Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi và biến động số lượng của một số loài phổ biến trên rau họ hoa thập tự ở vùng trồng rau an toàn tại huyện thạch thất hà nội

Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
TrọngVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN HUY TRỌNG

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN CÔN TRÙNG BẮT MỒI VÀ BIẾN
ĐỘNG SỐ LƯỢNG CỦA MỘT SỐ LOÀI PHỔ BIẾN TRÊN RAU
HỌ HOA THẬP TỰ Ở VÙNG TRỒNG RAU AN TOÀN
TẠI HUYỆN THẠCH THẤT - HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội - 12/2014

1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN


http://www.lrc.tnu.edu.vn


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
Trọng
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Ở các nước trên thế giới, sản xuất các sản phẩm nông nghiệp an toàn
cho sức khỏe con người và môi trường là hướng ưu tiên hàng đầu của ngành
nông nghiệp từ rất sớm của những năm đầu của thế kỷ XX, trong đó rau xanh
là sản phẩm được quan tâm đặc biệt về vệ sinh an toàn thực phẩm. Quy trình
kỹ thuật trồng rau sạch, rau an toàn cho phép kiểm soát tốt hơn nguyên liệu
đầu vào, làm tăng năng suất, cho phép mùa canh tác dài hơn, cung cấp sản
phẩm an toàn hơn. Gần đây, để chuẩn hóa tiêu chuẩn về an toàn trong quy
trình sản xuất nông sản, tổ chức những người bán lẻ và cung cấp ở châu Âu
EUREP (European Retail Products) đã công bố tiêu chuẩn

EUREP GAP

(European Retail Products Good Agriculture Practice) cho thị trường này và
hàng hóa của các nước muốn vào những nước châu Âu phải tuân thủ theo tiêu
chuẩn này.
Việt Nam đã gia nhập AFTA và WTO. Thách thức lớn nhất trong thời
đại chúng ta là sản xuất và bán ra thực phẩm an toàn đáp ứng nhu cầu cao
trong nước và xuất khẩu ra thế giới, trong đó rau xanh là mặt hàng hết sức
quan trọng. Nhưng trên thực tế thì các sản phẩm rau không an toàn vẫn chiếm
tỉ lệ cao trong tổng sản lượng rau được tổ chức sản xuất trên địa bàn ở Hà
Nội, một số nguyên nhân chính là do chưa có quy hoạch vùng chuyên trồng
rau, trồng rau theo lối truyền thống tự phát, đặc biệt là việc lạm dụng thuốc,
phân hóa học và chất kích thích sinh trưởng để trồng rau. Việc quy hoạch xây
dựng các khu chuyên sản xuất rau sạch, rau an toàn là một bước đột phá mới
trong việc phát triển nông nghiệp - nông thôn, đồng thời thúc đẩy việc áp
dụng các quy trình kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất rau an toàn đáp ứng được
tiêu chuẩn của GAP (Good Agriculture Practices - sản xuất nông nghiệp tốt)
là những nguyên tắc được thiết lập nhằm an toàn cho thực phẩm, an toàn cho

2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –


ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


người sản xuất, bảo vệ môi trường, truy nguyên được nguồn gốc sản phẩm,
đồng thời sản phẩm phải được đảm bảo an toàn từ ngoài đồng đến khi sử
dụng.
Từ ngày 1/8/2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây sát nhập vào Hà Nội theo Nghị
quyết của kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII ngày 29/5/2008. Theo đó, Thạch
Thất là một huyện thuộc thành phố Hà Nội. Thạch Thất nằm ở phía Tây của
thành phố Hà Nội, phía bắc và đông bắc giáp huyện Phúc Thọ, phía đông nam
và nam giáp huyện Quốc Oai, phía tây nam và nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía
tây giáp thành phố Sơn Tây. Thạch Thất là vùng bán sơn địa với diện tích tự
nhiên 18.459,05 ha, bao gồm: 1 thị trấn huyện lị (thị trấn Liên Quan) và 22
xã: Bình Phú, Bình Yên, Canh Nậu, Cẩm Yên, Cần Kiệm, Chàng Sơn, Dị
Nậu, Đại Đồng, Đồng Trúc, Hạ Bằng, Hương Ngải, Hữu Bằng, Kim Quan,
Lại Thượng, Phú Kim, Phùng Xá, Tân Xã, Thạch Hòa, Thạch Xá, Tiến Xuân,
Yên Bình, Yên Trung. Những năm qua kinh tế huyện đã có bước chuyển dịch
đáng kể, trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp diễn ra ở hầu hết
các xã, xu hướng độc canh cây lúa không còn, có nhiều mô hình sử dụng đất
nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong đó việc hình thành các
vùng chuyên canh tập trung sản xuất rau an toàn đang được nhân rộng và phát
triển mạnh cung cấp các sản phẩm rau an toàn cho thủ đô Hà Nội, đáng kể
như khu trồng rau an toàn ở các xã Dị Nậu, Đại Đồng, Hương Ngải, Lại
Thượng...vv. Tuy nhiên, trong thực tế quy trình canh tác rau an toàn còn chưa
được hoàn thiên, việc thâm canh, tăng vụ liên tục trên một diện tích hẹp đã
làm phát sinh một số loài sâu hại với mật độ cao trên rau. Những tác động ảnh
hưởng của một số yếu tố sinh thái đến sự phát sinh, phát triển của côn trùng
hại, côn trùng bắt mồi và mối quan hệ với các loài côn trùng từ các cây trồng
lân cận khác còn chưa được quan tâm nghiên cứu. Hơn nữa, việc nghiên cứu
và sử dụng các loài côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sinh học đối với sâu hại


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
Trọng
rau sẽ an toàn và có hiệu quả cao, giảm chi phí hơn so với sử dụng các biện
pháp phòng trừ sâu khác.
Với tất cả những lý do trên và trong mục tiêu phát triển nông nghiệp
hàng hóa bền vững, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và thân thiện với môi
trường đến năm 2020 thì tất cả những vùng sản xuất rau an toàn tập trung phải
được sản suất theo tiêu chuẩn GAP nhằm phát triển bền vững vành đai xanh
cung như vùng xanh sinh thái cung cấp các sản phẩm rau an toàn cho Thủ đô
Hà Nội và các đô thị xung quanh chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
thành phần côn trùng bắt mồi và biến động số lượng của một số loài phổ
biến trên rau họ hoa thập tự ở vùng trồng rau an toàn tại huyện Thạch
Thất - Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi và biến động số lượng
của một số loài bắt mồi phổ biến trên rau họ hoa thập tự ở các vùng trồng rau
an toàn ở huyện Thạch Thất nhằm bảo vệ và lợi dụng các loài côn trùng bắt
mồi trong phòng trừ sinh học sâu hại rau, giảm thiểu việc sử dụng thuốc trừ
sâu hóa học tại các vùng trồng rau an toàn ở Hà Nội.
3. Những nội dung nghiên cứu
 Điều tra thành phần côn trùng bắt mồi trên rau họ hoa thập tự ở các
vùng trồng rau an toàn và so sánh với thành phần loài côn trùng ở các điểm
trồng rau theo cách truyền thống tại huyện Thạch Thất - Hà Nội.
 Nghiên cứu sự biến động số lượng của một số loài côn trùng bắt mồi
phổ biến và vật mồi của chúng (là các loài sâu hại chính) trên rau họ hoa thập
tự ở các khu vực trồng rau an toàn tại điểm nghiên cứu.
 Nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài côn trùng bắt mồi phổ biến với
vật mồi là các loài sâu hại chính và ảnh hưởng của một số yếu tố lên chúng
trên rau họ hoa thập tự ở các khu vực trồng rau an toàn tại điểm nghiên cứu.

