ năng cơ bản để rèn
luyện sức khỏe, nâng cao thể lực, giúp HS giải tỏa những căng thẳng do thiếu vận
động. Còn HĐTT là hoạt động tự nguyện được tổ chức theo phương thức ngoại
khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi, sức khoẻ, góp phần thực hiện mục
tiêu GD toàn diện [10],[16],[17].
Mục tiêu GD được cụ thể hóa thành các nhiệm vụ dạy học. Các nhiệm vụ
dạy học trong nhà trường phổ thông bao gồm: (1) Tổ chức, điều khiển cho HS nắm
vững hệ thống kiến thức. (2) Phát triển trí tuệ, các kỹ năng vận động, kỹ năng sống
cho HS. (3) Bồi dưỡng cho HS thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và những
phẩm chất, năng lực cần thiết của con người mới [11].
GDTC trong nhà trường phổ thông có các nhiệm vụ:
-

Trang bị cho HS kỹ năng phân tích, kỹ năng phản xạ, khả năng xây dựng,

kiểm tra và thực hành kế hoạch tập luyện.
- Xác định mục đích, nhiệm vụ, trang thiết bị cho hoạt động GDTC ở từng
cấp học, tổ chức hoạt động GDTC theo hướng ưu tiên HS tự chọn môn thể thao yêu
thích để rèn luyện.


15

- Trang bị cho HS kiến thức cơ bản về giải phẩu học cơ thể người, sự thay
đổi và thích ứng của cơ thể ở trạng thái hoạt động vận động tích cực.
- Hoàn thiện, phát triển khả năng vận động cho HS (tố chất, thể lực, tố chất
mềm dẻo, tố chất thăng bằng...)
- Hình thành những kiến thức cần thiết, tối thiểu ở HS về vệ sinh sức khoẻ,
tầm quan trọng của sức khoẻ, của lối sống lành mạnh, tích cực.
- Hình thành, phát triển văn hoá thể chất, một trong những nền tảng văn hoá
hiện đại [10],[11].
Tóm lại, mục đích của GDTC là góp phần hoàn thiện, phát triển hài hoà yếu
tố học đường và yếu tố xã hội của HS, lấy phương tiện chính là bài tập thể chất, đó
là tổ hợp các bài tập vận động, phản ánh một trong những nhiệm vụ chính của công
tác GDTC. Việc hình thành, hoàn thiện, phát triển chức năng và thói quen vận động
cho HS là một nhiệm vụ quan trọng không thể thiếu được của GDTC trường học.
1.2.3. Nội dung dạy học và CTGD.
Nội dung dạy học là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về nhiều lĩnh vực ở
trình độ phổ thông mà HS cần nắm vững trong quá trình dạy học nhằm hình thành
cho các em thế giới quan, nhân sinh quan khoa học và các phẩm chất, nhân cách của
con người mới, chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống. Nội dung dạy học trong
khái niệm này được hiểu là nội dung học tập của HS và nội dung dạy của GV.
Nội dung học tập của HS là cái mà HS tiếp nhận và làm việc với nó trong
quá trình học tập. Nội dung học tập bao gồm hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà
HS phải nắm trong quá trình học tập. Nội dung học tập của HS có cấu trúc trên cơ
sở tính mục tiêu chung của GD, mục tiêu và nhiệm vụ dạy học của các cấp học, các
loại trường học sao cho phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm lứa tuổi HS,
đảm bảo cho HS có thể lĩnh hội được với hiệu quả tối ưu.
Nội dung dạy của GV là các việc làm của GV trong quá trình dạy học, bao
gồm việc xác định mục đích dạy học, soạn thảo kế hoạch, xây dựng nội dung học
tập cho HS, soạn tài liệu, tổ chức học tập và đánh giá kết quả học tập của HS. Nói
cách khác, với HS, tri thức, kỹ năng kỹ xảo là nội dung và đối tượng học tập; còn
với GV, nó là phương tiện của hoạt động giảng dạy [36],[57].


