Tải bản đầy đủ

CÔNG LAO CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1919 1945)

Chuyên đề bồi dưỡng ôn thi THPT Quốc Gia
Môn: Lịch sử
CÔNG LAO CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC – HỒ CHÍ MINH
VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1919 - 1945)
- Tác giả chuyên đề: ………………..
- Chức vụ: Giáo viên
- Đơn vị công tác: THPT ………………..
- Đối tượng học sinh bồi dưỡng: Học sinh lớp 12
- Số tiết bồi dưỡng: 06 tiết.
PHẦN MỞ ĐẦU
Đổi mới giáo dục là một xu thế tất yếu trong quá trình phát triển và hội nhập chung
của đất nước, với mục tiêu hàng đầu là đào tạo “người lao động tự chủ, năng động, sáng
tạo”. Đổi mới giáo dục là quá trình đổi mới đồng bộ từ khâu thiết kế mục tiêu đến kiểm
tra đánh giá.
Cùng với các bộ môn khoa học khác, bộ môn Lịch sử cũng đã và đang được đổi
mới từ chương trình đến phương pháp dạy học, kiểm tra, đanh giá. Nhất là từ trước đến
nay, trong trường phổ thông, phần lớn đều coi môn Lịch sử là môn phụ, môn học khô
khan, không sáng tạo, thuần túy học thuộc các sự kiện. Học sinh nhiều em chưa yêu thích
môn Lịch sử, chỉ học qua loa, đối phó, nên nhận thức của các em trong nhiều vấn đề về
lịch sử còn mơ hồ, nhầm lẫn, sai lệch các mốc thời gian, không gian.
Năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo bắt đầu triển khai thực hiện một kỳ thi

THPT quốc gia chung. Kết quả thi sẽ là căn cứ để xét tốt nghiệp THPT và xét tuyển đại
học - cao đẳng. Công tác ra đề được đổi mới theo hướng đánh giá năng lực người học,
tăng dần các câu hỏi ở mức độ vận dụng, các câu hỏi mở. Cùng với quá trình chuyển
mạnh việc dạy và học từ chủ yếu truyền thụ kiến thức sang chú trọng hình thành phẩm
chất, năng lực của học sinh, đề thi sẽ tăng dần yêu cầu vận dụng kiến thức tổng hợp, liên
môn từ dễ đến khó.
Nhận thức được vị trí cũng như tầm quan trọng của việc dạy và học Lịch sử trong xu
thế mới, các giáo viên luôn trang bị cho mình những kiến thức lịch sử cơ bản cũng như
chuyên sâu nhất để truyền tải tới học sinh một cách tốt nhất những nội dung bài học.
Trong chương trình Sách giáo khoa Lịch sử lớp 12 và nội dung thi Trung học phổ
thông Quốc gia môn Lịch sử hiện nay, có rất nhiều nội dung học sinh cần nắm vững. Tuy
nhiên, do thời gian có hạn, tôi xin trình bày nội dung công lao của Nguyễn Ái Quốc – Hồ
Chí Minh với cách mạng Việt Nam (1919 - 1945).

1


PHẦN NỘI DUNG
A. MỤC TIÊU VỀ KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG
1. Mục tiêu về kiến thức
Sau bài học, học sinh cần:
- Hiểu và trình bày được hoàn cảnh dẫn đến việc Nguyễn Tât Thành ra đi tìm
đường cứu nước.
- Trình bày được quá trình lựa chọn và tìm đến con đường cứu nước của Nguyễn
Ái Quốc.
-Đánh giá được công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc với sự ra đời của Đảng cộng
sản Việt Nam.
- Phân tích được vai trò của Nguyễn Ái Quốc với thắng lợi của cuộc cách mạng
tháng Tám – 1945.
2. Mục tiêu về kĩ năng
- Phát triển kĩ năng tổng hợp và hệ thống hoá các sự kiện lịch sử.
- Phát triển kĩ năng khai thác tư liệu lịch sử.
- Phát triển kĩ năng đánh giá vai trò của cá nhân với lịch sử.
3. Mục tiêu về thái độ, tư tưởng tình cảm
- Bồi dưỡng về tinh thần yêu nước, lòng kính yêu với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.
- Bồi dưỡng tinh thần vươn lên, tự học, tự phấn đấu, hưởng ứng cuộc vận động
“Sống và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”.
4. Định hướng các năng lực hình thành
a. Năng lực chung: năng lực tự học, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng
lực hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ.


b. Năng lực chuyên biệt:
- Năng lực tái hiện sự kiện lịch sử về quá trình tìm đến với chủ nghĩa Mác – Lê
nin, quá trình vận động thành lập Đảng và công cuộc chuẩn bị cho Cách mạng tháng Tám
của Nguyễn Ái Quốc.
- Năng lực thực hành bộ môn:khai thác kênh hình có liên quan đến nội dung
chuyên đề.
- Năng lực tổng hợp, liên hệ, sâu chuỗi các sự kiện lịch sử, so sánh đối chiếu.
- Nhận xét, đánh giá về công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc với cách mạng Việt
Nam (1919-1945).