4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
Trọng
 Đề xuất việc sử dụng một số loài côn trùng bắt mồi (bọ rùa bắt mồi,
bọ xít bắt mồi, bọ đuôi kìm bắt mồi) trong phòng trừ sâu hại rau tại vùng
trồng rau an toàn của một số xã ở Thạch Thất, Hà Nội
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình sản xuất rau họ hoa thập tự tại huyện Thạch Thất - thành
phố Hà Nội từ năm 2006 đến nay
- Trồng rau an toàn tại Hà Nội
Từ năm 1996, căn cứ vào mục tiêu phát triển sản xuất rau an toàn
(RAT) cũng như điều kiện, nhu cầu và tình hình thực tế ở các địa phương,
thành phố Hà Nội đã triển khai đề án RAT. Năm 2000 thành phố đã có quy
hoạch tổng thể những vùng phát triển sản xuất RAT đến năm 2010 và 2020.
Theo kết quả điều tra của Chi cục BVTV Hà Nội (2006) tính toàn Thành phố
hiện có 112/117 xã phường ngoại thành có tham gia sản xuất rau. Tổng diện
tích gieo trồng rau ở các xã, phường hiện nay là 7.927,5 ha; trong đó diện tích
RAT có cán bộ kỹ thuật Chi cục BVTV Hà Nội chỉ đạo, giám sát là 5.651,5
ha, chiếm trên 70% so với tổng diện tích rau của Thành phố Hà Nội. Sản
lượng rau của Hà Nội sản xuất mới chỉ đáp ứng được xấp xỉ 40% sản lượng
tiêu thụ, còn lại gần 60% lượng rau được cung cấp từ các tỉnh lân cận, Vĩnh
Phúc, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Lào Cai...
- Trồng rau an toàn tại Huyện Thạch Thất
* Vị trí địa lý
Thạch Thất là một huyện nằm ở phía Tây của thành phố Hà Nội, phía
bắc và đông bắc giáp huyện Phúc Thọ, phía đông nam và nam giáp huyện
Quốc Oai, phía tây nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía tây giáp thành phố Sơn Tây.
Thạch Thất là vùng bán sơn địa với diện tích tự nhiên 18.459,05 ha, bao gồm:
1 thị trấn huyện lị (thị trấn Liên Quan) và 22 xã: Bình Phú, Bình Yên, Canh
Nậu, Cẩm Yên, Cần Kiệm, Chàng Sơn, Dị Nậu, Đại Đồng, Đồng Trúc, Hạ
5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
Trọng
Bằng, Hương Ngải, Hữu Bằng, Kim Quan, Lại Thượng, Phú Kim, Phùng Xá,
Tân Xã, Thạch Hòa, Thạch Xá, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung.
* Kinh tế - xã hội
Huyện Thạch Thất có vị trí địa lí rất gần khu trung tâm thành phố Hà
Nội, người dân chủ yếu là lao động làm nông nghiệp và lao động làm trong
các làng nghề thủ công truyền thống như nghề mộc, xây dựng, mây tre đan,
may...vv. Nhân dân có truyền thống cần cù, chịu khó, nguồn lao động rồi rào,
có truyền thống và kinh nghiệm trong sản xuất rau, nắm bắt thông tin và áp
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tương đối nhanh. Những năm qua kinh tế
huyện đã có bước chuyển dịch đáng kể, trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp diễn ra ở hầu hết các xã, xu hướng độc canh cây lúa không còn,
có nhiều mô hình sử dụng đất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Trong đó việc hình thành các vùng chuyên canh tập trung sản xuất rau an toàn
đang được nhân rộng và phát triển mạnh cung cấp các sản phẩm rau an toàn
cho thủ đô Hà Nội, đáng kể như khu trồng rau an toàn ở các xã Dị Nậu, Canh
Nậu, Đại Đồng, Hương Ngải, Lại Thượng, Thúy Lai...vv.
* Vệ sinh môi trường
Thường xuyên phát động các hợp tác xã, đội sản xuất và các hộ nông
dân làm công tác vệ sinh đồng ruộng, lắp đặt ống cống chứa rác thải nông
nghiệp tại các điểm trong khu ruộng sản xuất rau an toàn. Định kỳ tiến hành
nạo vét kênh mương, đảm bảo tưới tiêu.
* Công tác chỉ đạo sản xuất
UBND Huyện đã hỗ trợ một phần vật tư phục vụ sản xuất như: một số
giống rau chất lượng cao, thuốc BVTV, phân bón qua lá, phân đầu trâu.. các
sản phẩm này có nguồn gốc sinh học an toàn trong quá trình sử dụng.
Phối hợp với trung tâm khuyến nông, chi cục BVTV thành phố Hà Nội
và chi cục BVTV huyện Thạch Thất đã tổ chức nhiều lớp tập huấn hướng
dẫn kĩ thuật cho nông dân vùng sản xuất rau theo quy trình sản xuất rau an
toàn.
6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
Trọng
Các lớp tập huấn đã từng bước nâng cao nhận thức của người sản xuất và
người tiêu dùng về rau an toàn, tạo điều kiện cho người nông dân tiếp xúc với
những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, hiểu biết và ứng dụng khoa học kỹ thuật
vào thực tế sản xuất.
Trong quá trình thực hiện đã thành lập bộ phận kiểm tra giám sát phân
công cán bộ kĩ thuật thường xuyên kiểm tra giám sát trong quá trình sản xuất
và các biện pháp điều chỉnh, khắc phục kịp thời. Công tác quản lý sản xuất
rau an toàn được thực hiện theo đúng quy trình.
- Về môi trường sản xuất: Gồm đất, nước, không khí không bị nhiễm bẩn
do nước thải sinh hoạt, của các khu công nghiệp và khí thải của xe cơ
giới.
- Về phương thức sản xuất: Rau an toàn được sản xuất trong vùng quy
hoạch có tổ chức và quản lý chặt chẽ, đặc biệt là phân bón và thuốc bảo vệ
thực vật. Người sản xuất tự nguyện tự giác, thực hiện nghiêm túc quy trình
sản xuất rau an toàn.
- Giống và thời vụ gieo trồng: Các loại giống được đưa vào sản xuất có
chất lượng và sức chống chịu bệnh cao, ít bị nhiễm sâu bệnh, thời vụ sản xuất
trong khung thời vụ tốt nhất, thích hợp cho từng loại giống.
- Đất trồng, nước tưới: Đã được các cơ quan chuyên môn kiểm định,
kết quả cho thấy đủ điều kiện sản xuất rau an toàn theo quy định tại quyết
định số 106/2007/QĐ-BNN của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn. Sau
khi có kết quả phân tích đã được Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn cấp
giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất rau an toàn.
- Phân bón: Không sử dụng các loại phân bón có nguy cơ ô nhiễm cao
như phân chuồng tươi, nước giải, phân chế biến từ rác thải sinh hoạt, rác thải
công nghiệp để bón trực tiếp cho rau. Chỉ sử dụng phân chuồng đã ủ hoai
mục, phân hỗn hợp hữu cơ, khoáng theo tỷ lệ cân đối, khuyến khích sử dụng
phân hữu cơ vi sinh, sử dụng phân bón qua lá của các đơn vị được phép sản
xuất, dùng đúng liều lượng, đảm bảo thời gian cách ly.
7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
Trọng
- Công tác bảo vệ thực vật: Áp dụng kĩ thuật quản lý dịch hại tổng hợp
(IPM) trên rau, tuyệt đối không sử dụng các loại thuốc có độ độc cao, giai
đoạn đầu vụ có thể sử dụng các loại thuốc hoá học thế hệ mới an toàn cho
người và môi trường, giai đoạn cuối vụ chỉ sử dụng các loại thuốc sinh học
hoặc thuốc có nguồn gốc sinh học có thời gian cách ly ngắn ở các loại rau dễ
bị rủi ro do sâu bệnh phá hại để đảm bảo chất lượng sản phẩm. Thường xuyên
kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm đối tượng sâu bệnh hại để phòng trừ kịp
thời, khuyến khích áp dụng biện pháp phòng trừ thủ công, bắt bướm và diệt ổ
trứng sâu vào thời điểm thích hợp, tiêu huỷ cây bị bệnh, bảo vệ và phát triển
thiên địch trong các vùng trồng rau.
- Thu hoạch và bảo quản rau an toàn: Thu hoạch đúng kỹ thuật, đúng
thời điểm chín để đảm bảo năng suất, chất lượng và vệ sinh an toàn thực
phẩm, không để rau héo úa, dập nát.
*Tiêu thụ sản phẩm:
+ Cung cấp chủ yếu cho các hộ gia đình sản xuất tiểu thủ công nghiệp
và làm nghề truyền thống trong các xã của huyện.
+ Tổ chức tiêu thụ sản phẩm bằng hình thức bán ngay tại ruộng cho hệ
thống các siêu thị tại Hà Nội đến thu mua.
+ Cung cấp theo đơn đặt hàng của các cơ quan, đơn vị, trường học, nhà
hàng, bếp ăn bán trú, khu công nghiệp trên địa bàn huyện và thành phố.
- Kĩ thuật trồng một số loại rau họ hoa thập tự theo quy trình sản
xuất rau an toàn
* Chỉ tiêu rau an toàn.
Những sản phẩm rau tươi có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó,
hàm lượng các hóa chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại dưới mức
tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường, thì
được coi là rau đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gọi tắt là rau an toàn (Bộ
Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn, 1998) [1].

