Tải bản đầy đủ

“Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản? Phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản”

1

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU.................................................................................1
B. NỘI DUNG..............................................................................1
I. Dấu hiệu pháp lý của tội “cướp tài sản”..........................1
1. Về khách thể của tội phạm...................................................1
2. Về mặt khách quan của tội phạm.........................................2
3. Về mặt chủ quan của tội phạm.............................................3
4. Về chủ thể của tội phạm.......................................................4
II. Phân biệt tội “cướp tài sản” với tội “cưỡng đoạt tài
sản”............................................................................................4
1. Dấu hiệu pháp lý của tội “cưỡng đoạt tài sản”.....................4
1.1. Về khách thể của tội phạm.............................................4
1.2. Về mặt khách quan.........................................................5
1.3. Mặt chủ quan của tội phạm.............................................5
1.4. Về chủ thể của tội phạm.................................................5
2. Một số điểm phân biệt tội “cướp tài sản” với tội “cưỡng đoạt
tài sản”......................................................................................5
III. Thực trạng tội “cướp tài sản” trong thời gian qua......7
1. Thực trạng.............................................................................7

2. một số nguyên nhân của tình trạng trên..............................8
3. Một số giải pháp khắc phục................................................10
C. KẾT LUẬN............................................................................11
Tài liệu tham khảo:................................................................12


2

A. MỞ ĐẦU
Hiện nay, tình hình kinh tế xã hội của đất nước ngày càng
phát triển, đời sống người dân ngày càng được nâng cao. Đó là
những dấu hiệu tích cực đối với sụ phát triển của đất nước. Tuy
nhiên bên cạnh đó tình hình tội phạm trong xã hội cũng có xu
hướng phức tạp hơn trước, đặc biệt là cá tội xâm phạm đến
quyền sở hữu tài sản – một trong những khách thể được Bộ luật
hình sự bảo vệ.
Trong những tội nằm trong nhóm tội xâm phạm quyền sở
hữu thì “cướp tài sản” là tội thường xuyên xảy ra và có những
diễn biến phức tạp đặc biệt trong giai đoạn hiện nay. Vậy tội
“cướp tài sản” có các dấu hiệu pháp lý như thế nào? Giữa tội
“cướp tài sản” với các tội khác cùng nằm trong nhóm các tội
xâm phạm quyền sở hữu hữu có gì khác biệt?
Để làm rõ những vấn đề trên em xin chọn đề tài “Phân tích
các dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản? Phân biệt tội cướp tài
sản với tội cưỡng đoạt tài sản” làm đề tài cho bài tiểu luận của
mình.
B. NỘI DUNG
I. Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản
“Tội cướp tài sản” được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình
sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017). Theo đó tội “cướp tài sản” là
hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có
hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng
không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản được biểu hiện ở
những mặt sau:
1. Về khách thể của tội phạm


3


Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp
luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm và bị tội phạm
xâm hại đến. Theo quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 (sửa
đổi, bổ sung 2017) thì các quan hệ xã hội được pháp luật hình
sự bảo vệ gồm: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền
văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi
ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác
của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
Khách thể của “tội cướp tài sản” là quyền sở hữu tài sản
của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân và
quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng, sức khỏe của con
người.
Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể
của tội phạm mà khi tác động đến nó người phạm tội gây thiệt
hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ xã hội được pháp luật
hình sự bảo vệ. Đối tượng tác động của tội phạm gồm có: Con
người, những dạng vật chất cụ thể, sự hoạt động bình thường
của các chủ thể khi tham gia các quan hệ xã hội.
Tội “cướp tài sản” có đối tượng tác động là tài sản thuộc
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của chủ thể nhất
định và có khả năng chuyển dịch được giữa các chủ thể với
nhau.
2. Về mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện của tội
phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Nó
được biểu hiện bởi: Hành vi khách quan, thời gian, công cụ,


