Tải bản đầy đủ

Bài dự thi tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt việt nam lào hoàn chỉnh nhất

Bài dự thi tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt
Việt Nam - Lào

Cuộc thi “Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam"
được đưa ra nhằm góp phần tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng,
nhất là cho thế hệ trẻ về quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt
Nam trong quá trình đấu tranh chống lại kẻ thù chung, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước
phát triển. Các bạn có thể tham khảo bài dự thi mẫu sau đây để có ý tưởng hoàn thiện bài viết của
mình tốt hơn.

Bài dự thi tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam Lào
mẫu 1
Chủ đề 6: NHỮNG BIỂU HIỆN SINH ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, GẮN BÓ THỦY
CHUNG, SON SẮT CỦA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM – LÀO DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA HAI
ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TỪ KHI THIẾT LẬP MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC VÀ HỮU NGHỊ ĐẾN NAY
Từ khi Đảng Nhân dân cách mạng Lào được thành lập năm 1955, dưới sự lãnh đạo của hai Đảng,
hai Nhà nước, mối quan hệ Việt Nam – Lào càng được phát huy mạnh mẽ và biểu hiện hết sức
sinh động trên tất cả các lĩnh vực, không ngừng nâng cao theo sự phát triển của phong trào cách
mạng của hai nước. Trong những lúc cam go, thống khổ nhất, cán bộ, Đảng viên, quân và dân hai
nước vẫn sát cánh bên nhau, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng chung và vì nền độc lập tự
do của mỗi nước. Trong giai đoạn hòa bình với nhiều thuận lợi, hai dân tộc cũng không ngừng vun

đắp mối quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt để cùng nhau tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong bài dự thi này, tôi xin nêu một số thành tựu của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó thủy chung,
son sắt của hai dân tộc dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước trong thời kỳ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc từ năm 1977 đến nay.
1. Về quan hệ hợp tác trong lĩnh vực chính trị và đối ngoại:
Mối quan hệ hợp tác về chính trị trong giai đoạn này tập trung vào nỗ lực của hai nước trong việc
hiện thực hóa mục tiêu cùng lựa chọn: tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa mà chưa có tiền lệ lịch
sử.
Việc nước Lào tự chủ giải quyết những vấn đề của Lào để ổn định và phát triển như: giữ vững chủ
quyền lãnh thổ, duy trì an ninh nội địa, bảo vệ chế độ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, phục hồi,
đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, tranh thủ viện trợ nước ngoài, v.v…đã ảnh
hưởng tích cực đến sự ổn định và từng bước đi lên của Việt Nam. Điều nổi bật là sự cố gắng tìm
tòi học hỏi của các đồng chí trong Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào về kinh nghiệm và
nghiên cứu lý luận của quốc tế để hoàn thiện chế độ dân chủ nhân dân, tạo tiền đề tiến lên chủ
nghĩa xã hội trong điều kiện cụ thể của Lào. Bản thân đồng chí Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản đã
đọc đi đọc lại tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh để vận dụng vào công tác
xây dựng Đảng ở Lào. Đồng thời, đứng trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và
quốc tế, Lào còn trực tiếp phối hợp với Việt Nam trên diễn đàn quốc tế, chủ động giúp Việt Nam
tháo gỡ những vướng mắc trong quan hệ với các nước khác trong khu vực…; trao đổi kinh nghiệm
với Việt Nam về từng bước đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp (trang trại), lưu thông
thương mại, v.v... Đồng chí Cayxỏn Phômvihản thường xuyên nhấn mạnh quan điểm lập trường
trước sau như một ủng hộ Việt Nam của Lào: Lào vững mạnh, độc lập thì Việt Nam ổn định, phồn
vinh.
Về phía Việt Nam, sau ngày đất nước thống nhất, mặc dầu phải giải quyết nhiều khó khăn do hậu
quả chiến tranh, nhưng luôn nhận thức sâu sắc mối quan hệ tương hỗ của cách mạng hai nước
trong giai đoạn mới: “Lào có ổn định thì Việt Nam mới ổn định và ngược lại”. Vì vậy, Việt Nam đã
cố gắng đáp ứng các yêu cầu chi viện và hợp tác với Lào một cách toàn diện, theo tinh thần vô tư
“không tính thiệt hơn”.
Tại các cuộc hội đàm hàng năm giữa hai Bộ Chính trị, các cuộc gặp gỡ trao đổi khi có việc đột
xuất giữa các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, giữa các bộ, ban, ngành, đoàn thể Việt Nam
đã góp phần giúp Lào kinh nghiệm về giải quyết các khó khăn, giải tỏa kịp thời các vướng mắc xẩy
ra, củng cố niềm tin của Lào về thiện chí của Việt Nam. Và ngược lại, sự chia sẻ của Lào với Việt
Nam trên lĩnh vực an ninh chính trị, kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội đã tạo niềm tin và là sức


mạnh vô giá, giúp Việt Nam bảo đảm được lợi ích trực tiếp về an ninh và phát triển ở biên giới
phía Tây của mình.
Việc giải quyết thành công vấn đề biên giới giữa hai nước là một thành tựu nổi bật của hợp tác
chính trị trong giai đoạn này. Để triển khai Hiệp định hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước
(18 tháng 7 năm 1977), hai bên thỏa thuận lấy đường biên giới mà Pháp vẽ trên bản đồ 1/100.000


của Sở Địa dư Đông Dương làm cơ sở đối chiếu, so sánh cho việc phân chia biên giới trên thực
địa. Từ ngày 25 tháng 7 năm 1978, ngày cắm mốc đầu tiên đến ngày 24 tháng 8 năm 1984, Việt
Nam cùng với Lào đã cơ bản hoàn thành hệ thống quốc mốc. Sau 8 năm tiến hành, đến ngày 24
tháng 1 năm 1986, việc phân vạch và cắm mốc trên thực địa toàn tuyến biên giới Việt - Lào dài
2.067 km đã hoàn thành. Việc phân định chính thức đường biên giới quốc gia giữa hai nước thể
hiện nguyên tắc trong quan hệ hai nước: tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
nhau cũng như lợi ích chính đáng của mỗi bên, phù hợp với luật pháp quốc tế và đáp ứng nguyện
vọng của nhân dân hai nước muốn có một đường biên giới hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát
triển lâu dài.
Trong hợp tác đối ngoại, theo tinh thần của Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, Bộ trưởng Ngoại giao
hai nước nhất trí phối hợp chặt chẽ về đường lối hoạt động đối ngoại, phát huy hiệu quả công tác
đối ngoại mỗi nước và sức mạnh của ba nước Đông Dương trên trường quốc tế, góp phần làm
cho môi trường an ninh chính trị Đông Nam Á đi dần vào ổn định, thể hiện thiện chí của các nước
Đông Dương xây dựng khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
Trên đất nước Lào lúc này, tình hình kinh tế – xã hội đang dần đi vào ổn định, độc lập chủ quyền,
an ninh quốc gia, trật tự xã hội được giữ vững; chế độ dân chủ nhân dân được bảo vệ. Tuy nhiên,
Lào vẫn phải đối phó với chính sách thù địch của lực lượng phản động ở Thái Lan không ngừng
dùng sức ép chính trị, kinh tế, quân sự đòi sửa đổi lại đường biên giới…
Trong bối cảnh đó, một sự kiện quan trọng đã diễn ra trong đời sống chính trị hai nước. Đó là Đại
hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 3 năm 1982) và Đại hội Đại
biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Nhân dân cách mạng Lào (tháng 4 năm 1982). Báo cáo chính
trị của Ban chấp hành Trung ương hai Đảng đều khẳng định sự tất yếu khách quan phải tăng
cường quan hệ đoàn kết đặc biệt, hữu nghị hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, Nhà nước và nhân
dân hai nước trong giai đoạn cách mạng mới.
Trong hai ngày 22 và 23 tháng 2 năm 1983, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương diễn ra tại Thủ
đô Viêng Chăn, tập trung thảo luận về tình hình ba nước Đông Dương, tình hình quốc tế và khu
vực; đề ra những nguyên tắc, phương hướng, biện pháp nhằm tăng cường đoàn kết và hợp tác
toàn diện giữa ba nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của mỗi nước, tạo nhân tố
quan trọng đối với hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á và thế giới; vấn đề quân tình nguyện Việt
Nam ở Campuchia. Hội nghị đã nhất trí đề ra 4 nguyên tắc chỉ đạo mối quan hệ giữa ba nước,
trong đó nhấn mạnh quan hệ giữa ba nước sẽ được giải quyết bằng thương lượng trên cơ sở tôn
trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau, với tinh thần hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi nước và vì lợi ích
chung của ba dân tộc, trên tinh thần hữu nghị anh em, hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng cùng có
lợi.
Tiếp đó, tại Tuyên bố chung Việt Nam - Lào năm 1985, một lần nữa khẳng định quyết tâm của hai
bên củng cố hơn nữa tình hữu nghị vĩ đại và tình đoàn kết chiến đấu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và
các nhà lãnh đạo cách mạng hai nước đã dày công vun đắp; tăng cường sự hợp tác toàn diện,
nhất là trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật; tích cực thực hiện các thỏa thuận
giữa hai nước và những thỏa thuận của Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương. Tuyên bố chung
cũng thể hiện nguyện vọng của nhân dân ba nước Đông Dương và ASEAN cùng nhau giải quyết
những vấn đề khu vực bằng đàm phán trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
2. Lĩnh vực quốc phòng, an ninh;
Trên nền tảng quan hệ chặt chẽ về chính trị giữa hai nước, những năm 1976 – 1985, hợp tác quốc
phòng, an ninh ngày càng đi vào chiều sâu theo tinh thần đoàn kết liên minh chiến đấu, phù hợp
với tình hình mới, góp phần tích cực vào việc bảo đảm củng cố quốc phòng, an ninh, ổn định xây
dựng của mỗi đất nước.
Do tình hình phức tạp trong nước và khu vực, trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ
chế độ của Lào, tháng 12 năm 1976, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào ra
quyết nghị: tiếp tục đề nghị Việt Nam đưa lực lượng quân đội sang hỗ trợ quân đội Lào nhằm ổn
định tình hình, ngăn ngừa các nguy cơ chống phá của các thế lực thù địch, phản động trong và
ngoài nước. Trung tuần tháng 9 năm 1977, Đoàn đại biểu quân sự cấp cao nước Cộng hòa Dân
chủ Nhân dân Lào do đồng chí Khăm Tày Xiphănđon, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung


ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng, Chỉ huy tối cao Quân đội giải phóng nhân dân Lào sang thăm và làm việc với Bộ
Quốc phòng Việt Nam, hai bên đã ký Hiệp ước phòng thủngày 22 tháng 9 năm 1977.
Ngày 28 tháng 6 năm 1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Sắc lệnh thành
lập Binh đoàn 678 trực thuộc Bộ Quốc phòng. Binh đoàn 678 do Trung tướng Trần Văn Quang làm
tư lệnh kiêm chính ủy, gồm ba sư đoàn bộ binh (324, 968, 337), một số phân đội binh chủng làm
nhiệm vụ quốc tế ở Lào. Binh đoàn 678 có nhiệm vụ cùng Lào xây dựng nền kinh tế và nền quốc
phòng toàn dân vững mạnh trong cả nước Lào, tăng cường và bảo vệ khối liên minh Việt – Lào,
không ngừng củng cố và phát triển tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc.
Trong hơn một năm (tháng 8 năm 1977 đến ngày 13 tháng 11 năm 1978) hoạt động phối hợp giữa
lực lượng quân sự Lào với Sư đoàn bộ binh 324 là đợt hoạt động giành thắng lợi lớn nhất kể từ
sau năm 1975, thể hiện tính hiệp đồng tác chiến cao và chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang hai nước
trên các địa bàn xung yếu, đập tan các âm mưu, ý đồ chống phá, gây bạo loạn của Mỹ và các thế
lực thù địch, thu hồi lại nhiều địa bàn quan trọng ở vùng rừng núi của Lào, nhất là ở các tỉnh: Xiêng
Khoảng, Bolikhămxay, Luổng Phạbang, Viêng Chăn, khu vực biên giới giáp một số tỉnh miền Trung
Việt Nam (Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh…), bảo đảm được an ninh trên các trục đường giao
thông chiến lược như các đường 7, 9, 13… Đặc biệt, sự kiện tháng 5 năm 1985, Quân khu 4 Việt
Nam đã sử dụng tiểu đoàn 31 đặc công quân khu và một số đơn vị bộ binh cùng các đơn vị vũ
trang Lào phá tan sào huyệt phỉ lớn nhất ở Buôm Lọng, góp phần ổn định tình hình an ninh của
Lào.
Bên cạnh việc phối hợp phòng thủ có hiệu quả, vì lợi ích của cả hai nước, Việt Nam và Lào còn
đẩy mạnh hợp tác về đào tạo quân sự. Chỉ tính riêng trong năm 1984, Bộ quốc phòng Việt Nam đã
cùng Lào đào tạo được 407 cán bộ, 1.381 cán bộ và nhân viên kỹ thuật tại 28 trường; 32 chuyên
gia thường trú ở cơ quan Bộ Quốc phòng, trong đó có công tác quân sự địa phương, 350 chuyên
gia kỹ thuật về các xí nghiệp quốc phòng và các nông trường... Quân khu 4 Việt Nam đã hỗ trợ
phía Lào thực hiện nhiệm vụ mở cửa ra hướng đông. Từ đó, các đơn vị kinh tế thuộc Quân đội
nhân dân Lào đã có bước trưởng thành và phát triển nhanh chóng. Công ty Phát triển miền núi Bộ
Quốc phòng Lào từ chỗ gặp nhiều khó khăn do thiếu phương tiện, kỹ thuật đã vươn lên làm chủ
tình hình, đưa Lắc Xao (Khăm Muộn) từ một vùng rừng núi hẻo lánh trở thành một trung tâm có
nhiều xưởng máy, góp phần ổn định và nâng cao đời sống của nhân dân.
Ghi nhận những đóng góp to lớn của Quân đội nhân dân Việt Nam đối với cách mạng Lào nói
chung và Quân đội nhân dân Lào nói riêng, ngày 18 tháng 12 năm 1984, Chủ tịch nước Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Lào Xuphanuvông đã ký quyết định tặng Huân chương Vàng quốc gia, phần
thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước Lào cho Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trên lĩnh vực hợp tác an ninh, thực hiện Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Lào - Việt Nam, Bộ Nội vụ
Lào đã ký Hiệp định hợp tác toàn diệnvới Bộ Nội vụ Việt Nam. Nội dung của Hiệp định cho phép
lực lượng an ninh của hai nước, ở cả Trung ương và các địa phương quan hệ hợp tác, trao đổi
kinh nghiệm lẫn nhau, trao đổi các đoàn đại biểu, các đoàn cán bộ lão thành...
Ngày 25 tháng 12 năm 1985, Trường Trung cấp An ninh Lào được thành lập, có nhiệm vụ tự đào
tạo lực lượng an ninh Lào. Trong quá trình trên, Trường Đại học An ninh và Trường Đại học Công
an Nhân dân của Việt Nam đã cử nhiều cán bộ, giảng viên sang Lào chuyển giao kiến thức cho
cán bộ, học viên Lào. Nhờ đó, hàng năm Lào đã đào tạo được một lực lượng lớn cán bộ, chiến sĩ
làm công tác an ninh, đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lào. Thực tế
cho thấy an ninh quốc phòng của hai nước gắn bó chặt chẽ với nhau như thế nào, Việt Nam có ổn
định thì Lào mới có ổn định và ngược lại, Lào có ổn định thì Việt Nam cũng mới có ổn định. Cũng
như vậy, Việt Nam có phát triển thì Lào mới mạnh lên được và ngược lại Lào có phát triển thì Việt
Nam cũng mới mạnh lên được. Điều đó có nghĩa là Việt Nam và Lào phải cùng ổn định và phải
cùng vững mạnh, đó là một quy luật được chứng minh từ sự phát triển của quan hệ đoàn kết đặc
biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt Nam hơn 70 năm qua.
3. Quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học-kỹ thuật;
Đây là giai đoạn Lào từng bước thử nghiệm cơ chế quản lý kinh tế mới ở một số cơ sở quốc
doanh, chuyển từ nền kinh tế tự nhiên và nửa tự nhiên sang kinh tế sản xuất hàng hoá, khuyến
khích sản xuất, lưu thông, xây dựng kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Việt Nam
cũng đang trong quá trình từng bước nghiên cứu, khảo nghiệm để đổi mới cơ chế quản lý từ quan
liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; thực hiện khoán trong nông nghiệp; giao
quyền tự chủ cho doanh nghiệp công nghiệp... nhằm giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội,
cải thiện đời sống nhân dân, tiếp tục tìm con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm
của dân tộc Việt Nam và xu thế chung của thế giới.
Ngay từ năm 1983, khi tình hình chính trị, kinh tế - xã hội hai nước bước đầu ổn định, công cuộc
khôi phục kinh tế căn bản hoàn thành, hai nước chuyển sang nhiệm vụ trọng tâm là phát triển sản


