Tải bản đầy đủ

BTL Nghề Luật_Tìm hiểu thuật ngữ “luật gia” và “luật sư”. Lịch sử và vai trò của nghề luật sư ở Việt Nam_8.5đ

Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

MỤC LỤC

A.

MỞ ĐẦU

Thực tế khách quan của một quốc gia đang không ngừng phát triển, của
một đất nước luôn hướng đến nền dân chủ vững mạnh và của một dân tộc ngày
càng vươn mình hội nhập với bạn bè năm châu, thì sứ mệnh bảo vệ công lý, đảm
bảo công bằng xã hội được đề cao là vấn đề tất yếu và chính đáng.
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước đã thể hiện mối quan tâm
đặc biệt dành cho nghề luật sư, cụ thể Nghị quyết 08-NQ/TW 1 về cải cách tư
pháp và Nghị quyết 49-NQ/TW 2 của Bộ Chính trụ đã chỉ rõ vai trò của luật sư
trong nền tư pháp nước nhà. Luật luật sư 2006 thay thế Pháp lệnh luật sư năm
2001 đã thể hiện thành tựu tích cực của hoạt động lập pháp đối với nghề luật sư.
Đặc biệt, khi mà nhu cầu của xã hội, của nhà nước đối với nghề luật sư ở nước
ta đượ thể hiện ngày một bức thiết, thì những vị lãnh đạo Nhà nước đã có những
sự quan tâm lớn, thể hiện cách nhìn nhận mới cũng như cách thức cụ thể hóa
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với nghề luật sư.

Nghề luật sư không còn xa lạ đối với chúng ta nhưng đôi khi nhiều
người nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ: luật gia và luật sư. Vậy hai thuật ngữ này có
gì khác nhau? Lịch sử hình thành nghề luật sư ở Việt Nam như thế nào? Vai trò
của nghề này ở nước ta ra sao? Để trả lời cho những câu hỏi này, em chọn đề tài:
1 www.thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-so-08-NQ-TW-2002-nhiem-vu-trong-tamcong-tac-tu-phap-165169.aspx (Ngày 2 tháng 1 năm 2002)
2 “Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020” (Ngày 2 tháng 6 năm 2005)

1


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

“Tìm hiểu thuật ngữ “luật gia” và “luật sư”. Lịch sử và vai trò của nghề
luật sư ở Việt Nam”
B.
I.

NỘI DUNG

Lý luận chung về luật gia và luật sư
1. Giải thích thuật ngữ

Hai thuật ngữ “luật gia” và “luật sư” hiện nay ở Việt Nam tuy được
hiểu khác nhau, song vẫn còn nhiều sự nhầm lẫn. Nguyên nhân của hiện
tượng này một mặt là do hệ thống luật pháp nói chung và các nghề nghiệp
về tư pháp ở Việt nam nói riêng chưa phát triển; mặt khác có hiện tượng
này là do việc dịch các thuật ngữ ó liên quan trong các văn bản, tài liệu
nước ngoài chưa thực sự chuẩn xác, thống nhất.
Theo cách giải thích của từ điển Luật học:
- Luật gia: là người có kiến thức về pháp luật, chuyên gia luật, có bằng
cử nhân luật; có thể bao gồm cả những người tuy không có bằng cử
nhân luật, nhưng có kiến thức về pháp luật và đang hoạt động trên các
lĩnh vực pháp luật, tư pháp, trong đó có cả các luật sư. Hội viên Hội
luật gia Việt Nam được hiểu theo nghĩa này.
- Luật sư: là luật gia được đào tạo thêm về kỹ năng hành nghề, được gia
nhập Đoàn luật sư, qua đó được công nhận là luật sư để hành nghề
chuyên nghiệp trong lĩnh vực tranh tụng và tư vấn pháp luật hoặc một
trong hai lĩnh vực này.
2. Sự khác biệt giữa luật sư với luật gia


Ở Việt Nam, luật sư được hiểu theo quy định tại Điều 2 Luật Luật sư
năm 2006, sửa đổi năm 2012: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều
kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý
theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách
hàng)”. Điều kiện hành nghề luật sư là được cấp Chứng chỉ hành nghề
luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư. Như vậy, ở nước ta luật sư có thể là
thành viên Hội luật gia, nhưng luật gia thì chưa hẳn đã phải là luật sư.
Qua đó, luật sư có những khác biệt sau:

