Tải bản đầy đủ

“Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động”

MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
B. NỘI DUNG......................................................................................................1
I. Khái quát chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động...............................1
1. Khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động...............................................1
2. Ý nghĩa của của việc thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động................2
II. Quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động..................3
1. Quy định chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động.................................3
1.1. Quy định chung........................................................................................3
1.2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong
công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động...................................................5
2. Quy định về chăm sóc sức khỏe người lao động...........................................6
3. Quy định về phương tiện bảo vệ cá nhân.......................................................8
4. Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ nghơi.......................................9
5. Quy định về bồi dưỡng bằng hiện vật............................................................9
III. Thực trạng thực hiện công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trong
thời gian vừa qua...............................................................................................11
1. Một số thành tựu đã đạt được trong thời gian qua.......................................11
2. Một số hạn chế trong việc thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động
trong thời gian qua...........................................................................................13
3. Đề xuất hướng giải quyết.............................................................................14

C. KẾT LUẬN...................................................................................................15
Tài liệu tham khảo:...........................................................................................16

1


A. MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế đất nước đang trên đà phát triển,
nền công nghiệp của nước ta cũng có những sự phát triển mới vượt bậc, số
lượng các nhà máy, khu công nghiệp, khu chế xuất ngày càng được xây dựng
nhiều đã giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động. Tuy nhiên bên
cạnh sự phát triển thì cũng còn có những hạn chế nhất định đặc biệt là trong
công tác bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động. Đây là vấn đề được nhà nước quan
tâm. Vậy pháp luật đã có những quy định như thế nào? Thực tiễn thực hiện công
tác an toàn – vệ sinh lao động đã đạt được những kết quả gì? Còn khó khăn,
vướng mắc gì? Để trả lời cho những câu hỏi trên Em xin chọn đề tài “Đánh giá
thực trạng các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động” làm
đề tài cho bài tiểu luận của mình.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động
1. Khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động
Dưới góc độ kinh tế xã hội, anh toàn lao động, vệ sinh lao động được hiểu
là các giải pháp thực hiện nhằm ngăn ngừa các yếu tố nguy hiểm, nặng nhọc,
độc hại từ đó thiết lập môi trường lao động an toàn, vệ sinh bảo vệ tính mạng,
sức khỏe và tôn trọng nhân cách của người lao động.
Dưới góc độ pháp lý, an toàn lao động, vệ sinh lao động là một chế định
của ngành luật lao động do nhà nước ban hành chứa đựng các quy phạm mang
tính bắt buộc về điều kiện lao động an toàn và vệ sinh cũng như các biện pháp
phòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong
môi trường lao động nhằm bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân cách người lao
động.
Theo quy định của Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 thì: “An toàn lao
động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo
đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao
2


động” (khoản 2 Điều 3); “Vệ sinh lao động là giải pháp phòng, chống tác động
của yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe cho con người trong quá
trình lao động” (khoản 3 Điều 3).


Như vậy chúng ta có thể hiểu an toàn lao động - vệ sinh lao động là
tổng hợp các biện pháp về khoa học- kĩ thuật, y tế- vệ sinh học, kinh tế học…
được tiến hành nhằm thiết lập điều kiện làm việc đảm bảo an toàn, vệ sinh
cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao động
hoặc giảm thiểu tỉ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm
việc.
2. Ý nghĩa của của việc thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động
Trong nền kinh tế thị trường phát triển hiện nay, số lượng người lao động
ngày càng tăng, nền sản xuất ngày càng phát triển cho nên vấn đề an toàn - vệ
sinh lao động ngày càng được quan tâm. Việc thực hiện công tác an toàn - vệ
sinh lao động có ý nghĩa rất to lớn, đó là:
Thứ nhất, việc thực hiện an toàn - vệ sinh lao động là hết sức cần thiết
nhằm hạn chế các tai nạn lao động và nghề nghiệp, tạo tân lý yên tâm cho người
lao động, tiến tới loại bỏ các nguy cơ khách quan có thể gây thiệt hại về sức
khỏe, tính mạng và sự phát triển của người lao động.
Thứ hai, an toàn - vệ sinh lao động tạo sự phát triển ổn định, bảo vệ sức
khỏe của lực lượng lao động xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
môi trường sinh thái. Hiện nay môi trường sống của chúng ta đang bị ô nhiễm
đó là do quá trình xử lý các chất thải, nước thải, khí thải sau quá trình sản xuất
không đúng quy trình vệ sinh lao động. Vì vậy, thực hiện an toàn - vệ sinh lao
động luôn là yêu cầu tất yếu của mọi nền sản xuất xã hội, là yếu tố tạo nên sự
phát triển bền vững của cả cộng đồng.
Thứ ba, việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động sẽ góp phần ổn định sản
xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng sức lao động, tăng năng suất lao động và đảm
bảo chất lượng sản phẩm từ đó đem lại lợi nhuận và hiệu quả kinh tế cao. Chúng
ta có thể thấy rằng, xét về trước mắt thì việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động
sẽ làm phát sinh và tăng thêm chi phí cho doanh nghiệp. tuy nhiên về lâu dài nếu
3


