Tải bản đầy đủ

SLIDE THUYẾT TRÌNH PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG

CHÀO MỪNG CÁC BẠN ĐẾN VỚI BÀI
THUYẾT TRÌNH MÔN PHÁP LUẬT ĐẠI
CƯƠNG
NHÓM 4


Thành viên :

• 1.Nguyễn Phước Thiện
• 2. Nguyễn Thị Ánh Linh
• 3.Phan Thanh Hà
• 4.Nguyễn Thị Xuân Nở
• 5.Nguyễn Bình Nhân
• 6.Nguyễn Thị Kim Ngọc
• 7.Trần Thị Diễm Kiều
• 8.Nguyễn Thanh Thảo
• 9.Trương Thanh Văn
• 10.Trần Thị Thu Thảo


1.Khái niệm quan hệ pháp luật :

• Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội xuất hiện dưới
sự tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật , trong đó các bên tham
gia quan hệ có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý được pháp luật ghi nhận
và được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục ,
thuyết phục , tổ chức và có thể bằng cả biện pháp cưỡng chế .


2. Đặc điểm của quan hệ pháp luật :

• 2.1: Là quan hệ mang tính ý chí :phát sinh trên cơ sở quy phạm pháp luật (do phản ánh ý chí của Nhà nước ),phát sinh
thay đổi và chấm dứt do ý chí của các bên tham gia quan hệ pháp luật .

• 2.2: Là một loại của quan hệ tư tưởng , quan hệ của kiến trúc thượng tầng .
• 2.3: Xuất hiện trên cơ sở quy phạm pháp luật: quy phạm pháp luật quy định các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý .

Những quyền và nghĩa vụ này được thực hiện trong các quan hệ pháp luật của đời sống thực tế , trên cơ sở những điều
kiện tương ứng của các quy phạm pháp luật đã được trù liệu trong phần giả định của các quy phạm pháp luật.


2.4: Là quan hệ mà các bên tham gia (các chủ thể ) quan hệ đó mang những quyền chủ thể và
nghĩa vụ pháp lý .
Vd: Trong quan hệ pháp luật lao động về tiền lương thì việc trả lương là nghĩa vụ của người sử
dụng lao động , còn được hưởng lương là quyền của người lao động .

2.5:Sự thực hiện quan hệ pháp luật được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của Nhà nước , ngoài ra còn
phụ thuộc vào ý thức tự giác , tự nguyện của các bên tham gia .
2.6: Có tính xác định : quan hệ pháp luật chỉ xuất hiện khi có sự kiện pháp lý và khi có các chủ thể
tham gia .


3. Thành phần của quan hệ pháp luật :

• Chủ thể của quan hệ pháp luật là cá nhân , tổ chức có khả năng trở thành các bên

có khả năng tham gia pháp luật có được các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý
trên cơ sở quy phạm pháp luật .Chủ thể quan hệ pháp luật có một thuộc tính đặc
biệt là năng lực chủ thể , tức là khả năng trở thành chủ thể của pháp luật , chủ thể
của quan hệ pháp luật mà khả năng đó được Nhà nước thừa nhận . Năng lực của
chủ thể bao gồm hai yếu tố cấu thành là:năng lực pháp luật và năng lực hành vi .



Năng lực pháp luật :

• Là khả năng của chủ thể có được các quyền chủ thể và những nghĩa vụ pháp lý được Nhà nước thừa nhận .
• Vd: Điều 14 Bộ luật dân sự năm 2005 định nghĩa :
• “1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự
• 2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau
• 3. Năng lực pháp luật dân sự có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết .”


Năng lực hành vi :

• Là khả năng của chủ thể được nhà nước thừa nhận bằng hành vi của mình , thực hiện
một cách độc lập và nhĩa vụ pháp lý tham gia vào các quan hệ pháp luật.

• Vd : Điều 14 Bộ luật dân sự năm 2005 định nghĩa :
• “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình
xác lập , thực hiện quyền , nghĩa vụ dân sự .”


Lưu ý: Điều 16 Bộ luật dân sự năm
định :

• “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế , trừ trường hợp do
pháp luật quy định .”
Vd: 15 tuổi có thể giao bán hợp đồng lao

động nếu có tài sản riêng

Mỗi kiểu nhà nước quy định năng lực pháp luật cho các cá nhân, tổ chức không
giống nhau. Đặc điểm các loại chủ thể:

2005 quy


3.1.1. Cá nhân: cá nhân là chủ thể của quan hệ pháp luật bao gồm: công
dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú, sinh sống và làm việc trên lãnh thổ
Việt Nam .