2


B. NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ
I. Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước mới cho dân tộc Việt Nam
1. Khái quát xã hội Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
Vào đầu thế kỷ XIX, tình hình thế giới có nhiều biến động, bức tranh phân chia thế
giới của chủ nghĩa đế quốc ngày càng được phác họa cơ bản và rõ nét. Sự áp bức và xu
hướng thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc đã tăng lên rõ rệt. Sự xuất khẩu tư bản vào
các nước thuộc địa đã làm cho các dân tộc thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản
thực dân chủ nghĩa. Cũng từ đó sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh tự
giải phóng khỏi ách áp bức của thực dân tăng lên một cách mạnh mẽ. Việt Nam đã chịu sự
tác động của bối cảnh lịch sử đó.
Năm 1858, Việt Nam đã bị thực dân Pháp xâm lược, mở đầu bằng cuộc tiến công vào
cảng Đà Nẵng. Chúng từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ
nghĩa thực dân trên đất nước ta. Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định vũ trang,
thực dân Pháp tiến hành những cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên thiên
nhiên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hành hoá
của chính quốc. Trên tất cả mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến văn hoá tư tưởng chúng
đều tìm mọi cách kìm hãm sự phát triển của dân tộc ta.
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại
chúng. Ở khắp nơi trong nước, nhân dân ta đã tham gia đấu tranh dưới ngọn cờ của các sĩ
phu yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Từ những phong trào tự
phát đến những phong trào có tổ chức, lãnh đạo, các phong trào diễn ra ngày càng một
hoàn thiện hơn. Tuy rằng các phong trào đều bị đàn áp dã man nên đã bị thất bại nhưng tất
cả những cuộc khởi nghĩa đó đã để lại tiếng vang lớn, gây cho địch nỗi hoang mang lo sợ.
Nguyễn Ái Quốc tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890
tại Làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cha của Người là cụ Nguyễn Sinh
Sắc (1863-1929) đỗ Phó bảng, bị ép ra làm quan, sau bị cách chức, chuyến sang làm nghề
thầy thuốc. Mẹ của Người là bà Hoàng Thị Loan (1868-1900), một phụ nữ có học, đảm
đang, chăm lo cho chồng con hết mực. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, trên
quê hương Nghệ Tĩnh giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, lại lớn lên trong cảnh nước
mất nhà tan nên Người sớm có tinh thần yêu nước. Người rất khâm phục tấm lòng yêu
nước và tinh thần đấu tranh của các bậc tiền bối như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,
Phan Đình Phùng… nhưng lại không tán thành với con đường cứu nước của các cụ. Xuất
phát từ lòng yêu nước và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng
tiến bối. Nguyễn Aí Quốc đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước.
2. Quá trình tìm đến với chủ nghĩa Mác –Lê nin
Ngày 5/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tạm
rời xa gia đình, xa Tổ quốc để bắt đầu cuộc hành trình của mình. Tuy nhiên khác với
những thanh niên cùng trang lứa đều chọn Nhật Bản làm nơi dừng chân thì Nguyễn Ái

3


Quốc lại hướng tầm nhìn của mình về các nước phương Tây, trong đó có Pháp. Sỡ dĩ
Người chọn phương Tây làm nơi đến vì Người muốn tìm hiểu xem nước Pháp và các
nước khác làm thế nào để trở về giúp đỡ đồng bào mình, hơn nữa Người cũng muốn biết
nước Pháp là một tên đế quốc như thế nào mà lại sang xâm lược nước ta và theo người
muốn đánh thắng giặc Pháp xâm lược thì cần phải tìm hiểu rõ về chúng, “ biết địch biết
ta trăm trận trăm thắng “ chính vì lý do đó mà người đã quyết định sang phương Tây,
sang nước Pháp.
Tại đây, năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ chủ trương
chống lại các chính sách áp bức bóc lột của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa. Tháng 6
năm 1919, nhân dịp các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội nghị
Vec-xai ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc thay mặt nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi
tới Hội nghị Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam để tố cáo chính sách của thực dân Pháp
và đòi chính phủ Pháp phải thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của
dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách gồm 8 điểm như sau: 1. Tổng ân xá tất cả những người
bản xứ bị án tù chính trị. 2. Cải cách nền pháp lý Đông Dương bằng cách để người bản xứ
cũng được quyền hưởng những quyền bảo đảm về mặt pháp luật như người Âu châu. Xóa
bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung
thực nhất trong nhân dân An Nam. 3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận. 4. Tự do lập hội
và hội họp. 5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương. 6. Tự do học tập, thành lập
các trường kĩ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ 7. Thay chế độ ra
các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật. 8 .Có đại biểu thường trực của người bản xứ do
người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện
vọng của người bản xứ.
Những yêu sách nói trên không được chấp nhận, nhưng nó đã có ý nghĩa rất lớn. Đó là
đòn tấn công trực diện đầu tiên của nhà cách mạng trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc vào bọn trùm
đế quốc và nó đã có tiếng vang lớn đối với nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và nhân
dân các nước thuộc địa Pháp. Một bài học lớn đã được rút ra: “Chỉ có giải phóng giai cấp
vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự
nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”.
Tháng 7 năm 1920. Nguyễn Ái Quốc đọc được Bản sơ thảo lần thứ nhất Luận cương
về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo - cơ quan Trung ương
của Đảng Cộng sản Pháp. Người vui mừng đến phát khóc lên và muốn nói to lên như
đang nói trước đông đảo quần chúng: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần
thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” . Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy
con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động