thực hiện tốt an toàn, vệ sinh lao động sẽ hạn chế được khả năng xảy ra tai nạn
lao động, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp cũng như những rủi ro đáng tiếc trong
quá trình lao động. Một khi đã xảy ra tai nạn lao động hoặc bện nghề nghiệp thì
chi phí cho việc khắc phục sẽ rất lớn, uy tín của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng.
Thư tư, việc thực hiện tốt vấn đề an toàn - vệ sinh lao động còn là thước
đo cho sự phát triển của một quốc gia, thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Một
quốc gia phát triển thì số vụ tai nạn lao động cũng như các vấn ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe của người lao động sẽ ít xảy ra. Đây là cũng là yếu tố giúp thu hút
vốn đầu tư từ cá doanh nghiệp nước ngoài vì họ sẽ yên tâm không lo đến vấn đề
các chi phí cho việc khắc phục thiệt hại do các vấn đề tai nạn lao động xảy ra.
II. Quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động
1. Quy định chung về an toàn lao động, vệ sinh lao động
1.1. Quy định chung
Trong công tác bảo đảm an toàn - vệ sinh lao động thì tiêu chuẩn về an
toàn, vệ sinh lao động là một yêu cầu rất quan trọng. Để thực hiện tốt công tác
này thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm nghiên cứu các tiêu
chuẩn an toàn, vệ sinh lao động từ đó làm cơ sở để nhà nước ban hành các quy
phạm pháp luật có tính bắt buộc chung đối với người sử dụng lao động nhằm
đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động. Theo đó, “Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương xây dựng, ban hành và
hướng dẫn tổ chức thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao
động, vệ sinh lao động” (khoản 1 Điều 136 bộ luật lao động 2012). Vấn đề Xây
dựng Chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động được quy
định cụ thể tại Điều 9 Nghị định 45/2013 – NĐCP “Quy định chi tiết một số
điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao
động, vệ sinh lao động” theo đó:
“1. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm xây dựng Chương
trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động theo từng giai đoạn 05
năm, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
4


2. Hằng năm, căn cứ Chương trình quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao
động đã được phê duyệt, dự toán của các Bộ, cơ quan và địa phương, Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội tổng hợp dự toán kinh phí thực hiện Chương
trình cùng với dự toán ngân sách nhà nước gửi Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và
Đầu tư trình cơ quan có thẩm quyền quyết định”.
Các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các
tiêu chuẩn về an toàn - vệ sinh lao động. “Người sử dụng lao động căn cứ tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn
lao động, vệ sinh lao động để xây dựng nội quy, quy trình làm việc bảo đảm an
toàn lao động, vệ sinh lao động phù hợp với từng loại máy, thiết bị, nơi làm
việc” (khoản 2 Điều 136 Bộ luật lao động 2015). Việc thực hiện các tiêu chuẩn
an toàn – vệ sinh lao động trong quá trình lao động đòi hỏi phải có sự tuân thủ
nghiêm ngặt, không thể thỏa thuận hay thay đổi được.
Việc lập phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh
lao động được quy định tại Điều 10 Nghị định 45/2013 – NĐCP “Quy định chi
tiết một số điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và
an toàn lao động, vệ sinh lao động” theo đó:
“1. Khi xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo công trình, cơ sở để sản xuất, sử
dụng, bảo quản, lưu giữ máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an
toàn lao động, vệ sinh lao động thì chủ đầu tư, người sử dụng lao động phải lập
phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với
nơi làm việc của người lao động và môi trường, trình cơ quan có thẩm quyền
cho phép xây dựng mới, mở rộng, cải tạo công trình, cơ sở.
2. Phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động
phải có các nội dung chính sau đây:
a) Địa điểm, quy mô công trình, cơ sở phải nêu rõ khoảng cách từ công trình,
cơ sở đến khu dân cư và các công trình khác;
b) Liệt kê, mô tả chi tiết các hạng mục trong công trình, cơ sở;
c) Nêu rõ những yếu tố nguy hiểm, có hại, sự cố có thể phát sinh trong quá trình
hoạt động;
5