4

phương tiện, địa điểm phạm tội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm…
Mặt khách quan của tội “cướp tài sản” được thể hiện ở
hành vi dung vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có
hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng
không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Hành vi dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi
dùng sức mạnh vật chất gây thiệt hại đến tính mạng hặc sức
khỏe của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. người phạm tội
có thể sử dụng công cụ, phương tiện hoặc không có công cụ
phương tiện tác động vào thân thể người khác. Đối tượng tác
động có thể là chủ tài sản hoặc bất kì người nào mà người phạm
tội cho rằng có thể ngăn cản việc chiếm đoạt tài sản của mình.
Hành vi dùng vũ lực tấn công nạn nhân trong tội cưới tài
sản có thể gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe người khác
hoặc gây chết người.
Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm
đoạt tài sản là hành vi đe dọa dùng ngay lập tức, tại chỗ sức
mạnh vật chất với ý thức làm cho người bị đe dọa có căn cứ để
lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện ngay nếu không để
cho người phạm tội chiếm đoạt tài sản. Ví dụ như hành vi chĩa
súng vào đầu dọa sẽ bắn chết nếu không giao tiền,…
Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng
không thể chống cụ được nhằm chiếm đoạt tài sản là hành vi
khác ngoài hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức
khắc có khả năng làm cho người khác lâm vòa tình trạng tê liệt
sức phản kháng. Ví dụ như: Sử dụng thuốc ngủ, thuốc mê với
liều lượng có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của nạn
nhân; đầu độc nạn nhân; nhốt nạn nhân vào nơi nguy hiểm đến


5

tính mạng, sức khoẻ; dùng dây chăng qua đường để làm cho
nạn nhân đi mô tô, xe máy vấp ngã để cướp tài sản 1...
3. Về mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là trạng thái tâm lý của người
phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do người đó thực
hiện và đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi ấy,
thể hiện ở dấu hiệu lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội.
Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy
hiểm cho xã hội do người đó thực hiện và đối với hậu quả nguy
hiểm cho xã hội của hành vi đó được biểu hiện dưới hình thức cố
ý hoặc vô ý.
Trong tội “cướp tài sản” thì tội phạm được thực hiện với lỗi
cố ý. Mà cụ thể là lỗi cố ý trực tiếp, bởi vì: Về mặt lý trí, người
phạm tội nhận thức rõ được hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình
trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản là
nguy hiểm cho xã hội, thấy rõ được hậu quả nguy hiểm cho xã
của hành vi đó. Về mặt ý chí thì người thực hiện hành vi cướp tài
sản mong muốn thực hiện được hành vi của mình, mong muốn
chiếm đoạt được tài sản.
Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người
phạm tội thực hiện tội phạm. Mục đích phạm tội là kết quả cuối
cùng mà người phạm tội mong muốn đạt được khi thực hiện tội
phạm.
Động cơ phạm tội của người phạm tội “cướp tài tài sản” là
vụ lợi, mục đích phạm tội là chiếm đoạt tài sản của người khác.
4. Về chủ thể của tội phạm

1 Thông tư số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP Ngày 25 tháng 12 năm 2001 về việc hướng
dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV "các tội xâm phạm sở hữu" của bộ luật hình sự năm
1999.


6

Chủ thể của tội phạm là cá nhân, pháp nhân thương mại
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ
luật hình sự khi thỏa mãn những điều kiện nhất định để trở
thành chủ thể của tội phạm.
Điều kiện để cá nhân trở thành chủ thể của tội phạm là khi
người đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội khi đã đạt độ
tuổi nhất định và có năng lực trách nhiệm hình sự. Điều kiện để
pháp nhân trở thành chủ thể của tội phạm được quy định tại
Điều 75 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ
luật hình sụ 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), theo đó:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về
mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định
khác.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141,
142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248,
249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và
304 của Bộ luật này.”
Đối với tội “cướp tài sản” thì chủ thể của tội này là người từ
đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.
II. Phân biệt tội “cướp tài sản” với tội “cưỡng đoạt tài
sản”
1. Dấu hiệu pháp lý của tội “cưỡng đoạt tài sản”
Tội “cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều 170 Bộ luật
hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), theo đó thì tội cướp tài
sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy
hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.


