Tải bản đầy đủ

SKKN tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong sinh học 9

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong sinh học 9”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giảng dạy
3. Tác giả: Họ và tên: ……………….

Nam (nữ): Nữ

Ngày tháng/năm sinh: …………………
Trình độ chuyên môn: Đại học
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên – trường THCS Tráng Liệt
Điện thoại: ……………………..
4. Đồng tác giả (nếu có)
Họ và tên;
Ngày tháng/năm sinh;
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ, đơn vị công tác;
Điện thoại:
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có) : Trường: THCS Tráng Liệt
Số điện thoại:
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Giảng dạy Sinh học 9 và một số môn

trong chương trình THCS.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: tháng 3 năm học 2014 – 2015
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÍ TÊN)

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN
ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

1


TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến.
Môi trường là nơi con người sinh ra, lớn lên, tồn tại phát triển. Môi trường còn là nơi
con người nghỉ ngơi, hưởng thụ vẻ đẹp của thiên nhiên ban cho. Môi trường gắn liền với
con người, những yếu tố của môi trường ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức
khoẻ, sự phát triển của giống nòi. Nhưng hiện nay môi trường ngày càng suy thoái và có
những biến động cực kì phức tạp như: Hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất, xâm thực của thuỷ
triều, sóng thần, động đất,...Các thành phần của môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Giáo dục bảo vệ môi trường là nhiệm vụ hàng đầu và thực sự quan trọng, nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu người học phù hợp với thời đại thúc đẩy
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Trong thực tế giảng dạy một số năm gần đây tôi nhận thấy việc dạy học tích hợp giáo
dục môi trường trong giảng dạy đã có nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng thay
đổi của xã hội. Phần lớn giáo viên mới chỉ đưa ra vấn đề ô nhiễm môi trường chứ chưa
hướng dẫn học sinh tìm ra các giải pháp, biện pháp bảo vệ môi trường.... Và đặc biệt sau
đợt tập huấn về tích hợp bảo vệ môi trường trong môn sinh học và lớp tập huấn về biến
đổi khí hậu tôi đã chú trọng hơn tới việc đưa những vấn đề về bảo vệ môi trường vào
trong những bài học sinh học nói chung và đặc biệt môn sinh học 9 nói riêng.Từ đó giúp
học sinh phát triển các năng lực của bản thân trong việc bảo vệ môi trường, các em có
thái độ yêu thiên nhiên hơn. Tiết học sẽ không nặng tính hàn lâm, khô khan mà tạo được
không gian mở khi các em tiếp cận kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tế.
2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến.
2.1. Điều kiện.
- Là Học sinh khối THCS nói chung và lớp 9 nói riêng.
- GV cần thiết kế các mức độ tích hợp, các dạng tích hợp, chuẩn bị các hình ảnh, số
liệu liên quan tới môi trường tự nhiên và môi trường suy thoái do ô nhiễm.
2.2 Thời gian: - Thời gian áp dụng sáng kiến từ năm học 2014 – 2015.
2.3 Đối tượng áp dụng sáng kiến. - Học sinh khối 9.
3. Nội dung sáng kiến.
2




3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến.
- Với những hình ảnh, số liệu, những tình huống về ô nhiễm, suy thoái môi trường thì
học sinh rất hào hứng tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, suy
thoái. Hậu quả của việc ô nhiễm suy thoái môi trường là gì và từ đó các em ý thức được
việc bảo vệ môi trường của bản thân đồng thời tìm ra các giải pháp chống ô nhiễm môi
trường.
- Qua việc áp dụng sáng kiến tôi thấy học sinh có những tiến bộ rõ rệt, đặc biệt sự tiến
bộ không chỉ về mặt kiến thức mà còn tiến bộ về ý thức đạo đức, kĩ năng ứng xử với
môi trường.
3.2. Khả năng áp dụng sáng kiến.
- Sáng kiến được áp dụng với bộ môn sinh học cấp THCS nói chung và bộ môn sinh
học lớp 9 nói riêng.
3.3. Lợi ích của sáng kiến.
- Học sinh có hứng thứ hơn trong học tập, có thái độ yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống
của bản thân và mọi người.
3.4. Giá trị và kết quả đạt được của sáng kiến.
- Trước khi chưa áp dụng sáng kiến kiến thức về môi trường của học sinh rất hạn chế,
các em còn mơ hồ, chưa ý thức được vai trò của môi trường đối với bản thân và sự sống
vì vậy chưa hình thành cho mình thói quen, năng lực và những hành động bảo vệ môi
trường.
- Sau khi áp dụng sáng kiến ý thức về môi trường của học sinh tăng lên rõ rệt. Các em
hiểu được khái niệm, ý nghĩa của môi trường đối với bản thân và với sự sống, từ đó các
em hình thành ý thức, thái độ, kĩ năng và các năng lực bảo vệ môi trường.
3.5 Đề xuất và khuyến nghị.
- Các cấp lãnh đạo cần quan tâm đến đội ngũ giáo viên giảng dạy môn sinh học ở bậc
THCS, thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
Tổ chức các buổi thảo luận, tìm hiểu các sáng kiến có chất lượng, có khả năng ứng dụng
rộng rãi.
3


MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Môi trường là nơi sinh sống của sinh vật đó cũng là nơi con người sinh ra, lớn lên,
tồn tại phát triển. Môi trường còn là nơi con người nghỉ ngơi, hưởng thụ vẻ đẹp của
thiên nhiên ban cho.
Môi trường gắn liền với con người, những yếu tố của môi trường ảnh hưởng trực
tiếp,gián tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển của giống nòi. Nhưng hiện nay môi trường
ngày càng suy thoái và có những biến động phức tạp như: Hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất,
xâm thực của thuỷ triều, sóng thần, động đất,...Các thành phần của môi trường bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Đặc biệt trong những năm gần đây, tình hình ô nhiễm môi trường
ở Việt Nam diễn ra ngày càng nhiều với quy mô lớn đã ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống
của sinh vật nói chung và con người nói riêng, ảnh hưởng tới hình ảnh của một đất nước
đang trên đà phát triển.
Trước tình hình đó việc bảo vệ môi trường(BVMT) là một trong những mối quan tâm
của toàn cầu.
Trên thế giới hội nghị quốc tế về GDBVMT của liên hợp quốc chính thức tổ chức tại
Tbilisi năm 1977, hội nghi đã xác định GDBVMT có mục đích “ Làm cho các cá nhân
và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường
nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lí học, xã hội học, kinh tế và
văn hóa, đem lại cho họ kiến thức, nhận htuwcs về giá trị, thái độ và kĩ năng thực hành
để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các
vấn đề môi trường”.
Ở nước ta ngày 17-10-2001 Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 1363/ QĐ-TTG về
việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân với mục
tiêu “ Giáo dục học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học,trình độ đào tạo trong hệ thống
giáo dục quốc dân có hiểu biết về pháp luật và chủ trương chính sách của Đảng, nhà
nước về bảo vệ môi trường”. Sách giáo khoa sinh học 9 có đoạn nêu rõ : Mỗi quốc gia
cần có biện pháp khôi phục môi trường, bảo vệ thiên nhiên để phát triển bền vững .
4


Trong các môn học ở cấp THCS Sinh học là một trong những môn học giúp học sinh
có những hiểu biết về khoa học, về thế giới sống, kể cả con người trong mối quan hệ với
môi trường, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục thế giới quan nhân sinh quan khoa
học nhằm nâng cao chất lượng của cuộc sống. Môn sinh học ở trường phổ thông có khả
năng tích hợp các nội dung giáo dục BVMT, đặc biệt trong phần 2 của chương trình sinh
học 9: “Sinh vật và môi trường”.
Để hình thành cho các em có những kiến thức về môi trường, mối quan hệ giữa con
người và môi trường, tài nguyên và môi trường, ô nhiểm môi trường, suy thoái môi
trường.Có thái độ hành vi về môi trường như có ý thức bảo vệ môi trường, sử dụng hợp
lí tài nguyên thiên nhiên, có tình cảm yêu quý thiên nhiên, đất nước tôn trọng giữ gìn
những vẻ đẹp thiên nhiên, di sản văn hoá, có thái độ thân thiện với môi trường...
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Tích hợp giáo dục bảo vệ
môi trường trong chương trình sinh học 9” với mong muốn góp một phần nhỏ bé của
mình vào việc giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, đồng thời làm sáng tỏ bản chất của
việc bảo vệ môi trường từ đó đề xuất biện pháp tổ chức tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường trong chương trình sinh học 9 nhằm góp phần bảo vệ môi trường xanh - sạch đẹp. Giúp học sinh biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống.
Qua việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập giáo viên điều chỉnh và nâng cao chất
lượng dạy học nhằm phát triển tư duy, khám phá kiến thức mới phát huy tính tích cực
của học sinh, HS hình thành năng lực tự học, năng lực tư duy.
2. Cơ sở lí luận
2.1 Nghị quyết số 41 của trung ương ngày 15 - 11 - 2004 của bộ chính trị về môi
trường trong thời kỳ công nghiệp hoá. hiện đại hoá đất nước đã chỉ rõ : Đưa nội dung
giáo dục BVMT , sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân, tăng dần thời lượng
tới hình thành môn học chính khoá đối với cấp học phổ thông .
2.2. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo trên, giáo dục BVMT được Bộ Giáo dục đào tạo
đã ra chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục BVMT xác định nhiệm vụ trọng tâm
cho giáo dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo
5


vệ môi trường bằng hình thức phù hợp trong các môn học và thông qua các hoạt động
ngoại khoá, xây dựng mô hình nhà trường xanh-sạch-đẹp phù hợp với các vùng, miền.
2.3. Hiện nay ở cấp học trung học cơ sở giáo dục BVMT chưa phải là môn học chính
khoá nên việc tich hợp giáo dục BVMT vào môn học có liên quan đến kiến thức về môi
trường là đều cần thiết. Nhưng kiến thức giáo dục BVMT không phải muốn đưa vào bài
học nào cũng được , mà phải căn cứ vào nội dung của bài học có liên quan với vấn đề
môi trường mới có thể tích hợp được .
Vậy chúng ta cần xác định nội dung kiến thức bảo vệ môi trường, phương pháp tích
hợp, mục tiêu tích hợp, địa chỉ tích hợp trong bài giảng sao cho hợp lí.
2.4. Mục tiêu giáo dục BVMT trong sinh học 9 phải trang bị cho học sinh một hệ
thống kiến thức tương đối đầy đủ về môi trường và kỹ năng bảo vệ môi trường. Các em
phải ý thức được rằng giữ gìn bảo vệ môi trường sống phải từ các hoạt động bình
thường, ngay trong lớp học, giờ chơi, lúc nghỉ ngơi, sinh hoạt trong gia đình, nơi công
cộng. Xa hơn nữa lúc làm việc trên đồng ruộng, trồng rừng, trong nhà máy công sở. Và
có khả năng cải tạo môi trường xung quanh bằng những việc làm đơn giản mà hiệu quả,
cũng có thể nảy sinh những ý tưởng mới về BVMT trong giới trẻ.
3. Thực trạng của vấn đề:
3.1: Về chương trình, nội dung SGK và ý thức của HS trong việc BVMT
Trong chương trình sinh học 9 khi học phần “ Di truyền và biến dị” và “ Sinh học và
môi trường” là những vấn đề mới, khó không thuộc lĩnh vực sinh học cơ thể đã được đề
cập ở những lớp trước. Trong chương trình đã mở rộng nhiều vốn sống thực tế vì vậy
nếu không có sự hướng dẫn của GV các em tích hợp khá nặng vì vậy việc tiếp thu sẽ gặp
nhiều khó khăn.
Để tích hợp được GDBVMT đòi hỏi các em phải có kiến thức chắc về môi trường
sống và biết cách áp dụng linh hoạt những kiến thức đã học.
Việc tích hợp GDBVMT theo kiểu lồng ghép hay liên hệ là một trong những phương
pháp tối ưu để giáo viên đánh giá được kết quả học tập của HS. Người ta đã chứng minh
và khẳng định rằng không thể đánh giá học sinh qua một bài tích hợp mà phải trải qua
6