d) Các biện pháp cụ thể nhằm loại trừ, giảm thiểu các yếu tố nguy hiểm, có hại;
phương án xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp”.
1.2. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động trong
công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động
Để công tác an toàn – vệ sinh lao động được thực hiện một cách có hiệu
quả thì người sử dụng lao động cuãng nhu người lao động cần phải thực hiện tốt
các quyền và nghĩa vụ của mình.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật lao động, người sử dụng có các
nghĩa vụ đó là:
“a) Bảo đảm nơi làm việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí
độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, các yếu tố có hại khác được
quy định tại các quy chuẩn kỹ thuật liên quan và các yếu tố đó phải được định
kỳ kiểm tra, đo lường;
b) Bảo đảm các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với máy, thiết
bị, nhà xưởng đạt các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh
lao động hoặc đạt các tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi
làm việc đã được công bố, áp dụng;
c) Kiểm tra, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc của cơ sở để
đề ra các biện pháp loại trừ, giảm thiểu các mối nguy hiểm, có hại, cải thiện
điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động;
d) Định kỳ kiểm tra, bảo dưỡng máy, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng;
đ) Phải có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với máy, thiết
bị, nơi làm việc và đặt ở vị trí dễ đọc, dễ thấy tại nơi làm việc;
e) Lấy ý kiến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở khi xây dựng kế hoạch
và thực hiện các hoạt động bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động”.
Ngoài các quy định của bộ luật lao động, nghĩa vụ của người sử dụng lao động
còn được quy định tại khoản 2 Điều 7 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.
Bên cạnh các nghĩa vụ thì người sử dụng lao động có các quyền đó là:
“a) Yêu cầu người lao động phải chấp hành các nội quy, quy trình, biện pháp
bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc;
6


b) Khen thưởng người lao động chấp hành tốt và kỷ luật người lao động vi
phạm trong việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động;
c) Khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật;
d) Huy động người lao động tham gia ứng cứu khẩn cấp, khắc phục sự cố, tai
nạn lao động.” (khoản 1 Điều 7 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015).
Một trong những yếu tố quan trọng của việc thực hiện tốt công tác an toàn
- vệ sinh lao động thì người lao động đóng vai trò rất lớn, người lao động có
nghĩa vụ đó là:
“a) Chấp hành các quy định, quy trình, nội quy về an toàn lao động, vệ sinh lao
động có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao;
b) Sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp; các
thiết bị an toàn lao động, vệ sinh lao động nơi làm việc;
c) Báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ gây tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, gây độc hại hoặc sự cố nguy hiểm, tham gia cấp
cứu và khắc phục hậu quả tai nạn lao động khi có lệnh của người sử dụng lao
động”. (khoản 2 Điều 138 Bộ luật lao động 2012).
Ngoài quy định của Bộ luật lao động thì quyền và nghĩa vụ của người lao động
còn được quy định tại Điều 6 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.
2. Quy định về chăm sóc sức khỏe người lao động
Sức khỏe của con người nói chung và người lao động nói riêng là tài sản
quý giá của mỗi quốc gia. Trong công tác an toàn - vệ sinh lao động thì việc bảo
vệ sức khỏe của người lao động là một nhiệm vụ trọng tâm. Theo pháp luật hiện
hành, vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người lao động được quy định như sau:
“a, Căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe cho từng loại công việc, người sử dụng lao
động sẽ tuyển dụng và sắp xếp công việc hợp lý.
b, Người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe cho người lao động, kể
cả người học nghề, tập nghề định kỳ hàng năm; đối với lao động nữ phải được
khám chuyên khoa phụ sản. Người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người lao
động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao
tuổi phải được khám sức khỏe ít nhất 6 tháng một lần.
7


