Tải bản đầy đủ

tieuluan canhtranh 055

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
------ oOo ------

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN LUẬT CẠNH TRANH
ĐỀ TÀI THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ HÀNH VI
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ HỒNG PHƯỚC
NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: NHÓM 6

Bình Dương, năm 2018


2

DANH SÁCH NHÓM
Họ Và Tên
1
2
3

4
5
6

Hoàng Duy
Trần Duy Khá
Nguyễn Mạnh Tuấn
Nguyễn Khương Duy
Nguyễn Hữu Luân
Nguyễn Thị Ly

Mã số sinh viên
1523801010224
1523801010277
1523801010234
1523801010254
1523801010312
1523801010040


3

MỤC LỤC
Phần mở đầu_______________________________________________________4
CHƯƠNG I . Khái quát về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh__________4
1.1.

Cạnh Tranh Và Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh_____________4
1.1.1. Khái niệm Cạnh Tranh, Cạnh Tranh không lành mạnh__________4
1.1.2. Đặc điểm Cạnh Tranh không lành mạnh_______________________5

1.2.

Các Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh_______________________7

CHƯƠNG II . Thực tiễn áp dụng quy định về Hành vi Cạnh Tranh không
lành mạnh và Kiện nghị hoàn thiện____________________________________9
2.1.

Thực trạng Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh tại Việt Nam______9



2.2.

Xử lí Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh_____________________11
2.2.1. Quy định của pháp luật về xử lí hành vi cạnh tranh không lành
mạnh ________________________________________________________11
2.2.2. Căn cứ xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh_____________12
2.2.3. Chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh________12

2.3.
Sự thay đổi về quy định Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
Luật Cạnh tranh 2018_______________________________________________14
2.4.

Kiến nghị hoàn thiện_________________________________________15

Kết luận__________________________________________________________17
Danh mục tài liệu tham khảo_________________________________________18
Bảng phân công công việc____________________________________________19


4

THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH
VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Phần mở đầu
Cạnh tranh trong kinh doanh là một hoạt động tất yếu trong nền kinh tế thị
trường. Hoạt động này thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế cũng như xã hội. Tuy
nhiên, hoạt động cạnh tranh bao giờ cũng gây rất nhiều áp lực đối với các doanh
nghiệp trên thương trường. Với mục đích duy trì sự tồn tại, mở rộng thị phần cũng
như đạt lợi nhuận tối đa thì hoạt động cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng trở
nên khốc liệt hơn. Do đó, không ít doanh nghiệp đã dùng những thủ đoạn để cạnh
tranh một cách không lành mạnh. Từ đó, yêu cầu có quy định của pháp luật điều
chỉnh hành vi cạnh tranh không lành là tất yếu, nhằm tạo môi trường cạnh tranh
bình đẳng, góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế cho doanh
nghiệp, đồng thời, xử phạt nghiêm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Vậy
hiện nay, pháp luật Cạnh tranh quy định về hành vi cạnh trạnh không lành mạnh
như thế nào? Sự thay đổi của Luật Cạnh tranh 2018 so với Luật Cạnh trạnh 2004 đã
đủ để hoàn thiện các quy định còn thiếu sót hay chưa? Bài tiểu luận sau đây sẽ đi
tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên nhằm làm rõ “Thực tiễn áp dụng quy định của
pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh”. Qua đó đưa ra một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Cạnh tranh cũng như giảm thiểu các hành
vi vi phạm pháp luật cạnh tranh trong nhóm hành vi “Cạnh tranh không lành
mạnh”.
CHƯƠNG I . Khái quát về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh
I.1.

Cạnh Tranh Và Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh

I.1.1. Khái niệm Cạnh Tranh, Cạnh Tranh không lành mạnh

 Cạnh tranh
Theo từ điển tiếng Việt, “Cạnh tranh là sự cố gắng giành phần hơn, phần thắng về
mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm lợi ích như nhau” 1. Đây là khái
niệm chung cho “Cạnh tranh” trong nhiều mặt của đời sống xã hội. Cạnh tranh là một
hoạt động thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Theo đó có thể hiểu Cạnh tranh kinh
tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế
tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh
tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Về bản chất cạnh tranh kinh
1 Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển tiếng Việt, Hà Nội.


