Tải bản đầy đủ

Ôn tập giáo dục học 2

Ôn tập theo chương
Chương 1:
Câu 1: Cơ cấu tổ chức trong nhà trường THPT?
Cơ cấu tổ chức trong nhà trường THPT gồm:
 Tổ chuyên môn
1. Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng, giáo viên, viên chức làm công tác thư
viện, thiết bị giáo dục, cán bộ làm công tác tư vấn cho học sinh của trường trung
học được tổ chức thành tổ chuyên môn theo môn học, nhóm môn học hoặc nhóm
các hoạt động ở từng cấp học THCS, THPT. Mỗi tổ chuyên môn có tổ trưởng, từ 1
đến 2 tổ phó chịu sự quản lý chỉ đạo của Hiệu trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm
trên cơ sở giới thiệu của tổ chuyên môn và giao nhiệm vụ vào đầu năm học.
2. Tổ chuyên môn có những nhiệm vụ sau:
a) Xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây
dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối
chương trình và các hoạt động giáo dục khác của nhà trường;
b) Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; tham gia đánh giá, xếp loại
các thành viên của tổ theo quy định của Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học và
các quy định khác hiện hành;
c) Giới thiệu tổ trưởng, tổ phó;
d) Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên.
3. Tổ chuyên môn sinh hoạt hai tuần một lần và có thể họp đột xuất theo yêu

cầu công việc hay khi Hiệu trưởng yêu cầu.
 Tổ chủ nhiệm
Bao gồm các giáo viên chủ nhiệm trong cùng một khối lớp, hoặc ghép các khối
( tùy theo quy mô trường ), tổ chủ nhiệm có nhiệm vụ giúp hiệu trưởng tổ chức các
hoạt động giáo dục học sinh thống nhất giữa các lớp trong trường, trao đổi kinh
nghiệm giáo dục, giúp đỡ giáo viên chủ nhiệm nâng cao trình độ sư phạm và hiệu
quả công tác giáo dục học sinh từng lớp, xây dựng mối quan hệ hợp tác hoạt động
giáo dục giữa các lớp học sinh trong khối hoặc trong trường.
 Hội đồng sư phạm
Hội đồng sư phạm bao gồm hiệu trưởng, các hiệu phó, các phó hiệu trưởng, toàn
thể giáo viên, cán bộ chuyên trách đoàn TNCSHCM, tổng phụ trách đội
TNTPHCM, đại diện tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng trong trường, đại
diện hội cha mẹ học sinh. Hội đồng sư phạm là tổ chức tư vấn của iệu trưởng có
nhiệm vụ giúp hiệu trưởng xâu dựng kế hoạch công tác hằng năm, đề xuất biện


pháp thực hiện kế hoạch đào tạo, đánh giá kết quả hoạt động và đề xuất biện pháp
cải tiến công tác của trường.
Hội đồng sư phạm do hiệu trưởng triệu tập, chủ tọa các kỳ họp và sinh hoạt định
kỳ ( 1 lần / 1 tháng hoặc 1 lần / 2 tháng). Hiệu trưởng có thể triệu tập họp bất
thường để bàn bạc, giải quyết các công việc cần thiết của trường.
Câu 2: Mục tiêu, kế hoạch giáo dục THPT ( theo chương trình GDPT mới)?
a.
Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những
phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công
dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp
hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học
lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động; khả năng thích ứng với
những thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp mới.
b. Phẩm chất và năng lực
- Phẩm chất: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm.
- Năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng
lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
- Năng lực chuyên môn: ngôn ngữ, tính toán, tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực
công nghệ, tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất.
c. Kế hoạch giáo dục
Chương trình GDPT được chia thành 2 giai đoạn: giáo dục cơ bản ( 1 đến 9) và
giao đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp ( 10 đến 12).
Hệ thống môn học và hoạt động giáo dục của chương trình GDPT gồm các môn
học và hoạt động giáo dục bắt buộc, các môn học tự chọn.