c, Người lao động làm việc trong môi trường tếp xúc với các yếu tố có nguy cơ
mắc bện nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp theo quy định
của Bộ y tế. người sử dụng lao động đưa người lao động được chuẩn đoán mắc
bệnh nghề nghiệp đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện chuyên môn kỹ
thuật để điều trị theo phác đồ điều trị bệnh nghề nghiệp do Bộ trưởng bộ y tế
quy định.
d, Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi
bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi bị tai nạn lao động, bện nghề nghiệp đã phục
hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được hội đồng y khoa
giám định mức suy giảm khả năng lao động.
đ, Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải được giám định y
khoa để xếp hạng thương tật, xác định mức độ suy giảm khả năng lao động và
được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo đúng quy định của
pháp luật.
Sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nếu còn tiếp tục àm việc,
thì người lao động được sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận
của Hội đồng giám định y khoa.
e, Người sử dụng lao động có trách nhiệm lập và quản lý hồ sơ sức khỏe của
người lao động, hồ sơ sức khỏe của người bị bệnh nghề nghiệp; thông báo kết
quả khám sức khỏe, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp để người lao động biết;
hàng năm, báo cáo về việc quản lý sức khỏe người lao động thuộc trách nhiệm
quản lý cho cơ quan nhà nước về y tế có thẩm quyền.
g, Hàng năm, khuyến khích người sử dụng lao động tổ chức cho người lao làm
nghề, công việc nặn nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động làm công việc
đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và người lao động có sức khỏe khám
được điều dưỡng phục hồi sức khỏe”.1
Các quy định về khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người
lao động còn được quy định tai Điều 21 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.
1 Trường đại học Kiểm Sát Hà Nội, Giáo trình Luật lao động, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2016, trang 269,
270.

8


3. Quy định về phương tiện bảo vệ cá nhân
Phương tiện bảo vệ cá nhân là những công cụ, phương tiện cần thiết mà
người lao động phải được trang bị để sử dụng trong khi làm việc hoặc thực hiện
nhiệm vụ để bảo vệ cơ thể khỏi các tác động của cá yếu tố nguy hiểm, độc hhaij
phát sinh trong quá trình lao động, khi cá giải pháp công nghệ, thiết bị, kỹ thuật
an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc chưa thể loại trừ hết.
Phương tiện bảo vệ cá nhân bao gồm: Phương tiện bảo vệ đầu; phương
tiện bảo vệ mứt, mặt; phương tiện bảo vệ thính giác; phương tiện bảo vệ cơ quan
hô hấp; phương tiện bảo vệ tay, chân; phương tiện bảo vệ thhaan thể; phương
tiện chống ngã cao; phương tiện chống điện giật, điện từ trường; phương tiện
chống chết đuối; và các phương tiện bảo đảm an toàn vệ sinh lao động khác.
Điều 23 Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 có quy định về phương tiện
bảo vệ cá nhân trong lao động, theo đó:
“1. Người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được
người sử dụng lao động trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải
sử dụng trong quá trình làm việc.
2. Người sử dụng lao động thực hiện các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật, thiết
bị để loại trừ hoặc hạn chế tối đa yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và cải thiện
điều kiện lao động.
3. Người sử dụng lao động khi thực hiện trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân
phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Đúng chủng loại, đúng đối tượng, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng theo tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
b) Không phát tiền thay cho việc trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân; không
buộc người lao động tự mua hoặc thu tiền của người lao động để mua phương
tiện bảo vệ cá nhân;
c) Hướng dẫn, giám sát người lao động sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân;
d) Tổ chức thực hiện biện pháp khử độc, khử trùng, tẩy xạ bảo đảm vệ sinh đối
với phương tiện bảo vệ cá nhân đã qua sử dụng ở những nơi dễ gây nhiễm độc,
nhiễm trùng, nhiễm xạ.
9


4. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về chế độ trang
cấp phương tiện bảo vệ cá nhân trong lao động.”
4. Quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ nghơi
Thời giờ làm việc có có ảnh hưởng quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe
người lao động. Nếu làm việc trong khoảng thời gian hợp lý, đảm bảo thời gian
nghỉ ngơi là một trong các yếu tố góp phần bảo đảm sức khỏe người lao động,
việc kéo dài thời gian lao động sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như khả năng
tái tạo sức lao động của người lao động. Nếu làm việc vào ban đêm, làm thêm
hay làm vào cuối giờ làm việc thì khả năng xảy ra tai nạn lao động cao hơn là
làm việc vào ban ngày, bởi vì vào những thời điểm đó, cơ thể con người thường
mệt mỏi, xuất hiện các thao tác thiếu chính xác, phản xạ chậm nên không ứng
phó kịp thời với các sự cố bất thường xảy ra trong quá trình sản xuất, do đó việc
quy định thời giờ làm việc thời giờ nghỉ nghơi hợp lý có ý nghĩa với việc hạn
chế tai nạn lao động và các sự cố khác trong lao động.
Các quy định về thời giờ làm việc cũng như thời giờ nghỉ nghơi được quy
định tại Chương VII Bộ luật lao động và tại Chương 2 Nghị định 45/2013 –
NĐCP “Quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao động về thời giờ làm việc,
thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động”. ngoài các quy định
của pháp luật thì người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận
với nhau về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi trong hợp đồng lao động hay
trong thỏa ước lao động tập thể, và những thỏa thuận đó không được trái quy
định của pháp luật.
5. Quy định về bồi dưỡng bằng hiện vật
Để bồi dưỡng sức khỏe cũng như tăng cường sức đề kháng của cơ thể
người lao động, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động cần
cung cấp cho người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu
tố có hại một số hiện vật có giá trị dinh dưỡng cao, có tác dụng giảm bớt hậu
quả của các yếu tố độc hại (như đường, sữa, trúng, hoa quả…).

10


Công tác bồi dưỡng bằng hiện vật là hết sức cần thiết và đóng vai trò quan
trọng, và phải được thực hiện theo các nguyên tắc đó là:
“a) Giúp tăng cường sức đề kháng và thải độc của cơ thể;
b) Bảo đảm thuận tiện, an toàn, vệ sinh thực phẩm;
c) Thực hiện trong ca, ngày làm việc, trừ trường hợp đặc biệt do tổ chức lao
động không thể tổ chức bồi dưỡng tập trung tại chỗ.” (khoản 2 Điều 24 Luật an
toàn, vệ sinh lao động 2015).
Mức bồi dưỡng cụ thể với từng người lao động được xá định như sau:
“a) Đối với người lao động đủ các điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 2
của Thông tư này, nếu làm việc từ 50% thời giờ làm việc bình thường trở lên
của ngày làm việc thì được hưởng cả định suất bồi dưỡng, nếu làm dưới 50%
thời giờ làm việc bình thường của ngày làm việc thì được hưởng nửa định suất
bồi dưỡng theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này;
Trong trường hợp người lao động làm thêm giờ, định suất bồi dưỡng bằng hiện
vật được tăng lên tương ứng với số giờ làm thêm theo nguyên tắc trên;
b) Người sử dụng lao động xem xét, quyết định việc thực hiện bồi dưỡng bằng
hiện vật ở mức 1 (10.000 đồng) đối với người lao động làm các công việc không
thuộc danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban
hành, nhưng đang làm việc trong môi trường lao động có ít nhất một trong các
yếu tố nguy hiểm, độc hại không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép hoặc trực tiếp
tiếp xúc với các nguồn gây bệnh truyền nhiễm”. (khoản 4 Điều 3 Thông tư Số:
25/2013/TT-BLĐTBXH “Hướng dẫn thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật
đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại”).
Người sử dụng lao động có trách nhiệm “phải áp dụng các biện pháp kỹ
thuật, tăng cường các thiết bị an toàn và vệ sinh lao động để cải thiện điều kiện
lao động; khi chưa thể khắc phục được hết các yếu tố nguy hiểm, độc hại thì
phải tổ chức bồi dưỡng bằng hiện vật cho người lao động để ngăn ngừa bệnh
tật và bảo đảm sức khỏe cho người lao động. Khi người sử dụng lao động áp
dụng các biện pháp kỹ thuật, tăng cường thiết bị an toàn lao động và cải thiện
11