7

Các yếu tố cấu thành của tội “cưỡng đoạt tài sản” đó là:
1.1. Về khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quyền sở hữu tài sản của Nhà
nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân và quyền
bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm con người.
1.2. Về mặt khách quan
Tội cưỡng đoạt tài sản được thể hiện ở hành vi đe dọa sẽ
dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác
nhằm chiếm đoạt tài sản.
Hành vi đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản là
hành vi đe dọa dùng sức mạnh vật chất tấn công người quản lý
tài sản với ý thức làm cho người đó căn cứ lo sợ rằng nếu không
để cho người phạm tội chiếm đoạt tài sản thì sau một khoảng
thời gian nhất định từ khi đe dọa sẽ bị gây thiệt hại đến tính
mạng, sức khỏe của người quản lý tài sản hoặc người thân của
người đó.
Hành vi uy hiếp tinh thần là hành vi khác ngoài hành vi đe
dọa sẽ dùng vũ lực với ý thức làm cho người quản lý tài sản có
căn cứ để lo sợ rằng nếu không đưa tài sản cho người phạm tội
chiếm đoạt thì sau một thời gian nhất định thì sẽ bị người phạm
tội gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của
mình hay của người thân. Thủ đoạn đe dọa có thể là sẽ lan
truyền những thông tin mà người quản lý tài sản muốn giữ bí
mật nhằm khống chế tinh thần của người quản lý tài sản dưới
các hình thức như: tung thông tin đó lên mạng, gọi điện, phát tờ
rơi, đăng báo…
1.3. Mặt chủ quan của tội phạm


8

Tội “cưỡng đoạt tài sản” được thực hiện với lỗi cố ý, động
cơ của người phạm tội là vì động cơ vụ lợi. Mục đích của tội
phạm là nhằm chiếm đoạt tài sản.
1.4. Về chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người từ đủ 16 tuổi trở lên đối với
trường hợp phạm tội tại khoản 1, từ đủ 14 tuổi trở lên đối với
trường hợp phạm tội tại khoản 2, 3,4 của Điều 170 Bộ luật hình
sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và có năng lực trách nhiệm
hình sự.
2. Một số điểm phân biệt tội “cướp tài sản” với tội
“cưỡng đoạt tài sản”
Tội “cướp tài sản” và tội “cưỡng đoạt tài sản” là hai tội
trong nhóm tội xâm phạm quyến sở hữu theo quy định của Bộ
luật hình sự. Hai tội trên đều cùng xâm phạm đến khách thể là
quyền sở hữu là quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân. Cả hai tội đều được thực hiện
với lỗi cố ý và có động cơ vụ lợi với mục đích là chiếm đoạt tài
sản của người khác.
Tuy nhiên giữa tội “cướp tài sản” và tội “cưỡng đoạt tài
sản” có một số điểm khác biệt cơ bản đó là:
Thứ nhất, trong mặt khách quan tội “cướp tài sản” và tội
“cưỡng đoạt tài sản” đều có cùng hành vi là đe dọa dùng vũ lực
để đe dạo nạn nhân. Tuy nhiên khác với hành vi đe dọa dùng vũ
lực ngay tức khắc trong tội “cướp tài sản” thì hành vi đe dọa
dùng vũ lực trong tội “cưỡng đoạt tài sản” là đe dọa sẽ dùng vũ
lực trong tương lai. Người đe dọa không có ý thức dùng ngay lập
tức sức mạnh vật chất để tấn công và người bị đe dọa cũng
nhận thức được là người phạm tội không có ý thức dùng ngay
sức mạnh vật chất nếu không đưa tài sản cho người phạm tội