Thời gian thực học trong một năm học tương đương 35 tuần. các cơ sở giáo dục có
thể tổ chức dạy học 1 buổi/ ngày hoặc 2 buổi/ ngày. Cơ sở giáo dục tổ chức dạy
học 1b/ng hay 2b/ng đều phải thực hiện nội dung giáo dục bắt buộc chung thống
nhất đối với tất cả các cơ sở giáo dục trong cả nước.
Chương 2:
1. Vai trò của người GV THPT
2. Chức năng của người GV THPT
3. Các đặc điểm lao động sư phạm của người giáo viên PTTH
 Đối tượng của lao động sư phạm:


Bất cứ loại hình lao động nào cũng có đối tượng tác động. Vậy lao động sư
phạm của giáo viên có đối tượng tác động rất đặc biệt - đó là nhân cách của học
sinh, dẫn dắt học sinh linh hội tri thức, phát triển trí tuệ, hình thành phẩm chất đạo
đức. Giáo viên dùng trí tuệ và cả nhân cách của mình để tác động tới học sinh
(người học), hay nói cách khác là dùng một nhân cách đã trưởng thành để tác động
tới các nhân cách đang được rèn luyện từng bước trưởng thành.
Đối tượng giáo dục là con người (người học) nên họ không thụ động mà trái
lại có ý thức, có tính tích cực, chủ động, sáng tạo. Vì vậy, thành quả lao động sư
phạm của giáo viên mang lại mà không chỉ phụ thuộc vào đạo đức, trí tuệ, trình độ
nghề nghiệp, nghệ thuật sư phạm của mình mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác như quan hệ thầy trò, khả năng nhận thức hành vi, cách ứng xử, giao tiếp,
trạng thái tâm lí, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh xã hội đặc biệt là nhân cách của
học sinh.
Theo K.Đ.Usinxki: "Muốn giáo dục con người về mọi phương diện thì trước
hết phải hiểu con người về mọi phương diện". Như vậy muốn đạt được hiệu quả
cao trong công tác giảng dạy, giáo viên phải nghiên cứu, nắm chắc các đặc điểm
của đối tượng (học sinh), lựa chọn những tác động sư phạm mềm dẻo, uyển
chuyển, thích hợp với từng đối tượng, phát huy vai trò chủ thể giáo dục của học
sinh, vai trò chủ đạo của mình.
- Đối tượng của LĐSP là con người đang trong giai đoạn phát triển nhân cách:
học sinh.
- Đặc điểm:
+ HS là đối tượng chịu sự tác động từ nhiều phía, bao gồm nhà trường, gia
đình và các lực lượng xã hội.
+ HS vừa là đối tượng vừa là chủ thể chủ động trong sự phát triển nhân cách
của mình


+ HS có đặc điểm tâm lý chung nhưng khác nhau ở những đặc điểm cá tính
riêng của mỗi cá nhân
- Kết luận sư phạm:
+ Giáo viên phải nghiên cứu, nắm chắc các đặc điểm của đối tượng – học
sinh.
+ Lựa chọn những tác động sư phạm mềm dẻo, uyển chuyển, thích hợp với
từng đối tượng, phát huy vai trò chủ thể giáo dục của học sinh, vai trò chủ
đạo của mình.
 Mục đích lao động sư phạm:
- Lao động sư phạm của giáo viên là loại hình lao động có ý nghĩa như là một
yếu tố xã hội góp phần "sáng tạo ra con người", mang tính "khai sáng" cho
con người, từng bước cải biến con người tự nhiên thành con người xã hội,
tạo dựng nên con người đáp ứng yêu cầu của thời đại. Sản phẩm của lao
động đặc thù này cũng tạo ra những nét khác biệt. Đó là loại lao động sản
xuất ra những nhân cách, sản xuất ra giá trị nhân bản với sự tổng hoà của các
mối quan hệ xã hội.
Hình thành và phát triển nhân cách cho HS, chuẩn bị sẳn sàng cho HS bước
vào cuộc sống; thông qua đó góp phần tái sản xuất sức lao động xã hội.
- Căn cứ xác định mục đích
+ Mục tiêu các cấp học, ngành học
+ Đặc điểm tâm sinh lý HS
+ Yêu cầu của xã hội
- Kết luận sư phạm
- Ý nghĩa
+ Giúp GV có cơ sở để xây dựng và lựa chọn nội dung, phương pháp và
hình thức tổ chức hoạt động sư phạm
+ Giúp GV có cơ sở tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả và chất lượng của hoạt
động sư phạm
 Công cụ của LĐSP
Công cụ lao động sư phạm của giáo viên là hệ thống những tri thức, những
kĩ năng, kĩ xảo cần truyền đạt và rèn luyện, những dạng hoạt động và giao
lưu cần tổ chức cho học sinh. Giáo viên có công cụ lao động rất đặc biệt là
trí tuệ, là phẩm chất của chính mình, Nhân cách của giáo viên như một công