5

tế là sự chạy đua giữa các “doanh nghiệp” trên thị trường nhằm không ngừng tung ra thị
trường những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất với giá cả thấp nhất nhằm thu hút, lôi kéo khách
hàng về phía mình, cùng với mục định tối ưu hóa lợi nhuận có thể đạt được của doanh
nghiệp. Vì thế nhiều doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh theo nhiều hình thái khác
nhau, và một trong số đó là hình thái “Cạnh tranh không lành mạnh”. Vậy hành vi cạnh
tranh không lành mạnh sẽ được hiểu như thế nào? Và nó sẽ có tác động như thế nào đến
nền kinh tế thị trường?
 Cạnh tranh không lành mạnh
Dựa trên tính chất của các hành vi cạnh tranh, có thể chia cạnh tranh thành hai hình
thái là: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.
Cạnh tranh lành mạnh là các hành vi cạnh tranh thực hiện tuân theo các nguyên tắc
của pháp luật, tập quán kinh tế hay các chuẩn mực khác của kinh doanh.
Cạnh tranh không lành mạnh là một hình thái đối lập với cạnh tranh lành mạnh về tính
chất của hành vi. Khi các doanh nghiệp thực hiện các hành vi cạnh tranh mà trái với
nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán kinh tế hay các chuẩn mực khác trong kinh
doanh dẫn đến việc gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho quyền, lợi của các
doanh nghiệp khác, thì đây được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Một hành
vi được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh phụ thuộc vào các nguyên tắc cũng
như tập quán thương mại hay các chuẩn mực khác trong kinh doanh. Mặc khác sự vận
động của xã hội và nhận thức của các quốc gia sẽ thay đổi về các nguyên tắc, tập quán
hay các chuẩn mực đó. Vì vậy, khái niệm cạnh tranh không lành mạnh chỉ có tính chất
tương đối.
I.1.2. Đặc điểm Cạnh Tranh không lành mạnh
Dựa trên khái niệm đã trình bày có thể thấy rõ ba đặc điểm cơ bản thể hiện bản chất
của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Thứ nhất, Hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh.
Đặc điểm này thể hiện quy định về đối tượng áp dụng của Luật cạnh tranh. Theo
đó, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh chỉ bao gồm các doanh nghiệp theo
nghĩa rộng, thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể,
doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, các hiệp hội ngành nghề.
Những đối tượng còn lại như các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức của người tiêu
dùng, các đơn vị truyền thông, các tổ chức phi kinh tế… không là đối tượng áp
dụng các quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh. Nhưng trên
thực tế vẫn có những trường hợp một số tổ chức phi kinh tế, các đơn vị truyền
thông, … thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh
của doanh nghiệp, Ví dụ: việc đưa tin sai sự thật về doanh nghiệp, về hàng hóa,
dịch vụ…. của các đơn vị truyền thông. Với quy định trên, chủ thể thực hiện hành vi
bị hạn chế nên pháp luật cạnh tranh không áp dụng để xử lý những tình huống


6

trên. Mặt khác, đặc điểm này cũng khẳng định hành vi cạnh tranh không lành
mạnh xảy ra trong kinh doanh ở mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế,
mọi công đoạn của quá trình kinh doanh. Pháp luật về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh được áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực kinh tế. Nói
cách khác, pháp luật không giới hạn áp dụng cho bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực
hoặc hoạt động kinh doanh nào của kinh tế quốc dân.
Thứ hai, hành vi cạnh tranh trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán
thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh.
Đây là căn cứ để xác định tính không lành mạnh của hành vi cạnh tranh, phân biệt
giữa cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Khi một hành vi cạnh
tranh đi ngược với nguyên tắc thiện chí, trung thực hay tập quán tương mại hay các
chuẩn mực khác trong kinh doanh thì đó được xem là một hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Theo sự phát triển của nên kinh tế thị trường thì các nguyên tắc cũng như
chuẩn mực này sẽ thay đổi phụ thuộc theo sự phát triển đó. Do đó, dựa trên căn cứ này
thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ biến đổi cũng như thay đổi không ngừng
trên thực tế mà khó có thể định hình rõ ràng và đầy đủ về những hành vi nào là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ ba, hành vi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp
pháp của doanh nghiệp khác.
Một hành vi cạnh tranh khi thực hiện gây ra thiệt hại thực tế hoặc có khả năng gây
thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác. Theo Luật Chống cạnh
tranh không lành mạnh của Cộng hòa liên bang của Đức, cấm “các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm tổn hại đến đối thủ
cạnh tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trường khác”. Luật Cạnh
tranh thương mại của Vương quốc Thái Lan cũng có quy định tương tự: “Thương
nhân không được tiến hành các hoạt động cạnh tranh không tự do và không bình
đẳng, không được tiến hành các hoạt động gây thiệt hại, cản trở hoặc hạn chế đối với
những hoạt động của những thương nhân khác…”2. Có thể thấy đây là đặc điểm để
phân biệt giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh so với các thỏa thuận hạn chế cạnh
tranh. Trong khi các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất hành động của
nhóm doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh, hạn chế khả năng
hành động độc lập của đối thủ cạnh tranh, làm thay đổi tình trạng và quy luật cạnh
tranh trên thị trường. Thoả thuận hạn chế cạnh tranh, không cần phải xác định chính
xác đối tượng và mức độ thiệt hại vật chất cụ thể, chỉ cần phân tích bản chất và diễn
biến của hành vi để kết luận về những tác động của nó đến tình hình cạnh tranh trên thị
trường liên quan. Còn ở hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải xác định được mức
độ gây thiệt hại hoặc khả năng gây thiệt hại của hành vi mà các chủ thể thực hiện.
I.2.