16

CTGD là văn bản quy định mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra đối với
một ngành đào tạo, các khối kiến thức và các môn học, tổng thời lượng cùng thời
lượng dành cho mỗi môn mà nhà trường tổ chức giảng dạy để trang bị kiến thức, kỹ
năng, thái độ cần thiết cho HSSV [20],[36].
Trong lịch sử phát triển của GD, có hai cách tiếp cận phổ biến về CTGD.
Với quan niệm GD là quá trình truyền thụ nội dung kiến thức, cách tiếp cận nội dung
đưa ra định nghĩa: CTGD là bản phác thảo về nội dung GD, qua đó người dạy biết
mình cần phải dạy những gì và người học biết mình cần phải học những gì. Theo
cách tiếp cận này: CTGD = nội dung.
Với cách tiếp cận mục tiêu, quan niệm GD là công cụ để đào tạo nên các sản
phẩm với các tiêu chuẩn được xác định, CTGD là bản kế hoạch phản ánh các mục
tiêu GD, nó cho biết nội dung cũng như phương pháp dạy và học cần thiết để đạt
được mục tiêu. Theo cách tiếp cận này CTGD = nội dung + mục tiêu + phương pháp.
Như vậy, tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau, CTGD có các khái niệm khác nhau.
Ta có thể hiểu một cách tổng quát: CTGD là một tập hợp của các hoạt động gắn kết
với nhau nhằm đạt mục tiêu GD của nhà trường [20],[36],[57]
CTGD phổ thông ở nước ta do Bộ GD&ĐT ban hành, nội dung thực hiện
theo Điều 29 của Luật GD: “CTGD phổ thông thể hiện mục tiêu GD phổ thông; quy
định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung GD phổ thông,
phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động GD, cách thức đánh giá kết quả GD
đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của GD phổ thông”[14, tr.23]. Đây
là công cụ chủ yếu để Bộ GD&ĐT lãnh đạo và giám sát công tác dạy học của các
cơ sở đào tạo.
1.2.4. Khái niệm giải pháp, hiệu quả và chất lượng GD.
1.2.4.1. Khái niệm giải pháp.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Giải pháp là phương pháp giải quyết một
vấn đề” [114, tr.373]. Ở đây giải pháp được hiểu là cách thức, là một công cụ người
ta dùng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn (như giải pháp kỹ thuật,
giải pháp kinh tế…). Với cách hiểu này, đôi khi người ta dùng từ “biện pháp” để
thay thế. Theo Từ điển Tiếng Việt, “biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể” [114, tr.62]. Tuy trong thực tế, 2 khái niệm này có thể được dùng thay


17

thế cho nhau, nhưng về bản chất, khái niệm “giải pháp” có ý nghĩa và nội dung rộng
lớn hơn, có tính chất vĩ mô hơn so với “biện pháp”, thường để chỉ cách thức giải
quyết một công việc cụ thể nào đó. Theo nghĩa này, người ta còn xem biện pháp là
cách thức, công cụ thực hiện giải pháp, như trong mỗi giải pháp thường đặt ra nhiều
biện pháp để thực hiện giải pháp đó.
Trong quản lý, giải pháp dùng để giải quyết một vấn đề thường được đặt ra
trên nền tảng của việc phân tích các điểm mạnh (thành tựu), điểm yếu (hạn chế) của
một tổ chức, những cơ hội và thách thức đối với tổ chức đó trong bối cảnh chung
của xã hội ở phạm vi quốc gia và quốc tế. Giải pháp thực hiện đồng thời cũng được
dựa trên các quan điểm, mục tiêu tổng quát và mục tiêu chung của vấn đề được đặt
ra và giải quyết ở tầm vĩ mô.
Trong hoạt động GD, mọi vấn đề quan hệ về GD đều có tính quy luật. Giải
pháp GD là một hệ thống những quy luật. Nhiệm vụ của các nhà khoa học, các nhà
quản lý GD ở nước ta là phải tìm ra những quy luật đảm bảo cho sự thành công của
công tác GD. Điều này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải phân tích được thực tiễn
GD của Việt Nam nói riêng và các nền GD tiên tiến của thế giới, từ đó khái quát,
hệ thống thành giải pháp cơ bản, đúng đắn, phù hợp cho nền GD nước nhà.
Giải pháp thường được gắn liền với từ “đột phá” hoặc “then chốt” nhằm
nhấn mạnh tầm quan trọng của giải pháp đó. Có thể hiểu “giải pháp đột phá” là giải
pháp mở đường cho các giải pháp khác, còn “giải pháp then chốt” là giải pháp quan
trọng, có tác dụng quyết định đối với toàn bộ các vấn đề liên quan. Như trong các
giải pháp của Chiến lược phát triển GD 2011-2020, Thủ tướng chính phủ đã xác
định giải pháp “đổi mới quản lý GD là giải pháp đột phát”, còn “phát triển nhà
giáo và CBQL GD là giải pháp then chốt” [94, tr 9].
1.2.4.2. Hiệu quả giáo dục và chất lượng giáo dục.
Hiệu quả và chất lượng GD luôn là vấn đề được toàn xã hội quan tâm vì đây
là sự phản ánh giá trị đích thực của một nền GD và là cơ sở, tiền đề cho sự phát
triển của mỗi cá nhân và xã hội. Tuy nhiên, khái niệm “chất lượng” nói chung và
“chất lượng GD” nói riêng là những khái niệm đa chiều, đa nghĩa bởi nội dung của
nó rất rộng, được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau nên đến nay chưa được hiểu
một cách thống nhất. Vì vậy, có nhiều tác giả đề xuất các khái niệm chất lượng khác