xuất và kinh tế. Quan hệ hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật giữa hai nước dần thay đổi:
từ viện trợ không hoàn lại và cho vay là chủ yếu sang giảm dần viện trợ và cho vay, bước đầu đẩy
mạnh hợp tác sản xuất kinh doanh bình đẳng cùng có lợi. Thời gian này, Lào đề ra công thức hợp
tác: Tài nguyên Lào, lao động kỹ thuật Việt Nam, vốn hợp tác hoặc vay của nước thứ ba. Trong
hợp tác đã chuyển dần từ hợp tác từng vụ việc theo yêu cầu của Đảng và Nhà nước Lào sang hợp
tác theo chương trình, kế hoạch được ký kết giữa hai Chính phủ. Đồng thời, hai bên giúp nhau
phát huy khả năng và tiềm năng, thế mạnh của mỗi nước để giải quyết những nhu cầu cấp bách
về đời sống và sản xuất. Đây là những định hướng phù hợp với điều kiện hai nước trong những
năm đầu chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Quan hệ hợp tác thương mại: Trước năm 1975, Việt Nam và Lào có hiệp định trao đổi thương mại
nhưng mới chỉ dừng lại ở quy định một số nguyên tắc, thể lệ và danh mục chung, không quy định
kim ngạch. Trao đổi chủ yếu diễn ra giữa các địa phương và các tỉnh của Việt Nam với vùng giải
phóng Lào. Từ 1976 – 1981, trao đổi hàng hoá chính ngạch được bắt đầu theo phương thức bao
cấp bằng ngân sách nhà nước mỗi bên. Từ năm 1981 –1985, kim ngạch tăng nhanh hơn do Thái
Lan bao vây cấm vận Lào 273 mặt hàng, nên Lào chuyển hướng sang phía Đông. Hiệp định
thương mại Việt Nam - Lào 5 năm (1981 – 1985) được ký kết, kèm theo nghị định thư thương mại
hàng năm, đã tạo hành lang pháp lý cho việc trao đổi buôn bán giữa hai nước... Ngoài ra, Việt
Nam còn hỗ trợ Lào sử dụng các nguồn viện trợ chủ yếu từ các nước xã hội chủ nghĩa và các tổ
chức quốc tế. Từ năm 1976 đến 1985, các nước và các tổ chức này đã viện trợ không hoàn lại
cho Lào 547,89 triệu rúp, 126,57 triệu USD và cho vay 594,583 triệu rúp.
Trong thời kỳ chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước đã từng
bước thay đổi cả nội dung và phương thức hợp tác cho phù hợp với tình hình mới. Tuy nhiên,
quan hệ hợp tác giai đoạn này cơ bản dựa trên cơ sở tinh thần quốc tế vô sản, với phương thức
chủ yếu là viện trợ và cho vay theo cơ chế tập trung bao cấp, chưa tương xứng với yêu cầu của
nhân dân hai nước và tầm cao của quan hệ chính trị giữa hai Đảng và hai Nhà nước Việt Nam và
Lào.
Trong lĩnh vực hợp tác văn hóa, Việt Nam và Lào đều nhận thức sâu sắc ý nghĩa đặc biệt quan
trọng và thiết thân của công việc này đối với cả hai bên. Việc quan trọng hàng đầu là hai nước hợp
tác quảng bá cuộc sống mới bảo vệ và xây dựng Tổ quốc cũng như truyền thống văn hóa tốt đẹp
của mỗi nước. Hàng năm, hai bên thường xuyên lập kế hoạch giao lưu văn hoá nghệ thuật dưới
các hình thức: trao đổi đoàn biểu diễn, tổ chức sáng tác mỹ thuật, tìm hiểu về chủ đề đất nước và
con người, hợp tác xuất bản, in và phát hành sách báo, văn hoá phẩm, phim ảnh. Hai nước còn
giúp nhau cung cấp một số thiết bị chuyên dụng về in, điện ảnh, sân khấu, phát thanh, truyền hình,
đồng thời phối hợp tuyên truyền giáo dục nhân dân hai nước về mối quan hệ đặc biệt Việt – Lào,
Lào – Việt, cũng như phối hợp tuyên truyền, tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn, qua đó tăng
cường hiểu biết, gắn bó giữa nhân dân hai nước.
Hợp tác giáo dục và đào tạo là nội dung quan trọng có tính chiến lược vì lợi ích lâu dài của hai
nước và là lĩnh vực hợp tác thành công nhất trong quan hệ hợp tác Việt Nam – Lào, Lào – Việt
Nam. Sự hợp tác trong lĩnh vực giáo dục thời kỳ này của hai nước thể hiện tinh thần giúp đỡ lẫn
nhau nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của những năm mới giải phóng. Hàng năm, Bộ Giáo dục
hai nước đều ký kết các văn bản hợp tác và Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục của ba nước Lào,
Campuchia, Việt Nam được tổ chức lần lượt tại Hà Nội và Viêng Chăn. Hàng loạt hệ thống trường
lớp ở Lào với sự giúp đỡ của Việt Nam như: các trường phổ thông, trung cấp sư phạm, Đại học sư
phạm Viêng Chăn đã được xây dựng. Lưu học sinh Lào, chủ yếu là sinh viên đại học, thực tập
sinh, nghiên cứu sinh trên đại học có mặt ở 36 trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên
nghiệp ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn tiếp tục đào tạo một số học sinh phổ thông cho
Lào. Riêng "Trường Bổ túc hữu nghị Việt - Lào" thành lập từ năm 1980, có nhiệm vụ đào tạo con
em nhân dân các bộ tộc Lào gửi sang học từ phổ thông cơ sở đến phổ thông trung học. Năm 1980
– 1981 có 191 học sinh Lào tốt nghiệp cấp III (đạt 100%). Số lượng học sinh Lào được đào tạo tại
Việt Nam ở các loại trường kể cả phổ thông, trung học chuyên nghiệp, đại học các ngành kinh tế,
chính trị, xã hội, quân sự, an ninh thời kỳ này rất đông, chiếm khoảng 50% số người được gửi ra
nước ngoài. Niên khóa 1983 – 1984 có 206 học sinh tốt nghiệp cấp II, III (100%); 1985 – 1986 có
gần 200 học sinh tốt nghiệp, trong đó 95% tốt nghiệp cấp III và 70% đạt loại khá, giỏi. Kết quả này
là sự nỗ lực cao độ của cả hai phía, đã góp phần thanh toán nạn mù chữ, nâng cao một bước trình
độ dân trí, hình thành đội ngũ cán bộ trí thức, đặt nền móng khoa học – kỹ thuật cho sự phát triển
của đất nước Lào. Trong 6 năm, kể từ khi hai nước ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, trung bình
mỗi năm Việt Nam cử 900 chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau sang hợp tác với Lào và đã
đào tạo cho Lào 1/2 số cán bộ của Lào được đào tạo ở nước ngoài. Từ năm 1976 đến năm 1985,
Việt Nam cử 5.957 chuyên gia các lĩnh vực sang hợp tác với Lào.


Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ lý luận chính trị của Đảng được
coi là một nhiệm vụ chiến lược cơ bản thường xuyên của Đảng, Nhà nước của cả hai nước. Đào
tạo cán bộ chủ chốt cho Đảng và Nhà nước Lào ngày càng trở thành một lĩnh vực hợp tác quan
trọng giữa hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Lào. Việt Nam cử nhiều chuyên gia đầu ngành, có
kinh nghiệm sang Lào xây dựng chương trình giảng dạy cho Trường Đảng cao cấp của Đảng và
Nhà nước Lào. Từ năm 1977 – 1989, Trường Nguyễn Ái Quốc X và Trường Nguyễn Ái Quốc đặc
biệt đã phối hợp cùng các cơ quan của hai nước đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị và chuyên
môn cho khoảng 1.000 cán bộ trung, cao cấp các ngành tuyên huấn, tổ chức, kiểm tra, phóng viên,
giảng viên Trường Đảng của Lào. Hợp tác giáo dục – đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một
trong những thành tựu đặc biệt, không có nơi nào trên thế giới có được, đó là sự tin cậy lẫn nhau,
cùng giúp nhau xây dựng, củng cố nhân tố bên trong hết sức cần thiết cho công cuộc bảo và vệ
xây dựng của mỗi nước.
4. Về hợp tác giữa các địa phương và ngoại giao nhân dân.
Đi đôi với mối quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước, các bộ, ngành
Trung ương, còn có mối quan hệ kết nghĩa giữa toàn bộ các tỉnh có chung đường biên giới cũng
như các tỉnh không có chung biên giới giữa hai nước với nhau như: Hà Nội – Viêng Chăn, Hà Nam
Ninh – Uđômxay, Vĩnh Phúc – Luổng Nặm Thà, Hà Sơn Bình – Luổng Phạbang… Các địa phương
đã phối hợp chặt chẽ về trao đổi đoàn tham quan, cùng giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm cũng như
cùng tháo gỡ những khó khăn giữa hai nước. Các Hội hữu nghị Việt – Lào, Lào – Việt đã tổ chức
thu thập, lưu trữ giữ gìn kỷ niệm, kỷ vật công tác, chiến đấu liên quan đến quan hệ Việt – Lào, Lào
– Việt; động viên việc viết sách, báo và tuyên truyền giáo dục về quan hệ Việt – Lào, Lào – Việt.
Đặc biệt, cộng đồng người Việt Nam tại Lào đã có nhiều đóng góp đáng kể trong vai trò làm cầu
nối quan trọng trong việc giữ gìn và phát triển quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào –
Việt Nam. Uỷ ban Trung ương Mặt trận, Ban Chấp hành Trung ương Hội hữu nghị của hai nước
gồm đại diện của các cơ quan, ban ngành ở Trung ương và đại diện các địa phương, phát triển chi
hội hữu nghị đến tận cấp huyện hoặc cơ sở.
Với những thành tựu to lớn đạt được sau chặng đường 10 năm (1976 –1985), thế và lực của
Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ngày càng được củng cố vững chắc. Đây là lúc Việt Nam lần
lượt rút hết chuyên gia thường trú, chuyển sang chuyên gia vụ, việc ngắn hạn. Sự kiện này chứng
minh cho sự trưởng thành vượt bậc của Lào và hiệu quả của những năm đầu thực hiện Hiệp ước
hữu nghị và hợp tác Việt Nam – Lào. Sự trưởng thành về mọi mặt của Lào đã thể hiện sự tin cậy
lẫn nhau giữa Lào và Việt Nam và hiệu quả của mối quan hệ đặc biệt giữa hai nước, không những
giúp nhau bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ mỗi nước trong những năm đầu mới giải phóng mà còn
giữ vững được chế độ mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, từng bước duy trì ổn định đời sống nhân
dân, tìm tòi con đường xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, không lệ thuộc nước ngoài. Đây
cũng chính là cơ sở vững chắc để quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào, Lào – Việt
Nam không ngừng được củng cố và tăng cường trong giai đoạn đổi mới tiếp theo.

Bài dự thi tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam Lào mẫu 2

MỘT SỐ BIỂU HIỆN SINH ĐỘNG CỦA MỐI QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, GẮN BÓ, THỦY
CHUNG SON SẮT CỦA HAI DÂN TỘC VIỆT NAM - LÀO DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA
HAI ĐẢNG, HAI NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA
Từ khi Đảng Nhân dân cách mạng Lào được thành lập năm 1955, dưới sự lãnh đạo của hai Đảng,
hai Nhà nước, mối quan hệ Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam càng được phát huy mạnh mẽ và biểu
hiện hết sức sinh động trên tất cả các lĩnh vực, không ngừng nâng cao theo sự phát triển của
phong trào cách mạng của hai nước. Trong những lúc cam go, gian khổ nhất, cán bộ, đảng viên,
quân và dân hai dân tộc vẫn sát cánh bên nhau với nghĩa tình “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”,
sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng chung và vì nền độc lập tự do của mỗi nước. Trong giai
đoạn hoà bình với nhiều điều kiện thuận lợi, hai dân tộc cũng không ngừng vun đắp mối quan hệ
đoàn kết, thủy chung, son sắt để cùng nhau tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Bài dự thi này xin nêu một số biểu hiện sinh động của mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, thủy chung
son sắt của hai dân tộc Việt Nam - Lào dưới sự lãnh đạo của hai đảng, hai nhà nước trong những
năm qua:
1. Dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, quân dân các dân tộc Việt
Nam - Lào đoàn kết bên nhau, chung sức, chung lòng đánh thắng giặc Mỹ
xâm lược
Sau Hiệp định Giơnevơ, theo yêu cầu của Chính phủ Kháng chiến Lào, Đảng và Nhà nước Việt
Nam quyết định để lại một bộ phận chuyên gia tiếp tục giúp đỡ cách mạng Lào. Tổng số chuyên
gia gồm 964 đồng chí. Đây là lực lượng rất quan trọng đối với cách mạng Lào sau ngày đình
chiến.