8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
Trọng
Chỉ tiêu của rau an toàn bao gồm: Chỉ tiêu nội chất và chỉ tiêu về hình thái
trong đó hàm lượng thuốc hóa học, số lượng vi sinh vật và kí sinh trùng, hàm
lượng đạm Nitrate (NO3), hàm lượng các kim loại nặng (chì, thủy ngân, a-sênic, kẽm, đồng...vv) trong sản phẩm của từng loại rau phải dưới mức cho
phép theo tiêu chuẩn của các tổ chức Quốc tế FAO/WHO hoặc của một số
nước tiên tiến. Các sản phẩm rau tươi được thu hoạch đúng lúc, đúng độ già
kỹ thuật hay thương phẩm của từng loại rau, không dập nát, héo úa, hư thối,
không lẫn tạp chất, sâu bệnh và có bao gói thích hợp (Bộ Nông Nghiệp Phát
Triển Nông Thôn, 1998) [1].
* Kỹ thuật trồng rau họ hoa thập tự theo quy trình sản xuất rau an toàn.
- Thời vụ: Có 3 vụ chính.
+Vụ xuân hè: Gieo tháng 1 - 3, chủ yếu trồng cải nấu canh, xà lách...
+Vụ hè thu: Gieo tháng 4 - 9, chủ yếu trồng cải xanh, cải ngọt, cải ngồng
+Vụ đông: Gieo tháng 10 - 12 chủ yếu trồng cải bắp, su hào, cải bẹ...
- Vườn ươm:
+ Đất gieo cây con: Tốt nhất là đất phù sa, đất thịt nhẹ, đất cát pha,
thoát nước tốt và chủ động tưới tiêu
+ Làm đất gieo hạt: Đất phải được phơi ải, cày bừa kỹ (không có điều
kiện phơi ải thì phải để đất khô, để đất tơi, nhỏ, tỷ lệ đất bột chiếm 2/3)
+ Lên luống: Lên luống 15 - 20 cm, rộng 80 - 100 cm (ở nơi lộng gió
và đất cao thì làm luống thấp và ngược lại). Vụ sớm lên luống mai rùa cao để
phòng mưa, dễ thoát nước, chính vụ và vụ muộn làm luống phẳng.
+ Bón lót trước khi gieo: (300 - 500 kg phân chuồng mục + 5 - 6 kg
Super lân + 2 - 3 Kg Sulfat kali) /1 sào bắc bộ. Rải phân đều trên mặt luống,
đảo đều đất và phân, vét đất ở rãnh phủ lên mặt luống dày 1,5 - 2 cm, dùng
cào hoặc thước gỗ gạt đất, phân còn vón cục ra quanh mép luống, dùng cuốc
vét rãnh và đập nhẹ thành luống cho gọn và dễ thoát nước.
o

+ Gieo hạt giống: Hạt giống nên ngâm vào nước ấm 20 C trong 20
phút, sau đó ngâm nước lạnh từ 8 - 10 giờ trước khi gieo hạt, để tiết kiệm hạt
9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
Trọng
giống, cây con sinh trưởng đều và khoẻ, thu hoạch được đồng loạt, nên gieo
hạt theo hàng với khoảng cách 4 - 5 cm 1 hạt hoặc trộn đều với tro hoặc cát,
đất bột (tỷ lệ 1/20) để gieo vãi trên mặt luống làm nhiều lần cho đều với
2

lượng hạt gieo từ 2 - 4 g/m .
+ Phủ mặt luống giữ ẩm: Sau khi gieo cần phủ mặt luống bằng trấu, tro
hoặc đất bột (qua sàng) phủ mặt luống bằng rơm hoặc rạ dày 1,5 - 2 cm để giữ
ẩm cho đều, mưa và tưới nước không làm hạt bị xô dạt...
+ Tưới nước sau gieo: Dùng ô roa tưới nhẹ bằng nước sạch lên mặt
luống. Trong 3 - 5 ngày sau gieo tưới 1 - 2 lần/ ngày, sau đó cứ 2 ngày tưới 1
lần. Khi thấy hạt bắt đầu mọc, bỏ ngay rơm rạ phủ mặt luống để cây tiếp xúc
với ánh sáng. Sau khi cây mọc 10 - 12 ngày, sàng một lớp đất bột trộn trấu để
cây không bị đổ hoặc ngả nghiêng.
+ Giàn che: Gieo cây con giống nhất thiết phải có giàn che. Có thể
bằng nilon, hoặc cót hình cầu vồng ngang mặt luống để che khi mưa.
Khi cây được 2 - 3 lá thật, tỉa bỏ cây bệnh, cây không đúng giống, để
mật độ 3 - 4 cm/cây. Sau mỗi lần nhổ tỉa, kết hợp tưới thúc bằng phân chuồng
ngâm ngấu pha loãng, không tưới bằng phân đạm.
Tiêu chuẩn cây giống tốt: Phiến lá tròn, hai lá mầm cây con xanh tươi,
đốt sít, mập, các lá gần sát nhau, lá ngọn đẹp. Cây có 5 - 6 lá thật thì nhổ
trồng.
- Làm đất, bón lót, trồng cây
Chọn đất trồng có độ PH: 6 - 6,5, đất giàu mùn. Nơi trồng rau an toàn
phải xa nguồn nước thải, các khu công nghiệp, không gần nhà máy có nhiều
khói bụi độc hại. Đất không qua sử dụng các loại thuốc BVTV có tính độc cao
nhiều vụ liên tục, đất phù hợp là đất phù sa, cát pha thịt nhẹ, đảm bảo nguồn
nước tưới tiêu chủ động.
Làm đất kĩ, nhỏ, tơi xốp, cày bừa kỹ để đất nhỏ và sạch cỏ dại, lên
luống rộng 100 - 120 cm, cao 15 - 20 cm, rãnh luống rộng 20 - 25 cm, cuốc
thành 2
10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
Trọng