9

chiếm đoạt. Người bị đe dọa hoàn toàn có điều kiện về mặt thời
gian để lựa chọn các biện pháp chuẩn bị phòng vệ hoặc báo cáo
với cơ quan chức năng có thẩm quyền để bắt giữ người phạm
tội mà không phải đưa tài sản cho người phạm tội chiếm đoạt.
Việc chứng minh người phạm tội là đe dọa dùng vũ lực
ngay tức khắc hay chỉ là đe dọa dùng vũ lực thì cần phải dựa
vào các yếu tố như: Cách thức đe dọa, công cụ phương tiện
phạm tội, hoàn cảnh, thời gian cũng như địa điểm nơi xảy ra
hành vi đe dọa vớ nạn nhân... Ví dụ như một nam thanh niên
xông vào một cửa hàng tạp hóa vào lúc đêm muộn khi của hàng
vắng không có khách và dùng súng chĩa về phía người nhân
viên thu ngân của cửa hàng ở lại cuối cùng để dọn dẹp cửa
hàng trước khi ra về yêu cầu lấy tiền của cửa hàng cho mình
nếu không sẽ nổ súng. Ở trường hợp này nạn nhân là người
nhân viên thu ngân hiểu rằng nếu như không đưa đưa tiền cho
tên cướp thì sẽ bị bắn chết.
Thứ hai, trong tội cướp tài sản, việc đe dọa dùng vũ lực
không bắt buộc người phạm tội có khả năng thực tế sử dụng vũ
lực khi cần thiết, ngay cả trong trường hợp người phạm tội biết
rõ mình không thể thực hiện hành vi dùng vũ lực nhưng những
hành vi, những biểu hiện bên ngoài làm cho người bị hại hiểu
rằng nếu không giao tài sản thì sẽ ngay lập tức bị dùng vũ lực,
thì hành vi đó vẫn phạm tội “cướp tài sản”. Ví dụ, các trường
hợp sử dụng súng giả, lựa đạn giả đe dọa nạn nhân để cướp tài
tài sản.
Thứ ba, một người đang có hành vi của tội cưỡng đoạt tài
sản có thể chuyển hóa sang tội cướp tài sản khi mục đích cưỡng
đoạt của họ không đạt được và họ có những hành vi đe dọa
ngay tức khắc đối với người bị hại. Ví dụ: A và B có tình cảm yêu


10

đương với nhau, nhiều lần quan hệ A đều quay video lại nói là
để làm kỉ niệm, tuy nhiên do phát hiện A là một kẻ nghiện ma
túy nên B đã chia tay A. Vì hết tiền tiêu A đã gọi điện cho B đe
dọa B sau ba ngày phải đưa cho mình 50 triệu đồngng nếu
không sẽ phát tán các clip có nội dung nhạy cảm của hai người
lên mạng xã hội để B hết đường yêu người khác. Sau ba ngày B
không đưa tiền cho A cho nên A đã đến gặp B kề dao vào cổ B
yêu cầu B chuyển tiền vào tài khoản của mình. Trong trường
hợp này, A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài
sản mặc dù hành vi ban đầu của A là biểu hiện của tội cưỡng
đoạt tài sản.
III. Thực trạng tội “cướp tài sản” trong thời gian qua
1. Thực trạng
Trong những năm vừa qua, tình hình tội phạm trên cả nước
ngày càng diễn biến phức tạp. Số lượng vụ vi phạm pháp luật
hình sự có xu hướng tăng, các hành vi phạm tội ngày càng tinh
vi, xảo quyệt trên tất cả các lĩnh vực. Trong nhóm tội về xâm
phạm quyền sở hữu thì tội “cướp tài sản” là một trong những tội
thường xuyên xảy ra và có những diễn biến phức tạp, điều đó
được thể hiện ở một số điểm sau:
Thứ nhất, số vụ cướp tài sản xảy ra ngày càng nhiều, chỉ
tính riêng năm 2014, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.528
vụ cướp tài sản2. Trong đó số lượng lớn những vụ cướp xảy ra ở
các thành phố lớn nơi tập trung nhiều khu công nghiệp lớn như:
Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai…
Thứ hai, những đối tượng phạm tội “cướp tài sản” ngày
càng táo bạo, công khai và thể hiện sự coi thường tính mạng,
sức khỏe, tài sản của người khác. Thời gian gần đây, đối tượng
2 http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/1968/Toi-pham-xam-pham-so-huu-o-nuoc-tava-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-phong-ngua-dau-tranh-trong-tinh-hinh-moi


