Tải bản đầy đủ

BTL Hành chính_Bạo hành trẻ em, thực trạng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện_8đ

Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

MỤC LỤC

MỤC LỤC.................................................................................................................... 1
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 2
PHÂN TÍCH................................................................................................................. 3
Câu 1: Phân tích các quy định của pháp luật về vi phạm hành chính liên quan
đến bạo hành trẻ em trong trường học...................................................................3
1.

Bạo hành trẻ em là gì?................................................................................3

2.

Phân tích các quy định của pháp luật về vi phạm hành chính liên quan

đến bạo hành trẻ em trong trường học...............................................................4
Câu 2. Bình luận về thực tiễn vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính
liên quan đến bạo hành trẻ em trong trường học..................................................9
1.


Thực tiên vi phạm hành chính liên quan đến bạo hành trẻ em trong

trường học............................................................................................................9
2.

Xử lý vi phạm hành chính liên quan đến bạo hành trẻ trong trường

học. ……………………………………………………………………………..12
Câu 3. Đề xuất giải pháp hạn chế vi phạm hành chính liên quan đến bạo hành
trẻ em trong trường học........................................................................................13
KẾT LUẬN................................................................................................................15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................16

1


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

MỞ ĐẦU
Hồ Chủ tịch từng nói:
“Trẻ em như bút trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”.
Là một vị lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, bận trăm công nghìn việc nhưng
Bác luôn dành một góc trái tim mình, một tình yêu đặc biệt cho các cháu thiếu
nhi. Bác ví trẻ em như “búp trên cành”, diễn tả rất thực tế tâm sinh lý của trẻ: là
giai đoạn mới bắt đầu, còn non nớt, trong trắng, tinh khiết. Không ít những nhà
thơ, nhạc sĩ, đã đem tài năng, công sức của mình, viết lên những ca từ thật hay
về trẻ em như bài thơ “Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai” của nhà thơ Phùng
Ngọc Hùng được nhạc sĩ Lê Mây phổ nhạc, mang thông điệp vĩnh cửu, sống
cùng thời gian.
Thật vậy, cây cao bóng cả bắt đầu từ mầm non bé bỏng, tương tự như
cuộc đời con người cũng phải bắt đầu từ tuổi ấu thơ. Muốn một đứa trẻ thành
người thì phải nâng niu, chăm sóc từ khi nằm nôi. Nó hơi khác với quan niệm
của ông bà ta: “Cha mẹ sinh con trời sinh tính”, khoa học và thực tế đã chứng
minh rằng giáo dục có vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển
nhân cách một con người. Trong đó, giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên của
hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền móng cho sự phát triển thể chất, nhận thức,
tình cảm xác hội và thẩm mỹ cho trẻ em1.
Cùng với sự phát triển của toàn ngành, giáo dục mầm non ở nước ta đã và


đang có được sự quan tâm đúng mức của các cấp chính quyển. Đảng ta xác định,
giáo dục mầm non là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài trong việc phát triển
nguồn nhân chất lượng cao cho đất nước2. Do vậy, trong những năm qua, giáo
dục mầm hon đã có những chuyển biến tích cực, số lượng trường mầm non được
xây mới không ngừng tăng lên, ngoài trường cong thì số lượng trường tư và dân
1 Xem Quyết định số 1981/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
2 PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ (2017), “Một số quan điểm cơ bản của Đảng về giáo dục – đào tạo trong thời kỳ đổi
mới”, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, < http://www.dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-vedang/lich-su-dang/books-310520153565356/index-41052015349445663.html>, truy cập ngày 1/6/2018.

2


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

lập cũng tăng nhanh đáng kể với sự đầu tư trang thiết bị dạy học ngày càng tiên
tiến, hiện đại.
Bên cạnh những thành tích đáng ghi nhận, thì giáo dục mầm non cũng tồn
tại nhiều bất cập. Số lượng trường tư tăng nhanh dẫn đến việc khó quản lý chất
lượng giáo dục trong đào tạo. Ở một số nơi, đặc biệt ở các thành phố lớn, sự
quản lý vẫn còn lỏng lẻo khiến tình trạng bạo lực ở trẻ mầm non tư thục, dân lập
gia tăng nhanh chóng, gây hoang mang, nhức nhối cho cộng đồng những năm
gần đây. Bạo hành trẻ em để lại những ảnh hưởng nặng nề đến sự phát triển tâm
lý của trẻ, có thể làm hỏng cả một con người, trong khi chính các em lại là
những chủ nhân tương lai của đất nước.
Để tìm hiểu kỹ hơn về thực trạng, nguyên nhân bạo hành trẻ em tại các
trường mầm non tư thục, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hạn chế, khắc
phục, em xin chọn đề bài số 01 làm chủ đề cho bài tập học kỳ của mình.