11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


Luận văn thạc sĩ
Nguyễn Huy
hàng.
Trọng
Mật độ trồng: ví dụ: cải bắp, su hào 30.000 cây /ha (cây cách cây 40
cm, hàng cách hàng 60 - 70 cm)
- Bón phân
Lượng phân chuồng cho 1 ha là 25 - 30 tấn (800 - 1.000 kg cho 1 sào
bắc bộ) dùng bón lót, chỉ sử dụng phân chuồng ủ hoai mục, tuyệt đối không
sử dụng phân tươi. Ngoài biện pháp bón vào đất, có thể phun qua lá các dung
dịch dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng theo hướng dẫn sử dụng của
nhà sản xuất.
- Cách trồng
Bới một hố nhỏ, giữa hố đã có phân lót, đặt nhẹ phần rễ xuống, lấp đất
bằng hỗn hợp (phân + đất nhỏ) quanh gốc, dùng tay ấn nhẹ đất quanh gốc từ
ngoài vào, phần đất lấp ngang với cổ rễ và bằng mặt luống, tưới ngay bằng
nước sạch trực tiếp vào gốc từng cây để đất quanh gốc tự lèn và hết lún (cây
nào héo, chết thì phải dặm ngay)
- Tưới nước
Cải là cây rất cần nước nên việc tưới nước giữ ẩm phải duy trì thường
xuyên. Khi cây trải lá bàng có thể tưới rãnh (tát nước ngập 2/3 rãnh cho tự
thấm lên) để độ ẩm đất trong luống được đồng đều, không bị váng mặt luống,
khi thấm mặt luống thì tháo cạn tránh ngập úng. Các đợt bón thúc đều phải
kết hợp làm cỏ, xới xáo, vun gốc, tưới nước.
- Phòng trừ sâu bệnh.
+ Sâu hại: sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang, sâu đo, sâu xám, rệp, bọ
nhảy...
Thường xuyên kiểm tra phát hiện kịp thời để phòng trị bằng các biện
pháp cơ giới hay thuốc hoá học theo chỉ dẫn của cán bộ bảo vệ thực vật, rau
cải có một số sâu bệnh hại chính sau:
+ Bệnh hại: sưng rễ, thối hạch, thối nhũn, lở cổ rễ…

12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


Các thuốc hoá học có thể dùng trừ sâu: Bt, Sadavil, Padan, Regen, Shepra
Các loại thuốc trừ bệnh: Validacin, Rhidomil, Kasuran…
- Thu hoạch
Chú ý bảo đảm thời gian cách ly của việc dùng thuốc bảo vệ thực vật
và phân đạm trước khi thu hoạch.
Thu hoạch khi cây đúng độ chín, tránh làm dập nát, bỏ lá gốc, lá bị
bệnh...
Chỉ rửa rau bằng nước sạch, không nhúng hoặc rửa rau sau khi thu
hoạch bằng nước bẩn. Thu dọn xử lý tàn dư rau trên ruộng
Bảng 1. So sánh một số yếu tố trong sản xuất rau truyền thống với sản
xuất theo quy trình trồng rau an toàn tại Thạch Thất - Hà Nội.
Stt

Yếu tố sản
xuất
Đất sản xuất

1
Nước tưới
2
3
4
5

6

7

Sản xuất truyền
thống
Tự do, tùy thuộc
vào địa điểm

Sản xuất theo quy trình
trồng rau an toàn
Nằm trong quy hoạch vùng
sản xuất rau an toàn của
huyện, thuộc loại đất cát pha
thịt nhẹ, tầng canh tác khá
Nước sông, ao, hồ... Nước giếng khoan đã được xử
chưa xử lý
lí lắng lọc bằng bể xây xi
măng gạch ngay tại ruộng.

Phương pháp
Tưới mặt
Tưới phun
tưới
Phân bón hữu Phân chuồng chưa ủ Phân chuồng có ủ, phân vi

chiếm tỷ lệ lớn
sinh chiếm chủ yếu
Thiên địch (sinh
vật có ích)

Rất ít

Rất nhiều trong đất chiếm chủ
yếu.

Thuốc bảo vệ Không kiểm soát, Thuốc trừ sâu rất ít, chủ yếu là
thực vật
dùng theo thói quen thuốc trừ sâu thảo mộc, các
thuốc còn lại nằm trong danh
mục cho phép
Giống sản xuất Các giống tiến bộ, Các giống tiến bộ, giống liên
giống liên doanh
doanh


8
9

10

Thời gian cách
ly trước khi thu
hoạch
Sử dụng lưới,
vòm che PE.
Sơ chế sau thu
hoạch

11

Nhãn mác sản
phẩm

12

Tổ chức sản
xuất

Tập huấn nông
dân
Cán bộ kiểm
14 soát, theo dõi,
hướng dẫn
13

Có nhưng ít (dưới
10%)
Không do chi phí
cao
Có, nguồn nước
phục vụ sơ chế
không đảm bảo, chủ
yếu là nước ao
Không có

Không có, tự do

Trên 80%
23% dùng vòm che thấp đơn
giản bằng túi PE
Có, nước sơ chế chủ yếu là
nươc giếng khoan đã xử lý bề
mặt chứa trong bể xây xi măng
gạch ngay tại ruộng.
Có nhãn mác sản phẩm rau an
toàn của chi cục BVTV thành
phố Hà Nội
Có vùng quy hoạch chuyên
trồng rau an toàn và kế hoạh
sản xuất chi tiết.