11

phạm tội sử dụng hung khí, công cụ hỗ trợ, vũ khí nóng gây án
ngày càng gia tăng và sẵn sàng chống trả lại lực lượng truy bắt
khi bị phát hiện, chạy trốn, các đối tượng có xu hướng chuyển
dần từ sự trốn tránh, né tránh sang sẵn sàng đối đầu với lực
lượng thi hành công vụ và người dân khi bị truy bắt
Thứ ba, số vụ cướp tài sản với giá trị lớn thường xuyên xảy
ra liên tiếp, có thể kể đến một số vụ như: Vụ Cướp và đặt mìn
tại Agribank Bắc Giang, tại phòng giao dịch Dĩnh Kế của Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank Bắc Giang
2) cướp đi số tiền khoảng 2 tỷ đồng xảy ra vào Khoảng 15h25
ngày 26/1/2018. Cướp ngân hàng xảy ra vào khoảng 10h ngày
5/9/2018,

Ngân

hàng

TMCP

Ngoại

thương

Việt

Nam

(Vietcombank) chi nhánh thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hoà với số
tiền là 4,5 tỷ đồng. Hay như vụ cướp Cướp ngân hàng
VietinBank ở Tiền Giang, tại Phòng giao dịch Châu Thành (thuộc
VietinBank Tiền Giang) vào ngày 13/9/2018 với số tiền bị cướp
là 945 triệu đồng3...
Thứ tư, tội phạm cướp có tổ chức ngày càng gia tăng,
chúng thành lập những băng nhóm cướp có tổ chức, có vũ trang
và ngày càng manh động, sẵn sàng ra tay mọi lúc, mọi nơi. Điều
này gây hoang mang lớn trong dư luận xã hội, tạo nỗi lo cho
người dân.
Thứ năm, các đối tượng gây án đa phần là đối tượng lưu
manh chuyên nghiệp, có tiền án tiền sự, đa số là nam giới tuổi
đời còn trẻ, không có nghề nghiệp hoặc nghề nghiệp không ổn
định, nhiều đối tượng nghiện ma túy, trong số đó số lượng người
chưa thành niên chiếm một tỉ lệ thương đối lớn.
2. một số nguyên nhân của tình trạng trên
3 https://vietnambiz.vn/nhung-vu-cuop-ngan-hang-xon-xao-du-luan-tu-dau-nam-86176.html