18

nhau. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, chất lượng được hiểu là
“Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”[114,
tr.139]. Theo Bộ tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế ISO 9001, chất lượng là tập
hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó có những khả năng thỏa mãn
những nhu cầu đã được công bố và tiềm ẩn [31]. Còn trong quy định tiêu chuẩn
đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, Bộ GD&ĐT định nghĩa chất lượng
GD là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu
GD của Luật GD, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước [13].
Mặc dù có các tiêu chí khác nhau nhưng điểm chung của chất lượng là mang
lại những lợi ích và giá trị. Từ đó có thể xem chất lượng GD là những lợi ích, giá trị
mà kết quả học tập mang lại cho cá nhân người học và xã hội, trước mắt và lâu dài.
Hiệu quả, theo Từ điển tiếng Việt, là “kết quả như yêu cầu của việc làm
mang lại” [114, tr.424]. Tính hiệu quả, theo quan niệm chung, đó là sự thể hiện mối
quan hệ chung nhất giữa đầu tư công sức, nhân lực, vật lực với kết quả đạt được sau
một giai đoạn nhất định xét theo mục tiêu giáo dục trong những điều kiện cụ thể. Vì
vậy, việc đánh giá hiệu quả có thể thực hiện một cách định lượng thông qua quá
trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện của đối tượng đối
với mục tiêu đã đề ra.
Trong công tác TDTT trường học, đánh giá hiệu quả GDTC và HĐTT là quá
trình thu thập và xử lý thông tin nhằm mục đích tạo cơ sở cho những quyết định về
chương trình, mục tiêu, PPDH, những hoạt động khác có liên quan của nhà trường
và ngành GD&ĐT. Đánh giá hiệu quả GDTC và HĐTT trường học là so sánh kết
quả của các hoạt động GDTC và thể thao trường học đã đạt được với mục tiêu đã đề
ra. Mục tiêu của việc đánh giá hiệu quả GD cũng là mục tiêu của quá trình GD.
Về phương diện kỹ thuật, đánh giá hiệu quả TDTT trong trường học cần xác
định các vấn đề như:
- Khẳng định tính xác thực của mục tiêu GDTC và HĐTT trường học.
- Xác định mức độ đạt được của mục tiêu thể hiện trong sản phẩm GD.
- Khẳng định tính nhân quả giữa quá trình GDTC và HĐTT đối với sản
phẩm được đào tạo, nói cách khác là chất lượng đầu ra của HS.