cụ lao động thật sự, nó sẽ phát huy tác dụng mạnh mẽ khi giáo viên có uy tín
cao, tức là phẩm chất năng lực, đức và tài của giáo viên có sức thuyết phục
lớn.
- Công cụ lao động sư phạm gồm:
+ Hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo
+ Nhân cách của người giáo viên: tình cảm, tâm hồn, tâm huyết với nghề,
với học sinh.
+ Các phương tiện: đồ dùng dạy học, thiết bị kĩ thuật,..
- Vai trò của các phương tiện kĩ thuật:
+ Giúp HS mở rộng tri thức, tăng hứng thú trong học tập
+ Lao động của GV được giảm nhẹ
+ Tăng hiệu quả của quá trình dạy học
- PT, thiết bị KT DH không thể thay thế người GV, bởi vì
+ Hiệu quả sử dụng phụ thuộc vào năng lực sư phạm của GV.
+ Bản chất của quá trình GD: nhân cách tác động lên nhân cách
+ Không thể phù hợp với tất cả đối tượng và mục đích tác động
- Muốn như vậy, bản thân giáo viên phải có năng lực chọn lọc tri thức cơ bản,
hiện đại, thiết thực, phù hợp với mục tiêu của giáo dục, phải không ngừng tự
nâng cao trình độ về nhiều mặt, hoàn thiện nhân cách, đạo đức, chuyên môn
nghiệp vụ, độc lập, sáng tạo, đặc biệt phải luôn tìm tòi các phương pháp
giảng dạy hiện đại, sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học tiên tiến để
truyền tải kiến thức cho học sinh với con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất.
 Sản phẩm của LĐSP
- Lao động sư phạm của giáo viên tạo ra sản phẩm đặc biệt, đó là nhân cách của
học sinh, do đó nhân cách của học sinh (phẩm chất và năng lực) thể hiện chất
lượng sản phẩm của lao động sư phạm. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và xu
thế toàn cầu hoá đòi hỏi giáo viên phải không ngừng bồi dưỡng, cập nhật tri thức,
nâng cao trình độ để nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục. Giáo viên cần giáo
dục và đào tạo học sinh trở thành người có tri thức, có đạo đức, có năng lực sáng


tạo, biết hợp tác, biết ứng xử, hiểu biết pháp luật, thông lệ quốc tế... để góp phần
xây dựng đất nước phồn vinh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
- Sản phẩm LĐSP là trình độ phát triển nhân cách kết tinh trong mỗi cá nhân HS,
biểu hiện cụ thể ở trình độ tích lũy tri thức, sự hoàn thiện kĩ năng kĩ xảo cần thiết,
trình độ phát triển trí tuệ và các phẩm chất đạo đức của con người mới.
- Khác với sản phẩm của các ngành sản xuất vật chất, sản phẩm của LĐSP là cái
không biểu hiện cụ thể, không thể nhận biết được ngay mà nó đòi hỏi phải trải qua
thời gian lâu dài.
- Muốn “sản xuất” ra sản phẩm này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức cho người được
giáo dục hoạt động và giao lưu, tổ chức quá trình nhận thức độc đáo cho HS.
 Thời gian và không gian của LĐSP
- Thời gian lao động sư phạm của giáo viên về mặt pháp lí là thời gian quy
định trong các văn hạn của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đó chính
là thời gian lao động bắt buộc tuỳ theo vào từng bậc học, cấp học. Vấn đề
này thường được hiểu là quy định về số giờ giảng dạy và các công tác khác.
Thời gian làm việc ngoài giờ quy định như: thời gian chuẩn bị bài giảng,
chấm bài, tự bồi dưỡng nghiệp vụ, tham gia các công việc ngoài nhà trường
và hoạt động xã hội.
- Không gian lao động sư phạm của người giáo viên tiến hành ở hai phạm vi
là ở trong và ngoài nhà trường. Ở ngoài nhà trường thì rất đa dạng, phong
phú như: Tổ chức thực tế, tham quan, tham gia các hoạt động xã hội hoặc
đến thăm gia đình các học sinh. Đây là vấn đề cần được chú ý nghiên cứu để
có chế độ chính sách thích hợp, tạo điều kiện cho giáo viên hoàn thành
nhiệm vụ.
- Thời gian LĐSP của GV gồm có thời gian quy định và thời gian làm việc
ngoài giờ quy định.
- Thời gian quy định là thời gian được quy định về mặt pháp lý trong các văn
bản của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quy định về số giờ
giảng dạy và các công tác khác.