PHÂN TÍCH
Để làm rõ vấn đề này, em xin trả lời theo trình tự các câu hỏi của đề bài:
Câu 1: Phân tích các quy định của pháp luật về vi phạm hành chính liên
quan đến bạo hành trẻ em trong trường học.
1. Bạo hành trẻ em là gì?
Theo định nghĩa của Tổ chức sức khỏe Thế giới (WHO), bạo hành trẻ em
bao gồm tất cả những hành vi đối xử tệ bạc về thể chất hay tinh thần, xâm hại
tình dục, lợi dụng hay bỏ bê, dẫn đến nguy hại hay khả năng nguy hại đối với
sức khỏe, nhân phẩm, hay sự phát triển của đứa trẻ. Bạo hành có thể được thực
hiện bởi cha mẹ, người trông nom, hay một đứa trẻ lớn hơn,…
Một đứa trẻ bị bạo hành không chỉ bị tổn thương ngay tại thời điểm đó mà
còn gây ra những hệ quá lâu dài về sau. Có thể chấn thương về thể chất, gây
thương tích, tàn tật, dẫn đến căng thẳng làm suy yếu sự phát triển của trí não và
làm tổn thương hệ thống thần kinh và miễn dịch. Nó liên quan trực tiếp đến
3


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

chậm phát triển nhận thức, học hành chểnh mảng và bỏ học, các vấn đề về sức
khỏe tinh thần, trầm cảm, thúc đẩy suy nghĩ nỗ lực tự tử, tự gây thương tích cho
bản thân…
“Child maltreatment has enormous immediate and long-term
repercussions. Beyond death, physical injury and disability, violence can lead to
stress that impairs brain development and damages the nervous and immune
systems. This in turn is associated with delayed cognitive development, poor
school performance and dropout, mental health problems, suicide attempts,
increased health-risk behaviours, revictimization and the perpetration of
violence.”3
Từ định nghĩa trên, có thể phân bạo hành trẻ em thành 5 dạng:






Bạo hành thể chất (Physical abuse)
Bạo hành tình dục (Sexual abuse)
Bạo hành tâm lý (Phychological/Emotional abuse)
Bỏ bê (Neglect and negligent treatment)
Lạm dụng (Exploitation)

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho
biết trung bình mỗi năm, tại Việt Nam có khoảng hơn 2000 trẻ em bị bạo lực, bị
xâm hại ở mức độ nghiêm trọng. Có thể thấy đâu đó lối mòn suy nghĩ sai lệch
câu nói của thế hệ đi trước: “thương cho roi cho vọt” hiện hữu rất rõ ràng, nó
rúng lên hồi chuông báo động cho gia đình và xã hội về tương lai của những
mầm non đất nước.
2. Phân tích các quy định của pháp luật về vi phạm hành chính liên
quan đến bạo hành trẻ em trong trường học
Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi
phạm quy định về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định
của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính.4
Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay
không, cần xác định các dấu hiệu pháp lý của các yếu tố cấu thành loại vi phạm
3 World Health Organization, Child maltreatment,
http://www.who.int/violence_injury_prevention/violence/child/en/, truy cập ngày 1/6/2018.
4 Xem khoản 1 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