Các Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh

2 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.


7

Dưới góc độ kinh tế, bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các hành vi
chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành
vi huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh
tranh giả tạo.3 Dựa trên bản chất đó có thể phân nhóm cho các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh thành ba nhóm:

 Nhóm 1: Nhóm các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệo khác
Nhóm này được coi là nhóm các hành vi cạnh tranh điển hình nhất. Nó được
thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau như gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng
hóa, dịch vụ, lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, xâm phạm bí mật kinh
doanh… Bản chất của hành vi này là việc chiếm đoạt sử ưu thế cạnh tranh của
doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp. Dạng hành vi này được coi là phổ biến,
điển hình của cạnh tranh không lành mạnh. Theo quy định hiện hành của pháp luật
Việt Nam ghi nhận nhóm này có thể bao gồm hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn hay
hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. “Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn” thường
xâm phạm đến tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao
bì, chỉ dẫn địa lý... được in trên sản phẩm hàng hóa, hay dịch vụ của đối thủ cạnh
tranh. Mục đích của hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là tạo nên sự nhầm lẫn của
khách hàng về hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hàng
hóa, dịch vụ của chính doanh nghiệp mình. “Hành vi xâm phạm bí mật kinh
doanh” là tiếp nhận, thu thập, sử dụng, tiết lộ hoặc vi phạm hợp đồng bảo mật, có
hành vi lừa gạt hay lợi dụng người có nghĩa vụ bảo mật để có được thông tin thuộc
bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác khi chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu.
Hành vi này nhằm chiếm đoạt, sử dụng ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp
khác.

 Nhóm 2: Nhóm các hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác
Nhóm hành vi này có chung bản chất là công kích vào các đối thủ cạnh tranh.
Có thể là hành vi để triệt tiêu, hành vi làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của các
đối thủ cạnh tranh. Hành vi nhóm này thường được thực hiện dưới các hình thức
rất đa dạng, nó phụ thuộc vào mục đích công kích. Hành vi này có thể là đưa thông
tin sai sự thật nhằm là giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hay lôi kéo, ép buộc khác
hàng hay các đối tác của đối thủ cạnh tranh. Hành vi ép buộc trong kinh doanh;
hành vi gièm pha doanh nghiệp khác; hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp khác đây là các hành vi được ghi nhận trong pháp luật cạnh tranh
Việt Nam được ghi nhận nằm trong nhóm hành vi này. “Hành vi ép buộc trong
kinh doanh” phương thức thực hiện hành vi này là dùng áp lực để đe dọa hoặc
thực hiện cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh không giao dịch hoặc ngừng
3 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.


8

giao dịch với chính đối thủ cạnh tranh của mình. Mục đích thực hiện hành vi là
nhằm lôi kéo khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của đối thủ cạnh tranh để họ
ngừng giao dịch hoặc không thực hiện giao dịch với doanh nghiệp đó, làm giảm
lượng khách hàng cũng như đối tác làm ăn của đối thủ cạnh tranh với mình.
“Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác” đây là hành vi đưa thông tin sai sự thật
về đối thủ cạnh tranh nhằm là suy giảm uy tín của đối thủ. Hành vi này có thể hình
thành dưới các dạng hình thức như nói xấu, bôi nhọ chất lượng hàng hóa, dịch vụ,
cách thức bán hàng, hay tiềm lực tài chính của đối thủ cạnh tranh. Hành vi này có
thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp không nhất thiết doanh nghiệp này phải
có hành vi trực tiếp thực hiện hành vi gièm pha. “Hành vi gây rối hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp khác” xâm phạm trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh, cụ thể
là quấy phá, gây rối với các hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh. Mục
đích của hành vi này là cản trở, gián đoạn hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh
tranh. Hành vi này có thể được doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc thông qua
một chủ thể khác thực hiện, hành vi này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động
kinh doanh của đối thủ cạnh tranh.

 Nhóm 3: Nhóm các hành vi tạo ưu thế cạnh tranh giả tạo
Bản chất của nhóm hành vi này là tạo ra lợi thế cạnh tranh giả tạo nhằm lối kéo
khác hàng. Khác hàng là đối tượng bị tác động trực tiếp trong nhóm hành vi này,
về phía các doanh nghiệp khác chịu tác động trực tiếp hoặc tác động gián tiếp khi
bị mất đi nguồn khách hàng. Pháp luật hiện hành của Việt Nam ghi nhận các hành
vi thuộc nhóm này là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh,
khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh và bán hàng đa cấp bất chính.
“Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh” có thể hiểu hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi quảng cáo trái pháp luật,
trái với hiện thực, thực chất của hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bằng cách quảng
cáo theo kiểu so sánh hàng hóa, dịch vụ, bắt chước sản phẩm quảng cáo khác, đưa
thông tin gian dối cho khách hàng... Đây là hành vi cạnh tranh xâm hại trực tiếp
đến đối thủ cạnh tranh, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. “Hành vi
khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh” có thể thấy biểu hiện của hành
vi này là các hoạt động khuyến mại bất chính, không trung thực nhằm lừa dối để
thu hút khác hàng về phía mình. Cụ thể như hành vi tổ chức khuyến mại gian dối
về giả thưởng, khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch
vụ, … Các hành vi này có thể do doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc được tiến
hành thông qua thương nhân kinh doanh thực hiện dịch vụ khuyến mại của mình.
“Hành vi bán hàng đa cấp bất chính” những quy định của pháp luật về hành vi
này mục đích là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của những người tham gia mạng
lưới bán hàng đa cấp, cũng như hạn chế việc tổn hại về kinh tế cho những người
tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp bất chính.