-

Thời gian làm việc ngoài giờ quy định là thời gian ngoài quy định về mặt
pháp lý gồm thời gian chuẩn bị bài giảng, chấm bài, tự bồi dưỡng nghiệp vụ,
tham gia các công việc ngoài nhà trường và hoạt động xã hội.
- Không gian LĐSP của GV tiến hành ở hai phạm vi là ở trong và ngoài nhà
trường.
Tóm lại: LĐSP là một dạng lao động đặc thù. Trong đó, đối tượng sản phẩm, công
cụ đều là con người. LĐSP mang tính sáng tạo và là dạng lao động sản xuất phi vật
chất.
4. Các yêu cầu chuẩn nghề nghiệp của người Giáo viên THPT?
Chương 3:
Câu 1: Vai trò, chức năng của người giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường THPT?
Gvcn lớp là một giáo viên trong số các giáo viên dạy văn hóa ở một lớp, có nhiều
kinh nghiệm giáo dục học sinh, được hiểu trưởng giao trách nhiệm làm công tác
chủ nhiệm lớp.
GVCN lớp ngoài chức năng cơ bản là dạy học và giáo dục, còn có vị trí và chức
năng cụ thể như:
a. GVCN lớp là người thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện học sinh một
lớp.
 Nguyên nhân: Trong một trường học có rất nhiều học sinh được phân thành
nhiều lớp. Hiệu trưởng không thể quản lý quá trình phát triển nhân cách của
từng học sinh trong trường. Vì vậy cần có GVCN giúp hiệu trưởng quản lý
học sinh cụ thể hơn.
 Công tác quản lý học sinh thể hiện ở các công việc cơ bản như:
- Nắm được chỉ số về quản lý như: tên, tuổi, số lượng, đặc điểm tâm sinh lý và
hoàn cảnh sống, trình độ, sở thích, năng lực, những thay đổi, điều kiện, hoàn cảnh
gia đình, các mối quan hệ xã hội, bạn bè…
- Mặt khác phải dự báo được xu hướng phát triển nhân cách của học sinh và tập thể
học sinh để lập kế hoạch cho việc tổ chức giáo dục cho phù hợp với điều kiện, khả
năng học sinh, tập thể và nhà trường. Cụ thể:
+ Để lập kế hoạch giáo dục khoa học, hợp lý cần phải có thời gian chuẩn bị và tìm
hiểu cụ thể đối tượng giáo dục, mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục của cấp
học, trường học, lớp học, sự phát triển của học sinh và tập thể học sinh.


+ Tổ chức cho học sinh và tập thể thực hiện kế hoạch đã đề ra. Công việc này cần
có sự phân công rõ ràng.
+ Chỉ đạo cho học sinh và cán bộ lớp thực hiện kế hoạch. Chỉ đạo thể hiện sự lãnh
đạo, hướng dẫn, điều khiển, điều chỉnh và động viên kịp thời của GVCN. Không
nên chỉ ra lệnh, yêu cầu cao mà nên thuyết phục, tôn trong người học, phát huy
tính tích cực của học sinh, vai trò tự quản của tập thể lớp.
+ Kiểm tra, đánh giá, tổng kết việc thực hiện kế hoạch, đánh giá sự phát triển nhân
cách của học sinh. Từ đó chỉ đạo sự học tập, rèn luyện của học sinh tốt hơn.
+ GVCN cùng GV bộ môn giúp hiệu trưởng xếp loại học lực và hạnh kiểm cho học
sinh. Việc xếp loại phải khách quan, toàn diện, hệ thống, công khai và căn cứ theo
tiêu chuẩn của Bộ, Sở GD – ĐT.
 Kết luận sư phạm:
b. GVCN là cầu nối giữa hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, các tổ chức trong nhà
trường với học sinh và tập thể học sinh.
- GVCN truyền đạt và đề bạt những vấn đề cần thiết trong công tác GD học sinh
cho nhà trường.
- GVCN truyền đạt cho học sinh những yêu cầu, nội quy, quy chế, kế hoạch, chủ
trương chính sách của nhà trường, của ngành đến tập thể lớp và từng học sinh. Sự
truyền đạt đó không chỉ ra lệnh mà bằng thuyết phục, giải thích của GVCN để học
sinh tự giác, tự nguyện những mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục.
- GVCN có khả năng cụ thể hóa chủ trương, kế hoạch của nhà trường thành
nguyện vọng và chương trình hành động của tập thể lớp và học sinh
- GVCN là người tập hợp ý kiến và hiểu rõ nguyện vọng của học sinh để phản ánh
với hiệu trưởng, với giáo viên bộ môn và các tổ chức giáo dục trong nhà trường.
- Thường xuyên tiếp nhận thông tin và giải quyết sự việc trong phạm vi cho phép
để giáo dục học sinh.
- Phải hiểu được tâm tư, nguyện vọng của học sinh, giải tỏa được những băn
khoăn, vướng mắc của học sinh.
- GVCN phải bảo vệ mọi quyền lợi của học sinh, góp phần thực hiện các điều
khoản của Liên Hiệp Quốc về nhân quyền trẻ em, Luật bảo vệ và chăm sóc giáo
dục trẻ em của nước ta.
c. GVCN là người cố vấn cho các hoạt động tự quản của tập thể học sinh.
- Học sinh THPT là lứa tuổi thiếu niên và đầu tuổi thanh niên. Là lứa tuổi khẳng
định mình, giàu ước mơ, bước đầu đã có kinh nghiệm sống, có khả năng tự quản,
tổ chức hoạt động tập thể. Tuy nhiên vẫn là lứa tuổi mong muốn lớn hơn khả năng,
muốn tự khẳng định mình nhưng chưa đủ “độ chín” về kinh nghiệm sống. Khi
thành công có thể dễ “bốc”, “tự tin” quá mức, nhưng khi gặp thất bại thì dễ bị dao
động, chán nản, mất lòng tin. Do đó, học sinh rất cần sự hướng dẫn, điều chỉnh,
giúp đỡ và động viên của GVCN.