4


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

pháp luật này. Những dấu hiệu này được mô tả trong các văn bản pháp luật quy
định về vi phạm hành chính, hình thức và biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
Giống như bất kỳ loại vi phạm pháp luật nào, vi phạm hành chính được cấu
thành bởi 4 yếu tố bao gồm mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan và khách
thể.5
Khoản 1 điều 37 Hiến pháp có quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia
đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáp dục; được tham gia vào các vấn đề về
trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột
sức lao đọng và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em.” Là một đạo luật
mẹ, như cái xương sống của hệ thống pháp luật Việt Nam, Hiến pháp quy định
một cách chung nhất, cơ bản nhất các mối quan hệ xã hội. Từ đó phát triển lên
thành những đạo luật chuyên ngành, quy định cụ thể, rõ ràng hơn về cách xử sự
của mỗi người trong một mối quan hệ pháp Luật. Trong bối cảnh hội nhập sâu
rộng hơn với quốc tế, Hiến pháp 2013 đã có nhiều điểm mới, tích cực, phù hợp
hơn với luật pháp quốc tế. Lần đầu tiên trong lịch sử quyền con người được ghi
nhận trong Hiến pháp, quyền trẻ em được quan tâm hơn từ đó Luật trẻ em 2016
ra đời.
Khoản 6 Điều 4 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Bạo lực trẻ em là
hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc
phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn
hại về thể chất, tinh thần của trẻ em.”6
Trên tinh thần các quy định của Hiến pháp, công ước quốc tế và luật trẻ
em 2016, cơ quan hành pháp vẫn rất nỗ lực để đưa các quy định này vào thực tế,
tiếp cận gần hơn với các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo trong sự nghiệp giáo dục
để các mầm non của đất nước được sống và lớn lên trong sự yêu thương, quan
tâm đùm bọc của gia đình và xã hội, để sau này trở thành một công dân có ích.
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu giáo dục của xã hội, rất nhiều trường mầm
non tư thục được mở ra. Nó không chỉ giảm bớt áp lực trong ngành giáo dục mà
còn tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn giáo viên mầm non. Tuy nhiên, chính vì
5 Trường đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội,
tr. 337.
6 Xem điều 4 Luật trẻ em năm 2016.

5


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

sự phát triển một cách quá tràn lan khiến việc kiểm soát vấp phải nhiều khó
khăn, tạo điều kiện để những hành vi xấu trong nền giáo dục phát triển. Đáng
báo động nhất vẫn là các hành vi bạo hành trẻ em xuất hiện tại các cơ sở giáo
dục mầm non dân lập. Không ít những nghị định của chính phủ được ban hành
nhằm giải quyết vấn nạn này nhưng có vẻ vẫn chưa đi sâu vào tiềm thức, lối
hành xử của con người, đặc biệt là một bộ phận giáo viên mầm non khiến vấn đề
này vẫn còn tiếp diễn.
Theo quy định tại Điều 27 Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29
tháng 10 năm 2013 của Chính phủ:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng đối với hành vi ngăn
cản trẻ em tham gia hoạt động xã hội, sinh hoạt cộng đồng hợp pháp, lành
mạnh.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các
hành vi sau đây:
a) Xâm phạm thân thể, gây tổn hại về sức khỏe đối với trẻ em;
b) Bắt nhịn ăn, nhịn uống, không cho hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân; bắt
sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc các hình thức đối xử tồi tệ
khác với trẻ em;
c) Gây tổn thương về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng
nhục, chửi mắng, đe dọa, làm nhục, cách ly, sao nhãng ảnh hưởng đến sự phát
triển của trẻ em;
d) Dùng các biện pháp trừng phạt để dạy trẻ em làm trẻ em tổn thương,
đau đớn về thể xác, tinh thần;

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc chịu mọi chi phí để khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) cho trẻ em
đối với hành vi vi phạm tại Khoản 2 Điều này;
b) Buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe trẻ em đối với hành vi vi
phạm tại Điểm đ Khoản 2 Điều này;

6


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

c) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm
tại Khoản 3 Điều này”7.
Có thể nói, đây có lẽ là Nghị định quy định một cách cụ thể nhất về việc
xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi bạo hành trẻ em nói chung. Quyền
trẻ em được ghi nhận cũng là lúc các chủ thể khác phải có nghĩa vụ tôn trọng.
Khách thể mà đa số các quy định về trẻ em đặt ra đều là sự phát triển tốt cả về
mặt thể chất lẫn tinh thần của một đứa trẻ, mọi đối tượng trong xã hội đều phải
tôn trọng và tạo điều kiện tốt nhất để trẻ em có thể hưởng được quyền lợi hợp
pháp này. Chế tài nặng nhất có thể áp dụng xử lý trong điều 27 là 15 triệu đồng,
nó có thể đạt một hiệu quả nhất định trong việc ngăn ngừa những hành vi tương
tự xảy ra trong đời sống xã hội, nhưng vẫn chưa giải quyết được điều cần quan
tâm nhất là trạng thái ổn định về thể chất, tinh thần mà các em và gia đình phải
gánh chịu sau mỗi lần bị bạo hành.
Bên cạnh đó, Điều 21 Nghị định 138/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục quy định cụ thể:
“1. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi kỷ
luật buộc người học thôi học không đúng quy định.
2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi xúc
phạm danh dự, nhân phẩm, ngược đãi, xâm phạm thân thể người học.
3. Hình thức xử phạt bổ sung: Đình chỉ giảng dạy từ 1 tháng đến 6
tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều này.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc hủy bỏ các quyết định trái pháp
luật và khôi phục quyền học tập của người học đối với hành vi vi phạm quy định
tại Khoản 1 Điều này”
Để ngăn ngừa những tình trạng bạo hành trẻ em trong các trường học,
việc ban hành ra các quy phạm hành chính nhằm xử lý các hành vi chỉ là biện
pháp tình thế, chưa chạm đến căn nguyên của vấn đề. Để đạt được hiệu quả quản
lý cao nhất, chúng ta nên có những biện pháp chọn lọc, đào tạo những thế hệ
giáo viên có đạo đức, nhân phẩm tốt, đáp ứng đủ các yêu cầu gắt gao đối với
7 Xem tại Điều 27 Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2013 của Chính Phủ.