4


trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Từ đó Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tin vào Lênin, tin vào
Quốc tế thứ ba.
Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua vào cuối tháng 12 năm 1920
Người đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III và tham gia sáng lập Đảng
Cộng sản Pháp. Hành động đó của Nguyễn Ái Quốc là sự kiện đánh dấu bước ngoặt lớn
trong hoạt động cũng như tư tưởng chính trị của Người, từ lập trường yêu nước chuyển
sang lập trường cộng sản. Sự kiện đó cũng mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt
Nam một giai đoạn phát triển mới, “giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với
phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính
Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và đi theo con
đường cách mạng vô sản”, nó đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về
đường lối giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Sau này, chính Người đã thừa nhận: “Lúc đầu
chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản đã làm tôi tin theo
Lênin, tin theo Quốc tế thứ III. Từng bước một trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lí
luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu rằng chỉ có chủ nghĩa xã
hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao
động trên thế giới khỏi ách nô lệ”
II. Công lao của Nguyễn Ái Quốc đối với việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam
(3-2-1930)
1. Chuẩn bị cho việc thành lập Đảng
a. Thời gian ở Pháp
Từ 1921 Nguyễn Ái Quốc dựa vào sự giúp đỡ của Đảng cộng sản Pháp đã cùng với
một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa ở Pari để
đoàn kết các lực lượng cách mạng chống chủ nghĩa thực dân và thông qua tổ chức này để
đem chủ nghĩa Mác – Lênin đến với với các dân tộc thuộc địa. Hội quyết định sáng lập ra
tờ báo Le Paria ( Báo Người cùng khổ) làm cơ quan ngôn luận của mình và ra số đầu tiên
vào ngày 1/4/1922, tờ báo Người cùng khổ do Nguyễn Ái Quốc chủ biên kiêm chủ bút đã
vạch trần chính sách đàn áp, bóc lột dã man của chủ nghĩa đế quốc nói chung và đế quốc
Pháp nói riêng, đồng thời thức tỉnh các dân tộc bị áp bức nổi dậy đấu tranh tự giải phóng.
Ngoài việc thành lập Hội liên hiệp thuộc địa và xuất bản báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái
Quốc còn tích cực tổ chức các buổi diễn thuyết và viết nhiều bài đăng trên các báo Nhân
đạo, Đời sống công nhân, tập san Thư tín quốc tế…và viết cuốn sách nổi tiếng Bản án
chế độ thực dân Pháp (xuất bản 1925). Mặc dù nhà cầm quyền Pháp tìm mọi cách ngăn
chặn, cấm đoán nhưng các sách báo đó vẫn được bí mật chuyển về Việt Nam đúng vào lúc
phong trào cách mạng Việt Nam đang phát triển mạnh, đặc biệt bước đầu xuất hiện những
xu hướng cộng sản. Nhờ đó nhân dân ta, trước hết là những người tiểu tư sản trí thức yêu

5


nước, tiến bộ ngày càng hiểu hơn bản chất của chủ nghĩa đế quốc nói chung và đế quốc
Pháp nói riêng, hiểu được Cách mạng tháng Mười Nga và hướng về chủ nghĩa Mác –
Lênin. Bên cạnh đó, với tư cách là trưởng tiểu ban Đông Dương của Đảng cộng sản Pháp,
Nguyễn Ái Quốc cũng đã góp phần quan trọng vào việc tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực
dân Pháp ở các nước thuộc địa, đồng thời tiến hành tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin,
xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với
các nước thuộc địa và phụ thuộc.
b. Thời gian ở Liên Xô:
Tháng 6/1923 Nguyễn Ái Quốc bí mật rời khỏi nước Pháp và sang Liên Xô. Tháng
10/1923 Nguyễn Ái Quốc tham dự Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ I ở Liên Xô và
được bầu vào Ban chấp hành, tiếp đó Người vừa hoạt động vừa nghiên cứu, học tập, làm
việc ở trụ sở Quốc tế cộng sản (Bộ phương Đông), viết bài cho báo Sự thật, tạp chí Thư
tín quốc tế và một số sách báo khác…Đặc biệt từ ngày 17/6 đến ngày 8/7/1924, Người đã
tham dự Đại hội lần thứ V của quốc tế cộng sản.
c. Thời gian ở Trung Quốc
Sau một thời gian ở Liên Xô để học tập và nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng đảng
kiểu mới, Nguyễn Ái Quốc đã lên đường về tới Quảng Châu. Vào cuối 1924 Nguyễn Ái
Quốc đã tiếp xúc với các nhà cách mạng Việt Nam ở đây, nhất là những thanh niên hăng
hái trong tổ chức Tâm tâm xã để tiến tới thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên
(6/1925) với nhóm Cộng sản đoàn (được Nguyễn Ái Quốc thành lập tháng 2-1925 trên cơ
sở tổ chức Tâm Tâm xã) làm nòng cốt rồi truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam
chuẩn bị cho việc thành lập chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, Người sáng lập
tuần báo Thanh niên làm cơ quan tuyên truyền của Hội. Sau khi đưa những thanh niên
yêu nước Việt Nam vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, Nguyễn Ái Quốc đã trực
tiếp mở nhiều khóa huấn luyện chính trị nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho cách
mạng Việt Nam. Từ 1924 – 1927 đã đào tạo được 75 hội viên. Một số được cử đi học ở
trường Đại học Phương Đông (Liên Xô), một số đi học ở các trường quân sự ở Trung
Quốc, Liên Xô…, còn phần lớn trở về nước hoạt động. Trong đó Người vừa tổ chức lớp
học, vừa biên soạn tài liệu giảng dạy, vừa là giáo viên trực tiếp truyền đạt những nội dung
học tập. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc về sau được tập hợp trong cuốn Đường kách
mệnh (1927). Đây là tài liệu nhằm chuẩn bị cho những người yêu nước Việt Nam những
quan điểm cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc Việt
Nam. Trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra những phương hướng cơ bản về
chiến lược và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam, mở đường cho sự
du nhập của chủ nghĩa Mác – Lênin và sự hình thành chính đảng vô sản ở trong nước. Từ
tác phẩm toát ra một yêu cầu cấp thiết hành động. Ba tư tưởng cơ bản được nêu lên: cách
mạng là sự nghiệp của quần chúng đông đảo nên phải động viên, tổ chức và lãnh đạo