• CÔNG DÂN
• NGƯỜI NƯỚC NGOÀI


-Công dân: năng lực chủ thể của công dân xuất
hiện từ khi được sinh ra vì từ thời điểm đó họ
được công nhận là chủ thể pháp luật, được pháp
luật đảm bảo. Trong hai yếu tố của năng lực chủ
thể thò trong nhiều lĩnh vực năng lực pháp luật
của công dân xuất hiện từ khi mới sinh ra .( ví
dụ trong lĩnh vực quan hệ pháp luật dân sự); còn
năng lực hành vi xuất hiện dần và cho đến khi
công dân đủ 18 tuổi thì năng lực hành vi mới
đầy đủ. Ngoài ra năng lực hành vi còn phụ thuộc
vào sức khỏe, trình độ văn hóa.


-Người nước ngoài: gồm người có quốc tịch nước ngoài và
người không có quốc tịch có thể trở thành chủ thể quan hệ
pháp luật theo các điều kiện áp dụng cho công dân Việt Nam.
Họ không có quyền bầu cử, ứng cử vào các cơ quan nhà nước,
không có nghĩa vụ phải tham gia vào các lực lượng vũ trang.


3.1.2.Tổ chức: đó là các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân, các tổ
chức kinh doanh, dịch vụ,... năng lực pháp luật và năng lực hành vi xuất hiện cùng lúc với việc
thành lập tổ chức đó. Các tổ chức với tư cách là chủ thể quan hệ pháp luật có những đặc điểm sau:



Có cơ cấu tổ chức thống nhất được quy định trong quy chế, điều lệ hoặc các văn bản nhà nước.



Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi do nhà nước thừa nhận đồng thời với việc chính thức thành lập tổ chức ấy và
được ghi nhận trong điều lệ, quy chế hoặc văn bản của nhà nước.



Năng lực hành vi của tổ chức được thực hiện thông qua cơ quan hoặc người đại diện.Ví dụ: Ban giám đốc xí nghiệp, Ban
chủ nhiệm hợp tác xã, thủ trưởng cơ quan,...; hoạt động của các tổ chức được gắn liền với những lĩnh vực nhất định của
đời sống nhà nước và xã hội.


Một tổ chức được công nhận là pháp nhân phải có đủ các điều kiện sau
( Điều 84 Bộ luật dân sự năm 2005):
-Được thành lập hợp pháp
-Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
-Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó
-Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập

Các loại pháp nhân bao gồm( Điều 100 Bộ luật dân sự năm 2005):
-Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
-Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội
-Tổ chức kinh tế
-Tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
-Qũy xã hội, quỹ từ thiện
-Tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 của Bộ luật dân sự


3.2.Nội dung của quan hệ pháp luật:

• 3.2.1+ Quyền chủ thể:
• Quyền chủ thể trong quan hệ pháp luật là khả năng của các cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ đó được quy phạm pháp
luật quy định trước và được nhà nước bảo vệ bằng sự cưỡng chế. Quyền chủ thể có các đặc điểm:

• Khả năng được hành động trong khuôn khổ do quy phạm pháp luật xác định trước
• Khả năng yêu cầu bên kia ( chủ thể cùng tham gia quan hệ pháp luật ) thực hiện nghĩa vụ của họ( sự thực hiện có thể là
bằng hành động hoặc không hành động)

• Khả năng yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện sự cưỡng chế cần thiết đối với bên kia để họ thực hiện
nghĩa vụ trong trường hợp quyền chủ thể của mình bị bên kia vi phạm


3.2.2+ Nghĩa vụ pháp lý:
Nghĩa vụ pháp lý là cách xử sự bắt buộc được quy phạm pháp luật xác định trước mà một bên của
quan hệ pháp luật đó phải tiến hành nhằm đáp ứng quyền chủ thể của bên kia. Nghĩa vụ pháp lý
không phải là khả năng xử sự mà là sự cần thiết phải xử sự. Nghĩa vụ pháp lý có các đặc điểm sau:
-Là sự bắt buộc phải có những xử sự nhất định do quy phạm pháp luật xác định trước
-Cách xử sự này nhằm thực hiện quyền chủ thể của bên kia
-Trong trường hợp cần thiết nghĩa vụ pháp lí sẽ được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà
nước
Tóm lại, trong những quan hệ pháp luật cụ thể, quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý luôn là một thể
thống nhất, nó phản ánh mối liên hệ của những người tham gia vào quan hệ pháp luật