7


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

nghề nghiệp giáo dục. Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ giáo dục và
Đào tạo về việc ban hành các quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm
non đã phần nào giải quyết được vấn đề này. Theo đó, tại Chương 2 có quy định
về “Các yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non”. Cụ thể từ các yêu
cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống đến yêu cầu về kiến
thức, kỹ năng sư phạm, có lẽ sẽ tạo nên một hành lang pháp lý vững chắc, để
những đứa trẻ được dạy dỗ, nuôi nấng trong vòng tay của cha mẹ và các thầy cô
đủ đức, đủ tài, đủ lòng yêu thương và tận tâm với nghề. Đã có sự phấn đấu thì
phải có sự thi đua, nó sẽ là động lực rất lớn để các thầy cô tiếp tục cố gắng trau
dồi kiến thức, bớt đi sự nhàm chán trong công việc mà từ đó ngày càng đạt được
nhiều thành tích mới trong quá trình giảng dạy.
Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính gồm: Thanh tra Lao động Thương binh và Xã hội, Thanh tra Y tế, Thanh tra Giáo dục và Đào tạo, Thanh
tra Giao thông vận tải, Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch , Thanh tra
Thông tin và Truyền thông, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; Quản lý thị
trường; Công an nhân dân. So với nghị định 91/2011/NĐ-CP, nghị định này đã
có sự phân chia rõ ràng, chặt chẽ hơn đối với những chủ thể có thẩm quyền xử lí
vi phạm hành chính về bạo hành trẻ em, cụ thể đó là quản lí thị trường và công
an nhân dân, cùng với đó là sự bổ sung và quy định rõ những thanh tra chuyên
môn để xử phạt hiệu quả, hợp lí hơn. Có thể thấy, ở nghị định 91/2011/ NĐ-CP
thì 3 chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính rất hạn chế, Thanh tra
Lao động - Thương binh và Xã hội; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp đều là
những cá nhân, những chủ thể này sẽ khó đảm bảo tính công bằng, minh bạch
như một tổ chức, cùng với 2 chủ thể trên là Công an nhân dân, Bộ đội biên
phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, cơ quan Thuế, Quản lý thị trường và Thanh tra
chuyên ngành khác.
Tuy nhiên, các chủ thể có thẩm quyền xử lí vi phạm hầu hết không có sự
liên quan trực tiếp đến đối tượng của hành vi bạo hành nên khó nắm bắt, theo
dõi hành vi vi phạm kém hiệu quả và thiếu triệt để. Những hành vi bạo hành trẻ
em trong trường học rất phức tạp do đó cần có một cơ quan chuyên trách để xử
8


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

lí đúng hành vi bạo hành. Khắc phục được những thiếu xót, bất cập còn tồn tại
đó, nghị định 144/2013/ NĐ-CP đã phân chia thành các thanh tra chuyên
ngành, ví dụ: thanh tra y tế sẽ có những nhận định chuyên sâu để đưa ra các
chuẩn đoán tỉ lệ thương tật rõ ràng, từ đó mà các cơ quan xử phạt phân định
chính xác với mức độ thương tật đó, hành vi vi phạm của đối tượng có phải là
hành vi vi phạm hành chính hay hình sự (trong trường hợp mức tổn thương thể
chất là 31 % theo BLHS 2015 quy định).