LUẬT SƯ

LUẬT GIA

2


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07
- Công dân Việt Nam trung thành - Công dân Việt Nam có phẩm chất

Điều
kiện

với Tổ quốc, tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt.
- Có bằng cử nhân luật.
- Có chứng nhận tốt nghiệp khóa
đào tạo nghề Luật sư
- Đã tập sự hành nghề luật sư tại
Đoàn luật sư trong thời gian 12
tháng.
- Vượt qua kỳ thi Kiểm tra kết quả
tập sự hành nghề luật sư.
- Được Bộ tư pháp cấp Chứng chỉ
hành nghề Luật sư, gia nhập làm thành viên của bất kỳ một
đoàn luật sư nào trên toàn
quốc, được cấp thẻ luật sư.

- Đoàn luật sư là tổ chức xã hội –-

nghề nghiệp của luật sư, có tư
cách pháp nhân, con dấu riêng,
hoạt động theo nguyên tắc tự
trang trải kinh phí bằng nguồn
thu từ thành viên, các khoản
đóng góp của thành viên và
các nguồn thu hợp pháp khác.
Tổ chức - Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc
tham gia
TW có một đoàn Luật sư, các
Đoàn luật sư trên toàn quốcthuộc Liên đoàn luật sư Việt
Nam.

Quyền - Luật sư là chủ thể được tham giavà nghĩa
tố tụng trong các vụ án hình
vụ
sự, dân sự, hành chính, cung
cấp dịch vụ pháp lý, tư vấn
pháp luật cho khách hàng với
3

đạo đức tốt.
Đã hoặc đang làm công tác pháp
luật trong cơ quan, tổ chức Nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội – nghề nghiệp,
tổ chức xã hội – nghề nghiệp, tổ
chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ
chức văn hóa, tổ chức giáo dục,
đơn vị vũ trang nhân dân với
thời gian từ ba năm trở lên.
Tán thành điều lệ Hội đều có thể
được gia nhập Hội
Công dân Việt Nam không có
điều kiện hoặc không đủ tiêu
chuẩn trở thành thành viên chính
thức của Hội, tán thành điều lệ
Hội, có công đóng góp cho Hội
và tự nguyện xin vào Hội có thể
được công nhận là Hội viên
danh dự
Hội luật gia là tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp của Luật
gia do các Luật gia tự nguyện
tham gia, nguồn thu tài chính
của Hội từ: Hội phí, Kinh phí do
Nhà nước cấp và hỗ trợ theo quy
định; Các khoản thu khác do
hoạt động của Hội mang lại; Các
khoản tặng, tài trợ của cá nhân,
tổ chức…
Hội Luật gia được tổ chức từ
Trung ương đến cơ sở bao gồm:
Hội Luật gia Việt Nam, Hội luật
gia cấp tỉnh, Hội luật gia cấp
huyện, Chi hội Luật gia cơ sở.

Luật gia không có chứng chỉ
hành nghề, họ chỉ có thể tham
gia hoạt động nghề nghiệp tại
Trung tâm trợ giúp pháp lý với
vai trò cộng tác viên hoặc là tư


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

tư cách Luật sư. Được thỏa
thuận thù lao với khách hàng
trong việc cung cấp dịch vụpháp lý (trừ vụ án hình sự phải
theo quy định của Nhà nước)3.
- Luật sư hoạt động độc lập, tự
chịu trách nhiệm trong hành
nghề, trong đó có trách nhiệm
bồi thường thiệt hại vật chất
mà Luật sư gây ra cho khách
hàng.

vấn viên, cộng tác viên tại các
Trung tâm tư vấn pháp luật
Luật gia chỉ được tham gia tố
tụng trong vụ án hình sự, dân
sự, hành chính, cung cấp dịch vụ
pháp lý, tư vấn pháp luật theo sự
phân công của TTTGPL hoặc
TTTVPL với tư cách là Bào
chữa viên nhân dân, Trợ giúp
viên pháp lý, cộng tác viên Trợ
giúp pháp lý hoặc tư vấn viên
pháp luật.
- Luật gia không được thực hiện
dịch vụ pháp lý có thù lao với tư
cách cá nhân. Mọi hoạt động của
Luật gia phải thông qua nơi công
tác hoặc tham gia là TTTGPL và
TTTVPL của Hội luật gia.4

II.