nhiều bài tích hợp, đặc biệt là trải qua một quá trình dài với sự cố gắng, nỗ lực của chính
bản thân người học.
Qua việc giảng dạy trên lớp cũng như việc bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi tôi thấy ý
thức BVMT của HS chưa cao kể cả ở nhà và khi ở trường.
3.2: Về tình hình môi trường Việt Nam hiện nay:
Trong những năm qua chỉ số tăng trưởng kinh tế của nước ta không ngừng nâng cao,
tuy nhiên sự phát triển kinh tế chưa đảm bảo với việc cân bằng với việc BVMT, vì vậy
môi trường của Việt Nam bị xuống cấp nhanh, nhiều nơi môi trường bị ô nhiễm nghiêm
trọng, có nơi đã đến mức báo động.
3.2.1. Về đất đai:
Diện tích đất canh tác trên đầu người giảm sút, chất lượng đất giảm do xói mòn, rửa
trôi. Đất nghèo dinh dưỡng do các quá trình thoái hóa hóa học, hiện tượng đất bị khô
hạn, sa mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa tăng lên. Ô nhiễm do chất thải, do sử dụng phân hóa
học và chất độc hóa học tăng.
3.2.2. Suy thoái rừng:
Diện tích rừng ngày càng thu hẹp. Theo thống kê diện tích rừng qua các thời kì như
sau:
Năm

1945

1976

1980

1985

Tổng diện tích rừng 14,300 11,169 10,608 9,892
3.2.3. Suy giảm đa dạng sinh học:

1990

1995

90,175 9,302

Việt Nam được coi là 1 trong 15 trung tâm đa dạng sinh học trên thế giới, tuy vậy trong
những năm gần đây đa dạng sinh học đã bị suy giảm nhiều, số lượng cá thể giảm, nhiều
loài bị tuyệt chủng, nhiều loài có nguy cơ bị tiêu diệt như Tê giác một sừng, voi, bò
tót….
3.2.4. Ô nhiễm môi trường nước:
Việc bùng nổ dân số, các hoạt động kinh tế gia tăng, công tác quản lí chưa hiệu quả
dẫn đến tài nguyên nước đang bị sử dụng quá mức và ô nhiễm. Nguyên nhân chính là do
nước thải công nghiệp, nước thải đô thị chưa được xử lí đã xả trực tiếp vào nguồn nước
7


mặt. Việc sử dụng hóa chất trong công nghiệp, nông nghiệp không đúng cách cũng đang
làm cho nguồn nước ngầm bị ô nhiễm.
3.2.5 Ô nhiễm môi trường không khí:
Hầu hết các đô thị ở Việt Nam đều bị ô nhiễm bụi, nồng độ bụi ở các khu dân cư nằm
bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần các đường giao thông
đều vượt trị số tiêu chuẩn cho phép.
3.2.6: Ô nhiễm môi trường do xử lí chất thải chưa đảm bảo:
Ở Việt Nam lượng chất thải ngày càng nhiều hơn, tuy vậy hiệu quả của việc thu gom
chất thải còn thấp, xử lí chất thải chưa đảm bảo đúng kĩ thuật gây hiện tượng ô nhiễm
nặng.
Ngoài ra điều kiện vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm ở đô thị và khu vực nông
thôn còn rất thấp. Nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra.
*) Nguyên tắc thực hiện:
- Đảm bảo tính đặc trưng và tính hệ thống của bộ môn.
- Không làm nặng thêm kiến thức sẵn có, chọn lọc những nội dung có thể lồng ghép
GDMT một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà vẫn hiệu quả.
- Các hình thức tích hợp GDBVMT:
- Khái niệm “Tích hợp GDBVMT” là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thưc
GDMT và kiến thức môn học thành một noioj dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ nhau
dựa trên các mối quan hệ về lí luận, thực tiễn được đề cập trong bài học.
*) Tích hợp GDBVMT được thực hiện theo 3 mức độ như sau:
- Mức độ lồng ghép toàn phần
+ Mục tiêu và nội dung của bài học phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của
GDBVMT.
VD cụ thể:
Tên bài
Địa chỉ, nội dung GDMT
Mức độ
Bài 49 : Quần xã - Các loài trong quần xã luôn có quan hệ mật thiết với Dạng lồng
sinh vật

nhau. Số lượng cá thể trong quần xã luôn được khống ghép
chế ở mức độ phù hơp với khả năng của môi trường,
8


tạo nên sự cân bằng sinh học trong quần xã.
Bài 50: Hệ sinh - Các sinh vật trong quần xã luôn gắn bó với nhau bởi Dạng lồng
thái

nhiều mối quan hệ, trong đó quan hệ dinh dưỡng có ghép
vai trò quan trọng được thể hiện qua chuỗi thức ăn,
lưới thức ăn. Từ đó giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng

sinh học.
Bài 53: Tác động - Nhiều hoạt động của con người gây hậu quả xấu đối Dạng lồng
của con người đối với môi trường, làm biến mất một số loài sinh vật, ghép
với môi trường

làm giảm các hệ sinh thái hoang dã, làm mất cân bằng
sinh thái. Tác động của con người làm phá huỷ thảm
thực vật từ đó gây ra xói mòn và thoái hoá đất, ô
nhiểm môi trường, hạn hán, lũ quét.
- Mỗi người đều phải có trách nhiệm trong việc bảo

vệ môi trường sống của mình
Bài 54: Ô nhiễm - Thực trạng ô nhiễm môi trường,

Dạng lồng

môi

ghép

trường



Bài 56-57 Thực - Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Hậu quả ô
hành Tìm

hiểu nhiễm môi trường.