Không



Không



1.2. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.2.1. Các nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi
Thành phần của thiên địch rất phong phú bao gồm các loại côn trùng
bắt mồi, ong ký sinh, nhện bắt mồi, nấm, vi khuẩn, virus. Việc xác định thành
phần thiên địch, sự biến động số lượng, đánh giá vai trò của chúng là cơ sở
khoa học trong việc sử dụng chúng để phòng trừ dịch hại. Ở các vùng sinh
thái khác nhau, số lượng các loài thiên địch đã phát hiện được cũng khác
nhau. Theo Blackman, 1984 [36] trong số gần 900 loài côn trùng đã biết thì
sâu hại chỉ chiếm trên 10% còn lại phần lớn là kẻ thù tự nhiên của sâu hại
Alam, 1992 [34] đã ghi nhận ở Anh có 48 loài thiên địch của sâu tơ, 20
loài thiên địch sâu khoang, trong đó Diptera có 5 loài, Hymenoptera có 15


loài. Goodwin, 2002 [46] cho biết có 90 loài sử dụng trứng, sâu non, nhộng
của sâu tơ làm vật mồi.
Tại Châu Âu , thành phần thiên địch của các loài sâu hại cũng được các
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Fao, 1993 [42] đã cho biết thành phần
thiên địch trên rau họ hoa thập tự ở Anh gồm 41 loài ong, 6 loài nấm và 6 loài
virus. Morallo and Sayaboc, 1992) [53] đã phát hiện tại Rumani tập đoàn ong
bắt mồi lá sâu tơ gồm 25 loài thuộc họ Ichneumonidae và Braconidae. Theo
Diana Roll, 2004 [38] sâu hại rau có 500 loài thiên địch, trong đó 70% là loài
đa thực, 20% là loài đa thực hẹp.
Lane Greer, 2000 [52] đã ghi nhận 7 loài bắt mồi quan trọng trên rau an
toàn trồng trong nhà kính gồm Chrysoperla carnea, C. rufilabris, Chrysopa
spp., ruồi ăn rệp Aphidius matricariae và họ bọ rùa bắt mồi Hippodamia
convergens.
Theo tập hợp kết quả nghiên cứu của Zhang and Liang, 2000 [59], có tới
19 loài ong và 34 loài bắt mồi ăn thịt khác là thiên địch của sâu xanh
bướm trắng.
Các loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae cũng đã được nghiên cứu rộng
rãi. Ở Đông Dương, Ivo Hodek, 1973 [41] đã công bố 14 loài bọ xít bắt mồi
bao gồm họ Reduviidae có 11 loài thuộc 9 giống. Graeme Murphy and Gillian
Ferguson, 2000 [43] đã xác định vùng phân bố và xây dựng khóa định loại
cho các loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Coranus. Risk and Brian, 1995 [57]
đã mô tả đặc điểm hình thái trứng của 24 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu
Reduviidae và mô tả bọ xít non tuổi 1, tuổi 4 của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ
này.
Thành phần loài côn trùng bắt mồi của các loài sâu hại trên rau họ hoa
thập tự và các nghiên cứu nhân nuôi một số loài côn trùng bắt mồi phổ biến
trong phòng trừ sinh học sâu hại rau an toàn trong nhà lưới, nhà kính cũng đã
được nhiều tác giả nghiên cứu, cụ thể là 61 loài côn trùng bắt mồi là sâu hại
rau họ hoa thập tự trồng trong các kiểu nhà lưới, nhà kính đã được ghi nhận,


trong đó có nhiều loài có khả năng sử dụng cho hiệu quả phòng trừ cao như
loài ong bắt mồi, bọ xít bắt mồi Oriorus sp, và bọ mắt vàng Chrysoperla sp.
(California Environmental Protection Agency Department, 2010) [37].
Nhìn chung thành phân loài côn trùng bắt mồi của các loài sâu hại trên
rau an toàn họ hoa thập tự rất phong phú với hơn 60 loài bắt mồi phổ biến ghi
nhận được như bọ rùa bắt mồi Propylea japonica, Harmonia axyridis,
Scymnus hoffmanni, ruồi ăn rệp M. corollae và P. quadrifasciatus, bọ mắt
vàng Chrysoperla carnea và Chrysopa oculata, bọ xít bắt mồi Oriorus sp,
Coranus sp., Sycanus spp.,cánh cứng bắt mồi Cheilomenes spp., bọ đuôi kìm
bắt mồi, ong vàng bắt mồi...vv nhiều loài đã được nhân nuôi và sử dụng trong
phòng trừ sinh học sâu hại rau ở nhiều nước trên thế giới.
1.2.2. Các nghiên cứu về biến động số lượng của một số loài côn
trùng bắt mồi
Việc điều tra, nghiên cứu về biến động số lượng của các loài côn trùng
bắt mồi trên đồng ruộng có ý nghĩa rất lớn trong việc dự tính dự báo sự phát
sinh, phát triển của chúng, từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn biện pháp phòng
trừ thích hợp.
Trong các loài côn trùng bắt mồi của sâu tơ thì bọ xít bắt mồi là
đối tượng phổ biến nhất. Nó có mặt ở trên cánh đồng và hiệu quả diệt sâu tơ
cũng khá cao như ở Malaysia tỷ lệ diệt 29,5%, ở Nhật Bản cao nhất vào tháng
10 tỷ lệ diệt tới 50% (Ric Bessin, et al. 2007) [58].
De Back, 1974 [40] đã nghiên cứu biến động số lượng trưởng thành và
thiếu trùng của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc 3 họ bao gồm: Acanthaspis
pedestris,

Edocla

slateri,

Catamiarus

brevipennis,

Haematorrhophus

nigroviolaceous, Neohaematorrhophus therasii, Rhinocoris fuscipes và loài R.
marginatus trên cánh đồng ở Tamil. Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 9
năm 1984 đến tháng 7 năm 1986 tác giả nhận thấy rằng biến động số lượng


của các loài bọ xít bắt mồi này có mối quan hệ với số lượng của vật mồi và
phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng mưa, gió. Số lượng của loài bọ xít Acanthaspis
pedestris thường đạt mật độ cao trong tháng 9/1984 và tháng 3/1985. Số
lượng của loài bọ xít Edocla slateri đạt mật độ cao ở tháng 11/1984 và tháng
3/1985. Đối với loài Catamiarus brevipennis đạt mật độ cao vào tháng 4 hàng
năm. Loài Haematorrhophus nigroviolaceous đạt mật độ cao ở tháng 10/1984
và tháng 2/1985. Loài Neohaematorrhophus therasii đạt mật độ cao ở tháng
3/1985 và 8/1986. Loài Rhinocoris fuscipes đạt mật độ cao ở tháng 7/1984 và
tháng 3/1986. Số lượng loài R. marginatus thường đạt mật độ cao trong tháng
9/1984 và tháng 6/1985.
Nghiên cứu biến động số lượng của loài bọ xít mù xanh Cyrtorrhinus
lividipennis trên rau. Qua tính toán cho thấy mối tương quan số lượng giữa
loài bọ xít bắt mồi này với vật mồi của nó là loài rầy chặt chẽ (r = 0,8)
(Morallo and Sayaboc, 1992) [53].
Nhiều công trình nghiên cứu của các nước đều chỉ rõ việc dùng các loại
thuốc có phổ tác dụng rộng hoặc lạm dụng thuốc hoá học để trừ sâu trên rau
họ hoa thập tự đã làm ảnh hưởng đáng kể đến sự biến động của quần thể thiên
địch. Đây là một trong số các nguyên nhân dẫn tới hiện tượng tái phát các
quần thể của sâu hại. Vì vậy việc dùng thuốc hoá học có tính chọn lọc một
cách hợp lý trên rau họ hoa thập tự là hướng chiến lược trong điều khiển tính
kháng thuốc của sâu hại, đồng thời là biện pháp quan trọng để bảo vệ các loài
thiên địch trên ruộng rau. Các kết quả nghiên cứu về côn trùng bắt mồi trên
ruộng rau đều thấy các loài này có vai trò khá quan trọng trong điều hoà số
lượng quần thể các loài sâu hại trong sinh quần đồng ruộng. Hiệu quả khống
chế sâu hại của chúng ở các vùng, các nước rất khác nhau (Alma, 1992) [34].
Nghiên cứu về biến động số lượng và ảnh hưởng của các yếu tố đến
mật độ một số loài ong bắt mồi cũng đã quan tâm và ghi nhận có 2 loài ong
Psix striaticeps và Trissolcus sp. (họ Vespidae) có vai trò cao đối với sâu hại