- Quan hệ giữa GVCN với các tổ chức Đoàn, Đội TNTP HCM của học sinh không
phải là quan hệ quản lý mà là quan hệ phối hợp. GVCN phải là người cố vấn đáng
tin cậy cho tổ chức Đoàn, Đội trong nhà trường.
- Tuy theo sự phát triển của tập thể học sinh đến giai đoạn nào để GVCN đưa ra
các góp ý, chỉ bảo ở chừng mực nhất định. Quan trọng là để học sinh phát huy hết
khả năng độc lập, tích cực của họ.
- Định hướng, điều khiển, điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi, hoạt động của từng
cá nhân học sinh và tập thể lớp.
- Chức năng cố vấn thực hiện trên tất cả các mặt giáo dục, kế hoạch hoạt động của
cá nhân và tập thể, từ học tập đến việc rèn luyện đạo đức, văn nghệ,vui chơi, giải
trí.
d. GVCN là người đại diện cho nhà trường trong công tác phối hợp với cha mẹ
học sinh và các lực lượng xã hôi nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục.
- Đây là công việc quan trọng liên quan đến hiệu quả tổ chức giáo dục học sinh chủ
nhiệm, bởi hiệu quả của việc tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào khả năng liên kết,
phối hợp các lực lượng xã hội, phát huy mọi khả năng của của các lực lượng đó
vào công tác giáo dục của mình.
- GVCN cần căn cứ vào đặc điểm, điều kiện của lớp, nhà trường, cộng đồng và gia
đình …để tổ chức phối hợp các lực lượng GD. Thống nhất yêu cầu, mục tiêu GD
học sinh để tạo ra sức mạnh tổng hợp và môi trường GD thuận lợi, tích cực.
- Đây cũng là nguyên tắc GD nhằm tạo ra sự giáo dục thường xuyên, liên tục đối
với HS. Nó phải được thể hiện trong tất cả các hoạt động giáo dục của nhà trường.
- Sự phối hợp này phải xây dựng được chương trình, kế hoạch hoạt động thống
nhất. GVCN phải khai thác triệt để và hợp lý mọi tiềm năng của các lực lượng xã
hội vào việc thực hiện nội dung giáo dục, tổ chức hoạt động giáo dục cho học sinh
lớp chủ nhiệm.
2. Nội dung công tác chủ nhiệm
a. Tìm hiểu đối tượng giáo dục.
b. Tổ chức thực hiện nội dung giáo dục toàn diện cho học sinh lớp chủ nhiệm.
Để có thể nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện cho học sinh, GVCN cần nhận thức
rõ về sự cần thiết của tất cả các nội dung giáo dục toàn diện. Tổ chức các hoạt
động của tập thể lớp theo mục đích giáo dục toàn diện, có kế hoạch và có sự lựa
chọn nội dung hình thức hoạt động phù hợp với mục tiêu đề ra, phù hợp với đặc
điểm lứa tuổi, nhu cầu, hứng thú và khả năng của học sinh.
Trong nội dung giáo dục toàn diện cho học sinh, cần lưu ý tổ chức các hoạt động
nhằm nâng cao chất lượng học tập văn hóa. Bởi học tập là nhiệm vụ của người học
sinh trong nhà trường. Việc nâng cao thành tích học tập của học sinh là nhiệm vụ
trung tâm của nhà trường và học sinh.