môi trường địa - Biện pháp chống ô nhiễm môi trường ở địa phương.
phương
Bài 58:

Tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, chúng ta Dạng lồng

Sử dụng hợp lí tài cần phải sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lí vừa đáp ghép
nguyên

thiên ứng nhu cầu sử dụng tài nguyên của xã hội hiện

nhiên

tại,vừa đảm bảo duy trì lâu dài các nguồn tài nguyên
cho thế hệ mai sau. Bảo vệ rừng và cây trên trái đất sẽ
có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ đất, nước
và các tài nguyên sinh vật khác.

Bài

59:

Khôi

Dạng lồng

phục môi trường - Bảo vệ vác khu rừng hiện có, kết hợp với trồng cây ghép
và giữ gìn thiên gây rừng là biện pháp rất quan trọng nhằm bảo vệ và
9


nhiên hoang dã

khôi phục môi trường đang bị suy thoái. Mỗi chúng ta

đều trong việc giữ gìn và cải tạo thiên nhiên .
Bài 60: Bảo vệ đa - Các hệ sinh thái quan trọng cần bảo vệ:Hệ sinh thái Dạng lồng
dạng các hệ sinh rừng, hệ sinh thái biển, hệ sinh thái nông nghiệp. Mỗi ghép
thái

quốc gia và mọi người dân đều phải có trách nhiệm
bảo vệ các hệ sinh thái, góp phần bảo vệ môi trừơng

sống trên trái đất .
Bài 61: Luật bảo - Luật bảo vệ môi trường được ban hành những hành Dạng lồng
vệ môi trường

vi gây ô nhiễm môi trường, khắc phục những hậu quả ghép
xấu do hoạt đông của con người và thiên nhiên gây ra

Bài

62:

cho môi trường tự nhiên.
Thực - Nâng cao ý thức của học sinh trong viêc BVMT ở Dạng lồng

hành vận dụng đia phương bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả.

ghép

luật BVTM …
- Mức độ lồng ghép bộ phận
Chỉ một phần bài học có mục tiêu và nội dung GDBVMT:
Ví dụ cụ thể.
- Bài 29: Bệnh tật di truyền ở người: các bệnh tật di truyền ở người do ảnh hưởng của
các tác nhân vật lí và hóa học trong tự nhiên, do ô nhiễm môi trường hoặc do rối loạn
trong trao đổi chất nội bào. Từ đó HS xác định biện pháp BVMT bằng cách đấu tranh
chống sản xuất, thử, sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí hóa học và các hành vi gây ô nhiễm
môi trường. Sử dụng và tuyên truyền vận động mọi người cùng sử dụng đúng quy cách
các thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ.
- Dạng lồng ghép một phần.
- Mức độ liên hệ hay kết hợp giữa liên hệ và lồng ghép:
+ Ở dạng này kiến thức GDMT không được đưa vào chương trình và SGK nhưng dựa
vào nội dung bài học GV có thể liên hệ đưa vào phần có liên quan tới bài giảng.
VD cụ thể.

10


- Bài 25: Thường biến: Sau khi HS hiểu kiểu hình là kết quả của sự tương tác giữa kiểu
gen và môi trường vì vậy muốn có năng suất cao trong sản xuất nông nghiệp cần chú ý
bón phân hợp lí cho cây. Từ đó giáo dục HS ý thức BVMT khi bón phân cho cây.
+ Dạng liên hệ.
*) Các hình thức tổ chức dạy học GDBVMT:
Hình thức dạy học nội khóa:
- GV có thể dạy học trên lớp
- GV có thể dạy học ngoài lớp.
VD: Bài thực hành 56-57 Tìm hiểu tình hình môi trường ở địa phương.
Hình thức dạy học ngoại khóa:
- Tổ chức nói chuyện giao lưu về môi trường
- Tổ chức thi tìm hiểu về môi trường ở địa phương.
- Tổ chức tham quan môi trường.
*) Các phương pháp dạy học tích hợp BVMT:
Phương pháp trần thuật:
- GV dùng lời để mô tả, kể chuyện cho HS nghe về các hoạt động gây ô nhiễm môi
trường, những biến đổi của thiên nhiên do sự khai thác bừa bãi của con người như đốt
rừng….
Phương pháp vấn đáp:
-GV đua các câu hỏi yêu cầu HS trả lời hoặc có thể HS hỏi HS hay GV trả lời.
- Chú ý: Cần lựa chọn câu hỏi khuyến khích HS quan tâm tới vấn đề về môi trường hiện
tại và dự đoán các vấn đề về môi trường trong tương lai, từ đó có các cách phòng chống
ô nhiễm môi trường.
Phương pháp giảng giải:
- GV dùng lời nói nêu ra các dẫn chứng để làm rõ kiến thức mới và khó về môi trường.
phương pháp trực quan:
- GV sử dụng các phương tiện trực quan như tranh ảnh, băng hình về hiện tượng khai
thác tài nguyên gây ô nhiễm môi trường.
- Sau khi xem xong GV sử dụng hệ thống câu hỏi để khai thác kiến thức của HS.
11