6


quần chúng nhân dân vùng dậy đánh đổ các giai cấp áp bức, bóc lột; cách mạng phải có
đảng của chủ nghĩa Mác – Lênin lãnh đạo; cách mạng trong nước cần phải đoàn kết với
giai cấp vô sản thế giới và là một bộ phận của cách mạng thế giới. Mục đích của cuốn
sách là để nói cho đồng bào ta biết rõ: “Vì sao chúng ta muốn sống thì phải cách mệnh –
Vì sao cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc riêng của một hai
người. Đem lịch sử cách mệnh các nước làm gương cho chúng ta soi. Đem phong trào thế
giới nói cho đồng bào ta rõ Ai là bạn ta? Ai là thù ta? Cách mệnh thì phải làm thế nào?”.
Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã có tác dụng tích cực đến phong trào cách mạng trong
nước. Từ năm 1926 Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng nhiều cơ sở ở nhiều
trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng, số lượng hội viên tăng lên nhanh từ 300 người
(1928) lên đến 1700 người (1929). Đến đầu 1929 Hội đã có cơ sở hầu khắp cả nước rồi
các tổ chức đoàn thể quần chúng của Hội cũng lần lượt ra đời. Đặc biệt phong trào vô sản
hóa của Hội từ 1928 trở đi đã góp phần thực hiện việc kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê nin
với phong trào công nhân và phong trào yêu nước thúc đẩy nhanh tiến trình hình thành
Đảng cộng sản ở Việt Nam. Đến giữa 1929 nhu cầu thành lập tổ chức cộng sản chín muồi,
Tân Việt cách mạng đảng có sự phân hóa và chuyển mình theo khuynh hướng cộng sản.
Trước yêu cầu bức thiết của cách mạng. Tháng 3/1929 chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt
Nam được thành lập, để rồi từ tháng 6 – 9/1929 lần lượt 3 tổ chức cộng sản nối tiếp nhau
xuất hiện là: Đông Dương Cộng sản đảng, An Nam Cộng sản đảng, Đông Dương Cộng
sản liên đoàn taọ tiền đề trực tiếp cho sự ra đời của chính đảng vô sản ở Việt Nam.
2. Sáng lập Đảng cộng sản Việt Nam
Sự xuất hiện của 3 tổ chức cộng sản vào nửa sau năm 1929 ở Việt Nam lúc bấy giờ
là một xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam, nhưng vì cả 3 tổ chức đều hoạt động riêng
lẻ, công kích lẫn nhau, tranh giành địa bàn lẫn nhau nên đã gây trở ngại lớn cho phong
trào cách mạng. Vì vậy, yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải có một
Đảng cộng sản thống nhất trong cả nước để lãnh đạo cách mạng. Được sự ủy nhiệm của
Quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
thành một Đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam diễn ra từ ngày 03 – 07/02/1930 tại Hương
Cảng (Trung Quốc) Hội nghị gồm có 5 đại biểu, hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản
đảng (Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh), hai đại biểu của An Nam Cộng sản đảng
(Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu) và Nguyễn Ái Quốc đại diện cho Quốc tế cộng sản chủ
trì cuộc họp. Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, với uy tín của Người và yêu cầu của cách
mạng Việt Nam, các đại biểu tham gia hội nghị đã nhất trí tán thành việc hợp nhất Đông
Dương Cộng sản đảng và An Nam Cộng sản đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng
thời thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ
tóm tắt của Đảng do Nguyễn Aí Quốc soạn thảo. Sau hội nghị hợp nhất đảng, ngày
24/02/1930 Đông Dương Cộng sản Liên đoàn xin gia nhập vào Đảng Cộng sản Việt Nam

7


và đã được Ban chấp hành Trung Ương lâm thời đồng ý. Như vậy trên thực tế đến ngày
24/02/1930 thì ba tổ chức cộng sản ở nước ta đã được thống nhất thành Đảng Cộng sản
Việt Nam. Bản Chính cương vắn tắt Sách lược vắn tắt của Đảng khẳng định Đảng Cộng
sản Việt Nam “là đội tiên phong của vô sản giai cấp”. Đảng chủ trương tiến hành “tư sản
dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng cách mạng tiên tiến của thời đại với phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam… Sự ra đời của Đảng ngày 3/2/1930 đã chấm dứt tình
trạng khủng hoảng đường lối cứu nước ở Việt Nam trong mấy chục năm qua. Đây là khâu
chuẩn bị quan trọng đầu tiên cho một thời kỳ đấu tranh mới trong lịch sử dân tộc. Như
vậy Nguyễn Ái Quốc là người đã đứng ra triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng
sản thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng cũng chính
Nguyễn Ái Quốc là người đã soạn thảo ra Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt,
Chương trình vắn tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn
tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo và thông qua tại Hội nghị đã vạch ra phương
hướng phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc tiến
lên cách mạng XHCN. Đường lối đó là kết quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ
nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữa tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản và
thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những văn kiện đó được xem là cương lĩnh đầu tiên của
Đảng Cộng sản Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho con đường cách mạng của dân tộc
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
III.

Vai trò của Hồ Chủ Tịch đối với cách mạng tháng Tám.

1. Hồ Chủ tịch cùng Trung ương Đảng hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược cách mạng
Tháng 2 năm 1941, sau 30 năm bôn ba, Nguyễn Ái Quốc về Cao Bằng, trực tiếp chỉ
đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Người trực tiếp triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung
ương 8 của Đảng từ ngày 10 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941. Tại Hội nghị, Người đã phân
tích, nhận định sáng suốt tình hình quốc tế và trong nước, đề ra nhiều chủ trương quan
trọng, nổi lên bao trùm xuyên suốt là giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đặt nhiệm
vụ chống đế quốc, tay sai, giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tạm gác khẩu hiệu ruộng đất.
Đó chính là sự phát triển hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách
mạng do các Hội nghị Trung ương lần 6 (11-1939) và lần 7 (11-1940) của Đảng đề ra.
2. Hồ Chủ tịch có công lớn trong xây dựng lực lượng cách mạng.
a. Xây dựng lực lượng chính trị
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Cách mạng muốn thắng lợi phải có đông đảo
các giai cấp, tầng lớp tham gia. Cùng với việc mở các lớp huấn luyện chính trị và quân sự
cho nhiều cán bộ cách mạng, Người đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, bao gồm