Lịch sử của nghề luật sư ở Việt Nam
1. Giai đoạn 1858 – 1945

“Nghề luật sư đã được du nhập từ La Mã sang Pháp trước khi đến
nước ta.”5Ngay sau khi xâm lược Nam Kỳ, thực dân Pháp từng bước thiết
lập bộ máy hành chính để quản lý các vùng đất đã chiếm được, trong đó
có việc hoàn thiện bộ máy tư pháp theo mô hình của Cộng hòa Pháp.
Ngày 26/11/1876, Thống đốc Nam Kỳ lúc đó là Chuẩn đô đốc Victor
Auguste Duperré (Nam tước Dupérré) ban hành Nghị định về việc biện hộ
cho thân chủ là người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại tòa
án Pháp.
Ngày 16/5/1906, toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là Jean
Baptiste Paul Beau ký Nghị định số 1514a cho phép thành lập trường đại
học đầu tiên theo mô hình của Pháp tại Đông Dương. Theo quy định tại
Nghị định nêu trên thì Viện Đại Học Đông Dương được tổ chức khởi đầu
với 5 trường liên thuộc: Trường Cao đẳng Luật và Pháp chính, Trường
Cao đẳng Khoa học, Trường Cao đẳng Y khoa, Trường Cao đẳng Xây
dựng dân chính, Trường Cao đẳng Văn chương. Trong đó thì Trường Cao
3
4 www.danluat.thuvienphapluat.vn/luat-su-va-luat-gia-136042.aspx. Cập nhật ngày 25/12/2017.
5 Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hòa (2015), Lịch sử nghề Luật sư ở Việt Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ
Chí Minh, TP. HCM, tr.15.

4


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

đẳng Luật và Pháp chính là nơi đào tạo nhân sự bản xứ cung cấp cho bộ
máy hành chính của Pháp tại Việt Nam.
Ngày 30/01/1911, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là
Antony Waladislas Klobukowski ký Sắc lệnh thành lập Đoàn luật sư Sài
Gòn và Hà Nội, thành viên là các luật sư đã tốt nghiệp trường Luật ở
Pháp, có quốc tịch Pháp. Chủ trương của Antony Waladislas Klobukowski
là mở rộng nghề luật sư theo hướng không hạn chế chỉ người Pháp và
người Việt mang quốc tịch Pháp mới được làm luật sư, mà còn có cả
người Việt mang quốc tịch Việt cũng được làm luật sư nếu hội đủ các điều
kiện theo luật định. Antony Waladislas Klobukowski cho phép mở trường
Luật (École de Droit) với hai trụ sở tại Hà Nội và Sài Gòn, thời gian học
là 02 năm. Trường luật khai giảng tại Hà Nội ngày 15/4/1910. Trong niên
khoá 1911-1912 tại Hà Nội có 32 sinh viên và Sài Gòn có 18 sinh viên.
Ngày 15/10/1917, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là Albert
Pierre Sarraut ký Nghị định thành lập Trường Luật và Pháp chính (Ecole
de Droit et d’Administration).
Ngày 25/5/1930, Toàn quyền Pháp tại Đông Dương lúc đó là
Pierre Marie Antoine Pasquyer ký Sắc lệnh tổ chức Luật sư đoàn ở Hà
Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng. Việc ký Sắc lệnh này thể hiện rõ sự chú trọng
của Pháp đối với việc phát triển nghề luật sư tại Việt Nam bởi các quy
định trong Sắc lệnh mở hơn so với các Nghị định trước đó. Mặt khác, về
mặt hiệu lực thì Sắc lệnh có hiệu lực cao hơn so với Nghị định. Cụ thể,
Sắc lệnh này mở rộng thêm cho các luật sư không chỉ biện hộ cho thân
chủ có quốc tịch Pháp mà cho cả thân chủ không có quốc tịch Pháp;
không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà còn biện hộ cả ở tòa án bản xứ.
Giai đoạn 1930 - 1945 là thời kỳ bùng nổ nghề luật sư ở Việt Nam
khi các luật sư du học tại Pháp trở về nước, cùng với một số lượng đông
đảo những người được đào tạo ngành luật tại Trường Đại học Đông
Dương, Hà Nội. Các luật sư tên tuổi thời kỳ này có thể kể đến là Phan
Văn Trường (1876-1933), Trịnh Đình Thảo (1901-1986), Phan Anh
(1912-1990), Trần Công Tường (1915-1990), Vũ Trọng Khánh (19121996),…6