Câu 2. Bình luận về thực tiễn vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành
chính liên quan đến bạo hành trẻ em trong trường học.
1. Thực tiên vi phạm hành chính liên quan đến bạo hành trẻ em
trong trường học
Tại Việt Nam, khoảng 20% trẻ em gái và trẻ em trai 8 tuổi nói rằng
các em bị trừng phạt thân thể ở trường. Khoảng 16% (tương đương 1,7 triệu) trẻ
em độ tuổi 5-17 được coi là lao động trẻ em. Trong đó có 7,8% làm việc trong
các điều kiện nguy hiểm.
Theo UNICEF, trong giai đoạn 2011-2015 ở Việt Nam đã ghi nhận
5.300 vụ việc xâm hại tình dục trẻ em, chủ yếu là trẻ em gái. Hiện tượng bạo
hành trẻ em trong nhà trường đang có xu hướng gia tăng cả về số lượng cũng
như tính chất nghiêm trọng. Theo số liệu thống kê từ đường dây nóng của Cục
Bảo vệ - Chăm sóc trẻ em cho thấy, sự xâm hại và bạo lực đối với trẻ em trong
gia đình tăng gấp 3 lần; tại cộng đồng tăng 7 lần và trong trường học tăng 13 lần
so với nhiều năm về trước. Những địa phương xảy ra nhiều vụ xâm hại trẻ em
nhất gồm: Hà Nội, Đồng Nai, Đắc Lắc, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Bắc
Giang... Tuy nhiên, trên thực tế số vụ xâm hại, ngược đãi trẻ em còn cao hơn
nhiều.
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong thời gian vừa qua có
khoảng gần 20 vụ bạo hành học sinh đã xảy ra liên tiếp tại nhiều tỉnh, thành
trong cả nước, 10 địa phương xảy ra các vụ bạo hành điển hình là Hà Nội có 5
vụ, Thành phố Hồ Chí Minh có 3 vụ, Đồng Tháp 2 vụ, Thanh Hóa 2 vụ, Hải
9


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

Phòng, Nghệ An, Vĩnh Phúc, Trà Vinh, Kon Tum, Đắc Lắc mỗi nơi có 1 vụ và
trong năm học 2008 - 2009, cả nước đã có 46 giáo viên vi phạm đạo đức nhà
giáo, trong đó có 9 người bị buộc thôi việc.
Có một thực trạng chung từ trẻ em qua các vụ bạo hành là các em gần
như không báo với bố mẹ chuyện này, thậm chí khi được hỏi đến, ngoài các
trạng thái tâm lý sợ hãi thì các em có vẻ cũng không muốn chia sẻ với các bậc
phụ huynh. Nó lại càng làm cái xấu có cơ hội để phát triển hơn nữa. Vậy lý do là
do đâu?
“Khi nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em, các công trình chủ yếu
nghiên cứu đề cập đến các nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em diễn ra
trong mối quan hệ giữa trẻ với trẻ trong môi trường học đường. Có rất ít công
trình nghiên cứu đề cập đến nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong
mối quan hệ giữa giáo viên với trẻ em.”8
Ý kiến của một số chuyên gia Nhật cho rằng “Thay vì đặt ra những
hình phạt nghiêm khắc, các phụ huynh cần điều chỉnh lại cách sống của mình.
Bởi ngày nay ba mẹ cố gắng chăm lo đời sống vật chất của các con sao cho đầy
đủ nhất, nhưng lại quên mất chuyện nâng niu trái tim và tâm hồn con mình9”.
Về phía quan điểm cá nhân, em coi đây là một trong những nguyên nhân chính
khiến trẻ em liên tục bị bạo hành trong thời gian qua. Các bậc phụ huynh dần bị
xoáy theo guồng quay của đời sống xã hội, cơm áo gạo tiền mà thường phó mặc
việc giáo dục con trẻ cho nhà trường. Con còn nhỏ, bố mẹ cũng chưa ổn định
được về tài chỉnh, thường hay đi sớm về khuya. Nhiều phụ huynh kiến nghị với
ban giám hiệu các trường mầm non tư thục mở thêm dịch vụ trông trẻ ngoài giờ
hành chính để họ có thể yên tâm công tác. Có những hôm em để ý thấy có
những phụ huynh 21 giờ tối mới đón con về vì lý do… “quên”. Tất nhiên những
hành vi đó có thể được xuất phát từ chính sự yêu thương con cái của họ, mong
muốn đáp ứng cho những đứa trẻ có cuộc sống đầy đủ, nhưng nó vô tình khiến

8 Trịnh Viết Then, Trần Tuấn Lộ (2017), Nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Trường đại học Văn Hiến.
9 Trần Thị Minh Đức (2009), Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lý học xã hội, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.