8


tất cả các giai cấp, tầng lớp yêu nước trong xã hội. Đâu đâu cũng phát triển mạnh mẽ các
đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Việt Minh như: Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu
quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… Vai trò và sức mạnh
to lớn của Mặt trận Việt Minh được phản ánh trong thực tiễn, có sức lôi cuốn hiệu triệu
mạnh mẽ quần chúng đứng lên đấu tranh giành độc lập tự do.
b. Xây dựng lực lượng vũ trang
Cuối năm 1941, Người cho xây dựng thí điểm đội vũ trang ở Cao Bằng đặt dưới sự
lãnh đạo của Đảng. Đội làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ cách mạng, huấn luyện chính trị,
quân sự cho các đội tự vệ, du kích ở địa phương, làm liên lạc nối căn cứ của Đảng với
miền xuôi. Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng ngày 22/12/1944, thực hiện chỉ đạo của
Người, Đội Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với nhiệm vụ là hoạt động vũ
trang tuyên truyền, kết hợp chính trị với quân sự, nhưng chính trị hơn quân sự. Ngay sau
khi thành lập, Đội đã gây được tiếng vang lớn, nhờ chiến công xuất sắc, tiêu diệt gọn hai
đồn giặc ở Phay Khắt và Nà Ngần. Để đẩy nhanh việc chuẩn bị khởi nghĩa giữa tháng 4
năm 1945 Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết
định đặt nhiệm vụ quân sự lên hàng đầu, thống nhất sáp nhập Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân và Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân. Lực lượng cách mạng
chính trị và lực lượng vũ trang không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã tạo điều kiện vô
cùng quan trọng cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhanh chóng.
3. Hồ Chủ tịch có công lớn trong việc xây dựng căn cứ địa cách mạng.
Căn cứ địa cách mạng có vai trò quan trọng vì là nhân tố thường xuyên quyết định
thắng lợi của cách mạng. Nhận thức rõ như vậy nên ngay khi vừa đặt chân về nước,
Người đã cho xây dựng căn cứ Pắc Bó (Cao Bằng). Người chọn nơi này làm chỗ đứng
chân đầu tiên là vừa để tiện chỉ đạo phong trào trong nước, vừa dễ liên hệ với phong trào
cách mạng thế giới. Từ Pắc Bó, căn cứ địa dần được mở rộng ra nhiều nơi ở các tỉnh Cao
– Bắc – Lạng. Lúc này Hồ Chủ tịch còn ra chỉ thị Nam tiến là để mở rộng dần căn cứ
xuống các tỉnh miền xuôi. Từ tháng 6-1945, Người lại cùng với Trung ương cho thành lập
khu giải phóng Việt Bắc gồm 6 tỉnh Cao – Bắc – Lạng – Hà – Tuyên – Thái. Trong khu
giải phóng, Người cho thi hành 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh để biến khu giải
phóng thành chỗ dựa vững mạnh của cách mạng cả nước, đồng thời thí điểm một bước
những chính sách ấy, rút kinh nghiệm trước khi áp dụng rộng ra cả nước sau này. Khu giải
phóng ngày càng vững mạnh, đang trở thành hình ảnh thu nhỏ của một nước Việt Nam
mới – nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đang hình thành và 10 chính sách ấy chính là
đường lối đối nội và đối ngoại của Nhà nước ta ngày nay. Từ căn cứ địa, khi thời cơ đến
chúng ta đã tiến lên giải phóng cả nước.

9


4. Hồ Chủ tịch có công lớn trong lãnh đạo Tổng khởi nghĩa.
Với tầm cao trí tuệ tuyệt vời và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn phong phú Hồ Chủ
tịch và Đảng ta đã nắm chắc thời cơ cách mạng, kịp thời đề ra chủ trương, kế hoạch Tổng
khởi nghĩa, động viên sự đoàn kết nhất trí của toàn dân tộc, để giành độc lập, tự do cho Tổ
quốc. Tháng 8 năm 1945, phát xít Đức đầu hàng Đồng minh, ở Đông Dương quân Nhật
hoảng loạn, phong trào cách mạng cả nước sôi sục, những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa
đã chín muồi Người đã khẳng định, lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu
cũng phải giành cho được độc lập. Và “Cần phải tranh thủ từng giây, từng phút tình hình
sẽ biến chuyển nhanh chóng, không thể để lỡ cơ hội”. Nắm chắc thời cơ đó Bác Hồ và
Trung ương Đảng đã chuẩn bị gấp và triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội
đại biểu Quốc dân ở Tân Trào. Tại đây đã chủ trương phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân đội Nhật. Ngay
sau đó Bác đã gửi thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tới đồng bào cả nước, trong đó khẳng định
“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy
dùng sức ta mà giải phóng cho ta… Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào
hãy dũng cảm tiến lên!...”.
5. Hồ Chủ tịch trực tiếp thảo và đọc Tuyên ngôn độc lập.
Đáp ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch và Đảng ta, nhân dân ta triệu người như một tiến
hành cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám thành công. Ngay sau khi thắng lợi vĩ đại của
Cách mạng Tháng Tám, Bác đã soạn thảo Bản Tuyên ngôn độc lập, quyết định ngày ra
mắt quốc dân và tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa vào ngày
2/9/1945, trước khi quân Đồng minh vào nước ta giải giáp quân Nhật, đánh dấu thắng lợi
hoàn toàn của cách mạng tháng Tám.
B. Xây dựng bảng mô tả các yêu cầu và biên soạn câu hỏi, bài tập về kiểm tra,
đánh giá.
I. Bảng mô tả các mức yêu cầu cần đạt cho mỗi loại câu hỏi trong chuyên đề
Nội dung
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng thấp Vận dụng cao
Nguyễn
Ái - Nêu được tình Lí giải được vì Phân tích được Đánh giá vai trò
Ái
Quốc đã tìm ra hình xã hội sao Nguyễn Ái công lao của Nguyễn
Ái Quốc trong việc
con đường cứu Việt Nam trước Quốc lại ra đi Nguyễn
nước mới cho khi Đảng Cộng tìm đường cứu Quốc trong việc giải quyết cuộc
tìm
ra
con khủng hoảng về
dân tộc Việt sảnViệt Nam ra nước.
đời.
đường
cứu đường lối của
Nam
- Trình bày
nước,
giải cách mạng Việt
được quá trình
phóng dân tộc. Nam đầu thế kỉ
tìm đến chủ
XX.
nghĩa Mác – Lê
nin của Nguyễn

10


Công lao của
Nguyễn
Ái
Quốc đối với
việc thành lập
Đảng cộng sản
Việt Nam (3-21930)

Vai trò của
Nguyễn
Ái
Quốc đối với
cách
mạng
tháng
Tám
1945.