Phương pháp hợp tác nhóm nhỏ:
- Lớp được chia thành các nhóm nhỏ được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay
đổi tùy theo các hoạt động. Các nhóm được giao các nhiệm vụ khác nhau hoặc cùng một
nhiệm vụ.
Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề:
- GV cần tạo ra các tình huống có vấn đề.
- yêu cầu HS giải quyết vấn đề.
- GV tổng hợp kết luận.
Phương pháp giao bài tập cho HS ở nhà.
- VD bài Thực hành “ Tìm hiểu mô trường ở địa phương” GV yêu cầu HS tìm hiểu
trường môi trường ở địa phương mình đạc biệt các khu ô nhiễm từ đó đề xuất các biện
pháp khắc phục.
4. Một số biện pháp thực hiện:
4.1 Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường.
- Giáo dục ý thức BVMT trong nhà trường và trong cộng đồng.
- Mỗi cá nhân phải nghiêm túc thực hiện luật BVMT.
- Tuyên truyền để HS hiểu ý nghĩa của môi trường với cuộc sống.
4.2 Tăng cường công tác quản lí nhà nước trong việc BVMT:
- Quản lí môi trường bằng pháp luật.
- Phục hồi phát triển rừng.
- Có biện pháp quản lí chặt chẽ các cơ sở kinh doanh, nhà máy thải chất thải gây ô
nhiễm.
- Thực hiện tốt chương trình Quốc gia về “ Biến đổi khí hậu”
4.3 Áp dụng công nghệ trong bảo vệ môi trường.
- Áp dụng công nghẹ sạch, đầu tư xử lí chất thải.
4.4 Mở rộng hợp tác Quốc tế trong lĩnh vực BVMT.
- Tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ sự tài trợ về công nghệ, tài chính trong lĩnh vực
BVMT.
12


*). Bài soạn cụ thể “ Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình sinh
học 9” qua bài “Tác động của con người đối với môi trường”
CHƯƠNG III. CON NGƯỜI, DÂN SỐ VÀ MÔI TRƯỜNG
Tiết 58 TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG
A. Mục tiêu
1. Kiến thức:
- HS chỉ ra được các hoạt động của con người làm thay đổi thiên nhiên.
- Từ đó ý thức được trách nhiệm của bản thân, cộng đồng cho việc bảo vệ môi trường
cho hiện tại và tương lai.
2. Rèn kĩ năng:
- Thu thập thông tin từ sách báo, khái quát hoá, hoạt động nhóm.
3. năng lực cần hình thành cho HS:
- Năng lực tự học: Tự nghiên cứu tìm hiểu môi trường ở nhà.
- Năng lực hợp tác: Năng lực hợp tác, giao tiếp trao đổi nhóm.
- Năng lực quản lí: HS quản lí trong nhóm.
- Năng lực sử dụng công nghệ thông tin
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ: HS phát triển ngôn ngữ thông qua việc trình bày các
vấn đề trước lớp.
4. Thái độ:
- HS có thái độ đúng đắn với môi trường nói chung và môi trường sống xung quanh
mình nói riêng.
B. Phương tiện dạy học
- Tư liệu về môi trường, hoạt động của con người tác động đến môi trường.
- Máy chiếu.
- HS chuẩn bị bài luận ở nhà.
C. Hoạt động trên lớp
I. Ổn định lớp (1’)
II. Kiểm tra bài cũ (Lồng ghép trong bài)
III. Bài mới
13


HOẠT ĐỘNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI TỚI MÔI TRƯỜNG
QUA CÁC THỜI KÌ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI (14’)
* Mục tiêu: HS chỉ ra được tác động hai mặt có lợi và có hại của con người qua các
thời kì phát triển của xã hội.
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
Nội dung
- GV yêu cầu nhóm trình bày nội - Đại diện nhóm trình I. Tác động của con
dung chuẩn bị ở nhà.(Năng lực tự bày (có thể dùng cả tranh người tới môi trường
học)

miêu tả).

qua các thời kì phát

- GV chiếu tranh các thời kì phát - Các nhóm theo dõi nội triển của xã hội.
triển của xã hội.

dung → Ghi nhớ.

- Tác động của con

- GV cho lớp thảo luận nhưng theo - Các nhóm có thể đặt người
trật tự và có ý thức xây dựng.(Năng câu hỏi trong nội dung + Thời kì nguyên
lực hoạt động nhóm, năng lực giao vừa trình bày hoặc đề thuỷ: Đốt rừng, đào
tiếp, giải quyết vấn đề, năng lực nghị trình bày lại một hố săn bắt thú dữ làm
quản lí)

đoạn nào đó. Ví dụ:

giảm diện tích rừng.

- GV nắm bắt ý kiến của các nhóm + Con người đối lửa → +



về từng vấn đề và làm nhiệm vụ là cháy rừng → dồn thú dữ
người đánh giá thông báo đáp án → Thú bị lướng chín từ
đúng.
đó con người chuyển
- Sau khi thảo luận xong GV cho
sang ăn thịt chín điều đó
HS tóm tắt một số ý chính trong nội
có ý nghĩa gì?
dung này.
+ Việc hình thành khu
+ Thời kì công nghiệp hóa gây hậu
dân cư, khu sản xuất
quả mất diện tích đất trồng, vậy nếu
nông nghiệp có nhất thiết
không tiến hành công nghiệp hoá
phải chặt phá rừng hay
thì sao?
không?
* Tích hợp GDBVMT: Tác động

nghiệp: Trồng trọt,



của con người qua các thời kì có

lớn

ảnh hưởng tới môi trường không?
14

hội

nông

chăn nuôi. Phá rừng
làm khu dân cư, khu
sản xuất làm thay đổi
đất và tầng nước mặt.
+

hội

công

nghiệp: Khai thác tài
nguyên bừa bãi, xây
dựng nhiều khu công
nghiệp làm đất càng
thu hẹp. Rác thải rất


HOẠT ĐỘNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI LÀM SUY THOÁI TỰ NHIÊN
(13’)
* Mục tiêu: HS chỉ ra được hoạt động cụ thể của con người gây hậu quả cho môi
trường.
- GV chiếu một số hình ảnh về tác động của - HS nghiên cứu bảng II. Tác động
con người đối với môi trường tự nhiên.