6 Trương Anh Tú (2013), Thăng trầm nghề luật sư ở Việt Nam, Diễn đàn Dân trí Việt Nam.

5


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

Trong thời gian gần 80 năm hình thành và phát triển, kể từ năm
1876 đến năm 1955, thiết chế luật sư và hệ thống pháp luật của Pháp đã
du nhập vào Việt Nam với những nguyên tắc pháp lý hoàn toàn mới mẻ so
với quan niệm luật pháp truyền thống của phương Đông vốn tồn tại hàng
ngàn năm dưới ảnh hưởng của Khổng giáo qua các triều đại phong kiến.
Có thể nói rằng, việc Jean Baptiste Paul Beau cho phép mở Trường Cao
đẳng Luật và Pháp chính đã đặt viên gạch đầu tiên cho một nền luật học
dựa trên những nguyên tắc pháp lý theo quan niệm phương Tây, được hiểu
bao gồm các hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới lúc đó là hệ thống
Luật Dân sự (Civil Law) của khối châu Âu lục địa, hệ thống Thông luật
(Common Law) của khối Anglo-Saxon và hệ thống Luật xã hội chủ nghĩa
(Sovietique) của Liên Xô.
2. Giai đoạn 1945 – 1954
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, bộ máy tư pháp được
tổ chức lại. Chỉ hơn một tháng sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-101945 về tổ chức đoàn thể luật sư. Sắc lệnh này đã quy định việc duy trì tổ
chức luật sư trong đó đã có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật
của chế độ cũ về luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính
thể dân chủ cộng hoà. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ
cộng hoà năm 1946 (Điều 67) đã khẳng định quyền tự bào chữa hoặc
mượn luật sư bào chữa là quyền quan trọng của bị cáo, một trong những
quyền cơ bản của công dân.
Mặc dù trong điều kiện mới lập nước, Việt Nam vừa trải qua cuộc
kháng chiến vô cùng khó khăn, gian khổ, nhưng sự coi trọng việc bảo
đảm quyền bào chữa trước Toà án của bị cáo đã được ghi trong Hiến pháp
và được cụ thể và mở rộng hơn chủ thể tham gia bào chữa được ghi nhận
tại Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 quy định nguyên cáo, bị cáo có thể
nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực cho mình. Để cụ thể hóa
Sắc lệnh này Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 01/NĐ – VY ngày 1201-1950 quy định về bào chữa viên để phù hợp với điều kiện Việt Nam
khi đó, thể hiện mục tiêu của nhà nước dân chủ cộng hòa là xây dựng một
nền tư pháp công bằng, dân chủ của chế độ mới. Thực hiện quy định của
pháp luật về bào chữa viên, trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực
6


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

dân Pháp và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đội ngũ
bào chữa viên đã được hình thành và ngày càng phát triển. Bên cạnh các
luật sư đã tham gia kháng chiến, còn có nhiều luật sư, luật gia đã làm việc
trong bộ máy chế độ cũ cũng hăng hái gia nhập đội ngũ bào chữa viên của
chế độ mới.
3. Giai đoạn từ 1954 đến nay
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (Genève) năm 1954, Việt Nam bị chia
cắt hai miền. Ở miền Nam, trường Đại học Luật khoa Huế, Đà Lạt, Sài
Gòn của chế độ Việt Nam Cộng hòa đào tạo các cử nhân luật, một số sinh
viên tốt nghiệp cử nhân luật được đào tạo tiếp để trở thành luật sư. Trong
các tòa vi cảnh, tòa sơ thẩm, tòa đại hình, tòa thượng thẩm đều có công tố
viên và có luật sư tranh luận, bào chữa bảo vệ thân chủ. Luật sư có quyền
tham gia tại giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử và tranh tụng tại phiên
tòa.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ CNXH ở miền Bắc, Hiến
pháp năm 1959 ra đời tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng, Nhà nước
Việt Nam về quyền bào chữa và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân. Sau khi thống nhất đất nước Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1980 ngoài việc khẳng định bảo đảm quyền bào
chữa của bị cáo, còn quy định việc thành lập tổ chức luật sư để giúp cá
nhân, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện quy định của Hiến pháp, ngày 31/10/1983 Bộ Tư pháp
ban hành Thông tư số 691/QLTPK về công tác bào chữa, trong đó quy
định cụ thể tiêu chuẩn, điều kiện làm bào chữa viên, quy định ở mỗi tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương thành lập một Đoàn bào chữa viên để
tập hợp các luật sư đã được công nhận trước đây và các bào chữa viên,
đến cuối năm 1987 trên cả nước đã có 30 Đoàn bào chữa viên với gần 400
thành viên. Riêng Đoàn luật sư TP.Hà Nội thành lập năm 1984 và có 16
luật sư thành viên.
Năm 1986, Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã tác
động sâu rộng đến mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tư
pháp. Các đạo luật về tố tụng được ban hành theo hướng mở rộng dân chủ
trong tố tụng, tăng cường bảo đảm quyền bào chữa, bảo vệ quyền, lợi ích
7