Ái Quốc.
- Trình bày
được
những
hoạt động của
Nguyễn
Ái
Quốc ở nước
ngoài từ năm
1919 – 1925.
- Trình bày
được diễn biến
hội nghị thành
lập Đảng.
- Nêu được nội
dung
của
Cương
lĩnh
chính trị đầu
tiên của Đảng
do Nguyễn Ái
Quốc
soạn
thảo.

- Trình bày
được nội dung
hội nghị Trung
ương lần 8 (51941).
- Nêu được
những
nét
chính về công
cuộc chuẩn bị
khởi nghĩa của

- Lí giải được vì
sao năm 1928,
Nguyễn
Ái
Quốc thực hiện
chủ trương “Vô
sản hóa”.
- Giải thích
được vì sao đầu
năm
1930,
Nguyễn
Ái
Quốc tổ chức
hội nghị hợp
nhất các tổ chức
cộng sản ở Việt
Nam.

- Lí giải được vì
sao Nguyễn Ái
Quốc
cùng
Trung
ương
Đảng quyết định
chuyển hướng
đấu tranh đặt
nhiệm vụ giải
phóng dân tộc
lên hàng đầu

11

- Phân tích
được vai trò của
Nguyễn
Ái
Quốc đối với
quá trình vận
động thành lập
Đảng Cộng sản
Việt Nam.
- Chứng minh
được
rằng
Cương
lĩnh
chính trị đầu
tiên của Đảng
do Nguyễn Ái
Quốc soạn thảo
là “một cương
lĩnh cách mạng
giải phóng dân
tộc sáng tạo,
kết hợp đúng
đắn vấn đề dân
tộc và vấn đề
giai cấp. Độc
lập và tự do là
tư tưởng cốt lõi
của cương lĩnh
này”.
-Phân tích được
vai trò của
Nguyễn
Ái
Quốc với công
cuộc xây dựng
lực lượng và
căn cứ địa trong
cách
-mạng
tháng
Tám
1945.

- Nhận xét được
nội dung lí luận
cách mạng vô
sản
được
Nguyễn
Ái
Quốc xác định
và truyền bá
vào Việt Nam.

Bình luận được
nhận định của
một số người
phương
Tây
rằng
“Cách
mạng
tháng
Tám 1945 là
một sự ăn may”
-Chứng
minh
được
Cách


Đảng

Nguyễn
Ái
Quốc từ sau hội
nghị
Trung
ương lần 8 (51941)

trong thời kỳ -Phân tích được
1939 – 1945.
sự lãnh đạo
đúng đắn của
- Giải thích
ĐCS
Đông
được vì sao năm
Dương và Hồ
1941, Nguyễn
Chí Minh trong
Ái Quốc đề ra
Cách
mạng
chủ
trương
tháng Tám 1945
thành lập Mặt
trận Việt Minh.

mạng
tháng
Tám 1945 tuy
chỉ diễn ra trong
15 ngày nhưng
là kết quả của
sự chuẩn bị 15
năm.

II. Câu hỏi và bài tập theo định hướng phát triển năng lực
1. Các câu hỏi thuộc cấp độ tư duy nhận biết
- Các câu hỏi thuộc cấp độ nhận biết được nhận biết qua các từ hoặc cụm từ như
“trình bày”, “nêu” hoặc “kể tên”, “liệt kê”, “nhận biết”, “nhớ lại”, “lấy ví dụ”…
- Đây là dạng câu hỏi dễ nhất, chủ yếu chỉ yêu cầu thí sinh nhớ được bản chất những
khái niệm cơ bản hoặc nêu ra được những khái niệm khi cần. Đối với dạng này, thí sinh
cần hiểu và nắm vững kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa. Tiếp theo, căn cứ vào câu
hỏi sắp xếp (đôi khi cả chọn lọc) các kiến thức cơ bản sao cho phù hợp nhằm giúp cho bài
làm đúng trọng tâm và thêm mạch lạc.
- Việc giải các câu hỏi ở cấp độ nhận biết, cần được thực hiện theo các bước sau đây:
+ Bước 1: Nhận dạng câu hỏi. Việc nhận dạng câu hỏi ở mức độ nhận biếtdù là dễ
nhưng không nên chủ quan. Cần đọc kĩ câu hỏi để tránh những sai sót không đáng có.
+ Bước 2: Tái hiện các kiến thức đã có để trả lời câu hỏi. Đối với bước này, cần chú
ý hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, câu hỏi chỉ yêu cầu sử dụng kiến thức cơ bản thuần tuý
dưới góc độ thuộc bài. Đây là trường hợp dễ nhất trong số tất cả các loại câu hỏi, nghĩa là
chỉ cần thuộc bài là đủ. Có thể ví dụ như sau:
Trình bày hoạt động của Nguyên Ái Quốc từ 1919 – 1925?

Trường hợp thứ hai, bên cạnh yêu cầu về kiến thức cơ bản, câu hỏi còn đòi
hỏi ít nhiều phải suy nghĩ, lựa chọn kiến thức. Ví dụ như câu hỏi:
Hãy nêu một sự kiện chứng tỏ Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước đã trở thành
một người công sản?
-

Một số câu hỏi thuộc mức độ nhận biết:

Câu 1: Trong hoàn cảnh lịch sử nào, Nguyễn Tất Thành đã ra đi đi tìm đường cứu

nước?