9

CHƯƠNG II . Thực tiễn áp dụng quy định về Hành vi Cạnh Tranh không lành
mạnh và Kiện nghị hoàn thiện
II.1.

Thực trạng Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh tại Việt Nam

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, thì các hoạt động cạnh tranh đang diễn
ra một cách khốc liệt, mang lại sự phát triển cả về mặt kinh tế lẫn các mặt khác của đời
sống xã hội. Nhưng một số doanh nghiệp vì muốn chiếm ưu thế cạnh tranh để tăng lợi
nhuận đã không thực hiện các hoạt động cạnh tranh một cách lành mạnh mà sử dụng
những phương thức thủ đoạn khác nhau thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh mà pháp luật quy định cấm thực hiện.
Hơn thế nữa, hiện nay những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã có
những tác động không hề nhỏ đến tình hình chung của mọi mặt đời sống xã hội mà còn
tác động đến hoạt động cạnh tranh. Một số doanh nghiệp đã lợi dụng những thành tựu đó,
đặc biệt là các thành tựu trong công nghệ thông tin và Internet để thực hiện các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh. Hiện nay khi thương mại điện tử phát triển một cách cực
thịnh, người tiêu dùng có thể mua bất cứ hàng hóa, dịch vụ nào ở bất cứ thời gian, bất cứ
nơi nào chỉ với một cú “Click” thông qua các trang bán hàng hay mạng xã hội. Nhưng họ
lại không thể xác định rõ các xuất xứ, công dụng, mẫu mã, chất lượng, … nhưng thông tin
chỉ được biết theo một chiều từ doanh nghiệp cung cấp mà khách hàng khó có thể kiểm
chứng. Không ít các doanh nghiệp đã lợi dụng điểm này nhằm thực hiện các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh như: quảng cáo không trung thực về hàng hóa, chỉ dẫn gây nhầm
lẫn,… Không những thế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng cũng tăng
cao khi mà việc sản xuất một mặt hàng là không thể đơn giản hơn với các thành tựu của
công nghệ hiện nay. Vậy trong những năm gần đây đã có bao nhiều vụ vi phạm quy định
về Hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị điều tra, xử lí?
Thông qua báo cáo thường niên của Cục quản lý cạnh tranh 4, dưới đây là bảng thống
kê điều tra vụ việc cạnh tranh trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2015.

Bảng thống kê điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh.

4 Cục Quản lý Cạnh tranh (2015), Báo cáo thường niên 2015


10

Các loại hành vi
cạnh tranh không
lành mạnh

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015

5

20

33

37

2

6

24

2

2

4

1

Quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành
mạnh
Khuyến mại nhằm
cạnh tranh không lành
mạnh
Gièm pha doanh
nghiệp khác
Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Bán hàng đa cấp bất
chính

2

1
3

4

1
1

3

1

4

Gây rối hoạt động
kinh doanh của doanh

1

nghiệp khác
Tổng số

14

28

36

41

3

7

28

Tình hình của các vụ việc vi phạm quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
có diễn biến phức tạp trong những năm qua. Hành vi vi phạm chiếm đa số là hành vi
quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Trong năm 2015, Cục Quản lý cạnh tranh đã tiến hành điều tra tố 46 vụ việc liên quan
đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh, qua đó khởi xướng điều tra 28 vụ việc đồng thời
hoàn thành điều tra và ban hành quyết định xử lý đối với 02 vụ việc khởi xướng từ năm
2014. Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh được khởi xướng điều tra trong năm
2015 chủ yếu là: Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn, quảng cáo so sánh
trực tiếp, bán hàng đa cấp bất chính.
Trong năm 2016 Cục Quản lý Cạnh tranh cũng thực hiện hàng loạt xử phạt đối với
nhiều công ty bán hàng đa cấp, 14 công ty bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động
bán hàng đa cấp, 11 doanh nghiệp tạm ngừng và chấm dứt hoạt động. Hiện số doanh


11

nghiệp hoạt động giảm từ 67 công ty trong năm 2015 xuống còn 40 doanh nghiệp hoạt
động trong năm 2016. Số người tham gia bán hàng đa cấp giảm còn khoảng 500.000
người, giảm 57% so với cùng kỳ năm 2015 là khoảng 1,2 triệu người. Đầu năm 2017 Cục
Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) cũng thực hiện chấm dứt hoạt động kinh doanh
của hai doanh nghiệp đa cấp là Công ty TNHH Triwonder International và Công ty
TNHH Isagenix Việt Nam vì lý do công ty này không triển khai hoạt động bán hàng đa
cấp trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt
động bán hàng đa cấp5.
II.2.