rau. Hai loài này đạt mật độ cao ở tháng 3/1985 và tháng 8/1986, tháng
7/1984 và tháng 3/1986. Số lượng loài Psix striaticeps thường đạt mật độ cao
nhất trong khoảng từ tháng 7 và 8 (Dẫn theo Phạm Văn Lầm et al. 2003) [56].
Vì vậy các biện pháp bảo vệ và thúc đẩy sự gia tăng số lượng các loài
côn trùng bắt mồi tự nhiên là một bộ phận quan trọng của hệ thống phòng trừ
tổng hợp sâu hại (Lane Greer, 2000) [52].
1.2.3. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa loài côn trùng bắt mồi với
vật mồi và việc sử dụng một số loài côn trùng bắt mồi
Từ lâu nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu và ứng dụng về
thiên địch trong phòng chống sâu hại. Biện pháp này tuy không mang lại hiệu
quả tức thời như biện pháp hoá học, nhưng về lâu dài lại ổn định hơn và còn
bảo vệ được con người và môi trường sống.
Ở châu Mỹ các loài bắt mồi ăn thịt có thể làm giảm mật độ trứng và sâu
non sâu xanh bướm trắng từ 51 - 79%. Ngoài ra còn xác định được hai loài
ong ăn trứng sâu xanh bướm trắng là P.vulgaris và Compsilura consinata,
nhưng hai loài này có tỷ lệ thấp (Gillian Ferguson, 2005) [45].
Jim Chaput, 2000 [50] đã ghi nhận có thể sử dụng các loài bắt mồi
Diglyphus sp và Dacnusa spp để phòng trừ sinh học sâu vẽ bùa. Gillian
Ferguson 2005 [45] đã mô tả, nghiên cứu và phát triển một số loài như ruồi ăn
rệp Aphidoletes aphidimyza, bọ rùa bắt mồi Hippodamia convergens,
Harmonia axyridis và bọ mắt vàng Chrysoperla sp. Trong nhà kính để phòng
trừ rệp đào Myzus pesicae, rệp bông Aphis gossypii, rệp khoai tây
Macrosiphum euphorbiaend và rệp cây mao Aulacorthum solani thì biện pháp
phòng trừ sinh học được ưu tiên và sử dụng với việc thả một số loài ruồi ăn
rệp Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi Hippodamia convergens,
Harmonia axyridis (Jamie Intosh, 2008) [49]. Trong công trình phòng chống
bọ trĩ hại cây trồng trên rau an toàn thì có thể sử dụng loài bọ xít nhỏ thuộc họ
Anthocoridae và giun tròn Heterorhabditis bacteriophora (Risk and Brian,


1995) [57]. Lane Greer (2000) [52] đã ghi nhận 7 loài bắt mồi quan trọng trên
rau trong nhà kính gồm Chrysoperla carnea, Crufilabris, Chrysopa spp, ruồi
ăn rệp Aphidoletes aphidimyza, ong ăn rệp Aphidius colemani, Aphidius
matricariae và bọ rùa bắt mồi Hippodamia convergens. Các loài thiên địch
này là những tác nhân quan trọng và hiệu quả trong phòng trừ rệp hại. Nhân
nuôi và thả các loài ruồi ăn rệp Aphidoletes aphidimyza và bọ rùa bắt mồi
Hippodamia convergens tốt nhất là vào thời gian nhiệt độ lạnh.
Việc nhân nuôi và sử dụng các loài côn trùng bắt mồi trong phòng trừ
sinh học để giảm bớt hay loại trừ côn trùng hại cây trồng cũng đã được áp
dụng ở nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Thái Lan, Nhật
Bản, Hà Lan…vv, thậm chí ở nhiều nước như Trung Quốc và Hà Lan cón có
nhiều công ti sinh học sản xuất hàng loạt các loài côn trùng bắt mồi (trong đó
thức ăn để nuôi chúng cũng được nhân nuôi và phối chế công nghiệp) nhằm
cung cấp cho nông dân thả trên đồng ruộng để phòng trừ nhiều loại sâu hại
nguy hiểm. Để phòng trừ rệp hại trên rau trong nhà kính ở Đài Loan, trong 5
năm thực nghiệm và nghiên cứu người ta đã nhân nuôi và thả loài bọ rùa nhật
bản bắt môi Propylea japonica, loài bọ rùa này đã làm giảm trung bình 56 76% số lượng rếp hại rau màu. Ruồi ăn rệp đã được nuôi bằng thức ăn là loài
rệp đậu tương Aphis glycine, loài rệp này được nhân nuôi trong phòng thí
nghiệm ở Trung Quốc cho thấy: số lượng của 2 loài ruồi ăn rệp M.corollae và
P.quadrifasciatus được nhân nuôi với con mồi là rệp Aphis glycine có thể diệt
từ 70 - 80% số lượng rệp ở giai đoạn cây đậu ra hoa (De Back, 1974) [40]. Ở
Indonesia, nhân nuôi loài bọ rùa Harmonia arcuata với thức ăn là rệp đậu
(nuôi bằng cây đậu tương trong phòng thí nghiệm) và thả trong nhà kính để
phòng trừ rệp đậu và sử dụng 5 loài côn trùng bắt mồi (bọ cánh cứng bắt mồi
Cheilomenes lunata, bọ rùa Syrphus sp, ruồi ăn rệp Forficulata auricularia,
bọ đuôi kìm và bọ xít bắt mồi Orius sp bằng thức ăn là một số loài rệp (nuôi
bằng cây đậu) và sâu non (nuôi bằng thức ăn nhân tạo) trong phòng thí


nghiệm ở Uganđan để diệt các loài sâu hại trên cây rau màu. Nuôi và sử dụng
hai loài bọ mắt vàng Chrysoperla carnea và Chrysopa oculata thấy rằng cá
thể bọ mắt vàng phát triển với tỉ lệ sống sót từ 66 - 91% (Ivo Hodek, 1973)
[41]. Ở Canada, nhân nuôi loài bọ rùa đỏ Micraspis discolor (F) và sử dụng
loại bọ rùa đỏ này ở pha ấu trùng (tuổi 1- 4) và trưởng thành đã đem lại hiệu
quả cao trong phòng trừ rệp đậu (Gillian Ferguson, 2005) [45]. Nuôi trưởng
thành và ấu trùng của một số loài bọ rùa (Propylaea japonica, Harmonia
axyridis, Scymnus hoffmanni) và loài bọ mắt vàng (Chrysopa pallens,
Chrysopa formosa) nhằm sử dụng để phòng trừ một số loài rầy trắng đã thu
được một số kết quả khả quan. Với 50% là nguồn thức ăn từ rệp muội và 50%
là rầy trắng thu ở ngoài đồng, các loài bắt mồi trên có khả năng sinh trưởng và
phát triển cao (Zhang and Liang, 2000) [59]. Ở Trung Quốc loài ong bắt mồi
đã được thả trên phạm vi rộng lớn hàng triệu ha cây trồng mang lại hiệu quả
cao trên 70% sau 7 ngày thả. Trên sâu non ngài gạo được thả trong nhà kính
phòng trừ sâu hại trên rau và nhiều loại cây trồng khác. Bọ mắt vàng
Chrysopa sp là loài bắt mồi ăn trứng và cả sâu non của nhiều loại sâu hại rau,
loài nay có thể làm giảm trên 80% số lượng rệp sáp hại rau màu ở nhiều nước
Châu Âu và Châu Á. Ong đen kén trắng Cotesia plutellae được sử dụng ở
Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc phòng trừ sâu tơ hại rau rất hiệu quả và
hiện nay nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Philippin, Nhật Bản,
Pháp...vv đã có quy trình công nghệ sản xuất ong đen kén trắng trên quy mô
lớn dẫn theo Ha Quang Hung, 2002 [47].
Thành công lớn nhất trong phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự là việc
nghiên cứu, sản xuất quy mô công nghiệp và sử dụng rộng rãi các chế phẩm
sinh học như NPV, GV đặc biệt là chế phẩm Bt. Một trong những nghiên cứu
biện pháp sinh học được quan tâm nhiều là nhân thả các loại côn trùng bắt mồi
có hiệu quả cao trong khống chế sâu hại, việc nhân thả các loài bắt mồi được
tiến hành dưới hai phương thức: nhân thả tràn ngập với số lượng đủ gây áp lực
khống