53.1 SGK tr.159.

của con người

- Những hoạt động nào của con người làm - Thống nhất ý kiến trong làm suy thoái
phá huỷ môi trường tự nhiên?

nhóm hoàn thành bảng môi trường tự

- Hậu quả từ những hoạt động của con 53.1.
người là gì?

nhiên.

- Đại diện nhóm trình bày - Nhiều hoạt

- GV thông báo đáp án đúng và tìm hiểu số đáp án, nhóm khác bổ động của con
nhóm có kết quả đúng.

sung.

người đã gây

- Ngoài những tác động của con người - HS kể thêm như: Xây hậu

quả

rất

trong bảng 53.1 em hãy cho biết còn hoạt dựng nhà máy lớn, chất xấu.
động nào của con người gây suy thoái môi thải công nghiệp nhiều.
trường?

+ Mất cân bằng

- Một vài nhóm trình bày sinh thái

- Trình bày hậu quả của việc chặt phá rừng nội dung đã chuẩn bị từ + Sói mòn đất
bừa bãi và gây cháy rừng?

nhà.

gây lũ lụt diện

- Cho thảo luận giữa các nhóm sau đó yêu - Các nhóm khác theo rộng, hạn hán
cầu HS khái quát nội dung thành những vấn dõi, nhận xét, bổ sung.
đề cơ bản(Năng lực giải quyết vấn đề)

kéo dài, ảnh

- HS có thể kể: lũ quét ở hưởng

mạch

* Cháy rừng: Đất, nước ngầm, đời sống của Hà Giang..., Lở đất, sạt lở nước ngầm.
con người.

bờ sông hồng.

+ Nhiều loài

* Tích hợp GDBVMT: Em hãy cho biết - Tác động của con người sinh vật bị mất,
tác hại của việc chặt phá rừng và đốt rừng làm phá huỷ thảm thực đặc biệt nhiều
trong những năm gần đây?

vật từ đó gây ra xói mòn loài động vật

- Gv chiếu một số hình ảnh ô nhiễm môi và thoái hoá đất, ô nhiểm quý hiếm có
trường do con người trực tiếp hoặc gián tiếp môi trường, hạn hán, lũ nguy
gây ra.

quét, biến đổi khí hậu….
15



tuyệt chủng.

bị


HOẠT ĐỘNG 3: TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG VIỆC
BẢO VỆ VÀ CẢI TẠO MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN (10’)
* Mục tiêu: HS chỉ ra các tác động tích cực của con người trong việc cải tạo môi
trường tự nhiên.
- Con người đã làm gì để bảo vệ - HS nghiên cứu SGK III. Vai trò của con
và cải tạo môi trường.(Năng lực tr.159
tư duy, giải quyết vấn đề)

người trong việc bảo

- Kết hợp kiến thức từ vệ và cải tạo môi

- GV nhận xét và giúp HS hoàn sách báo trao đổi nhóm trường tự nhiên.
chỉnh nội dung kiến thức.

thống nhất ý kiến.

- Hạn chế sự gia tăng

*Tích hợp GDBVMT: Cho biết - Đại diện nhóm trình dân số.
thành tựu con người đã đạt được bày đáp án nhóm khác - Sử dụng có hiệu quả
trong việc bảo vệ và cải tạo môi bổ sung.

nguồn tài nguyên.

trường?

- Pháp lệnh bảo vệ sinh

- HS kể thêm:

- Em hãy cho biết tình hình ô + Phủ xanh đồi trọc.

vật.

nhiễm môi trường ở địa phương + Xây dựng khu bảo tồn. - Phục hồi trồng rừng.
em sinh sống?

+ Xây dựng nhà máy - Xử lí rác thải.

- Theo em việc giữ gìn và bảo vệ thuỷ điện.

- Lai tạo giống có năng

môi trường ở địa phương em đã

suất và phẩm chất tốt.

tốt chưa? Tại sao phải bảo vệ - HS nêu tình hình ô
môi trường?

nhiễm môi trường ở địa

- Là học sinh các em cần làm gì phương.
để bảo vệ môi trường?
IV. Củng cố (4’)
1. Trình bày nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường do hoạt động của con
người?
2. Kể tên những việc làm ảnh hưởng xấu tới môi trường tự nhiên mà em biết, tác
hại của những việc làm đó, những hành động cần thiết để khắc phục hậu quả xấu đó?
V. Hướng dẫn về nhà (3')
16