điều kiện lao động, bảo đảm không còn yếu tố nguy hiểm, độc hại thì dừng thực
hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật” (khoản 1 Điều 4 Thông tư Số:
25/2013/TT-BLĐTBXH “Hướng dẫn thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật
đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, độc hại”).
III. Thực trạng thực hiện công tác an toàn lao động, vệ sinh lao động trong
thời gian vừa qua
1. Một số thành tựu đã đạt được trong thời gian qua
Trong những năm gần đây, công tác bảo hộ lao động đã được Nhà nước,
các bộ ngành, đoàn thể và doanh nghiệp quan tâm đầu tư nên nhận thức của
người lao động ngày càng được nâng lên rõ rệt. Cùng với những thành tựu đã
đạt được về phát triển kinh tế và xã hội đất nước, công tác an toàn – vệ sinh lao
động cũng có những chuyển biến tích cực, các cơ sở có nhiều sáng tạo, cải tiến
hợp lý hoá sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, từ đó thúc
đẩy sản xuất phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Một số
thành tựu đã đạt được trong công tác thực hiện an toàn - vệ sinh lao động trong
những năm vùa qua đó là:
Thứ nhất, hệ thống các văn bản pháp luật hướng dẫn và bảo đảm thực thi
chế độ, chính sách về an toàn - vệ sinh lao động được ban hành tương đối đầy đủ
và thường xuyên được bổ sung, sửa đổi phù hợp với tình hình mới. Bộ máy tổ
chức và cán bộ làm công tác quản lý về an toàn - vệ sinh lao động bước đầu
được củng cố từ cơ quan quản lý nhà nước đến các doanh nghiệp.
Thứ hai, công tác thông tin, tuyên truyền được đổi mới, đa dạng hóa dưới
nhiều hình thức: Tính từ năm 2003 đến năm 2016, các ngành, địa phương đã
phát hành đến tận tay người lao động và người sử dụng lao động trên 4 triệu tờ
rơi, panô, khẩu hiệu, tranh, áp phích. Tổ chức thành công 18 Tuần lễ quốc gia về
An toàn - vệ sinh lao động - Phòng chống cháy nổ từ năm 1999-2016. Trong dịp
Tuần lễ Quốc gia các cơ quan, doanh nghiệp đã triển khai nhiều hoạt động như:
Thanh tra, kiểm tra, huấn luyện, thực hành diễn tập phòng cháy chữa cháy, luyện
tập sơ cấp cứu, thi an toàn vệ sinh viên giỏi, thi tìm hiểu pháp luật, kiến thức về
12


an toàn - vệ sinh lao động, phát hành ấn phẩm...thu hút sự tham gia và chú ý của
hàng triệu người lao động mỗi năm, góp phần nâng cao ý thức, nhận thức về
công tác an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động, người lao động2.
Thứ ba, hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động đã có những
chuyển biến tích cực cả về nội dung và phương pháp huấn luyện. Số người được
huấn luyện đã được nâng cao. Các hoạt động hợp tác quốc tế về an toàn – vệ
sinh lao động đã được tăng cường và mở rộng với các nước như: Nhật Bản, Hàn
Quốc, Đan Mạch, Cộng hoà Liên bang Đức và các tổ chức quốc tế ILO, WTO,
WB, ADB..., thu hút viện trợ và các hỗ trợ kỹ thuật khác, giúp Việt Nam giảm
thiểu tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập kinh tế
quốc tế.
Thứ tư, về công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm và kiểm định kỹ thuật
an toàn lao động, mỗi năm bình quân có khoảng 3000.000 đến 5000.000 máy,
thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và khoảng 1.000.000 sản
phẩm hàng hóa là phương tiện bảo vệ cá nhân nhập khẩu. Số lượng các thiết bị
có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động được kiểm định kỹ thuật an toàn
tăng lên hàng năm (năm 2012 là 1.331.852 thiết bị, năm 2013 là 1.819.385 thiết
bị, năm 2014 là 2.323.348 máy, thiết bị. Năm 2016 là trên 3 triệu máy, thiết bị,
vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động)3.
Thứ năm, đối với công tác bảo hộ lao động trong ngành xây dựng cũng
đạt được nhiều thành tựu to lớn, các doanh nghiệp được trang bị đầy đủ các
phương tiện bảo hộ, như quần áo mũ cho người lao động. các nhà thầu xây dựng
ngày càng trang bị đầy đủ vật tư, dàn dáo. Máy công trình, người lao động tránh
làm việc trực tiếp với công việc nặng nhọc, giảm thiểu khả năng gây tai nạn.
Thứ sáu, tần suất tai nạn lao động chết người (số người chết tính trên
100.000 người lao động) đã giảm từ 11,31 giai đoạn 2002- 2005 xuống còn 7,62
giai đoạn 2006 – 2010 và còn 5,85 giai đoạn 2011- 2015.4

2 Báo cáo kết quả của công tác An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) của Cục An toàn lao động (ngày 30/3/2017)
3 Báo cáo kết quả của công tác An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) của Cục An toàn lao động (ngày 30/3/2017).
4 Báo cáo kết quả của công tác An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) của Cục An toàn lao động (ngày 30/3/2017).