Thực hiện đề án đấu tranh ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ (là căn cứ tập kết của lực lượng
cách mạng Lào), được sự chỉ đạo phối hợp của Ban cán sự miền Tây, chuyên gia quân sự Việt
Nam đã giúp đỡ bạn xây dựng hai tỉnh thành các khu chiến đấu liên hoàn, đáp ứng tình hình thực
tế của từng địa bàn, khả năng tổ chức, quản lý của cán bộ Lào, đồng thời đề phòng chiến sự lan
rộng. Trong trường hợp bị chia cắt, từng khu có thể đảm bảo độc lập tác chiến; đồng thời giúp bạn
triển khai các mặt công tác chuẩn bị chiến trường, củng cố cơ sở ở các địa phương tạo địa bàn
vững chắc, ngăn chặn địch tấn công. Nhờ đó, lực lượng Pathết Lào không chỉ đẩy lùi các đợt tấn
công lấn chiếm của quân đội Vương quốc Lào, mà còn mở trận đánh lớn thu thắng lợi, diệt được
nhiều địch và mở rộng vùng giải phóng, làm nức lòng nhân dân hai tỉnh Sầm Nưa và Phôngxalỳ.
Sau khi thành lập Chính phủ liên hiệp Lào lần thứ nhất, Việt Nam đã nhận đào tạo 330 cán bộ của
Pa Thết Lào, nhằm chuẩn bị lực lượng cho phong trào cách mạng cả nước. Bức thư của Ban chỉ
đạo Đảng Nhân dân Lào gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ
Chí Minh, đã khẳng định: “Trong kháng chiến cũng như trong đấu tranh thực hiện hòa bình, thống
nhất đất nước, cách mạng Lào luôn được sự giúp đỡ tận tình của cách mạng Việt Nam, Đảng Lao
động Việt Nam. Sỡ dĩ cách mạng Lào giành được thắng lợi to lớn đó...cũng do sự đóng góp quan
trọng của đồng chí và Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã hết lòng giúp đỡ chúng tôi trong
mỗi giai đoạn của cách mạng”.
Mặc dù Chính phủ liên hiệp với mục tiêu đem lại hòa bình cho nước Lào đã được thành lập nhưng
đế quốc Mỹ và tay sai vẫn ra sức thi hành chính sách khủng bố đối với cán bộ cách mạng và
những người có tư tưởng hòa bình, tiến bộ. Nhiều cán bộ và thường dân Lào ở các tỉnh biên giới
chạy sang Việt Nam lánh nạn. Để tạo điều kiện giúp cách mạng Lào, ngày 13-12-1958, Ban chấp
hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã ra Chỉ thị 120-CT/TW, nêu rõ: Hết lòng giúp đỡ cho
số cán bộ và thường dân Lào vì tránh khủng bố mà chạy sang biên giới ta về mọi mặt tinh thần,
vật chất theo khả năng của ta. Nhận thức rõ nhiệm vụ quan trọng này, tại Quảng Trị, khi Tỉnh ủy
Savẳnnakhệt phải sang đóng ở A Vao (Hướng Hoá), bạn được Tỉnh ủy Quảng Trị, nhân dân các
dân tộc Hướng Hoá bảo vệ, cung cấp lương thực, thực phẩm suốt trong thời gian lực lượng Pathet
Lào bị bọn phản động Phu Mi và Cà Tày (thân Mỹ) trở mặt phá bỏ Hiệp định Giơnevơ, truy lùng,
khủng bố. Quảng Trị đã trở thành căn cứ địa, hậu phương vững chắc của tỉnh bạn. Ở Thái
Nguyên, trong lúc tình hình kinh tế còn rất nhiều khó khăn, nhưng cán bộ, học sinh Lào ở đây vẫn
được cung cấp đủ tiêu chuẩn phụ cấp. Những việc làm tình nghĩa này càng làm cho quan hệ vừa
là đồng chí vừa là anh em giữa hai Đảng, hai dân tộc thêm keo sơn, gắn bó.
Về quân sự, Việt Nam không chỉ sát cánh bên bạn trong thời kỳ đầu củng cố, phát triển lực lượng,
xây dựng hậu cứ, cung cấp vũ khí, quân trang mà còn phối hợp với bộ đội PaThết Lào đánh địch
giành thắng lợi oanh liệt. Từ ngày 18- 8 đến 15-9-1959, một số đơn vị quân tình nguyện Việt Nam
phối hợp với các đơn vị PaThết Lào mở đợt hai hoạt động trong mùa mưa. Trong đợt hoạt động
này, quán triệt tinh thần chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, một số đơn
vị quân tình nguyện Việt Nam (chủ yếu là lực lượng quân khu 4 tác chiến ở các tỉnh Xiêng Khoảng,
Liên huyện 90 và Khăm Muộn) đã vận dụng nhiều hình thức tác chiến linh hoạt như phục kích, tập
kích, bao vây, bắn tỉa, địch vận, phá hoại cầu đường, đốt kho tàng địch, đánh cứ điểm bằng đặc
công kết hợp hoả lực...Đi đôi với tác chiến, các đơn vị tình nguyện Việt Nam đã tích cực giúp Lào
củng cố cơ sở, phát động nhân dân ủng hộ kháng chiến, tham gia các lực lượng dân quân tự vệ
chiến đấu bảo vệ vùng mới giải phóng. Các đơn vị tình nguyện phối hợp chặt chẽ với lực lượng
PaThết Lào và nhân dân địa phương đánh 40 trận, giải phóng thêm 13 điểm. Sau đợt hoạt động
này, các tiểu đoàn 1, 2, 4 PaThết Lào được lệnh rút ra hoạt động ở biên giới Việt - Lào, sau đó
sang tập trung ở huyện Yên Lập (Phú Thọ) để chấn chỉnh lực lượng. Theo yêu cầu của Trung
ương Neo Lào Hắc Xạt, Bộ Quốc phòng Việt Nam giúp xây dựng tiểu đoàn 1 và 2 PaThết Lào
thành hai tiểu đoàn chủ lực mạnh, quân số mỗi tiểu đoàn từ 650 đến 700 chiến sĩ; đồng thời bổ
sung vũ khí, trang bị và cử các tổ chuyên gia giúp hai tiểu đoàn về quân sự, chính trị và chuyên
môn kỹ thuật.
Khi cuộc kháng chiến của hai dân tộc ngày càng phát triển, các trận đánh phối hợp giữa quân tình
nguyện Việt Nam với bộ đội PaThết Lào ngày càng có quy mô lớn hơn, nhịp nhàng và chặt chẽ
hơn. Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), Việt Nam đã chi viện pháo
binh cho PaThết Lào, đồng thời tăng cường hoạt động uy hiếp Thà Khẹc, giúp bạn bảo vệ thủ đô
Viêng Chăn trước sự tấn công của địch. Cuối năm 1960, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với
bạn giải phóng Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, nối liền với Sầm Nưa, tạo căn cứ địa vững chắc
để Chính phủ hợp pháp của Hoàng thân Xuvănna Phuma đặt trụ sở chính thức ở Khăng Khay
(Xiêng Khoảng).
Trên cơ sở thoả thuận giữa hai Đảng, ngày 9-1-1961, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh
Quân đội nhân dân Việt Nam xác định nhiệm vụ quốc tế của chuyên gia và quân tình nguyện Việt
Nam đối với cách mạng Lào trong 5 năm 1961-1965 là: Giúp đỡ các lực lượng vũ trang cách mạng