- Chất lượng học tập của học sinh được thể hiện ở: tiếp thu bài nhanh, tích
cực trong học tập, luôn chủ động tự giác trong học tập, có sự hứng thú học
tập, kết quả học tập cao, thái độ học tập tốt.
- Ý nghĩa:
+ Đảm bảo trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực để đáp ứng yêu cầu
của Nhà trường.
+ Nâng cao trình độ học tập, đảm bảo chất lượng đầu ra, giúp các em tiến
bộ.
+ Tác động đến mặt đạo đức, nhân cách, thẩm mĩ của học sinh.
- Để nâng cao kết quả học tập văn hóa cho học sinh, GVCN cần phải
+ thông quan cán bộ lớp để đề ra yêu cầu, nhiệm vụ học tập ngày càng cao
cho thập thể lớp và cá nhân từng học sinh.
+ thực hiện việc quản lý học tập, xây dựng nội quy, quy chế học tập, động
viên, nêu gương, nhắc nhở học sinh thực hiện các yêu cầu học tập một cách
nghiệm túc, tự giác, tích cực. Xây dựng nề nếp học tập như: đi học đúng
giờ, không bỏ buổi, bỏ tiết nếu không có lý do đặc biệt, chuẩn bị bài và làm
bài đầy đủ trước khi đến lớp, tích cực, độc lập, tự giác, sáng tạo trong quá
trình học tập, chú trọng rèn luyện ý chí, nghị lực vượt qua khó khăn để học
tập tốt.
+ xây dựng dư luận lành mạnh, làm cho học sinh ý thức được nghĩa vụ học
tập của mình, xác định đúng động cơ, thái độ học tập đúng đắn.
+ giúp cho học sinh tìm ra các phương tiện học tập có hiệu quả cao.
+ tổ chức nhiều hoạt động đa dạng như: học tổ, học nhóm, thành lập CLB
môn học, trao đổi kinh nghiệm học tập.
+ đối với học sinh yếu kém cần tìm hiểu nguyên nhân để có biện pháp giúp
đỡ kịp thời
+ phát động phong trào thi đua học tập tốt để kích thích tính tích cực học tập
cho học sinh.
+ phối hợp gia đình nhằm động viên, tạo điều kiện để các em chăm học, học
tập đạt kết quả cao và phù hợp với sự phát triển của trẻ em.
+ tìm các biện pháp khắc phục tình trạng học lệch, học đối phó, hoc thuộc
lòng một cách máy móc, học tập không có kế hoạch, thiếu trung thực tỏng
kiểm tra và thi cử,...
c. Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm
c1. Khái niệm: kế hoạch chủ nhiệm là cụ thể hóa mục tiêu, nội dung giáo dục vào
việc tổ chức hoạt động giáo dục cho tập thể lớp; kế hoạch chủ nhiệm là một
chương trình hành động thực thi vào một giai đoạn cụ thể.
c2.Căn cứ và yêu cầu:
- Căn cứ: kế hoạch của GVCN câng phải được cụ thể hóa vào các kế hoạch của
Ban cán sự lớp. Biến dự kiến của GVCN thành nhu cầu, quyết tâm thực hiện của