Xử lí Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh

II.2.1.

Quy định của pháp luật về xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Quy định về việc xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định theo Luật
cạnh tranh 2004. Ngoài ra còn được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ 2005. Hành vi cạnh
tranh không lành mạnh là hành vi gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng đến các đối thủ
cạnh tranh nói riêng cũng như đến môi trường cạnh tranh nói chung. Pháp luật quy định
các biện pháp chế tài phù hợp để áp dụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh
nhằm đảm bảo tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng.
 Đối tượng áp dụng các hình thức xử lí
Đối tượng bị áp dụng chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các chủ
thể thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh thực hiện hành vi cạnh tranh không
lành mạnh bị cấm. Vậy nên đối tượng có thể bị áp dụng chế tài có thể là tổ chức, cá nhân
kinh doanh như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh
nghiệp tư nhân; Hợp tác xã; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Doanh nghiệp của
các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; hộ kinh doanh; cá nhân không có đăng ký
kinh doanh như người bán hàng rong, làm dịch vụ có thu nhập thấp và Hiệp hội ngành
nghề (Khoản 2 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004) thực hiện hành vi cạnh tranh không lành
mạnh bị cấm.

 Thẩm quyền xử lí
Căn cứ vào Điểm d Khoản 2 Điều 49 Luật Cạnh tranh và Điều 40 Nghị định số
71/2014/NĐ-CP, thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc về cơ quan
Quản lý cạnh tranh, hiện này là Cục quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ công thương. Cơ
quan này có chức năng chính là là giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà
nước về cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống bán phá giá, chống trợ cấp
và tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam được quy định trong Nghị
5 Bình Nguyên, Thêm hai công ty đa cấp bị xóa sổ, 20/02/2017


12

định số 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/01/2006 quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh. Cục Quản lý cạnh tranh là cơ
quan có chức năng tiến hành điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được
quy định trong Luật Cạnh tranh.
II.2.2.

Căn cứ xử lí hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Thứ nhất, phải có hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Hành vi cạnh tranh có bản
chất là hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh, hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh
nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo.
Thứ hai, phải có thiệt hại hoặc khả năng thiệt hại trong cạnh tranh không lành mạnh.
Thiệt hại là một đặc điểm cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và là điểm
phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Việc xác
định thiệt hại hay khả năng gây thiệt hại là một yêu cầu bắt buộc và cần thiết để bên bị hại
có căn cứ đòi bồi thường và cơ quan có thẩm quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
hay các chế tài khác để xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và
thiệt hại. Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là mối quan hệ trực tiếp,
không phải là sự suy diễn chủ quan. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi diễn
ra trước, thiệt hại trực tiếp do hành vi đó gây ra xảy ra sau. Bên thực hiện hành vi cạnh
tranh không lành mạnh chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý và các chế tài tương ứng khi gây
ra thiệt hại nhất định cho đối thủ cạnh tranh, mà nguyên nhân trực tiếp là hành vi cạnh
tranh không lành mạnh của mình.
Thứ tư, phải có lỗi trong cạnh tranh không lành mạnh. Lỗi là trạng thái tâm lý của
người có hành vi vi phạm, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả
của hành vi mà họ thực hiện. Hành vi cạnh tranh bị coi là có lỗi và không lành mạnh là
hành vi vi phạm các tập quán nghề nghiệp, phá vỡ quan hệ bình đẳng, công bằng trong
quan hệ cạnh tranh trên thị trường.
II.2.3.

Chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, các hình thức chế tài xử lý vi phạm về
cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu là các chế tài hành chính. Ngoài ra còn có chế tài về
hình sự cũng như dân sự trong một số trường hợp.

 Chế tài hành chính
Căn cứ theo Khoản 1 của Điều 117 Luật Cạnh tranh 2004 có quy định, tổ chức, cá
nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải chịu một trong các hình thức
xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Cụ thể hình thức phạt tiền và mức phạt tiền


13

tối đa là 100.000.000 đồng đối với cá nhân và 200.000.000 đồng đối với tổ chức theo
Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP. Ngoài bị phạt tiền, các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung theo quy định
tại Nghị định số 71/2014/NĐ-CP. Các hành phạt bổ sung bao gồm: Tịch thu tang vật,
phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, thu hồi Giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh. Hơn thế nữa, Pháp luật cạnh tranh chỉ quy định biện pháp khắc phục
hậu quả duy nhất là buộc cải chính công khai đối với các chủ thể thực hiện từng hành
vi cạnh tranh không lành mạnh nhất định.
 Chế tài hình sự
Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
được quy định tại chương XVIII Bộ Luật hình sự 2015. Cụ thể các tội phạm khác xâm
phạm trật tự quản lí kinh tế: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192); Tội sản xuất,
buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Tội sản
xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo
vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 195); Tội cố ý công bố thông tin sai lệch
hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Điều 209); Tội sử dụng thông
tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210); Tội thao túng thị trường chứng khoán (
Điều 211); Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217); Tội vi phạm quy định về
kinh doanh theo phương thức đa cấp (Điều 217a); Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền
liên quan (Điều 225); Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226). Hình phạt
áp dụng đối với các tội danh trên thường là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc tù có
thời hạn. Ngoài ra, còn có thể áp dụng các biện pháp tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài
sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.