Lào về chuyên gia quân sự, đào tạo cán bộ; củng cố, xây dựng vùng giải phóng và phát triển lực
lượng vũ trang của bạn; khi bạn có yêu cầu, tổ chức bộ đội tình nguyện Việt Nam phối hợp chiến
đấu với bộ đội bạn.
Trung ương Đảng hai nước cũng xác định: Lực lượng PaThết Lào cần phối hợp chặt chẽ với quân
tình nguyện Việt Nam, kiên quyết đập tan các hoạt động phiêu lưu quân sự của địch, giữ vững
vùng giải phóng và các cơ quan đầu não của Trung ương Đảng Lào trong mọi tình huống.
Căn cứ nhiệm vụ trên, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định biên chế thời
chiến cho Sư đoàn 325, Lữ đoàn 341, Trung đoàn 224 thuộc Quân khu 4; Lữ đoàn 316, Lữ đoàn
335 và Trung đoàn 148 thuộc Quân khu Tây Bắc, sẵn sàng chi viện cho chiến trường miền Nam và
chiến trường Lào.
Trên tinh thần đó, các trận đánh phối hợp giữa hai bên ngày càng đạt hiệu quả cao, thu thắng lợi
giòn giã trên các chiến trường như cuộc tiến công giải phóng đường 8, giải phóng huyện Xê Pôn
(Savẳnnakhệt), đẩy lùi các đợt tấn công của địch vào Xiêng Khoảng. Tiêu biểu là chiến dịch Nặm
Thà năm 1962, do Bộ tư lệnh chiến dịch Nặm Thà trực tiếp chỉ huy với sự tham gia của các tướng
lĩnh Việt Nam - Lào. Chiến dịch Nặm Thà đã làm xoay chuyển tình thế có lợi cho cách mạng Lào,
có ý nghĩa quan trọng về quân sự và chính trị. Liên quân Lào - Việt không chỉ tiêu diệt được một bộ
phận sinh lực tinh nhuệ của địch vừa mới xây dựng, mà còn giáng đòn mạnh về chính trị, đánh
vào âm mưu của Mỹ và chính quyền tay sai Phumi Nôxavẳn, làm cho tinh thần đội quân đánh thuê
thêm hoang mang, dao động. Uy tín của Neo Lào Hắc Xạt, quân đội PaThết Lào được nâng cao,
khu giải phóng mở rộng thành căn cứ liên hoàn đến tận biên giới Trung Quốc.
Sau Hiệp định Giơnevơ về Lào năm 1962, thực hiện cam kết của mình, Trung ương Đảng Lao
động Việt Nam quyết định rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam và đại bộ phận chuyên gia quân
sự về nước. Thời gian này, Chính phủ liên hiệp Lào đã lập quan hệ ngoại giao với nhiều nước, tuy
vậy, Hoàng thân Xuvanuvông vẫn khẳng định: Người bạn cùng sống chết, chung một chiến hào
với ta chỉ có Việt Nam.
Năm 1963, tình hình cách mạng Lào gặp khó khăn do đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai lật lọng
âm mưu xóa bỏ Hiệp định Giơnevơ. Trước yêu cầu của bạn, Trung ương Đảng và Chính phủ Việt
Nam lại cử chuyên gia và quân tình nguyện sang giúp đỡ. Điều đáng trân trọng, biểu hiện tình cảm
thủy chung giữa quân và dân hai nước là đoàn chuyên gia Việt Nam phần lớn là các đồng chí đã
từng hoạt động, chiến đấu trên đất bạn thời gian trước.
Cuối năm 1964, Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào mở “cuộc vận động thu phục phỉ”
nhằm ổn định vùng giải phóng. Việt Nam đã giúp Lào các sản phẩm thiết yếu như muối, vải, quần
áo, thuốc men; đồng thời tại Lào, các đơn vị tình nguyện và chuyên gia Việt Nam đã sát cánh cùng
quân, dân Lào triển khai có hiệu quả cuộc vận động trên. Nhiều ổ phỉ lâu đời bị giải tán, tạo sự ổn
định mọi mặt cho các vùng giải phóng.
Từ năm 1965, liên minh chiến đấu Việt - Lào sát cánh bên nhau đánh bại chiến lược “chiến tranh
cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam Việt Nam và chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
tăng cường của đế quốc Mỹ tại Lào.
Trước tình hình đế quốc Mỹ đánh phá vùng giải phóng Lào quyết liệt, đồng thời mở các chiến dịch
ngăn chặn, cắt đứt tuyến đường Hồ Chí Minh; dưới sự lãnh đạo của hai Đảng, quân tình nguyện
và chuyên gia Việt Nam tại Lào không quản gian khổ, hy sinh chiến đấu anh dũng, kiên cường
cùng quân, dân Lào bảo vệ vùng giải phóng, tuyến hành lang chiến lược và mở các chiến dịch tấn
công địch giành thắng lợi to lớn. Có những cuộc chiến đấu diễn ra gay go, ác liệt, lực lượng tuy
mỏng nhưng quân tình nguyện Việt Nam vẫn đặt lên trên hết nhiệm vụ bảo vệ nhân dân các bộ tộc
Lào. Năm 1969, quân tình nguyện Việt Nam cùng Pa Thết Lào tổ chức chiến dịch phản công cuộc
hành quân Cù Kiệt đánh ra Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng của địch. Tại khu vực điểm cao
1505, Lạt Huồng, sau khi địch dùng trực thăng đổ quân xuống chiếm Phu Tôn, Cang Xẻng - Phu
Hủa Xàng, chúng dùng cối 106,7 ly và pháo 105mm từ trung tâm Cánh đồng Chum bắn phá ác liệt
các điểm cao xung quanh. Tiểu đoàn 924 thuộc Trung đoàn 866 quân tình nguyện Việt Nam đã
kiên quyết giữ vững cao điểm 1505, Bạn Thặm, đồng thời giúp nhân dân và cơ quan bạn sơ tán ra
khỏi khu vực. Tuy lực lượng chiến đấu có hạn nhưng các đại đội vẫn cử ra một số tổ công tác để
hướng dẫn và giúp dân sơ tán. Trong bom đạn ác liệt, bộ đội tình nguyện đã chiến đấu quên mình,
giúp đỡ nhân dân, nhường áo xẻ cơm, sẵn sàng xông pha vào những nơi nguy hiểm để bảo vệ
nhân dân. Ở xưởng may của tỉnh Xiêng Khoảng, khi địch càn đến gần, anh chị em công nhân
được lệnh di chuyển nhưng có một chị tàn tật không đi được phải bò vào rừng lán nạn. Biết tin đó,
tổ công tác của trong đoàn đã vào rừng tìm kiếm, cứu được chị đưa về nơi sơ tán an toàn. Trong
những ngày ác liệt này, bộ đội Việt Nam đã phối hợp với các cơ sở Đảng, chính quyền đưa hơn
16.000 dân và gia đình cán bộ sơ tán qua Mường Xéng, Kỳ Sơn (Nghệ An). Nhân dân Nghệ An
nhiệt tình đón tiếp, nhường áo xẻ cơm, cùng nhân dân Lào xây dựng nhà cửa, bệnh xá, trường
học, ổn định cuộc sống nơi sơ tán. Những tấm gương sáng, quên mình của bộ đội tình nguyện, sự


đón tiếp tận tình của nhân dân Nghệ An trong những ngày gian khó này đã góp phần làm cho tình
đoàn kết chiến đấu của quân dân Việt Nam - Lào càng thêm keo sơn, gắn bó.
Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 là minh chứng vô cùng sống động về mối quan hệ Việt Lào thắm thiết, ruột thịt. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng hai nước, dưới sự
lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở, đồng bào các bản, làng, mường Việt
Nam và Lào trên địa bàn dự kiến sẽ diễn ra chiến dịch đã tham gia hết sức hăng hái vào mọi công
việc chuẩn bị. Ngày ngày, trên khắp những nẻo đường hành quân, nhân dân Quảng Trị cùng nhân
dân các bộ tộc Lào không quản mưa rừng, thác lũ sát cánh cùng các đơn vị bộ đội chủ lực, thanh
niên xung phong bạt núi, mở đường, đào đắp, vận chuyển hàng vạn mét khối đất đá, xây dựng
cầu cống; truy bắt lực lượng thám báo địch bảo vệ sự an toàn và bí mật cho chiến dịch; tích cực
tham gia xây dựng các trận địa bắn máy bay và vận chuyển các loại vũ khí, đạn dược, hàng hóa
vào các vị trí tập kết đúng kế hoạch. Xe trâu, xe bò, xe đạp thồ...là cả gia tài đối với đồng bào nơi
đây nhưng khi cách mạng cần, bà con sẵn sàng đóng góp để phục vụ yêu cầu vận chuyển đạn
được, quân trang, quân nhu...Những chàng trai, cô gái Vân Kiều, Pa Cô và các bộ tộc Lào cùng
trang lứa với sức trẻ và lòng nhiệt huyết cách mạng đã đưa năng suất gùi thồ lên 90-100kg mỗi
chuyến. Nhiều người tuy sức khoẻ yếu hay vừa chữa lành vết thương vẫn xung phong đi phục vụ
chiến dịch; có em nhỏ mới 13-14 tuổi đã tình nguyện đóng góp sức mình vào việc khuân vác, chặt
cây ngụy trang mặt đường, làm liên lạc... Đang làm nương rẫy, dân bản thấy bộ đội hành quân liền
tìm cách gây tiếng ồn để át tiếng động của các đoàn quân, tránh sự phát hiện của thám báo địch.
Thi thoảng, người dân ra bờ suối vắng thấy những vết chân bộ đội in trên cỏ ướt đã bảo nhau lùa
trâu, bò ra để xáo trộn, xoá đi. Một số đồng bào bị địch bắt, chúng dụ dỗ, mua chuộc hay tra tấn dã
man, vẫn kiên quyết không khai báo, sắt son một lòng một dạ trung thành với cách mạng.
Khi chiến dịch diễn ra ác liệt, trước yêu cầu phục vụ chiến trường, bà con dân tộc Việt Nam và Lào
nơi đây tiếp tục tự nguyện phối hợp với cùng các lực lượng vận tải tham gia vận chuyển vũ khí,
đạn dược, lương thực, thực phẩm, thuốc men phục vụ bộ đội. Có những đoạn đường địch đánh
phá dữ dội suốt ngày đêm, nhưng từng đoàn người gùi lương, tải đạn vẫn không ngừng toả đi các
hướng về nơi bộ đội đang chờ. Nhiều nơi, đồng bào tự nguyện chỉ ăn củ mài và rau rừng, dành
cho các chiến sĩ những hạt gạo, lát sắn, củ khoai cuối cùng để “ăn no mà đánh thắng giặc Mỹ”.
Từng đoàn dân công là con em các dân tộc ngày đem gùi lương, tải đạn ra chiến trường, rồi lại
tham gia vận chuyển thương binh về tuyến sau. Nhiều thôn, bản thành lập các đội đi tìm kiếm chôn
cất cán bộ, chiến sĩ hy sinh. Bom đạn địch chà xát, tàn phá nhà cửa, nương rẫy nhưng không thể
nào làm phai nhạt tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc, tình quân dân thắm thiết, thủy chung.
Đó là nhân tố làm nên chiến thắng đường 9 - Nam Lào vang dội của quân và dân hai nước.
Tinh thần đoàn kết, tình cảm thủy chung, gắn bó keo sơn của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Việt Nam
với dân tộc Lào anh em đã được Tổng Bí thư Cayxỏn Phômvihản nêu rõ: Nhiều đồng chí Việt Nam
đã hy sinh trên chiến trường Sầm Nưa, Cánh đồng Chum...Nhiều cán bộ Việt Nam đã sang Lào
hoạt động từ lúc cách mạng mới bắt đầu cho đến khi tóc đã bạc, coi nhân dân Lào như nhân dân
của mình, coi sự nghiệp cách mạng Lào như sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đối với Việt Nam, sự
hết lòng yêu quý, giúp đỡ của nhân dân các bộ tộc Lào luôn là nguồn động viên, cổ vũ mạnh mẽ
tinh thần chiến đấu của bộ đội tình nguyện và các chuyên gia Việt Nam. Đặc biệt, nhân dân Lào đã
cùng chia sẻ với nhân dân Việt Nam trước bom đạn ác liệt của giặc Mỹ, tạo mọi điều kiện để bộ
đội Việt Nam mở đường Trường Sơn và mở các chiến dịch lớn, góp phần giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước.
2. Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là biểu hiện vô cùng sinh động mối
quan hệ đoàn kết, thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào Việt Nam
Tháng 9-1959, theo yêu cầu của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Trung ương Đảng Lao động Việt
Nam quyết định thành lập đoàn 959 chuyên gia giúp Lào ở mặt trận Hạ Lào. Cũng trong thời gian
này, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập đoàn 559 với nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vật chất,
đưa đón cán bộ, bộ đội từ miền Bắc vào miền Nam, đồng thời vận chuyển vào bảo đảm hậu cần
cho đoàn 959 chuyên gia ở Lào và vận chuyển vật chất giúp bạn Lào.
Khi phát hiện ra tuyến đường vận tải chiến lược quan trọng này, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài
Gòn đã kết hợp các lực lượng không quân, bộ binh với phương tiện chiến tranh hiện đại liên tục
đánh phá. Các đơn vị vận tải bị kẹt lại, không qua được đường 9. Trước tình hình đó, trên cơ sở
quan hệ truyền thống vốn có giữa hai dân tộc, yêu cầu khách quan cần gấp rút chi viện cho chiến
trường miền Nam, Lào và Campuchia, hai Đảng, hai Chính phủ thống nhất mở thêm đường phía
Tây Trường Sơn chạy trên đất Lào. Từ tháng 4-1961, dưới sự giúp đỡ của các đơn vị tình nguyện
Việt Nam, lực lượng cách mạng Lào đã mở nhiều đợt hoạt động quân sự ở miền Trung và Hạ Lào,
giải phóng một vùng rộng lớn từ Căm Cớt, Lắc Xao đến Mường Phìn, Sê Pôn, Bản Đông, nối