12


Vào đầu thế kỷ XIX, tình hình thế giới có nhiều biến động, bức tranh phân chia thế
giới của chủ nghĩa đế quốc ngày càng được phác họa cơ bản và rõ nét. Sự áp bức và xu
hướng thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc đã tăng lên rõ rệt. Sự xuất khẩu tư bản vào
các nước thuộc địa đã làm cho các dân tộc thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản
thực dân chủ nghĩa. Cũng từ đó sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh tự
giải phóng khỏi ách áp bức của thực dân tăng lên một cách mạnh mẽ. Việt Nam đã chịu sự
tác động của bối cảnh lịch sử đó.
Năm 1858, Việt Nam đã bị thực dân Pháp xâm lược, mở đầu bằng cuộc tiến công vào
cảng Đà Nẵng. Chúng từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ
nghĩa thực dân trên đất nước ta. Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định vũ trang,
thực dân Pháp tiến hành những cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên thiên
nhiên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hành hoá
của chính quốc. Trên tất cả mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến văn hoá tư tưởng chúng
đều tìm mọi cách kìm hãm sự phát triển của dân tộc ta.
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại
chúng. Ở khắp nơi trong nước, nhân dân ta đã tham gia đấu tranh dưới ngọn cờ của các sĩ
phu yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Từ những phong trào tự
phát đến những phong trào có tổ chức, lãnh đạo, các phong trào diễn ra ngày càng một
hoàn thiện hơn. Tuy rằng các phong trào đều bị đàn áp dã man nên đã bị thất bại nhưng tất
cả những cuộc khởi nghĩa đó đã để lại tiếng vang lớn, gây cho địch nỗi hoang mang lo sợ.
Nguyễn Ái Quốc tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890
tại Làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cha của Người là cụ Nguyễn Sinh
Sắc (1863-1929) đỗ Phó Bảng, bị ép ra làm quan, sau bị cách chức, chuyến sang làm nghề
thầy thuốc. Mẹ của Người là bà Hoàng Thị Loan (1868-1900), một phụ nữ có học, đảm
đang, chăm lo cho chồng con hết mực. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, trên
quê hương Nghệ Tĩnh giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, lại lớn lên trong cảnh nước
mất nhà tan nên Người sớm có tinh thần yêu nước. Người rất khâm phục tấm lòng yêu
nước và tinh thần đấu tranh của các bậc tiền bối như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,
Phan Đình Phùng… nhưng lại không tán thành với con đường cứu nước của các cụ. Xuất
phát từ lòng yêu nước và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng
tiến bối. Nguyễn Aí Quốc đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước.
Câu 2: Trình bày những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc nước ngoài từ năm 1919
đến năm 1925 và cho biết Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn con đường giải phóng dân
tộc theo khuynh hướng nào?
Trả lời
- Năm 1911, Nguyễn Ái Quốc rời cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.
- Cuối năm 1917, Người trở về Pháp, tiếp xúc với nhiều Việt kiều yêu nước.

13


- Năm 1919, Người gia nhập Đảng xã hội Pháp – đảng tiến bộ ở Pháp lúc bấy giờ.
- Tháng 6/1919, Người gửi tới Hội nghị Vécxai “Bản yêu sách của nhân dân An
Nam” đòi các quyền tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nam.
- Tháng 7/1920, Người đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa” của Lênin . Người đã tìm ra con đường giành độc lập và tự do cho nhân dân
Việt Nam . Đó là con đường cách mạng vô sản.
- Tháng 12/1920, tại Đại hội Đảng xã hội Pháp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu
tán thành việc gia nhập Quốc tế 3 và tham gia sáng lập Đảng cộng sản Pháp. Người trở
thành Đảng viên Cộng sản và là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.
Như vậy, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam
phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
- Năm 1921, cùng với một số người yêu nước khác, Người sáng lập ra Hội Liên hiệp
thuộc địa ở Pari để tuyên truyền, tập hợp lực lượng chống chủ nghĩa đế quốc.
- Người sáng lập, chủ bút báo “Người cùng khổ”, viết bài cho báo “Nhân đạo”,
“Đời sống công nhân”, đặc biệt biên soạn cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” (1925)
- Tháng 6/1923, Người đi Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế nông dân và Đại hội lần thứ
5 của Quốc tế cộng sản (1924).
- Tháng 11/1924, Người về Quảng Châu (Trung Quốc), trực tiếp tuyên truyền lí
luận, xây dựng tổ chức cách mạng cho nhân dân Việt Nam.
Câu 3: Trong những năm 20 của thế kỉ XX, Nguyễn Ái Quốc đã xác định và
truyền bá vào Việt Nam lí luận cách mạng gì? Được trình bày trong những tài
liệu nào? Nội dung cơ bản và ý nghĩa của lí luận đó?
Trả lời
a. Lí luận mà Nguyễn Ái Quốc đã xác định và truyền bá vào Việt Nam trong những năm
20 của thế kỷ XX là lí luận cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô
sản.
b. Các tài liệu trình bày lí luận cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng
vô sản do Nguyễn Ái Quốc truyền bá vào Việt Nam:
- Thông qua các tờ báo, các bài viết của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Nhân đạo (của
Đảng cộng sản Pháp), báo Đời sống công nhân (Liên đoàn Lao động Pháp), báo Sự thật
(Đảng cộng sản Liên Xô), tạp chí Thư tín quốc tế (Quốc tế cộng sản), báo Người cùng
khổ, báo Thanh niên (do Nguyễn Ái Quốc sáng lập).
- Qua các bài tham luận của Nguyễn Ái Quốc trình bày trong các Hội nghị và Đại hội
Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Thanh niên, Hội nghị Quốc tế Nông dân,
Phụ nữ (1923 - 1924).