10


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

các em dần xa lánh gia đình, khiến giáo viên trở nên mệt mỏi, khó chịu từ đó
dẫn đến những hành vi bạo hành.
Tuy nhiên, còn rất nhiều nguyên nhân khác tác động dẫn đến mức độ
bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non khác nhau như sinh lý học, tâm lý
học hành vi10, mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non có khi là sự
tác động đồng thời của rất nhiều nguyên nhân, nhóm nguyên nhân khác nhau.
Khi những nguyên nhân, nhóm nguyên nhân này xảy ra, tác động đến giáo viên,
trẻ em, các lực lượng giáo dục khác trong trường mầm non làm nảy sinh những
cảm xúc, hành vi tiêu cực và làm xuất hiện những hành vi bạo lực đối với trẻ em
giữa giáo viên đối với trẻ, giữa trẻ đối với trẻ hay tự trẻ gây ra và giữa lực lượng
giáo dục khác đối với trẻ, dẫn đến những mức độ bạo lực đối với trẻ em trong
trường mầm non. Do đó, nếu giáo viên, lực lượng giáo dục khác có sự nhận
thức, nhìn nhận, đánh giá đầy đủ và chính xác về mức độ tác động của các
nguyên nhân đến mức độ bạo lực đối với trẻ em trong trường mầm non thì giáo
viên, và các lực lượng giáo dục khác có những thái độ, cách ứng xử phù hợp với
các nguyên nhân tác động, từ đó hạn chế được những cảm xúc, hành vi tiêu cực
dẫn đến bạo lực đối với trẻ em trong hoạt động nghề nghiệp của mình. Đây là cơ
sở để có thể xây dựng các chuyên đề tập huấn cho giáo viên, các lực lượng giáo
dục khác nhằm giúp họ nhận biết được các nguyên nhân dẫn đến mức độ bạo lực
đối với trẻ em trong trường mầm non, từ đó có thể phòng ngừa, giảm thiểu hành
vi bạo lực đối với trẻ em và giảm thiểu những hậu quả của bạo lực đối với trẻ
em tại trường mầm non trong giai đoạn hiện nay.
2. Xử lý vi phạm hành chính liên quan đến bạo hành trẻ trong
trường học.
Nghị định 144/2013/NĐ-CPquy định xử phạt chung vi phạm hành
chính liên quan đến bạo hành trẻ em trong trường học:
Theo Điều 27 Nghị định 144/2013/NĐ-CP quy định chế tài xử phạt
đối với hành vi ngược đãi; lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; ngăn cản trẻ em
10 Nguyễn Thị Hương (2011), Nghiên cứu hành vi bạo lực ở học sinh thiếu niên với bạn cùng lứa, Luận văn
Thạc sỹ Tâm lý học, Trường đại học Sư phạm Hà Nội.

11


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

tham gia hoạt động xã hội thì phạt tiền từ 5.000.000đ đến 10.000.000đ đối với
các hành vi xâm phạm thân thể, gây tổn hại sức khỏe trẻ em, gây tổn thương về
tinh thần, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, lăng mạ xúc phạm,...Tuy nhiên, so với
những sang chấn tâm lí, tổn hại về cả thể chất lẫn tinh thần cũng như những di
chứng khó lường của trẻ, thì mức phạt hành chính như vậy còn hạn chế, kém
hiệu quả, và cứng nhắc.
Theo Điều 34 Nghị định 144/2013/NĐ-CP quy định về hành vi vi
phạm hành chính của cơ sở có chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, quy định cụ thể về
mức phạt tiền với một tổ chức thì đó chưa thực sự hiệu quả, cần phải tăng mức
hình phạt hơn nữa vì việc tổ chức sai trái không phải chỉ ảnh hưởng một người
mà ảnh hưởng đến cả một thế hệ, do đó cần có những biện pháp cứng rắn hơn
nữ vì hậu quả mà việc tổ chức thiếu hiệu quả gây ra là rất lớn.
Thực tế cho thấy, hầu hết các hành vi vi phạm bạo hành trẻ em ở trong
trường học đều có hình thức xử lý nhẹ hơn so với quy định thực tế. Nếu không
giải quyết triệt để vấn đề này thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín của nhà trường, phụ
huynh học sinh mất niềm tin vào giáo viên và môi trường học tập của trường.
Ngoài ra, mặc dù đã có những vụ việc đã được xử lý nhưng tình trang bạo hành
trẻ em vẫn diễn ra, do vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ của cơ quan chức năng,
nhà chức trách có thẩm quyền và trong nhà trường, để giải quyết nhanh chóng,
triệt để nạn bạo hành trẻ em. Chấm dứt hoàn toàn các bạo hành để trẻ em được
phát triển trong môi trường an toàn, lành mạnh.
Câu 3. Đề xuất giải pháp hạn chế vi phạm hành chính liên quan đến bạo
hành trẻ em trong trường học.
Từ nguyên nhân, điều kiện để bạo hành trẻ em phát triển, từ thực tế quản
lý hành chính trong lĩnh vực giáo dục, để hoạt động bảo vệ trẻ em, ngăn chặn
hành vi bạo hành trẻ em có hiệu quả, pháp luật cần có những quy định, biện
pháp, chế tài nghiêm khắc, chặt chẽ và hiệu quả hơn. Đồng thời cần đẩy mạnh
hơn nữa việc tuyên truyền pháp luật, nâng cao ý thức trách nhiệm, sự chung tay
góp sức của cá nhân, các tổ chức xã hội.
12