đường 12 với đường 9, nhanh chóng tạo thành một hành lang dài và rộng theo chiều Đông - Tây.
Toàn bộ 6 mường của Lào ở Bắc và Nam đường số 9 được giải phóng.
Năm 1963, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiếp tục đưa quân bao vây, đồng thời đánh phá
quyết liệt tuyến vận tải phía đông Trường Sơn. Trước tình hình đó, được sự lãnh đạo của hai
Đảng, quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Pa Thết Lào quyết định mở chiến dịch 128 giải phóng
toàn bộ vùng cao nguyên Trung Lào có biên giới chung với Việt Nam dài trên 700km. Thắng lợi
của chiến dịch 128 đã tạo điều kiện cho Việt Nam chuyển toàn bộ đường vận tải sang hướng Tây
trên đất Lào.
Trong quá trình này, bộ đội tình nguyện, đoàn chuyên gia cố vấn Việt Nam dưới sự chỉ đạo của Bộ
Tư lệnh Trường Sơn đã thường xuyên phối hợp với quân khu Trung - Hạ Lào, Đảng bộ và chính
quyền 7 tỉnh có đường Hồ Chí Minh xuyên qua tổ chức khảo sát địa hình, phối hợp mở đường và
chiến đấu bảo vệ căn cứ và tuyến đường chiến lược, tổ chức đánh địch tại chỗ, giải phóng đất đai,
mở rộng vùng giải phóng, tạo điều kiện để tuyến đường được mở rộng và phát triển.
Để có con đường chiến lược với hơn 20.000km, các chiến sĩ, lực lượng thanh niên xung phong và
nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Lào đã đổ bao mồ hôi, xương máu, của cải và hàng ngàn
người đã ngã xuống để xây dựng, bảo vệ và vận chuyển hàng hóa, nhân lực phục vụ cuộc kháng
chiến chống Mỹ của hai nước Việt - Lào.
Đối với cách mạng và nhân dân Lào, từ khi mới hình thành cho đến khi kết thúc thắng lợi cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đường Hồ Chí Minh đi qua 17 mường (huyện) ở Trung và Nam
Lào với tổng chiều dài hàng ngàn km. Trong 16 năm (1959-1975), đế quốc Mỹ đã rải xuống các
cánh rừng dọc tuyến đường hàng triệu tấn bom các loại, hàng ngàn tấn chất độc hóa học và nhiều
thiết bị điện tử tinh vi nhằm phát hiện, ngăn chặn lực lượng vận tải chiến lược. Đế quốc Mỹ và
chính quyền tay sai Nam Việt Nam, Lào, Campuchia còn sử dụng lực lượng lớn quân đội và vũ khí
đánh vào các vùng thuộc hành lang của tuyến đường, quy mô lớn nhất là chiến dịch Lam Sơn 719
với 20.000 quân Sài Gòn cùng sự yểm trợ của 9.000 quân Mỹ, 2.000 máy bay các loại đánh vào
khu vực Đường 9 - Nam Lào. Riêng năm 1969, máy bay Mỹ đã đánh phá hàng nghìn trận vào 180
bản làng của đồng bào các dân tộc Lào dọc tuyến đường Hồ Chí Minh, thiêu hủy 845 nóc nhà, giết
hại 482 người, làm bị thương 344 người, phá 337 nương rẫy. Bất chấp sự hủy diệt tàn bạo và
những âm mưu thâm độc của kẻ thù, dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, nhân
dân các bộ tộc Lào đã hết lòng giúp đỡ bộ đội Việt Nam trong việc mở đường, bảo vệ tuyến đường
và vận chuyển hàng hóa phục vụ chiến trường. Từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ mở rộng đánh phá,
nhân dân 17 huyện thuộc 7 tỉnh của Lào trên mảnh đất Tây Trường Sơn đã tự động dời nhà, bỏ
nương rẫy đi vào rừng sâu sinh sống. Bộ đội và du kích Lào phối hợp chặt chẽ với bộ đội Việt Nam
đánh trả máy bay địch, ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm, tập kích của chúng. Nhân dân
Lào còn đóng góp hàng triệu ngày công cùng bộ đội và lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam
làm mới, sửa chữa đường xá, vận chuyển lương thực, thương bệnh binh, góp phần vào mọi hoạt
động của tuyến đường Hồ Chí Minh.
Không thể kể hết những tình cảm quý báu của nhân dân các bộ tộc Lào dành cho các chiến sĩ, cán
bộ Việt Nam. Năm 1964, địch đánh phá ác liệt, thời tiết phức tạp khiến việc vận chuyển hàng hóa
và dẫn quân của đoàn 559 trên tuyến tây Trường Sơn gặp rất nhiều khó khăn. Có thời điểm đường
bị tắc, khách qua tuyến dồn ứ hàng ngàn người ở các trạm giao liên gần một tháng. Việc đảm bảo
lương thực, thực phẩm cho bộ đội trở thành vấn đề “nước sôi, lửa bỏng”. Trước tình hình đó, chỉ
huy đoàn 559 cùng đoàn chuyên gia 763 ở Hạ Lào trực tiếp đề xuất với Tỉnh ủy Távên Oọc của
Lào vận động nhân dân địa phương giúp đỡ. Với tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng, nhân dân
tỉnh Távên Oọc, đặc biệt là các huyện Cà Lươn, Xê Camản...nhanh chóng thu gom thóc, giã gạo
phục vụ bộ đội Việt Nam. Mặc dù là địa phương nghèo, nhân dân sống phân tán, nhưng chỉ trong
vòng nửa tháng, bạn đã huy động được hơn 30 tấn lương thực, góp phần quan trọng giải quyết
khó khăn cho đoàn 559.
Nhờ sự phối hợp liên minh này mà hàng hoá không còn bị ứ đọng trên tuyến đường 9, vào chiến
trường miền Nam và nước bạn thông suốt, kịp thời. Tuy nhiên, sức người có hạn, việc vận chuyển
hàng hoá còn phải dựa vào voi, trâu, bò... Bà con dân tộc đông - tây Trường Sơn rất quý voi, coi
voi là thần, là tượng trưng cho sự giàu có, danh giá. Làng nào có voi rất tự hào. Thế nhưng khi
cách mạng cần, nhân dân cả Việt - Lào đều sẵn sàng hiến voi, đưa voi ra trận tuyến.
Trong những năm ác liệt, gian khó đó, điều quý nhất ở bạn là tấm lòng chân thật, trong sáng, ngay
thẳng, không nề vất vả, hy sinh và tuyệt đối tin tưởng vào cán bộ, bộ đội. Bà con dân tộc Lào ở
đây đã nói với cán bộ, bộ đội Việt Nam rằng: “Tao đói còn đi đào được củ rừng để ăn. Tụi mày làm
cách mạng còn phải đi làm mãi. Củ sắn, lúa chúng tao dành cho chúng mày…”. Bà con Mường
Noòng 3 năm không có muối phải ăn tro từ rễ tranh đốt ra. Đến khi ta đưa muối sang, liền nhắc
công ơn cụ Hồ. Có người chưa hề thấy ảnh Bác, hỏi cụ Hồ có phải như ông Voi không? ông trời
không? Những lúc giáp hạt, bị cái đói hành hạ, bà con dắt nhau đi tìm rau rừng, xuống khe bắt ốc