13


2. Một số hạn chế trong việc thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động
trong thời gian qua
Trong những năm vừa qua việc thực hiện công tác an toàn – vệ sinh lao
động đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, tuy nhiên bên cạnh những
thành tựu đã đạt được thì còn tồn tại một số hạn chế đó là:
Thứ nhất, số vụ tai nạn lao động còn xảy ra nhiều, số người chết còn cao,
đặc biệt là lao động trong nghành xây dựng. Theo số liệu tổng hợp báo cáo từ
các Sở Lao động – thương binh và Xã hộ, trung bình mỗi năm xảy ra khoảng
6.000 vụ tai nạn lao động, làm hơn 600 người chết.5
Thứ hai, công tác huấn luyện, tập huấn cho người lao động còn chưa thật
sự đem lại chất lượng. Số lượng người lao động đã được đào tạo qua công tác an
toàn - vệ sinh lao động còn chiếm tỉ lệ nhỏ so với tổng số lao động. Nhiều nơi,
nhiều doanh nghiệp công tác đào tạo, huấn luyện còn mang tính hình thức, chưa
thực sự đem lại hiệu quả.
Thứ ba, vấn đề bảo hộ cho người lao động còn chưa thực sự được người
sử dụng lao động quan tâm. Chi phí cho việc mua dụng cụ bảo hộ, thực hiện các
hoạt động xử lý chất thải còn cao dẫn đến nhiều doanh nghiệp không muốn đầu
tư để mua đồ bảo hộ cho công nhân cũng như xử lý các chất thải do quá trình
sản xuất thải ra. Chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều cảnh nhũng người lao động
làm việc tại các công trường xây dựng mà không có đồ bảo hộ hay thậm chí là
leo trên những giàn giáo hàng chục mét mà không có dây bảo hộ. Hoặc có
những doanh nghiệp có đầu tư mua đồ bảo hộ cho công nhân, nhưng chất lượng
của những dụng cụ đó lại không tốt và đảm bảo chất lượng.
Thứ tư, vấn đề sức khỏe của người lao động vẫn chưa thực sự được quan
tâm. Nhiều doanh nghiệp không tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao
động theo đúng quy định của pháp luật, chế độ bồi dưỡng cho người lao động
cũng chưa được quan tâm. Bữa ăn của công nhân ở nhiều doanh nghiệp vẫn
chưa đáp ứng yêu cầu về dinh dưỡng cho người lao động.

5 Báo cáo kết quả của công tác An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) của Cục An toàn lao động (ngày 30/3/2017).

14


Thứ năm, trang thiết bị trong việc bảo đảm an toàn - vệ sinh lao động còn
thiếu thốn, lạc hậu, chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn
kĩ thuật.
Thứ sáu, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về vấn đề an toàn
- vệ sinh lao động còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng dẫn đến việc quản
lý trong vấn đề này còn gặp nhiều khó khăn. “Tính trung bình mỗi năm chỉ có
0,22% doanh nghiệp đang hoạt động được thanh tra pháp luật lao động” 6. Công
tác quản lý chưa được siết chặt dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp không tự
giác trong việc thực hiện công tác an toàn – vệ sinh lao động. “Công tác thống
kê, báo cáo tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được thực hiện 6 tháng, 1 năm.
Tuy nhiên, số doanh nghiệp thực hiện công tác này còn hạn chế, hiện có khoảng
7% tổng số doanh nghiệp có báo cáo hàng năm về tình hình tai nạn lao động,
bệnh nghề nghiệp, số vụ tai nạn lao động được thống kê còn thấp so với thực tế.
Vì vậy chưa phản ánh được bức tranh và thực trạng về tình hình tai nạn lao động
nghiệp hiện nay. Công tác tổng hợp, thống kê báo cáo về công tác an toàn – vệ
sinh lao động và tình hình tai nạn lao động của các địa phương còn chậm, chưa
chính xác. Hàng năm, có khoảng 50% biên bản điều tra tai nạn lao động gửi về
Bộ đúng thời hạn”.7
3. Đề xuất hướng giải quyết
Những khó khăn, vướng mắc trong công tác thực hiện an toàn – vệ sinh
lao động vẫn còn tồn tại khá nhiều, để khắc phục những khó khăn đó nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động chúng ta có thể thực
hiện một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền an toàn – vệ sinh lao động
nhằm nâng cao ý thức, sự tự giác của người sử dụng lao động cũng như nghười
lao động trong công tác thực hiện an toàn – vệ sinh lao động.