chế số lượng quần thể sâu hại. Nhân thả bổ sung nhằm tạo lập quần thể tự nhiên
(Lane Greer, 2000) [52].
1.3. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
1.3.1. Các nghiên cứu về thành phần côn bắt trùng mồi
Ở nước ta, những nghiên cứu về côn trùng bắt mồi, ăn thịt được tiến
hành trong nhiều năm. Kết quả điều tra cơ bản về côn trùng năm 1967 - 1968
của viện BVTV cho thấy có 75 loài thuộc bọ xít ăn sâu (Reduvidae), 67 loài
thuộc họ chân chạy (Carabidae), 20 loài thuộc họ hổ trùng (Cicindelidae)
(Viện bảo vệ thực vật, 1976) [31]. Theo báo cáo khoa học về cải tiến công tác
BVTV ở Việt Nam giai đoạn 1990 - 1995 đã thu thập được 16 loài thiên địch
trên rau ở ngoại thành Hà Nội gồm có 9 loài côn trùng bắt mồi ăn thịt, 4 loài
nhện và 3 loài ong (Viện bảo vệ thực vật, 1976) [32]
Năm 2002, Hà Quang Hùng [12] thực hiện thống kê nguồn gen côn
trùng có ích vùng Hà Nội đã điều tra thành phần côn trùng bắt mồi gồm 29
loài ong ăn trứng, 67 loài ong ăn sâu non, 67 loài ong ăn nhộng trên những
sâu hại chính của những cây trồng chủ yếu vùng Hà Nội. Theo kết quả theo
dõi của Lê Văn Trịnh và ctv., 1996 [24] cho thấy có 11 loài thiên địch xuất
hiện trên các vùng trồng rau trong mùa đông, bao gồm 5 loài nhện (thuộc bộ
nhện lớn Aranedae), 3 loài côn trùng cánh cứng (bộ Coleoptera), 2 loài ong
(bộ Hymenoptera) và 1 loài nấm ký sinh chưa xác định.
Các nghiên cứu về thành phần loài côn trùng ký sinh và bắt mồi sâu hại
trên rau họ hoa thập tự ở Hà Nội cũng đã được nhiều tác giả đề cập. Tại Gia
Lâm, Hà Nội từ năm 2001- 2002 đã ghi nhận 9 loài ăn sâu tơ, sâu xanh bướm
trắng, sâu khoang và rệp muội trên rau họ hoa thập tự, trong đó 2 loài là
Cotesia plutellae và Diaretiella rapae xuất hiện với tần xuất và tỉ lệ cao. Hà
Quang Hùng, 2002 [12] đã ghi nhận 21 loài thiên địch đối với loài ruồi hại rau


Liriomyza sativae ở Hà Nội và vùng phụ cận, đặc điểm hình thái, sinh thái của
ong Dacnusa sibirica ăn ruồi hại lá rau Liriomyza sativae đã được ghi nhận.
Nguyễn Công Thuật, 1995 [25] đã thống kê trên những thiên địch
thường thấy ở sâu hại cải bắp. Nhóm côn trùng và nhện ăn thịt có 21 loài,
nhóm vi sinh vật gây bệnh có 4 loài.
Nghiên cứu trên rau họ hoa thập tự, Lê Thị Kim Oanh, 2002 [19] đã thu
77 loài côn trùng bắt mồi và nhện bắt mồi. Một số loài thiên địch được nghiên
cứu như bọ rùa 6 vằn, bọ rùa 2 mảng đỏ, ruồi ăn rệp Đây là lực lượng thiên
địch có vai trò trong việc hạn chế số lượng nhiều loài sâu hại rau an toàn.
Lê Thị Kim Oanh, 2002 [19] thu thập ở Song Phượng - Hoài Đức - Hà
Tây (cũ) 37 loài thiên địch trong đó có 18 loài côn trùng bắt mồi, 14 loài nhện
bắt mồi trên rau họ hoa thập tự. Điều tra tại Hà Nội, Hà Tây và Vĩnh Phúc thu
thập được 45 loài kẻ thù tự nhiên trên rau họ hoa thập tự gồm 21 họ thuộc 5
bộ và một nhóm bệnh hại côn trùng. Trong đó bộ cánh cứng (Coleoptera)
chiếm số lượng loài lớn nhất (37,8%), trong đó bọ rùa đỏ, bọ rùa 6 vằn, bọ
đuôi kìm, bọ cánh cộc và ong ăn sâu tơ là 5 loài thiên địch có thể nhân nuôi
và sử dụng trong phòng trừ sâu hại trên cánh đồng.
Theo dõi thiên địch của sâu tơ trên ruộng bắp cải, Hà Quang Hùng,
2006 [13] phát hiện có một loài ong (Cotesia Plutellae), một nấm ký sinh
chưa định loại, 2 loài nhện, 1 loài bọ ba khoang và nhái. Ong (Cotesia
Plutellae) xuất hiện phổ biến từ tháng 12 trở đi.
Nguyễn Thị Thu Cúc và Nguyễn Xuân Niệm, 2009 [6] đã tìm thấy trên
cây dừa ở các tỉnh phía Nam có 5 loài bọ đuôi kìm thuộc bộ cánh da
Dermaptera trong đó có 2 loài phổ biến và có khả năng khống chế bọ cánh
cứng hại dừa. Loài bọ đuôi kìm vàng Chelisoches variegatus tìm thấy ở hầu
hết các vườn dừa ở đồng bằng sông Cửu Long, còn loài bọ đuôi kìm màu đen
Chelisoches morio chỉ tìm thấy ở đảo Phú Quốc, cả 2 đều thuộc họ
Chelisochidae và có khả năng khống chế hiệu quả bọ cánh cứng hại dừa.