19

Theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc, hiệu quả
GD biểu hiện tập trung nhất ở sự phát triển về thể chất, trí tuệ, văn hóa, đạo đức,
khả năng tự lập, thích ứng... [70].
Tính hiệu quả của hoạt động TDTT trong trường học còn được thể hiện qua
kết quả học tập và rèn luyện của HS, đó là mức độ thành tích của HS đã đạt được,
xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra với mục tiêu đã xác
định. Như vậy, kết quả học tập, rèn luyện của HS được hiểu là mức độ thực hiện
những mục tiêu đã định trước. Vì vậy, đánh giá hiệu quả dạy học được thông qua
đánh giá kết quả học tập, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về những
yếu tố ảnh hưởng và nguyên nhân của tình hình học tập nhằm tạo cơ sở cho những
quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để học tập ngày một
tiến bộ hơn [70].
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả GDTC và HĐTT trong trường
THPT.
1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý của HS THPT .
HS THPT bao gồm các em ở độ tuổi từ 15-18, ở lứa tuổi này cơ thể HS đã
phát triển tương đối hoàn chỉnh, tuy còn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ lớn chậm
dần. Chức năng sinh lý đã tương đối ổn định, khả năng hoạt động của các hệ thống,
cơ quan cơ thể cũng cao hơn. HS phát triển theo chiều ngang nhiều hơn, chiều cao
vẫn phát triển nhưng chậm dần.
Sự phát triển của nam và nữ đã có sự khác nhau đáng kể do khác về giới
tính; sự khác nhau ấy càng rõ rệt về tầm vóc, khả năng hoạt động thể lực và tâm lý.
Do đó trong quá trình GDTC, GV cần căn cứ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và giới
tính để phân biệt về tính chất, cường độ, khối lượng tập luyện sao cho đảm bảo tính
hợp lý, tạo sự phát triển toàn diện.
Về mặt tâm lý, lứa tuổi này thích chứng tỏ mình là người lớn, muốn để mọi
người tôn trọng; đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng
hợp, muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão, nhưng còn nhiều nhược điểm và thiếu
kinh nghiệm trong cuộc sống.
Tuổi này chủ yếu là tuổi hình thành thế giới quan, tự ý thức, hình thành tính
cách và hướng về tương lai. Đó là tuổi của nhiều ước mơ, đầy nhu cầu sáng tạo và


20

mong cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây cũng là tuổi nảy nở những tình cảm mới, thế
giới quan không phải là một niềm tin lạnh nhạt, khô khan mà là sự say mê, ước
vọng, nhiệt tình.
- Tình cảm: HS biểu lộ tình cảm rõ rệt hơn đối với những thầy cô dạy các
em. Việc GV gây được thiện cảm và sự tôn trọng là một trong những sự thành công,
giúp GV thuận lợi trong quá trình giảng dạy; thúc đẩy HS tự giác, tích cực tập luyện
và ham thích TD. Do vậy, GV phải mẫu mực, công bằng, biết động viên kịp thời và
quan tâm đúng mức tới HS, tôn trọng kết quả học tập cũng như tình cảm của HS.
- Trí nhớ: hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớ máy móc do HS đã biết
cách ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic, tư duy chặt chẽ hơn và lĩnh hội được
bản chất của vấn đề học tập. Do đặc điểm của trí nhớ ở lứa tuổi này khá tốt nên GV
có thể sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân tích sâu các chi
tiết kỹ thuật động tác và vai trò, ý nghĩa cũng như cách sử dụng các phương tiện,
phương pháp trong GDTC để các em có thể tự tập luyện độc lập.
- Các phẩm chất ý chí đã rõ ràng hơn và mạnh mẽ hơn so với các lứa tuổi
trước đó. Các em có thể hoàn thành được bài tập khó và đòi hỏi sự khắc phục khó
khăn lớn trong tập luyện [44],[100].
Về đặc điểm sinh lý, hệ thần kinh tiếp tục được phát triển đi đến hoàn thiện.
Khả năng tư duy, phân tích, tổng hợp và trừu tượng hoá được phát triển tạo thuận
lợi cho việc hình thành nhanh phản xạ có điều kiện. Đây là đặc điểm thuận lợi để
HS nhanh chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật. Tuy nhiên, đối với một số bài tập
có tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em chóng mệt mỏi. Vì vậy, GV
cần thay đổi hình thức tập luyện phong phú, đặc biệt là tăng cường các hình thức thi
đấu, trò chơi để gây hứng thú và tạo điều kiện hoàn thành tốt các bài tập chính, nhất
là các bài tập về sức bền.
Ngoài ra, do sự hoạt động mạnh của các tuyến làm cho tính hưng phấn của
hệ thần kinh chiếm ưu thế, giữa hưng phấn và ức chế không cân bằng đã ảnh hưởng
đến hoạt động thể lực, nhất ở các em nữ tính nhịp điệu giảm sút nhanh, khả năng
chịu đựng lượng vận động yếu. Vì vậy, GV cần sử dụng các bài tập thích ứng và
thường xuyên quan sát phản ứng cơ thể của nữ HS để có biện pháp thích ứng.