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

hợp pháp của cá nhân, tổ chức trước Toà án và các cơ quan tiến hành tố
tụng khác.
Trong bối cảnh đó, Pháp lệnh tổ chức luật sư đầu tiên được ban
hành ngày 18/12/1987. Đây là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịch sử trong
việc khôi phục nghề luật sư và mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật
sư ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Pháp lệnh tổ chức luật sư quy định
tiêu chuẩn để được công nhận là luật sư, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực
giúp đỡ pháp lý của luật sư. Pháp lệnh cũng qui định về việc tổ chức các
đoàn luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chỉ sau gần 10
năm, ở hầu hết ở các tỉnh, thành phố đã thành lập được đoàn luật sư, với
đội ngũ luật sư lên tới hàng nghìn người. Hoạt động nghề nghiệp luật sư
cũng đã có bước phát triển đáng kể. Ngoài việc tham gia tố tụng, các luật
sư đã từng bước mở rộng hoạt động nghề nghiệp sang lĩnh vực tư vấn
pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác.
Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã đề ra
những chủ trương, biện pháp cải cách mạnh mẽ về tổ chức, hoạt động của
các hệ thống chính trị, trong đó có việc đổi mới tổ chức hoạt động lập
pháp, hành pháp và tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước
pháp quyền và thúc đẩy quá trình hội nhập của đất nước. Pháp lệnh luật sư
năm 2001 đã được ban hành. Nội dung của Pháp lệnh thể hiện quan điểm
cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động luật sư theo hướng chính quy hoá,
chuyên nghiệp hoá đội ngũ luật sư, nghề luật sư, tăng cường vai trò tự
quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, tạo cơ sở pháp lý cho
quá trình hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam. Với nội dung tiến
bộ, phù hợp với yêu cầu khách quan, Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã
nhanh chóng đi vào cuộc sống. Chỉ sau 5 năm thi hành Pháp lệnh, đội ngũ
luật sư đã tăng đáng kể cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, đã thành
lập trên 1.000 tổ chức hành nghề là các văn phòng luật sư, các công ty
luật hợp danh. Trong tham gia tố tụng, nhiều luật sư đã dần khẳng định
trình độ chuyên môn, bản lĩnh nghề nghiệp khi tham gia tranh tụng tại các
phiên tòa. Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư cũng đã có bước phát
triển đáng kể, đặc biệt là tư vấn cho khách hàng trong các lĩnh vực đầu tư,
kinh doanh, thương mại ngày càng nhiều và ngày càng nâng cao về chất
lượng dịch vụ. Có thể nói Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã tạo một bộ mặt
8


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

mới với triển vọng phát triển mạnh mẽ nghề luật sư đáp ứng yêu cầu hội
nhập kinh tế – quốc tế ở Việt Nam.
Việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại quốc tế (WTO) đã tạo
ra vị thế và những cơ hội mới phát triển đất nước, đồng thời cũng đặt ra
những thách thức mới to lớn cho Đảng, Nhà nước và nhân dân, trong đó
có nhiệm vụ quan trọng là phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật và các thiết chế cùng với cơ chế vận hành theo lộ trình phù hợp với
các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Trong các năm 2005, 2006,
2007, Việt Nam đã ban hành một số lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay
thế các đạo luật không còn phù hợp, trong đó có Luật Luật sư được Quốc
hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2007
thay thế Pháp lệnh luật sư năm 2001.
Luật Luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật
sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng đội ngũ luật sư, nghề
luật sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với nghề luật sư ở các nước
tiên tiến trên thế giới. Đặc biệt Luật Luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ
thống các tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương tới các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Có thể nói, Luật Luật sư là mốc
son đánh dấu một bước phát triển và hoàn thiện của Hệ thống pháp luật ở
Việt Nam, và qua đó mở ra nhiều triển vọng, vị thế mới cho nghề luật sư ở
Việt Nam.
III.