6 Báo cáo kết quả của công tác An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) của Cục An toàn lao động (ngày 30/3/2017).
7 Báo cáo kết quả của công tác An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) của Cục An toàn lao động (ngày 30/3/2017).

15


Thứ hai, tăng cường công tác huấn luyện, tập huấn về vấn đề an toàn - vệ
sinh lao động cho người lao động để công tác này thực sự có hiệu quả, không
mang tính hình thức từ đó nâng cao số lượng những người lao động đã qua đào
tạo về an toàn - vệ sinh lao động.
Thứ ba, tích cực, chủ động, tăng cường các hoạt động nghiên cứu để sáng
chế ra những loại dụng cụ, vật liệu bảo hộ lao động mới có chất lượng cao với
giá thành phải chăng.
Thứ tư, tăng cường công tác đào tạo cho đội ngũ cán bộ làm công tác
quản lý về an toàn - vệ sinh lao động. Ngoài ra còn phải tăng cường hợp tác với
các nước trên thế giới đặc biệt là các quốc gia có nền công nghiệp phát triển để
học hỏi kinh nghiệm từ họ.
Thứ năm, cần có các chế tài xử lý cứng rắn hơn nữa để xử lý những doanh
nghiệp vi phạm các quy định về an toàn - vệ sinh lao động. Vì trên thực tế có
nhiều doanh nghiệp chấp nhận nộp phạt để rồi tiếp tục vi phạm bởi vì chi phí
cho nộp phạt còn ít hơn cả chi phí đầu tư cho công tác bảo đảm an toàn – vệ sinh
lao động.
Vấn đề an toàn - vệ sinh lao động không phải là vấn đề ngày một, ngày
hai mà đó là một vấn đề lâu dài, đòi hỏi cần phải thực hiện đồng bộ các biện
pháp khác nhau, từ đó sẽ đem lại hiệu quả cao nhất.
C. KẾT LUẬN
Vấn đề an toàn - vệ sinh lao động đã được pháp luật quy định rất cụ thể và
nhận được nhiều sự quan tâm của nhà nước. Trong quá trình thực hiện công tác
an toàn - vệ sinh lao động đã đạt được nhiều kết quả to lớn đáng ghi nhận. Tuy
nhiên bên cạnh đó thì vẫn còn một số tồn tại và hạn chế cần được khắc phục để
đạt được kết quả cao nhất. Đặc biệt trong quá trình hội nhập hiện nay chúng ta
cần phải hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế để học hỏi kinh nghiệm
đồng thời nhận được sự giúp đỡ từ họ. Việc thực hiện tốt công tác bảo đảm an
toàn – vệ sinh lao động sẽ giúp cho đất nước phát triển hơn đồng thời thu hút
16


đầu tư nước ngoài từ đó vấn đề việc làm sẽ được giải quyết, nền kinh tế đất nước
sẽ đi lên góp phần đưa đất nước sánh vai với các cường quốc trên thế giới.

17


Tài liệu tham khảo:
1. Bộ luật lao động 2012.
2. Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015.
3. Thông tư Số: 25/2013/TT-BLĐTBXH “Hướng dẫn thực hiện chế độ bồi
dưỡng bằng hiện vật đối với người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố
nguy hiểm, độc hại”.
4. Nghị định 45/2013 – NĐCP “Quy định chi tiết một số điều của bộ luật lao
động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao
động”
5. Trường đại học Kiểm Sát Hà Nội, Giáo trình Luật lao động, NXB Đại học
Quốc Gia Hà Nội, 2016.
6. Báo cáo kết quả của công tác An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) của Cục
An toàn lao động (ngày 30/3/2017).

18


19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×