21

Hệ xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển, mỗi năm nữ cao thêm 0,5-1cm,
nam cao thêm 1-3cm. Tập luyện TDTT thường xuyên liên tục làm cho bộ xương
thêm khoẻ mạnh hơn. Ở lứa tuổi này, các xương nhỏ như xương cổ tay, bàn tay đã
hoàn thiện nên các em có thể tập luyện một số động tác như treo, chống, mang vác
nặng mà không làm tổn hại hoặc không tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể. Cột
sống đã ổn định hình dáng, nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong
vẹo, nên việc tiếp tục bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như đi,
chạy, nhảy, TD cơ bản... cho các em là rất cần thiết và không thể xem nhẹ.
Ở các em nữ, xương xốp hơn các em nam, ống tuỷ rỗng hơn, chiều dài ngắn
hơn, bắp thịt nhỏ hơn và yếu hơn. Đặc biệt là xương chậu của nữ to hơn và yếu. Vì
vậy trong quá trình GDTC, không thể sử dụng bài tập có khối lượng và cường độ
vận động như nam mà phải có sự phù hợp với đặc điểm giới tính.
Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn nên sức co cơ tương đối yếu, các bắp cơ
lớn phát triển nhanh hơn các cơ nhỏ, các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, các
cơ duỗi của nữ lại càng yếu. Đặc biệt vào tuổi 16, các tổ chức mỡ dưới da của nữ
phát triển mạnh, ảnh hưởng đến việc phát triển sức mạnh. Nói chung ở đầu thời kỳ
THPT là thời kỳ cơ bắp phát triển nhanh nhất, do vậy cần tập những bài tập phát
triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy sự phát triển của các cơ. Các bài tập phải đảm
bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các loại cơ đều được phát triển,
nhưng cần có yêu cầu riêng biệt đối với các em nữ, tính chất động tác của nữ cần
toàn diện, mang tính mềm dẻo, nhịp điệu và khéo léo.
Hệ tuần hoàn của HS lứa tuổi này đang phát triển và hoàn thiện. Buồng tim
phát triển tương đối hoàn chỉnh, phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động rõ rệt.
Sau vận động, mạch đập và huyết áp phục hồi tương đối nhanh chóng. Lứa tuổi này
có thể tập những bài tập có khối lượng, cường độ vận động và sức bền tương đối
lớn. Khi sử dụng các bài tập có khối lượng vận động lớn hoặc các bài tập phát triển
sức bền, cần phải thận trọng và thường xuyên theo dõi trạng thái sức khoẻ HS.
Hệ hô hấp đã phát triển và tương đối hoàn thiện, vòng ngực trung bình của
nam từ 67-72cm, của nữ từ 69-74cm. Diện tích tiếp xúc của phổi khoảng 100 –
2

201cm , gần bằng tuổi trưởng thành. Dung lượng phổi tăng lên nhanh chóng từ lúc
15 tuổi là 2-2,5lít đến 8 tuổi là khoảng 3-4 lít, tần số hô hấp gần giống người lớn.


22

Tuy nhiên các cơ hô hấp vẫn còn yếu nên sự co giãn của lồng ngực nhỏ, chủ
yếu là co giãn cơ hoành. Trong tập luyện cần thở sâu và tập trung chú ý thở bằng
ngực; các bài tập bơi, chạy cự ly trung bình, chạy việt dã có tác dụng tốt đến sự phát
triển của hệ hô hấp [30],[47],[100].
1.3.2. Động cơ và hứng thú học tập của HS.
Trong tâm lý học, động cơ là một vấn đề rất được các nhà khoa học quan
tâm. Các nhà nghiên cứu tâm lý cho rằng động cơ đóng một vai trò quan trọng trong
quá trình hoạt động của con người, nó chính là lực thúc đẩy để con người đạt được
mục đích của mình. Nói khác đi động cơ chính là yếu tố thôi thúc con người hành
động để thoả mãn nhu cầu của bản thân, con người không thể đạt được mục đích
của mình nếu thiếu vắng động cơ [44].
Vậy thì trong quá trình học tập, động cơ đóng vai trò như thế nào? Về thực
chất động cơ học tập là gì? Động cơ có ảnh hưởng đến kết quả học tập không?
Có nhiều quan niệm khác nhau về động cơ. Quan niệm được nhiều người
đồng ý là: Động cơ là sự nỗ lực nội tại khuyến khích một người theo đuổi một tiến
trình hành động. Nếu chúng ta nhận thấy được một mục tiêu nào đó và nếu mục tiêu
đó đủ sức hấp dẫn, chúng ta sẽ có động cơ thúc đẩy để đạt được mục tiêu đó [45].
Xét về động cơ của người học, thường có 2 động cơ chính: động cơ bên
ngoài và động cơ bên trong. Động cơ bên ngoài liên quan đến các yếu tố bên ngoài
lớp học như là sự lôi cuốn, hấp dẫn của nền văn hoá, môi trường bên ngoài lớp học;
người học mong muốn tìm hiểu và hội nhập vào nền văn hoá đó. Động cơ bên trong
là những yếu tố bên trong lớp học. Động cơ này đóng một vai trò quan trọng trong
việc quyết định thái độ học tập của HS. Một HS không có động cơ bên ngoài vẫn có
thể có một thái độ học tập tích cực và đạt kết quả tốt trong học tập. Động cơ bên
trong bị ảnh hưởng bởi 4 yếu tố chính: Một là điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị
dạy học, môi trường học tập và quy mô lớp học; hai là phương pháp giảng dạy, một
yếu tố quyết định đối với sự yêu thích môn học của HS; ba là tính cách, kiến thức,
sự nhiệt tình của GV; bốn là sự thành bại của bản thân HS trong học tập [44],[45].
Hứng thú, là thái độ đặc biệt của cá nhân với một đối tượng, được thể hiện ở
sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng và sự thích thú được
thỏa mãn với đối tượng, có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân [45].