Thiên địch của sâu khoang bao gồm các loại nhện, ong kén nhỏ
(Braconidae), nấm ký sinh (Beauveria) và bệnh chết nhũn. Đáng chú ý là nấm
Braconidae ký sinh trên sâu non vào tháng 1, tháng 2 và tháng 3 hàng năm
(Lê Văn Trịnh, và ctv., 1996) [24]
1.3.2. Các nghiên cứu về biến động số lượng của một số loài côn
trùng bắt mồi
Theo Nguyễn Công Thuật, 1995 [25] do trình độ dân trí về bảo vệ thực
vật quá thấp, không nắm được tình hình phát sinh của sâu, không hiểu hết tác
dụng cũng như tác hại của thuốc, không hiểu biết kỹ thuật sử dụng nên
thường phun thuốc tự do, phun theo định kỳ, tập quán phun thuốc theo nhau,
phun theo ý muốn chủ quan nên thường gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng,
rất nhiều loài thiên địch của nhiều loại sâu hại quan trọng đã bị biến mất. Trên
rau qua điều tra ở những khu vực không hoặc ít sử dụng thuốc hóa học cũng
có nhiều loài bắt mồi.
Tác giả Trần Khắc Thi, 1999 [27], cho rằng do việc sử dụng thuốc hoá
học một cách quá mức đã làm cho thành phần côn trùng bắt mồi trong sinh
quần rau rất nghèo nàn so với sinh quần lúa, đồng thời gây nên sự xuất hiện
chậm trễ của các loài này trên sinh quần rau, làm giảm vai trò của chúng trong
việc điều chỉnh các loài sâu hại. Xác định vùng Hà Nội có 2 loài ong ăn nhộng
xuất hiện từ cuối tháng 3 đến đầu tháng 5 với tỷ lệ chung trên sâu tơ 2,8% 31,0%.
Nguyễn Đình Đạt, 1980 [8] đã ghi nhận có 19 loài côn trùng bắt mồi bị
chết do phun thuốc trừ sâu, trong đó các loài nhện lớn ăn thịt và bọ rùa đỏ bị
chết nhiều nhất.
Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn, 2004 [18], đã nghiên cứu sự biến
động số lượng loài bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis trên cây Bông tại Tô
2

Hiệu - Sơn La kết quả thu được: Mật độ trung bình là 0,17 ± 0,02 con/m . Có
2

một đỉnh cao vào đầu tháng X với mật độ 0,56 con/m , sau đó mật độ giảm


dần vào cuối tháng XI. Trên cây bông, vật mồi của bọ xít này bao gồm sâu đo
( Giống Anomis, Acidalia), sâu cuốn lá bông ( Giống Sylepta và Cacoecia). ở
2

Gia Lâm – Hà Nội mật độ trung bình là 0,06 ± 0,01 con/m , trong vụ xuân
chúng thường xuất hiện vào giữa tháng IV và sau đó phát triển cho tới cuối
tháng VI. Có mặt trên cây rau với mật độ thấp vào tháng IX, Tháng X (Dẫn
theo Trương Xuân Lam và Vũ Quang Côn) [18]
Theo dõi thiên địch của sâu tơ trên ruộng bắp cải, Hà Quang Hùng
2006 [13] phát hiện ong (Cotesia Plutellae) xuất hiện phổ biến từ tháng 12 trở
đi và mật độ đạt tới 6,2 - 8,4 kén/ cây vào cuối vụ bắp cải muộn trong tháng 2
đầu tháng 3.
Đáng chú ý là nấm Braconidae ký sinh trên sâu non vào tháng 1, tháng
2 và tháng 3 hàng năm với tỷ lệ cao từ 20 - 50 %, cao nhất vào đầu tháng 2
với tỷ lệ ký sinh tới 100%. Tỷ lệ sâu non sâu khoang bị ký sinh cao trong thời
gian từ tháng 4 đến tháng 7, sâu còn bị bệnh chết nhũn trong mùa mưa nóng
gây chết hàng loạt sâu non đã góp phần làm giảm đáng kể các lứa sâu trong
tháng 7, tháng 8 (Bùi Minh Hồng, Hà Quang Hùng, 2006) [10]. 6 loài bọ xít
bắt mồi mà vật mồi là loài bọ trĩ Thrips palmi đã được ghi nhận ở Gia Lâm,
Hà Nội và các đặc điểm hình thái của loài bọ xít bắt mồi Orius sauteri cũng
như diễn biến mật độ của loài bọ xít Orius sauteri và Campylomma chinensis
cũng đã được nghiên cứu (Yorn và Hà Quang Hùng, 2005) [28]
1.3.3. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa loài côn trùng bắt mồi với
vật mồi và việc sử dụng chúng trong phòng trừ sâu hại
Những nghiên cứu cơ bản về thành phần, đặc điểm sinh học, sinh thái
học của các loài thiên địch chính, của việc sử dụng các tác nhân sinh học
được coi là biện pháp quan trọng trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp
sâu hại rau họ hoa thập tự ở nước ngoài đã được nghiên cứu nhiều và tương
đối đầy đủ. Trong khi đó ở nước ta những nghiên cứu về các loài thiên địch
cũng như các biện pháp sinh học để phòng trừ sâu hại rau họ hoa thập tự còn


chưa nhiều (Nguyễn Công Thuật, 1995) [25]. Vì vậy, việc nghiên cứu về các
biện pháp sinh học để phòng trừ sâu hại trên rau cũng như việc đi sâu nghiên
cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài thiên địch đều rất có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn, có tính cấp thiết đối với bảo vệ cây rau họ hoa thập tự.
Ở nước ta cũng có rất nhiều nghiên cứu phòng trừ sâu tơ hại rau họ hoa
thập tự bằng biện pháp sinh học, các tác giả (Nguyễn Đình Đạt 1980 [8], Lê
Văn Trịnh, và ctv., 1996 [24], Hà Quang Hùng, 2006) [13] đã tiến hành việc
nghiên cứu sử dụng Bt để trừ sâu tơ. Các tác giả đã khẳng định: chế phẩm Bt
có hiệu lực trừ sâu rất tốt đối với lượng dùng 3 kg/ha, khi trời rét đậm thì
lượng dùng 5 kg/ha, khi mật độ sâu cao có thể dùng kép 2 lần. Sử dụng chế
phẩm Bt đã góp phần làm tăng năng suất bắp cải, suplơ và giá trị thu hoạch
cao hơn hẳn so với dùng thuốc hoá học. Việc đánh giá hiệu lực của các dạng
chế phẩm sinh học Bt và một số chế phẩm mới vẫn được tiếp tục ở các cơ
quan nghiên cứu bảo vệ thực vật.
Thiên địch trên ruộng rau cũng đã được quan tâm nghiên cứu trong
những năm gần đây như điều tra, khảo sát thành phần, Hà Quang Hùng 2002
[12] đã đi sâu nghiên cứu về đặc điểm hình thái sinh học và tập tính của ong
đen ký sinh sâu tơ.
Nguyễn Thị Kim Oanh và ctv., 2005 [20] cho biết việc nhân nuôi và sử
dụng bọ xít bắt mồi, nhện bắt mồi để phòng trừ các loài gây hại có triển vọng
ở Việt Nam, góp phần bảo vệ môi trường cũng như sức khoẻ của người dân.
Vai trò của chúng đặc biệt quan trọng đối với cây trồng trong nhà lưới, nhà
kính vì môi trường đó có rất ít kẻ thù tự nhiên của nhện và bọ trĩ hại cây.
Trong thời gian tới sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu nhiều loại kẻ thù tự nhiên của
các loại sâu hại khác phục vụ cho các chương trình trồng rau an toàn trong
nhà lưới cách ly.
Việc nuôi thả thiên địch sẽ tạo nguồn thiên địch lâu dài trọng tự nhiên,
bổ sung sự thiếu hụt của chúng trên cánh đồng góp phần tạo lặp cân bằng sinh


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×