sống cầm hơi, không hề nghĩ đến việc lấy một lưng gạo, hạt muối ở các kho lương thực, thực
phẩm của các binh trạm đặt giữa rừng trên đất bạn.
Trong những năm tháng khó khăn hay trong những trận đánh ác liệt, nhiều bà mẹ, gia đình Lào
trong khi cuộc sống còn rất thiếu thốn vẫn chắt chiu từng bát gạo để nuôi dưỡng thương binh,
vượt qua bom đạn của địch đưa rau, gạo, thuốc men đến các binh trạm trên tuyến đường để trao
tận tay cho các chiến sĩ Việt Nam.
Đáp lại lòng quý mến và đùm bọc của nhân dân Lào trên dọc tuyến đường Trường Sơn, các đơn vị
bộ đội Việt Nam đã tích cực cùng với bộ đội PaThết Lào chiến đấu bảo vệ vùng giải phóng, bảo vệ
nhân dân các bộ tộc Lào, giúp đồng bào tăng gia sản xuất, cứu đói cho dân khi gặp thiên tai, địch
họa. Bộ đội Việt Nam trên tuyến đường Hồ Chí Minh còn giúp nhân dân Lào xây mới một số tuyến
đường liên bản, liên xã, liên huyện, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã
hội vùng giải phóng. Chính vì vậy, tuy phải chịu đựng hy sinh, gian khổ, nhưng nhân dân các bộ
tộc Lào dọc tuyến đường vẫn hết lòng yêu thương, ủng hộ quân đội cách mạng hai nước.
Nhờ có con đường chiến lược Hồ Chí Minh, tính chung trong vòng 16 năm (1959-1975), tuyến
giao thông vận tải quân sự Trường Sơn đã vận chuyển được 1.349.000 tấn hàng hóa, vũ khí,
trong đó giao cho các chiến trường và cách mạng Lào, Campuchia hơn 583.000 tấn, 515 triệu m3
xăng dầu. Riêng 4 tháng trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, tuyến vận tải
559 qua đường Hồ Chí Minh đã chuyển vào miền Nam Việt Nam hơn 110.000 cán bộ, chiến sĩ,
230.000 tấn vật chất các loại, đưa sang Lào (1973-1975) trên 108.000 tấn hàng.
Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng sáng ngời của tình đoàn kết chiến
đấu, mối quan hệ thủy chung son sắt của hai dân tộc Việt - Lào trong trường kỳ đấu tranh giải
phóng dân tộc.
3. Quan hệ hữu nghị đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam
càng phát triển sống động trong giai đoạn hoà bình, xây dựng đất nước phồn
vinh, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Trong thời kỳ mới, hai Đảng, hai Nhà nước đều nhận thức rõ việc củng cố, mở rộng và phát triển
một cách toàn diện mối quan hệ Việt Nam - Lào là yêu cầu tất yếu. Vì vậy, hai nước nhanh chóng
đi đến ký kết Hiệp ước hữu nghị và hợp tác vào tháng 7-1977, đặt cơ sở pháp lý vững chắc, lâu
dài cho quan hệ hai nước trong thời kỳ mới. Trên tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng và Chính
phủ, quan hệ Việt Nam - Lào nhanh chóng được triển khai thông qua các tổ chức đoàn thể nhân
dân và các ban, ngành, địa phương với nhiều hình thức sáng tạo, phong phú, phù hợp với đặc
điểm của từng ngành, từng địa phương. Ngành thông tin, tuyên truyền, báo chí xuất bản của hai
nước tăng cường các hoạt động tuyên truyền nhân những ngày lễ trọng đại của hai dân tộc làm
cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân nhận thức đầy đủ hơn về tầm quan trọng, nội dung mối
quan hệ đặc biệt Việt - Lào trong giai đoạn mới của cách mạng.
Đi đôi với quan hệ hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Nhà nước, các bộ, ngành Trung
ương, giữa các tỉnh Việt Nam với 12 tỉnh và thành phố của Lào cũng có nhiều hình thức hợp tác,
giúp đỡ lẫn nhau phong phú và hiệu quả.
Các tổ chức hội hữu nghị trên nhiều lĩnh vực với hàng nghìn hội viên từ Trung ương đến cơ sở ra
đời, nhiệm vụ chủ yếu là giới thiệu, thông tin cho các tầng lớp nhân dân hai nước về lịch sử đất
nước, con người, nền văn hóa, thành tựu xây dựng và bảo vệ đất nước, làm cầu nối vận động và
thúc đẩy các hoạt động hữu nghị, hợp tác và giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật một cách
có hiệu quả, thiết thực; tổ chức các đoàn hữu nghị, giao lưu, trao đổi thông tin với các tổ chức xã
hội - kinh tế - văn hóa của hai nước.
Đặc biệt mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các tỉnh ngày càng thắt chặt phát triển thành quan hệ
kết nghĩa; không chỉ dừng lại ở 10 tỉnh có đường biên giới chung mà còn mở rộng ra các tỉnh,
thành phố khác như thủ đô Hà Nội với Viêng Chăn...Tại các tỉnh có đường biên giới chung, quan
hệ kết nghĩa phát triển đến tận cơ sở, đó là kết nghĩa huyện với huyện, bản với bản trên cơ sở
phát huy và duy trì mối quan hệ đoàn kết, hợp tác truyền thống láng giềng tốt đẹp, bảo đảm an
ninh xã hội vùng biên, giải quyết tốt những vấn đề nảy sinh, chủ động phối hợp tìm kiếm hài cốt liệt
sĩ quân tình nguyện Việt Nam trên đất Lào.
Tại Quảng Trị, quan hệ kết nghĩa bản - bản hai bên biên giới ngày càng đi vào chiều sâu, đạt hiệu
quả thiết thực. Đến nay toàn bộ 23/23 cặp bản đối diện của tỉnh Quảng Trị với hai tỉnh
Savẳnnakhệt và Xalavăn của Lào đã tổ chức kết nghĩa. Đây là việc làm đáp ứng tâm tư, nguyện
vọng của nhân dân hai bên biên giới, góp phần gìn giữ và phát huy quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa
hai dân tộc mãi mãi về sau.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×