12

Chúng ta có thể thấy rằng tình hình tội phạm cướp tài sản
diễn ra rất phức tạp về cả số lượng cũng như tính chất, mức độ.
Một số nguyên nhân của tình trạng trên đó là:
Thứ nhất, Công tác nắm tình hình của một số Công an đơn
vị, địa phương, nhất là cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, có nơi, có
lúc chưa kịp thời, chưa nắm chắc diễn biến tình hình tội phạm,
chưa đánh giá, dự báo đúng tình hình diễn biến của tôi phạm để
có giải pháp đấu tranh hiệu quả. Công tác quản lý địa bàn, quản
lý nhân hộ khẩu đặc biệt, quản lý đối với số đối tượng có tiền
án, tiền sự, đối tượng không nghề nghiệp… cũng như di biến
động của các loại đối tượng chưa chặt chẽ, kịp thời của lực
lượng Công an cơ sở ở một số nơi còn sơ hở, lỏng lẻo, chưa làm
tốt công tác quản lý địa bàn, quản lý đối tượng. Công tác phối
hợp trao đổi thông tin về di biến động của đối tượng trong diện
quản lý, nhất là đối tượng hoạt động băng nhóm, đối tượng hoạt
động gây án liên tuyến, liên tỉnh chưa tốt, nên không kịp thời
cập nhật thông tin và quản lý được đối tượng.
Thứ hai, Một số nơi, một số địa bàn chưa làm tốt công tác
tuyên truyền về phòng chống tội phạm, thông báo về phương
thức thủ đoạn hoạt động của các tội phạm xâm phạm sở hữu,
nhất là tội phạm trộm cắp, cướp, cướp giật, lừa đảo chiếm đoạt
tài sản để người dân nâng cao ý thức cảnh giác, phòng chống
tội phạm4.
Thứ ba, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, văn
hóa, đạo đức, lối sống trong quần chúng nhân dân nhất là thanh
thiếu niên chưa được coi trọng đúng mức, còn thiếu cả về bề
rộng và chiều sâu. Do vậy, việc nắm vững pháp luật và thực
hiện pháp luật còn hạn chế, nhiều người chưa nhận thức đầy đủ
4 http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/1968/Toi-pham-xam-pham-so-huu-o-nuoc-tava-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-phong-ngua-dau-tranh-trong-tinh-hinh-moi


13

về tội phạm, tính nguy hiểm của mình do không hiểu biết pháp
luật. Một bộ phận không nhỏ đối tượng là người chưa thành niên
khi thực hiện hành vi mà không biết rằng đó là hành vi phạm
tội.
Thứ tư, Nguyên nhân xuất phát từ gia đình và nhà trường.
Trong những năm qua, vấn đề giáo dục con cái trong nhiều gia
đình chưa thật sự được chú trọng. Nhà trường chưa chú ý đến
việc giáo dục pháp luật, lối sống cho học sinh dẫn đến những
suy nghĩ lệch lạc trong một bộ phận giới trẻ dẫn đến hành vi sai
trái, phạm tội.
Thứ năm, đó là nguyên nhân xuất phát từ xã hội, đó là do
tình hình thiếu việc làm hiện nay dẫn đến nhiều người không có
việc làm, không có thu nhập từ đó nảy sinh ra những suy nghĩ
xấu dẫn đến hành vi phạm tội. Hay như nhiều trường hợp sự kì
thị của xã hội với nhũng người phạm tội mới ra tù làm cho họ
không thể hòa nhập với cộng đồng được dẫn đến họ lại tiếp tục
con đường phạm tội.
3. Một số giải pháp khắc phục
Để khắc phục một số tồn tại, hạn chế trên nhằm ghóp
phần vào công tác phòng chống tội phạm nói chung, tội cướp
tài sản nói riêng, chúng ta cầng thực hiện tốt và đồng bộ một số
giải pháp sau:
Thứ nhất, cần tăng cường công tác phối hợp giữa các lực
lượng, nhất là lực lượng chuyên trách phòng chống tội phạm với
lực lượng Công an cơ sở quản lý chặt chẽ địa bàn, tăng cường
công tác quản lý nhân hộ khẩu, quản lý chặt chẽ, nắm chắc di
biến động của các loại đối tượng, nhất là các đối tượng hoạt
động lưu động, tham gia băng nhóm tội phạm xâm phạm sở
hữu, đối tượng hoạt động liên tuyến, liên tỉnh. Thường xuyên