tập thể học sinh ( không phải là sự áp đặt mà là gợi ý để tập thể học sinh tự đề ra
yêu cầu, nội dung, bàn biện pháp, phân công điều hành, tổ chức thực hiện).
-Yêu cầu của việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm:
+ Kế hoạch chủ nhiệm phải thể hiện tính toàn diện, cụ thể và khoa học.
+ Xác định đúng các cơ sở để xây dựng kế hoạch chủ nhiệm:
 Mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch của công tác giáo dục của nhà trường về tất
cả các mặt: học tập, lao động, văn nghệ, TDTT,... trong năm học, học kỳ và
trong từng tháng, tuần.
 Đặc điểm tình hình của lớp.
 Điều kiện giáo dục như: cơ sở vật chất của trường, của hội lớp, khả năng
phối hợp với các lực lượng giáo dục ( Đoàn, Đội, Hội, Cha mẹ học sinh, các
giáo viên bộ môn).
+ Kế hoạch chủ nhiệm phải thể hiện tính toàn diện và có trọng tâm.
+ Kế hoạch chủ nhiệm phải phát huy được mặt mạnh, khắc phục được mặt yếu,
động viên tinh thần nỗ lực vươn lên của tập thể học sinh, đồng thời phát huy vai trò
tự quản của cán bộ lớp.
+ Kế hoạch chủ nhiệm thể hiện được sự phát triển của tập thể lớp và học sinh.
+ Biện pháp để thực hiện kế hoạch chủ nhiệm phải cụ thể, khả thi và thể hiện được
tính sáng tạo và hiệu quả trong giáo dục cao.
+ Phát huy và thống nhất được vai trò chủ đạo của thầy và vai trò tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh.
C3. Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm tuần hoặc tháng.
Chương 4
Câu 1: Khái niệm, ý nghĩa của đánh giá giáo dục.
a. Khái niệm
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công
việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu,
tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực
trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
Đánh giá được xem là một khâu quan trọng, đan xen với các khâu lập kế hoạch và
triển khai công việc.
b. Ý nghĩa
- Đối với học sinh: việc kiểm tra và đánh giá có hệ thống và thường xuyên
cung cấp kịp thời những thông tin”liên hệ ngược trong” giúp người học tự
điều chỉnh hoạt động học.
Về mặt giáo dưỡng, kiểm tra đánh giả chỉ cho mỗi học sinh thấy mình đã
tiếp thu những điều vừa học đến mức độ nào, còn những lỗ hổng nào cần
phải bổ khuyết trước khi bước vào một phần mới của chương trình học tập,


có cơ hội để nắm chắc những yêu cầu cụ thể đối với từng phần của chương
trình.
Về mặt phát triển năng lực nhận thức, thông qua kiểm tra đánh giá, học sinh
có điều kiện để tiến hành các hoạt động trí tuệ như: ghi nhớ, tái hiện, chính
xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức. Nếu việc kiểm tra đánh giá
chú trọng phát huy trí thông minh, học sinh sẽ có thuận lợi để phát triển
năng lực tư suy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học để giải quyết
những tình huống thực tế.
Về mặt giáo dục, kiểm tra đánh giá nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp
cho học sinh nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý chí vươn lên
đạt những kết quả học tập cao hơn, củng cố lòng tự tin vào khả năng của
mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan tự mãn.
- Đối với giáo viên: việc đánh giá học sinh cung cấp cho người giáo viên
những thông tin “ liên hệ ngược trong”, giúp người dạy điều chỉnh hoạt
động dạy.
Kiểm tra đánh giá, kết hợp với theo dõi thường xuyên, tạo điều kiện cho
giáo viên nắm được một cách cụ thể và khá chính xác năng lực, tình độ của
mỗi học sinh trong lớp mình phụ trách để có biện pháp giúp đỡ riêng, ít ra là
đối với những học sinh giỏi và học sinh kém, qua đó nâng cao chất lượng
học tập chung của cả lớp.
Kiểm tra đánh giá được tiến hành một cách công phu sẽ cung cấp cho giáo
viên không chỉ những thông tin về trình độ chung của cả lớp hoặc khối lớp
mà còn tạo điều kiện cho giáo viên nắm được những học sinh có tiến bộ rõ
rệt hoặc sút kém đột ngột để động viên hoặc giúp đỡ kịp thời. Người giáo
viên có trách nhiệm và kinh nghiệm thường xem kiểm tra đánh giá như một
biện pháp cá nhân hóa dạy học, giúp cho mỗi họ csinh tự đánh giá để tự
quyết định cách học phù hợp với mình.
Kiểm tra đánh giá tạo cơ hội cho giáo viên xem xét hiệu quả của những cải
tiến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đang theo
đuổi, nhất là đối với những giáo viên tâm huyết muốn hoàn thiện việc dạy
học của mình bằng con đường thực hiện nghiên cứu khoa học giáo dục.
c. Đối với cán bộ quản lý giáo dục: Kiểm tra đánh giá học sinh cũng cấp cho
cán bộ quản lý giáo dục các cấp những thông tin cơ bản về thực trạng dạy và
học trong một đơn vị giáo dục để có những chỉ đạo kịp thời, kịp thời uốn nắn
những lệch lạc, khuyến khích hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảm thực hiện
tốt mục tiêu giáo dục.
Tóm lại việc kiểm tra đánh giá học sinh có ý nghĩa về nhiều mặt, trong đó
quan trọng nhất là đối với bản thân mỗi học sinh.
Câu 2: Những yêu cầu sư phạm trong việc đánh giá học sinh.
Việc đánh giá học sinh phải dựa trên những yêu cầu sau:


a. Khách quan
Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh phải khách quan và chính xác tới mức
tối đa có thể, tạo điều kiện để mỗi học sinh bộc lộ thực chất khả năng và trình độ
của mình. Trong khi kiểm tra và đánh giá, để đảm bảo cho kết quả thu thập được ít
chịu ảnh hưởng từ những yếu tố khác với mục tiêu và nội dung cần đánh giá, cần
thực hiện những nguyên tắc sau:
- Kết hợp kiểm tra diện tính với kiểm tra định lượng.
- Kết hợp nhiều kĩ thuật đánh giá khác nhau ( kĩ thuật đánh gia truyền thống với kĩ
thuật đánh giá hiện đại) nhằm hạn chế tối đa các nhược điểm của một loại hình
đánh giá.
- Bảo đảm môi trường, cơ sở vật chất không ảnh hưởng đến việc thực hiện các bài
tập đánh giá của học sinh.
- Kiểm soát các yếu tố khác ngoài khả năng thực hiện bài tập đánh giá của học sinh
có thể ảnh hưởng đến kết quả làm bài hay thực hiện hoạt động của các em.
- Những phán đoán giá trị và quyết định về việc học của học sinh phải được xây
dựng trên ba cơ sở:
(1): Kết quả học tập thu thập được một cách hệ thống trong quá trình dạy học;
(2): Các tiêu chí đánh giá với các mức độ đạt được một cách rõ ràng;
(3): Sự kết hợp và cân bằng giữa hai loại đánh giá: thường xuyên và tổng kết, hay
nói cách khác là đánh giá quá trình và đánh giá sản phẩm học tập.
- Ngăn chặn mọi biểu hiện thiếu trung thực khi làm bài như nhìn bài bạn, quay cóp,
nhắc bạn...
- Tránh cách đánh giá chung chung về sự tiến bộ của toàn lớp hay của một nhóm
thực hành, một tổ học tập. Việc đánh giá phải sát với hoàn cảnh, điều kiện dạy và
học, tránh những nhận định chủ quan áp đặt thiếu căn cứ.
b. Toàn diện
Một bài kiểm tra, một đợt đánh giá có thể nhằm vào một mục đích trọng tâm nào
đó nhưng toàn bộ hệ thống kiểm tra đánh giá phải đạt yêu cầu toàn diện, không chỉ
về mặt số lượng mà quan trọng là mặt chất lượng, không chỉ về mặt kiến thức mà
cả kỹ năng, thái độ, tư duy.
Nhằm bảo đảm kết quả học sinh đạt được qua kiểm tra phản ánh được các mặt đức
- trí - thể - mĩ của các em cũng như nhiều mức độ nhận thức khác nhau trong hoạt


động học tập của họ. Sau đây là một số quy tắc nhằm bảo đảm tính toàn diện trong
đánh giá thành quả học tập của học sinh:
- Nội dung kiểm tra cần bao quát được các trọng tâm của phần học,phần chương
trình hay bài học mà ta muốn đánh giá.
- Công cụ đánh giá cần đa dạng.
- Mục tiêu đánh giá cần bao quát các kết quả học tập với những mức độ nhận thức
từ đơn giản đến phức tạp: nhớ/ nhận biết, hiểu, vận dụng, phân tích - tổng hợp đánh giá.
- Các bài tập hoặc hoạt động đánh giá không chỉ đánh giá kiến thức, kĩ năng môn
học mà còn đánh giá các phẩm chất trí tuệ và tình cảm cũng như kĩ năng xã hội.
c. Hệ thống
VIệc kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành theo kế hoạch, có hệ thống. Đánh giá
trước, trong và sau khi học một phần của chương trình. Kết hợp theo dõi thường
xuyên với kiểm tra đánh giá định kỳ và đánh giá tổng kết cuối năm học, cuối khóa
học. Số lần kiểm tra phải đủ mức để có thể đánh giá chính xác.
d. Công khai
Việc tổ chức kiểm tra đánh giá phải được tiến hành công khai, kết quả công
bố kịp thời để mỗi học sinh có thể tự đánh giá xếp hạng trong học tập, để tập
thể học sinh hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×