 Chế tài dân sự
Bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng trong hệ thống chế tài áp dụng đối
với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chức năng chủ yếu của bồi thường thiệt hại
là khôi phục, đền bù, nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần mà bên
mang quyền phải gánh chịu do hành vi vi phạm các quy tắc trong kinh doanh của bên
kia gây ra. Theo Điều 6 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014, xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh thì vấn đề bồi thường thiệt hại được dẫn chiếu thực
hiện theo các quy định của pháp luật về dân sự. Vấn đề khởi kiện đòi bồi thường thiệt
hại đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ được áp dụng theo các quy định về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tại chương XX của Bộ luật dân sự
2015 và pháp luật có liên quan.Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền mặc định
được pháp luật thừa nhận, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể bị xâm
phạm đến quyền và lợi ích của mình. Vì vậy, chế tài bồi thường thiệt hại có thể áp


14

dụng đồng thời với các chế tài khác.
II.3.
Sự thay đổi về quy định Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
Luật Cạnh tranh 2018
Luật Cạnh Tranh 2018 đã thay đổi một số quy định về cạnh tranh không lành mạnh
so với Luật Cạnh Tranh 2004. Luật Cạnh tranh 2018, các hành vi như "quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh”, "Phân biệt đối xử của Hiệp hội”, "Bán hàng đa cấp bất
chính” không còn được quy định là hành vi cạnh tranh không lành mạnh chịu sự điều
chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh nữa. Bởi các hành vi này đã được điều chỉnh bởi các văn
bản pháp luật mang tính chất chuyên ngành khác như Luật Quảng cáo, Nghị định
42/2014/NĐ-CP về Quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, ... Việc quy định như vậy sẽ tránh
được sự mâu thuẫn và chồng chéo về thẩm quyền cũng như hình thức xử lý, đảm bảo
nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Và việc bãi bỏ quy định về hành vi “bán hàng đa
cấp bất chính” và “phân biệt đối xử của hiệp hội”, do các hành vi này không phản ánh
đúng bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Các hành vi Ép buộc trong kinh
doanh, Gièm pha doanh nghiệp khác, Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
khác nhìn chung không sự thay đổi về bản chất cũng như hành vi so với luật canh 2018.
Tại Luật cạnh tranh 2018, đã có sự thay đổi một số quy định về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh, cụ thể là:
Chỉ dẫn gây nhầm lẫn, Nếu doanh nhân doanh nghiệp nào mà thiết kế logo, sử
dụng mẫu mã bao bì đóng gói, đặt tên gọi hàng hóa của mình tương tự tên gọi hàng
hóa của đối thủ cạnh tranh dẫn đến nhầm lẫn cho người tiêu dùng thì đây là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh đòi hỏi các cơ quan hành chính phải xủ lý ngay từ khi
đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký bản quyền kiểu dáng mẫu mã, logo, slogan
cũng như tên gọi cho hàng hóa...(Điều 40, Luật cạnh tranh 2004). Theo Luật cạnh
tranh 2018 thì thay đổi bằng hành vi lôi kéo khách hàng bất chính và cụ thể hóa tại
điểm a, khoản 5, Luật canh tranh 2018: Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn
cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ.
So sánh hàng hóa của doanh nghiệp mình với hàng hóa của doanh nghiệp
khác nhưng không chứng minh được nội dung, Tại Khoản 1, Điều 45, Luật cạnh
tranh 2004 quy định: chỉ cần so sánh trực tiếp sản phẩm của doanh nghiệp mình với
doanh nghiệp khác thì đã là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, Luật
Cạnh tranh 2018 đã thu hẹp phạm vi điều chỉ của quy định này, theo đó thì việc so
sánh hàng hóa và không chứng minh được nội dung thì mới bị coi là hành vi cạnh
tranh không lành mạnh.
Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, hành vi này được Luật cạnh
tranh 2018 cụ thể bằng hành vi Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn


15

bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh
loại hàng hóa, dịch vụ đó.
II.4.