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

Với các cấp chính quyền:




Phân cấp quản lý các nhóm trẻ, nhà trẻ, trường mầm non ngoài

công lập. Quy định rõ trách nhiệm của các cấp quản lý, cấp phép hoạt động đối
với các cơ sở nuôi dạy trẻ. Những đơn vị không đủ điều kiện cơ sở vật chất và
nhân lực sẽ không được cấp phép hoặc buộc ngưng hoạt động, thắt chặt công tác
quản lý. Tăng cường công tác thanh tra, giám sát của các cơ quan chức năng tại
các nhóm trẻ, nhà trẻ, trường mầm non. Buộc ngưng hoạt động các cơ sở không
đủ điều kiện tiêu chuẩn hoặc vi phạm điều lệ, quy chế trường mầm non.


Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng định kỳ nhằm nâng cao năng lực

chuyên môn nghiệp vụ trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ cho
cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên tại các cơ sở ngoài công lập.


Các cơ quan chức năng cần nghiên cứu và đưa ra những chế tài đủ

mạnh nhằm răn đe, ngăn ngừa những hành vi hành hạ, bạo hành trẻ theo cấp, từ
quản lý đến giáo viên, nhân viên khi xảy ra bạo hành trẻ.

Khuyến khích sự giám sát của quần chúng nhân dân tại địa bàn dân
cư đối với hoạt động của nhóm trẻ, nhà trẻ, trường mầm non ngoài công lập.

Các cấp quản lý có sự hỗ trợ, kết hợp, quan tâm tới nhà trường,
tuyển chọn giáo viên có đủ trình độ, năng lực và phẩm chất trong công tác giáo
dục mầm non.

Cần có sự phối hợp và giúp đỡ của các cơ quan chức năng, tổ chức
chính phủ và phi chính phủ, các nhóm công tác, trợ giúp xã hội trong việc tổ
chức, quản lý và hoạt động của các nhóm trẻ, nhà trẻ, trường mầm non ngoài
công lập nói chung và kiểm soát hành vi bạo hành trẻ nói riêng.

Xử lý nghiêm các trường hợp bạo hành, xâm hại đến trẻ.

Với nhà trường:

Giáo viên, nhân viên, cần nâng cao ý thức, trách nhiệm và kiểm
soát hành động của mình đối với trẻ, không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp
vụ trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục giúp trẻ phát triển toàn diện
về thể chất và tâm lý. Các nhà quản lý tại các cơ sở nuôi dạy trẻ ngoài công lập
cần quản lý chặt chẽ, giám sát hoạt động của giáo viên và nhân viên, phải đặt

13


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

chất lượng nuôi dạy trẻ lên hàng đầu. Đây cũng chính là yếu tố quyết định sự tồn
tại của cơ sở giáo dục.

Cần đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đảm bảo cho
trường mầm non hoạt động hiệu quả và có chất lượng.

Ban giám hiệu nhà trường cần thường xuyên kiểm tra các hoạt động
chăm sóc và giáo dục trẻ trong mỗi lớp.

Phối hợp với giáo viên, gia đình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ,
đặc biệt là trẻ khó giáo dục.

Sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhằm kiểm soát trực tiếp
hay gián tiếp hoạt động của cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, giúp họ tự ý
thức hơn về những hành vi, hành động của mình đối với trẻ. Ví dụ như yêu cầu
các cơ sở nuôi dạy trẻ phải gắn camera quan sát. Việc này còn giúp ích cho các
bậc phụ huynh những nhà nghiên cứu dễ dàng quan sát, theo dõi tiên trình phát
trình của trẻ, tránh gây phiền toái cho chính các cơ sở nuôi dạy trẻ khi có những
tình huống bất thường, nguy hiểm xảy ra với trẻ.