23

Hứng thú học tập là hứng thú gắn với một môn học cụ thể trong nhà trường,
nó là thái độ đặc biệt của HS với môn học mà HS thấy có ý nghĩa và có khả năng
đem lại sự khoái cảm trong quá trình học tập môn học đó.
Hứng thú của HS THPT rất năng động, các em sẵn sàng đi vào lĩnh vực mà
mình yêu thích. Động cơ hứng thú đối với TDTT của HS THPT biểu hiện đơn giản
dưới dạng hứng thú say mê TDTT, do đó chưa bền vững, mang tính nhất thời. Do
vậy đối với GDTC, việc dạy học môn TD đóng vai trò chủ yếu trong việc giúp HS
hiểu được ý nghĩa, vai trò của TDTT đối với cá nhân và xã hội, giúp HS tự giác,
tích cực tập luyện. Mặt khác, chất lượng giảng dạy và nhân cách GV cũng có ảnh
hưởng mạnh đến sự nảy sinh và phát triển hứng thú của HS đối với môn học. Một
đặc điểm khác là sự sự hứng thú đối với môn học ngày càng phân hoá, thể hiện khi
HS ham mê một lĩnh vực tri thức nào đó thì coi thường giờ học, những môn học mà
HS không thích.
HS ở lứa tuổi THPT thường ưa thích thể thao, động cơ chủ yếu khiến HS
thích thể thao vì các em đã nhận thức được vai trò của TDTT trong tăng cường sức
khoẻ, phát triển cơ bắp, giúp rèn luyện sự dẻo dai, sức mạnh ý chí, tạo nên tư thế cơ
thể đẹp... Do sự hứng thú phát triển rộng nên GV và cha mẹ phải hướng dẫn, điều
chỉnh hứng thú sao cho phù hợp để HS hoạt động thể thao có hiệu quả.
1.3.3. Giờ học và cấu trúc nội dung CTMH TD ở bậc THPT.
1.3.3.1. Giờ học TD.
Đối với THPT, giờ học TD cần được tổ chức phù hợp với những nguyên tắc
sư phạm chung và những nguyên tắc GDTC; đồng thời việc tiến hành giờ học phải
bảo đảm những yêu cầu sau: (1) Tác động của giờ học phải toàn diện về các mặt
giáo dưỡng, GD và sức khoẻ. (2) Hoạt động dạy học và GD phải được thực hiện
xuyên suốt giờ học. Xu hướng chỉ giải quyết nhiệm vụ giáo dưỡng trong phần cơ
bản thường thấy trong thực tế là không đúng. Nếu phần chuẩn bị và phần kết thúc
không có nội dung giáo dưỡng thì vai trò chủ đạo của người thầy chỉ là hình thức.
(3) Trong giờ học cần hết sức tránh khuôn mẫu phương pháp cứng nhắc. (4) Đảm
bảo bình đẳng trong học tập cho tất cả HS, đồng thời chú ý đặc điểm từng cá nhân
người tập, có như vậy tất cả HS mới đạt được yêu cầu chung và hạn chế số HS yếu


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×