Kiến nghị hoàn thiện

Thực tế cho thấy, cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam diễn ra vô cùng phức tạp,
phổ biến và rộng khắp các lĩnh vực của nền kinh tế. Song những năm gần đây khi mà nhu
cầu xử lý và giải quyết tranh chấo cao nhưng số vụ được đưa ra ánh sáng còn ít, bên cạnh
đó người bị hại thì còn “ngại’’ đi kiện. Vì cậy chúng ta cần có những biện pháp xử lý và
giải quyết tranh chấp cạnh tranh không lành mạnh để xây dựng một môi trường cạnh
tranh lành mạnh, công bằng, bình đẳng và phát triển.
1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh.
a) Xây dựng hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hanh cho Luật cạnh tranh 2018 một
cách cụ thể. Để khi áp dụng vào thực tiễn không diễn ra sự khó hiểu hay hiểu sai
tinh thần của Luật cạnh tranh 2018.
b) Bổ sung một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh mới vào luật cạnh tranh Việt
Nam
Các quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghệ
trong luật cạnh tranh 2018 chỉ mang tính liệt kê song vẫn chưa bao quát hết được
các trường hợp trong thực tế. Điển hình hành vi chiếm đoạt tên miền trên internet
cần được bổ sung vào hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra các hành vi
như “ chấm dứt đột ngột quan hệ kinh doanh với các đối tác” mà không thông báo
trước một thời gian hợp lý hay hành vi “từ chối kinh doanh không có lý do chính
đáng” hoặc “phân biệt về giá” những hành vì này xảy ra khá phổ biến trong thực tế
kinh doanh và gây hậu quả tương đối nghiêm trọng vì vậy nên bổ sung 3 hành vi
này vào hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
c) Đề xuất về địa chỉ áp dụng của luật cạnh tranh năm 2018
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của hầu hết các nước đều quy định
tất cả các chủ thể tham gia thị trường nhằm mục đích cạnh tranh đều là địa chỉ áp
dụng của luật chứ không chỉ bó hẹp là doanh nghiệp như luật cạnh tranh của Việt
Nam. Do vậy, để đảm bảo tính hiệu quả và tác động đến tất cả các đối tượng tham
gia trên thị trường thì luật cạnh tranh 2018 cần được áp dụng cho tất cả các chủ thể
tham gia trên thị trường với mục đíc cạnh tranh.
2. Về thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Về năng lực và thẩm quyền của các cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như những
quy định của Luật Cạnh Tranh còn nhiều hạn chế. Vì vậy mặc dù số lượng hành vi


16

cạnh tranh không lành mạnh ngày càng gia tăng với tính chất ngày càng phức tạp
song số vụ được các cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp còn hạn chế, chưa
tương xứng nhu cầu. Do có sự chồng chéo về thẩm quyền trong việc xử lý hành vi
cạnh tranh không lành mạnh nên doanh nghiệp không biết tố cáo ở đây, tố cáo như
thế nào. Đây cũng là nguyên nhân khiến doanh nghiệp ngại tố cáo các hành vi vi
phạm. Ví dụ như trường hợp một doanh nghiệp có hành vi vtklm tổng hợp từ nhiều
vi phạm khác nhau như quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hóa…. Nằm trên bao bì sản
phẩm. Khi đó thanh tra bộ khoa học và công nghệ chỉ xử lý đến vấn đề liên quan
đến bảo hộ thương hiệu hàng hóa, bộ văn hóa thể thao và du lịch lại xử lý vấn đề
liên quan đến bản quyền tác giả, Cục quản lý cạnh tranh- bộ công thương lại chịu
trách nhiệm phát hiện và xử lý hành vi này.
Do vậy, Luật Cạnh Tranh cần quy định rõ ràng và cụ thể trách nhiệm của từng cơ
quan. Tuy nhiên nếu để cho một cơ quan duy nhất chuyên môn hóa xử lý các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh thì cần phải quy định sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật đặc
thù cho từng cơ quan có liên quan.
3. Sử dụng thực tiễn tư pháp trong việc giải quyết vụ việc cạnh tranh không lành
mạnh.
Có thể khẳng định rằnng Luật Cạnh Tranh của Việt Nam còn nhiều “kẻ hở”.Pháp
luật cạnh tranh không thể liệt kê hết được các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Các điều tra viên phải đối mặt với những vụ việc thực tế chưa bao giờ xảy ra tại
Việt Nam cũng như không được quy định rõ ràng trong luật. Do đó các vụ xử lý về
cạnh tranh không lành mạnh nếu có thể cần phải được tuyên bố công khai để
những nhà làm luật cũng như công chúng có được thông tin cũng như “căn cứ” để
xử lý nhữn vụ việc tương tự xảy ra sau này. Việc sử dụng thực tiễn tư pháp trong
việc giải quyết tranh chấp nên coi là một “án lệ” đề các cơ quan quản lý cạnh tranh
hay tòa án đúc rút kinh nghiệm cho các vụ việc tương tự xảy ra sau này được giải
quyết thỏa đáng, khách quan và nhanh chóng hơn.
4. Nâng cao ý thức pháp luật và tự bảo vệ của doanh nghiệp và người tiêu dùng.
a) Về phía doanh nghiệp
Thực tế hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập thậm chí cả những
doanh nghiệp tồn tại lâu đời vẫn chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng
của ý thức pháp luật trong kinh doanh. Họ chưa thực sự hiểu pháp luật cho họ
những quyền gì, ngược lại họ phải có những nghĩa vụ gì và pháp luật quy định
như thế nào về những hoạt động mà họ quan tâm. Vì vậy các doanh nghiệp cần
nâng cao nhận thức về pháp luật cạnh tranh đồng thời cũng nâng cao ý thức tự
bảo vệ mình trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ cạnh
tranh.