Với gia đình:

Các bậc phụ huynh cũng cần có ý thức cảnh giác khi gửi con vào
các cơ sở nuôi dạy trẻ ngoài công lập, thường xuyên theo dõi, kiểm tra thân thể
và tâm lý của trẻ. Nếu thấy các em có những biểu hiện, phản ứng bất thường,
cần tìm hiểu rõ nguyên nhân để kịp thời xử lý, tránh để xảy ra những hành vi
bạo hành đáng tiếc xảy ra với trẻ trong một thời gian dài mà không biết. Tình
trạng này sẽ để lại hậu quả không nhỏ cả về mặt thể chất và tâm lý trong tiến
trình phát triển của trẻ.

Bố mẹ cần quan tâm nhiều hơn nữa với con cái, thường xuyên trò
chuyện, chơi với con để hiểu tâm tư, nguyện vọng trẻ.

Phản ánh với nhà trường hoặc các cấp quản lý nếu xảy ra hành vi
bạo lực với con trẻ.

KẾT LUẬN
Để góp phần ngăn chặn nạn bạo hành, xâm hại trẻ em, cần có nhiều giải
pháp, trong đó cần phải tăng nặng chế tài xử phạt. Và cùng với đó là xây dựng
14


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

cơ chế giám sát chặt chẽ hoạt động giáo dục mầm non tư thục, nâng cao tuyên
truyền kiến thức pháp luật trong nhân dân để hạn chế tình trạng xâm hại, bạo lực
với trẻ em từ gia đình, nhà trường đến xã hội.
Trẻ em là đối tượng yếu thế, rất dễ bị tổn thương và chưa có đủ khả năng
để tự bảo vệ bản thân trước những hành vi xâm hại, bạo hành. Các em không
dám lên tiếng tố giác về việc bản thân bị bạo hành để yêu cầu sự bảo vệ, giúp đỡ
từ người xung quanh. Hơn nữa, hậu quả để lại cho các em không chỉ là tổn
thương về mặt thể chất mà còn là tổn thương tinh thần, gây ảnh hưởng rất lớn tới
sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ và khả năng hòa nhập với cộng
đồng. Do đó, rất cần các cơ quan chức năng, cơ quan điều tra phối hợp làm rõ vụ
việc, xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật và có những biện pháp hỗ
trợ trẻ là nạn nhân của bạo hành sớm hồi phục, hòa nhập cuộc sống bình thường.
Để hoạt động bảo vệ trẻ em, ngăn chặn hành vi bạo hành trẻ em có hiệu
quả, pháp luật cần có những quy định, biện pháp, chế tài nghiêm khắc, chặt chẽ
và hiệu quả hơn. Đồng thời cần đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền pháp luật,
nâng cao ý thức trách nhiệm, sự chung tay góp sức của cá nhân, các tổ chức xã
hội.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.

Hiến pháp
Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.
Luật trẻ em 2016.
Công ước LHQ về quyền trẻ em.

5. Nghị định số 144/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2013 của Chính
Phủ.
6. Nghị định 91/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2011 của Chính Phủ.
7. Nghị định 138/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Chính Phủ.
8. Quyết định số 1981/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
9. Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT của Bộ giáo dục và Đào tạo

15


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

10.Trần Thị Minh Đức (2009), Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ tâm lý
học xã hội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
11.Nguyễn Thị Hương (2011), Nghiên cứu hành vi bạo lực ở học sinh thiếu
niên với bạn cùng lứa, Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học, Trường đại học Sư
phạm Hà Nội.
12.Trịnh Viết Then, Trần Tuấn Lộ (2017), Nguyên nhân dẫn đến bạo lực đối
với trẻ em trong trường mầm non trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
Trường đại học Văn Hiến.
13.Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), Giáo trình Luật hành chính Việt
Nam, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội.
14.

PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ (2017), “Một số quan điểm cơ bản của Đảng về
giáo dục – đào tạo trong thời kỳ đổi mới”, Báo điện tử Đảng Cộng sản
Việt Nam, , truy cập ngày 1/6/2018.

15.

World Health Organization, Child maltreatment,
http://www.who.int/violence_injury_prevention/violence/child/en/, truy
cập ngày 1/6/2018.

16


Nguyễn Đình Đức – 422035 – N10_TL2

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×