Tải bản đầy đủ

Tội không tố giác tội phạm theo quy định mới

Tội không tố giác tội phạm theo quy định mới
Bài viết sẽ đề cập một số điểm mới của Bộ luật hình sự (BLHS) sửa đổi, bổ sung năm 2017 so với Bộ luật
hình sự 2015 về Tội không tố giác tội phạm thể hiện sự hoàn thiện pháp luật hình sự, phù hợp với thực tiễn
công tác phòng chống tội phạm.
BLHS 2015

BLHS sửa đổi, bổ sung 2017

Điều 19. Không tố giác tội phạm
1. Người nào biết rõ tội phạm đang
được chuẩn bị, đang được thực hiện
hoặc đã được thực hiện mà không tố
giác, thì phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội không tố giác tội
phạm trong những trường hợp quy
định tại Điều 389 của Bộ luật này.
2. Người không tố giác là ông, bà, cha,
mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ
hoặc chồng của người phạm tội không
phải chịu trách nhiệm theo quy định tại
khoản 1 Điều này, trừ trường hợp

không tố giác các tội xâm phạm an
ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt
nghiêm trọng khác quy định tại Điều
389 của Bộ luật này.
3. Người bào chữa không phải chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định tại
khoản 1 Điều này trong trường hợp
không tố giác tội phạm do chính người
mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc
đã tham gia thực hiện mà người bào
chữa biết được khi thực hiện nhiệm
vụ bào chữa, trừ trường hợp không
tố giác các tội xâm phạm an ninh
quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng khác quy định tại Điều
389 của Bộ luật này.

Điều 19. Không tố giác tội phạm
1. Người nào biết rõ tội phạm đang
được chuẩn bị, đang được thực hiện
hoặc đã được thực hiện mà không tố
giác, thì phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội không tố giác tội phạm
quy định tại Điều 390 của Bộ luật
này.
2. Người không tố giác là ông, bà,
cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột,
vợ hoặc chồng của người phạm tội
không phải chịu trách nhiệm hình sự
theo quy định tại khoản 1 Điều
này,trừ trường hợp không tố giác
các tội quy định tại Chương XIII
của Bộ luật này hoặc tội khác là tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng.
3. Người không tố giác là người bào
chữa không phải chịu trách nhiệm
hình sự theo quy định tại khoản 1
Điều này, trừ trường hợp không tố
giác các tội quy định tại Chương XIII
của Bộ luật này hoặc tội khác là tội


phạm đặc biệt nghiêm trọng do
chính người mà mình bào chữa đang
chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã
thực hiện mà người bào chữa biết
rõ khi thực hiện việc bào chữa.

Theo đó, BLHS sửa đổi năm 2017 đã có những thay đổi so với BLHS 2015 về tội không tố giác tội phạm như
sau:
- Thứ nhất, mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi không tố giác tội phạm
BLHS sửa đổi, bổ sung 2017 đã không chỉ bó hẹp tội không tố giác tội phạm chỉ trong những trường quy định
tại Điều 389 BLHS như BLHS 2015 nữa mà theo hướng mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình tự về hành vi
không tố giác tội phạm, còn phải chịu trách nhiệm cả một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản
3 Điều 14.


Như vậy, miễn “Người nào biết rõ một trong các tội phạm quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 14 của
Bộ luật này đang được chuẩn bị hoặc một trong các tội phạm quy định tại Điều 389 của Bộ luật
này đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
không tố giác tội phạm”. Thiết nghĩa sự thay đổi theo hướng mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự trên là
phù hợp, điề này làm cho pháp luật thực sự thể hiện được tính nghiêm minh và đảm bảo mục đích đấu tranh
phòng ngừa tội phạm.

- Thứ hai, mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa về hành vi không tố giác
thân chủ
BLHS sửa đổi, bổ sung 2017 đã mở rộng hơn phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa về hành
vi không tố giác thông qua việc quy định: người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự nếu “không tố giác
các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính
người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi
thực hiện việc bào chữa”.
BLHS sửa đổi, bổ sung 2017 không chỉ còn bó hẹp đối với việc không tố giác những tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng quy định tại Điều 389 như BLHS 2015 trước đó.
BLHS sửa đổi 2017 quy định rõ việc chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa trong trường hợp không tố
giác tội phạm như trên là hoàn toàn phù hợp, đảm bảo được nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và đáp
ứng đầy đủ hơn, hiệu quả hơn cho công tác đấu tranh, phòng ngừa và chống các tội phạm xâm phạm an ninh
quốc gia, các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác. Chúng ta có thể lý giải do chế định bào chữa trong luật
hình sự là nhằm hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội, nhưng nếu vì bảo vệ
quyền lợi của người phạm tội mà cố tình không tố giác những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác thì hệ quả
của nó vô cùng lớn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×