14

thông báo, trao đổi cập nhật thông tin kịp thời về di biến động
của các đối tượng này.
Thứ hai, thực hiện tốt công tác tuyên truyền phòng chống
tội phạm trong nhân dân. Tập trung làm tốt công tác cảnh báo
cho người dân nói chung và những người làm các nghề mà bọn
cướp tài sản thường lợi dụng để gây án nói riêng, đồng thời
hướng dẫn các biện pháp đề phòng khi phát hiện tội phạm, cách
thức báo tin cho cơ quan Công an, những biện pháp tự vệ tích
cực khi bị kẻ phạm tội tấn công cướp tài sản.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp
luật, văn hóa, đạo đức, lối sống trong quần chúng nhân dân
nhất là thanh thiếu niên nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật của
người dân đặc biệt là với thanh thiếu niên. Từ đó nâng cao ý
tuân thủ pháp luật của người dân, không thực hiện hành vi
phạm tội.
Thứ tư, gia đình và nhà trường cần quan tâm hơn nữa công
tác giáo dục con cái, học sinh, trang bị cho những đối tượng này
những kĩ năng sống, những quan điểm tích cực trong cuộc sống.
Thứ năm, tăng cường công tác đào tạo nghề và việc làm,
giải quyết tốt vấn đề việc làm tạo ra nhiều việc làm mới từ giảm
tỉ lệ thiếu việc làm và thất nghiệp, khi đã có việc làm và thu
nhập ổn định thì sẽ không còn nảy sinh ý định phạm tội. Ngoài
ra công tác giúp người phạm tội tái hòa nhập cộng đồng sau khi
cải tạo cũng cần được chú trọng hơn, không phân biệt, đói xử
với họ để họ có thể hòa nhập với cộng đồng từ đó không quay
lại con đường phạm tội.
C. KẾT LUẬN
Qua những phân tích ở trên chúng ta đã thấy rõ được
những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội “cướp tài sản” đồng


15

thời cũng thấy được những điểm đặc trưng cơ bản của nó so với
tội “cưỡng đoạt tài sản”. Hai tội đều cùng xâm phạm một quan
hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, lỗi và động cơ, mục
đích của người phạm tội của cả hai tội đều có những điểm tương
đồng. Tuy nhiên bên cạnh một số điểm tương đồng thì giữa hai
tội cũng có những điểm cơ bản để phân biệt hai tội với nhau.
Việc phân biệt tội “cướp tài sản” với tội “cưỡng đoạt tài sản” có
ý nghĩa rất to lớn vì thông qua đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
việc định tội trong các trường hợp cụ thể, để việc định tội được
chính xác, tránh được sự nhầm lẫn dẫn đến truy cứu không
đúng tội làm xảy ra tình trạng oan sai hặc bỏ lọt tội phạm.
Qua đây ta cũng thấy được tình hình phạm tội “cướp tài
sản” ngày càng diễn biến phức tạp. Đồng thời cũng thấy được
một số nguyên nhân của tình trạng đó. Để khắc phục được
những hạn chế còn tồn tại chúng ta cần thực hiện đồng bộ một
số biện pháp đã đưa ra, từ đó bảo đảm tốt công tác giữ gìn an
ninh chật tự và phòng chống tội phạm trren cả nước.


16

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017).
2. Thông tư số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP Ngày
25 tháng 12 năm 2001 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy
định tại chương XIV "các tội xâm phạm sở hữu" của bộ luật hình
sự năm 1999.
3. Trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội. “Giáo trình luật hình sự Việt
Nam” (phần chung). Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật. 2014.
4. Trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội. “Giáo trình luật hình sự Việt
Nam” (phần các tội phạm – tập 1). Nxb Đại học quốc gia hà Nội.
2016.
5. Ts.Lê Đăng Doanh. “Định tội danh với các tội xâm phạm sở
hữu”. Nxb Tư pháp. 2014.
6. Gs.Ts. Nguyễn Ngọc Hòa. “Tội phạm và cấu thành tội phạm”.
Nxb Tư pháp. 2015.
7. https://vietnambiz.vn/nhung-vu-cuop-ngan-hang-xon-xao-duluan-tu-dau-nam-86176.html
8.

http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/1968/Toi-pham-

xam-pham-so-huu-o-nuoc-ta-va-giai-phap-nang-cao-hieu-quaphong-ngua-dau-tranh-trong-tinh-hinh-moi


17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×