Vai trò của nghề luật sư tại Việt Nam
Luật sư và nghề luật sư đang là một nghề trỗi dậy, trở thành một
trong các yếu tố không thể thiếu được trong phát triển kinh tế thị trường
cũng như xây dựng Nhà nước pháp quyền; ít có một nghề nghiệp nào lại
có được vị trí và vai trò như vậy trong xã hội. Đội ngũ luật sư ngày càng
tham gia tích cực vào các vụ án chỉ định theo yêu cầu của các cơ quan tiến
hành tố tụng; cũng như trợ giúp pháp lý miễn phí. Hoạt động của luật sư
dần mang tính chuyên nghiệp, hình thành đội ngũ luật sư tranh tụng các
vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính; tham gia tư vấn cho
doanh nghiệp, xây dựng và tuyền truyền pháp luật. Đặc biệt là việc hình
thành đội ngũ luật sư tham gia tư vấn và tranh tụng quốc tế. Tính chuyên
môn hóa và chuyên nghiệp hóa của đội ngũ luật sư đã được khẳng định và
9


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

từng bước được củng cố, tạo lập sự uy tín trong việc cung cấp dịch vụ
pháp lý với cộng đồng xã hội.
Đội ngũ luật sư ở tất cả các cấp từ Trung ương tới địa phương
cũng đã được tin tưởng mời tham gia vào các ban soạn thảo và tổ biên tập
để góp ý xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Năm
2012, Liên đoàn luật sư Việt Nam cũng đã đóng góp tích cực trong việc
sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư 2006, Bộ Luật Tố tụng Hình sự, Bộ Luật
Hình sự, Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, tham gia vào Đề án
30 của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn III với việc rà soát thủ tục hành
chính ở 3 lĩnh vực: chứng thực, quốc tịch, xuất nhập cảnh... Qua đó, góp
phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ công lý, xây dựng nhà nước pháp
quyền, phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
C.

KẾT LUẬN

Nghề luật sư ở Việt Nam đang từng ngày đạt được những bước phát triển
đáng ghi nhận, vai trò của nghề luật sư trong xã hội ngày một được nâng cao,
chất lượng uy tín của luật sư ngày một lớn hơn, hoạt động hành nghề của luật sư,
các tổ chức hành nghề luật sư ngày càng phát triển theo hướng chuyên nghiệp
hóa. Góp phần tích cực trong công cuộc bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, công dân, các tổ chức kinh tế - xã hội,
góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội. Nghề Luật sư đòi hỏi mỗi người cần phải có có lòng tin và niềm đam mê sắt
đá để có thể học tập trau dồi kiến thức,kinh nghiệm, có một cái nhìn khách quan,
đúng đắn, luôn hướng thiện và chính trực. Là một sinh viên trường Đại học
Luật, một luật gia tương lai, em sẽ luôn cố gắng học tập tốt, rèn luyện tốt để
xứng đáng với những thế hệ đi trước, xứng đáng với sự kính trọng của xã hội
dành cho nghề Luật sư nói riêng, nghề Luật nói chung.

10


Nguyễn Đình Đức – 422035 – Nhóm 07

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật luật sư năm 2006
2. “Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị
về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”
3. “Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ Chính trị
về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”
4. Ngô Văn Hiệp (2014), “Lịch sử hình thành nghề luật sư”, Tạp chí luật sư
Việt Nam, (07)
5. Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hòa (2015), Lịch sử nghề Luật sư ở Việt
Nam, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, TP. HCM.
6. Trương Anh Tú (2013), Thăng trầm nghề luật sư ở Việt Nam, Diễn đàn
Dân trí Việt Nam. Cập nhật ngày 25/12/2017.
7. Từ điển Luật học
8. Phạm Hòa Việt (2008), “Lịch sử nghề luật sư ở Việt Nam”, Hà Nội.
9. www.danluat.thuvienphapluat.vn/luat-su-va-luat-gia-136042.aspx. Cập
nhật ngày 25/12/2017.

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×