- Học bài kết hợp vở ghi và SGK
- Trả lời các câu hỏi và bài tập từ 1-2 Tr. 160
- Tìm hiểu: Ô nhiễm môi trường là gì? Các tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm.
- Hướng dẫn câu 2: Con người từ khi xuất hiện trên trái đất cho đến nay đã không
ngừng tác động vào thiên nhiên, làm biến đổi thiên nhiên.
Thời kì nguyên thuỷ, con người sống hoà đồng với tự nhiên, họ sống chủ yếu
bằng hình thức săn bắn và hái lượm, nên làm nguồn tài nguyên thiên nhiên không hề suy
giảm. Chỉ khi con người tìm và biết dùng lửa mới gây ra hậu quả nghiêm trọng tới rừng
(cháy rừng) làm giảm số lượng các loài trên Trái Đất.
Ở xã hội nông nghiệp, do nhu cầu ăn, ở, dùng đất canh tác, chăn nuôi, nên diện
tích rừng bị thu hẹp, làm thay đổi tầng nước mặt, đất trở lên khô cằn.
Sang xã hội công nghiệp, máy móc ra đời đã tác động quá mạnh mẽ tới môi
trường sống. Việc cơ giới hoá đã tạo ra nhiều vùng đất trồng trọt, các ngành công nghiệp
khai khoáng phát triển, đô thị hoá ngày càng tăng đã lấy đi nhiều vùng đất tự nhiên và
đất trồng trọt, làm suy giảm môi trường, gây ô nhiễm môi trường do tích tụ của một số
chất phế thải, những chất độc hại đã gây ra những hậu quả đáng sợ về mặt sinh thái và rễ
gây mất cân bằng sinh thái.
5. Kết quả đạt được
- Cùng một nội dung kiểm tra sau khi học xong tôi đã tiến hành kiểm tra trên 2 lớp 9A
và 9B , trình độ của 2 lớp đồng đều như nhau.
- Lớp 9A dạy theo phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường như đã trình bày ở
trên thì thấy không khí làm bài tốt hơn phát huy được tính tự giác, tích cực, tự lực, tính
chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh tự vận dụng kiến thức thực tế vào bài học, và
tự đề ra được nhiều phương pháp để bảo vệ môi trường, vì vậy các em đều làm được bài
và nắm vững hơn, tạo ra hứng thú, HS hình thành được các năng lực tự học, tự quản lí,
năng lực tư duy, phát triển được ngôn ngữ giao tiếp, yêu thích môn học.
- Lớp 9B tiến hành dạy học bằng sự kết hợp các phương pháp dạy học, ít có sự tích hợp
với giáo dục môi trường, không khí làm bài căng thẳng, kém hào hứng, số em làm được
17


bài ít, chất lượng bài làm kém chính xác, học sinh vận dụng kiến thức vào bài kiểm tra
không hiệu quả, ít có sự vận dụng
Kiểm tra 15’
Câu 1 (5đ): Em hãy cho biết tác hại của việc chặt phá rừng và đốt rừng trong những
năm gần đây?
Câu 2 (5đ): Liên hệ bản thân em có thể làm được gì trong việc bảo vệ thực vật ở địa
phương?
Hướng dẫn chấm
Câu 1:
- Tác động của con người làm phá huỷ thảm thực vật từ đó gây ra xói mòn và thoái hoá
đất, ô nhiểm môi trường, hạn hán, lũ quét, biến đổi khí hậu….
- Mất cân bằng sinh thái
- Sói mòn đất gây lũ lụt diện rộng, hạn hán kéo dài, ảnh hưởng mạch nước ngầm.
- Nhiều loài sinh vật bị mất, đặc biệt nhiều loài động vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt
chủng.
Câu 2:
- Ngăn chặn phá rừng để bảo vệ môi trường sống cho thực vật.
- Hạn chế khai thác bừa bải các loại thực vật quí hiếm để bảo vệ số lượng cá thể của
loài.
- Xây dựng các vườn thực vật, vườn quốc gia, khu bảo tồn…để bảo vệ các loài thực vật,
trong đó có thực vật quí hiếm.
- Tuyên truyền giáo dục rộng rãi trong nhân dân để cùng tham gia bảo vệ rừng..
* Tôi đã thu được kết quả như sau:
Giỏi

Lớp

Khá

SL %

Trung bình

Yếu

Sl

%

Sl

%

Sl

%

9A (39)

10

25.6

20

51.3

9

23.1

0

0

9B (39)

3

7.7

15

38.5

19

48.7

2

5.1

18


Như vậy qua kết quả dạy thực nghiệm và đối chứng trên 2 lớp 9A và 9B thì kết quả học
tập của lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng. Điều đó đã chứng tỏ rằng phương pháp
tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy Sinh học 9 đã phát huy được tính
tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, các em biết vận dụng những kiến thức đã được
học và sự liên hệ của chính bản thân mình vào việc bảo vệ môi trường được “Xanh –
Sạch - Đẹp” nên các em đã làm bài tốt hơn, hiểu sâu, nhớ lâu hơn.
- Qua đó thấy được sự cần thiết, tầm quan trọng của việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường không những cho kết quả tốt hơn trong thực tế ở trường học, mà còn hiệu quả
hơn trong thực tiễn cuộc sống ở địa phương hay các em còn tuyên truyền rộng rãi về bảo
vệ môi trường…
⇒ Từ kết quả trên tôi thấy hình thức đổi mới kiểm tra đánh giá có ưu, nhược điểm:
5.1. Ưu điểm
- Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong Sinh học 9 đã phát huy được nội lực, tư
duy tích cực, độc lập, sáng tạo của HS trong quá trình vận dụng vào bài học.
- HS giải quyết thành công các vấn đề là động cơ trí tuệ kích thích trực tiếp lòng ham mê
học tập, đó chính là động lực của quá trình dạy học.
- Học sinh tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân là cơ sở hình thành
phương pháp tự học đó chính là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của mỗi cá
nhân trong cuộc sống.
- Giải quyết các vấn đề nhỏ vừa sức của học sinh được tổ chức thường xuyên trong quá
trình học tập, là phương thức để học sinh tiếp cận với xu hướng mới, hình thành và giải
quyết các vấn đề có nội dung khái quát rộng hơn.
- Giữa thày và trò có thông tin qua lại 2 chiều, từ đó thày hiểu rõ về tình hình học tập
của trò hơn và có phương pháp điều chỉnh thích hợp.
- Phương pháp này rất thích hợp với mọi đối tượng HS, từ đó phát hiện và phân loại
được từng đối tượng học sinh. Từ đó giáo viên kịp thời điều chỉnh cho phù hợp với từng
19