17

b) Khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng
Thực tế hiện nay những hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn làm xâm hại
đến quyền lợi của người tiêu dùng và còn có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe
và tính mạng của họ nữa. Điều đáng lo là kiến thức tiêu dùng của người Việt
Nam còn thấp. Vì vậy mỗi người tiêu dùng hãy tự cập nhật học hỏi và bổ sung
kiến thức cho mình để tự bảo về lợi ích chính đáng của mình. Người tiêu dùng
cần phải mạnh khiếu nại tố cáo tới các cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu đổi
hàng hóa đúng chất lượng, đòi bồi thường thiệt hại cho mình và bảo về quyền
lợi cho cộng đồng người tiêu dùng.

Kết luận
Qua tìm hiểu về thực tiễn áp dụng quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
có ý nghĩa trong công cuộc đấu tranh phòng chống hành vi vi phạm pháp luật Cạnh tranh.
Từ đó, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, công cuộc lập pháp luôn nắm
vai trò quan trọng và thiết yếu trọng sự phát triển của kinh tế - xã hội. Để có được một
môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, công bằng, đảm bảo phát huy mọi tiềm
năng kinh tế của đất nước và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì Việt Nam cần
có một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và hoàn thiện, có cơ chế đảm bảo cho các
doanh nghiệp trong nước phát huy mọi nội lực, tăng sức cạnh tranh trên thương trường,
đảm bảo cho các doanh nghiệp nước ngoài một môi trường kinh doanh công bằng, thuận
lợi. Để công tác đấu tranh phòng, chống cạnh tranh không lành mạnh phát huy hiệu quả
trong thực tế thì bên cạnh việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật của cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền nói chung và hiệu lực thực thi nhiệm vụ của cơ quan quản lý cạnh
tranh nói riêng thì công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cũng rất cần được quan tâm
trong cộng đồng để nâng cao khả năng tự bảo vệ của các đối tượng có liên quan, đưa pháp
luật về chống cạnh tranh không lành mạnh đến gần với các chủ thể kinh doanh để nâng
cao khẳ năng tự vệ, hình thành thói quen, xây dựng đạo đức kinh doanh nhằm đảm bảo
cho pháp luật về chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh có hiệu quả trên thực
tế.


18

Danh mục tài liệu tham khảo
1.
2.
3.
4.

Luật cạnh tranh 2004
Luật cạnh tranh 2018
Nghị định 71/2014 NĐ-CP
Giáo trình cạnh tranh Đại học Kinh tế Luật Thành phố Hồ Chí Minh,

Chủ Biện TS Lê Danh Vĩnh.
5. Cục Quản lý Cạnh tranh (2015), Báo cáo thường niên 2015
6. Đồng Quang Hải, Luận văn thạc sĩ CHẾ TÀI ĐỐI VỚI HÀNH VI
CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH THEO PHÁP LUẬT CẠNH
TRANH VIỆT NAM
7. Hoàng Phê (1998), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển tiếng Việt, Hà
Nội.
8. Bình Nguyên, Thêm hai công ty đa cấp bị xóa sổ, 20/02/2017
9. ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh
năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.
10.Vũ Thùy Dương, Tiểu luận hành vi cạnh tranh không lành mạnh.


19

Bảng phân công công việc
Công việc
Chọn đề tài, Xây dựng đề cương
Phần mở đầu
Chương I
Mục 1.1
Chương II

Mục 1.2
Mục 2.1
Mục 2.2
Mục 2.3
Mục 2.4

Kết luận
Tổng Hợp, chỉnh sửa nội dung
Thiết kế, Trình bày bài Tiểu luận
Xây dựng bài Thuyết trình
Thiết kế, trình bày bài thuyết trình

Mục 1.1.1
Mục 1.1.2
Mục 2.2.1
Mục 2.2.2
Mục 2.2.3

Người Thực hiện
Hoàng Duy
Hoàng Duy
Hoàng Duy
Nguyễn Hữu Luân
Hoàng Duy
Nguyễn Thị Ly
Nguyễn Hữu Luân
Nguyễn Mạnh Tuấn
Nguyễn Mạnh Tuấn
Nguyễn Khương Duy
Trần Duy Khá
Nguyễn Thị Ly
Hoàng Duy
Trần Duy Khá
Nguyễn Mạnh Tuấn
Nguyễn Khương Duy
Nguyễn Thị Ly
Nguyễn Hữu Luân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×