3.3Khách thể của quan hệ pháp luật:

• Là những giá trị vật chất, tinh thần và giá trị xã hội khác mà cá nhân, tổ chức mong muốn đạt được nhằm thỏa mãn các
lợi ích, nhu cầu của mình khi tham gia vào các quan hệ pháp luật và thực hiện quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý. Khách
thể của quan hệ pháp luật có thể là những giá trị vật chất cũng như những giá trị phi vật chất.


3.4.Sự kiện pháp lý:

-Là những tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong đời sống có liên quan tới sự xuất hiện, thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp luật.
Các hiện tượng, tình huống, quá trình này được gọi là những sự kiện pháp lý vì:
-Thứ nhất, chúng đã được quy định rõ ràng trong phần giả định của các quy phạm pháp luật và làm cho các quy tắc về hành vi trong phần quy định của các quy phạm pháp luật có hiệu lực.
-Thứ hai, căn cứ vào những quy định của quy phạm pháp luật, những sự kiện này sẽ làm nảy sinh những hậu quả pháp lý nhất định. Nói cách khác sự tồn tại của các sự kiện ấy gắn liền với sự xuất
hiện, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật nhất định.
-Khi xây dựng pháp luật, yếu tố quan trọng là phải xác định sự kiện pháp lý. Sự thừa nhận hay không thừa nhận ở chủ thể các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý cũng phụ thuộc vào vấn đề có tồn
tại hay không tồn tại các sự kiện pháp lý. Sự kiện pháp lý thường rất đa dạng và một sự kiện pháp lý có thể dẫn đến nhiều hậu quả pháp lý khác nhau


( ví dụ: việc một người chết là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý của
người đó, nhưng cũng đồng thời làm phát sinh quyền thừa kế của những người thừa kế).


Phân loại sự kiện pháp lý:

• Căn cứ vào hậu quả do sự kiện pháp lý gây ra, sự kiện pháp lý có thể được chia thành: sự kiện pháp lý làm xuất hiện, sự
kiện pháp lý làm thay đổi và sự kiện pháp lý làm chấm dứt các quan hệ pháp luật.

• Căn cứ vào số lượng, điều kiện hoàn cảnh làm nảy sinh hậu quả pháp lý, sự kiện pháp lý có thể được chia thành: sự kiện
pháp lý đơn giản( ví dụ: một người chết), hoặc sự kiện pháp lý phức tạp( ví dụ: một người nghỉ hưu).

• Căn cứ vào dấu hiệu ý chí( đây là cách phân loại phổ biến nhất), sự kiện pháp lý có thể được chia thành: sự biến và hành
vi.


-Sự biến là các sự kiện pháp lý xảy ra không phụ thuộc vào ý chí của
con người và sự xuất hiện của nó đưa đến những hậu quả pháp lý nhất
định cho chủ thể( ví dụ: thiên tai, chiến tranh, hỏa hoạn). Nếu trong sự
biến, việc gây ra các hậu quả pháp lý không phụ thuộc vào ý chí của
con người, thì trong hành vi gây ra các hậu quả pháp lý lại phụ thuộc
vào ý chí của con người.
-Hành vi là sự kiện pháp lý phụ thuộc vào ý chí của con người và có hậu
quả pháp lý nhất định( ví dụ: hành vi kí kết hợp đồng kinh tế, đăng kí
kết hôn). Các hành vi có thể là hợp pháp hoặc bất hợp pháp. Trong
hành vi hợp pháp, sự kiện pháp lý xuất hiện phù hợp với trật tự pháp
luật, ngược lại hành vi bất hợp pháp( còn gọi là hành vi vi phạm pháp
luật) là hành vi có lỗi, mang tính trái pháp luật, do người có năng lực
chủ thể thực hiện, gây thiệt hại nhất định( ví dụ: hành vi tội phạm,
hành vi vi phạm hành chính, vi phạm kỉ luật).
 



QTKD-2

THANKS FOR WATCHING !!!

Niên khóa 2017-2018



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×