đối tượng học sinh và uốn nắn cũng như giao bài tập phù hợp với từng đối tượng học
sinh, có như vậy mới có thể đạt được kết quả cao trong dạy học.
5.2. Hạn chế
- Khó biên soạn, mất nhiều thời gian, khó khăn trong đo lường khả năng sắp xếp, lập
luận, diễn đạt đưa ra ý tưởng mới. GV khó chủ động về mặt thời gian trên lớp
- Đòi hỏi giáo viên phải tìm hiểu kĩ về các loại môi trường bịi ô nhiễm hiện nay và diễn
biến qua từng thời kì.
6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng:
- Khi soạn giáo án GV cần đầu tư nhiều hơn thời gian, công sức nghiên cứu kĩ nội dung,
trên cơ sở đó mà xác định các vấn đề trọng tâm của từng chương, từng phần sao cho vừa
sức với HS, định hướng phát triển tư duy, tổ chức các hình thức Tích hợp giáo dục bảo
vệ môi trường trong Sinh học một cách có hiệu quả.
- Khi thiết kế các mức độ tích hợp, các dạng tích hợp cho HS. GV cần chuẩn bị chu đáo
các dạng câu hỏi (các câu hỏi tự luận và khách quan) vì nó kích thích sự vận dụng, sáng
tạo, tìm tòi, tranh luận của học sinh đó là một yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công
của việc đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Với đề tài này có thể áp dụng rộng rãi ở tất cả các đối tượng học sinh thuộc các khối
lớp học trong nhà trường. Vì đó là hoạt động đặc trưng của môn sinh học, một trong
những hình thức tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học. Ngoài ra có thể áp
dụng liên môn đối với tất cả các môn học trong chương trình THCS.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
- Giáo dục bảo vệ môi trường là nhiệm vụ hàng đầu và thực sự quan trọng, nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu người học phù hợp với thời đại thúc đẩy
công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Công tác giáo dục bảo vệ môi trường đã được
Đảng và nhà nước thực sự quan tâm bằng các chỉ thị, nghị quyết.
20


- Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong Sinh học là quá trình thu thập và xử lí
thông tin đồng nghĩa với hoạt động, chủ động. Do vậy Tích hợp giáo dục bảo vệ môi
trường trong Sinh học là một trong những phương pháp dạy học tích cực, phát huy cao
độ tính chủ động sáng tạo của HS, tạo ra hứng thú, thúc đẩy động cơ bên trong của quá
trình học. HS hiểu sâu nhớ lâu, biết vận dụng những kiến thức mình đã phát hiện lại
bằng hoạt động thực tiễn về thiên nhiên, về môi trường, phát triển năng lực giải quyết
các vấn đề gặp phải, rèn luyện khả năng tư duy, óc sáng tạo một phẩm chất không thể
thiếu của người lao động trong xã hội ngày nay.
- Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong Sinh học giúp cho GV và HS nhìn lại kết
quả dạy và học sau từng phần kết quả học tập của HS có tác dụng củng cố, mở rộng
những điều đã học và thúc đẩy HS học tập tốt hơn khi tiếp tục học sang các phần mới.
Qua đó tôi thấy nếu GV tích cực sử dụng phương pháp này sẽ nâng cao được chất lượng
giáo dục, bởi thông qua phương pháp dạy học này đã rèn cho các em phương pháp tự
học, tự nghiên cứu, khả năng tư duy sáng tạo, cách thức trình bày một vấn đề, tích cực
trong hoạt động vận dụng kiến thức. Nội dung kiến thức sẽ được các em hiểu sâu và nhớ
lâu hơn bởi kiến thức mà các em có được là do tự mình vận động và xuyên suốt quá
trình học để làm bài.
- Trong quá trình thực hiện sẽ gặp không ít những khó khăn, vướng mắc đòi hỏi GV
cũng như HS phải quyết tâm thực hiện vì mục tiêu bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp,
đồng thời nâng cao chất lượng dạy và học. Mặc dù có nhiều cố gắng song chắc chắn
chuyên đề mà tôi đã nghiên cứu không tránh khỏi những hạn chế, rất mong được sự góp
ý của các cấp lãnh đạo, tổ chuyên môn và đồng nghiệp.
2. Khuyến nghị
- Các cấp lãnh đạo cần quan tâm đến đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn sinh học ở
bậc THCS, xây dựng phòng bộ môn đạt chuẩn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng
dạy của giáo viên.
- Đầu tư kinh phí, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng trực quan, mẫu vật để giáo viên đổi
mới phương pháp được thuận lợi.
21


- GV tích cực sử dụng, khai thác có hiệu quả đồ dùng dạy học đặc biệt các phương tiện
dạy học tiên tiến hiện đại (giáo án điện tử), với phương tiện này có thể giúp giáo viên
đưa ra các câu hỏi, tranh ảnh, bảng phụ, một đoạn phim về môi trường dễ dàng cho HS
quan sát rồi hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động khám phá.
- Với học sinh cần tích cực chủ động, sáng tạo trong việc tiếp thu kiến thức mới, cần
tìm cho mình một phương pháp học tập phù hợp phát huy được vai trò chủ động trong
học tập.
Khi viết sáng kiến này tôi có được sự quan tâm của BGH, đồng nghiệp nhưng
không tránh khỏi có những sai sót. Rất mong sự góp ý của các thầy cô, đồng nghiệp
cùng các quý độc giả để sáng kiến này hoàn thiện hơn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×