14


- Qua các tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và cuốn Đường Kách mệnh – là
tài liệu tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại lớp huấn luyện ở Quảng Châu –
Trung Quốc (1927).
- Cương lĩnh Chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và trình bày tại
Hội nghị thành lập Đảng (đầu năm 1930).
c. Nội dung cơ bản của lí luận cách mạng vô sản.
- Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trước hết phải thực hiện “tư sản dân
quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Ở Việt Nam, giải
phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ
nghĩa xã hội.
- Nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ đế quốc Pháp, bọn phong kiến và tư sản phản cách
mạng, làm cho nước Việt Nam được độc lập tự do, từng bước thực hiện khẩu hiệu “ruộng
đất cho dân cày”, trong đó chống đế quốc giành độc lập là nhiệm vụ lớn nhất.
- Lực lượng cách mạng: công nhân và nông dân là gốc của cách mạng, bên cạnh đó còn
lôi kéo tiểu tư sản – trí thức, tư sản dân tộc, trung và tiểu địa chủ…
- Nông dân và công nhân là bạn đồng minh tự nhiên, song giai cấp nông dân muốn giải
phóng mình phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đội tiên phong của giai cấp
công nhân. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp vô sản, giữ vai trò
lãnh đạo cách mạng – yếu tố quyết định để thắng lợi.
- Phải thực hiện đoàn kết quốc tế, cần phải tranh thủ sự giúp đỡ của giai cấp vô sản và các
dân tộc bị áp bức trên thế giới.
d. Ý nghĩa của lí luận cách mạng đối với sự ra đời của Đảng:
- Những tư tưởng này là ngọn cờ định hướng, chỉ đạo cho phong trào cách mạng Việt
Nam trong thời kì vận động thành lập Đảng, là ánh sáng soi đường cho lớp thanh niên yêu
nước Việt Nam đang tìm ra cân lí cứu nước đầu thế kỉ XX.
- Là sự chuẩn bị tất yếu về tư tưởng, chính trị cho sự ra đời của Đảng cộng sản ở Việt
Nam đầu năm 1930. Đặt nền móng cơ sở để xây dựng cương lĩnh của Đảng sau này.
Câu 4: Trình bày hoàn cảnh, nội dung của Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt
Nam và nêu bật vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với hội nghị.
Trả lời
*Hoàn cảnh triệu tập hội nghị thành lập đảng cộng sản Việt Nam
+ Nhờ những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc và của hội VN cách mạng thanh niên
nên đến năm 1929 ở Việt Nam liên tiếp xuất hiện ba tổ chức cộng sản là Đông Dương
cộng sản đảng, An Nam cộng sản đảng, Đông Dương cộng sản liên đoàn. Điều đó đã thúc
đẩy phong trào cách mạng phát triển.

15


- Song ba tổ chức lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng, tranh giành quần
chúng của nhau nếu để lâu sẽ gây hậu quả không tốt cho cách mạng Việt Nam. Yêu cầu
cấp bách của cách mạng Việt Nam lúc này là phải có một Đảng thống nhất.
- Nguyễn Ái Quốc với tư cách là phái viên Quốc tế Cộng sản, đã trở về Cửu Long,
Hương Cảng Trung Quốc chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng cộng
sản Việt Nam từ 6/1/1930.
* Nội dung Hội nghị.
- Mở đầu hội nghị Nguyễn Ái Quốc phê phán các tổ chức cộng sản trong thời gian
qua đã hoạt động riêng rẽ, gây ảnh hưởng không tốt cho cmVN và đưa ra yêu cầu hợp
nhất các tổ chức CS.
- Hội nghị nhất trí hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập đảng duy nhất là Đảng
cộng sản VN.
- Thông qua Chính cương, sách lược vắn tắt, điều lệ tóm tắt của Đảng do Nguyễn Aí
Quốc khởi thảo.
- Thông qua lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo.
*Vai trò của Nguyễn Ái Quốc
- Là người trực tiếp chủ trì hội nghị thành lập đảng.
- Viết chính cương và sách lược, tuy còn tóm tắt nhưng đã vạch ra đường lối cho cách
mạng Việt Nam.
- Hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành Đảng cộng sản Việt Nam.

Câu 5: Trình bày diễn biến hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941)?
Hướng dẫn trả lời
a. Hoàn cảnh lịch sử : Ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp
lãnh đạo cách mạng, triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 ở Pắc
Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 đến 19/5/1941.
b. Nội dung :
- Khẳng định chủ trương đúng đắn của Hội nghị 6 và 7 nhưng đề cao hơn nữa nhiệm vụ
giải phóng dân tộc và đưa nhiệm vụ này lên hàng đầu.
- Tạm gác khẩu hiệu "Đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày" thay bằng khẩu
hiệu "Tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo”, giảm tô,
giảm tức ...
- Chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho từng nước Việt Nam, Lào,
Campuchia.
- Nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn này: chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang
- Bầu Ban Chấp hành Trung ương do Trường Chinh làm Tổng Bí thư.
- Ngày 19/05/1941, thành lập Mặt trận Việt Minh. Năm tháng sau, Tuyên ngôn, Chương
trình, Điều lệ Việt Minh được công bố chính thức.

16


c. Ý nghĩa : Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 có ý nghĩa quan trọng.
Nghị quyết của Hội nghị lần 8 đã hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và
sách lược cách mạng đã đề ra ở Hội nghị Ban Chấp hàng Trung ương lần thứ 6 (11/1939).
Nó có tác dụng quyết định trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân chuẩn bị tiến tới Cách
mạng tháng Tám.

Câu 6: Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa của Đảng và Nguyễn Ái Quốc từ sau hội
nghị Trung ương lần 8 (5-1941) được diễn ra như thế nào?
Hướng dẫn trả lời
1. Xây dựng lực lượng chính trị
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Cách mạng muốn thắng lợi phải có đôg đảo
các giai cấp, tầng lớp tham gia. Cùng với việc mở các lớp huấn luyện chính trị và quân sự
cho nhiều cán bộ cách mạng, Người đã quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, bao gồm
tất cả các giai cấp, tầng lớp yêu nước trong xã hội. Đâu đâu cũng phát triển mạnh mẽ các
đoàn thể quần chúng trong Mặt trận Việt Minh như: Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu
quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… Vai trò và sức mạnh
to lớn của Mặt trận Việt Minh được phản ánh trong thực tiễn, có sức lôi cuốn hiệu triệu
mạnh mẽ quần chúng đứng lên đấu tranh giành độc lập tự do.
2. Xây dựng lực lượng vũ trang
Cuối năm 1941, Bác cho xây dựng thí điểm đội vũ trang ở Cao Bằng đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Đội làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ cách mạng, huấn luyện chính trị, quân sự
cho các đội tự vệ, du kích ở địa phương, làm liên lạc nối căn cứ của Đảng với miền xuôi.
Để đáp ứng yêu cầu của cách mạng ngày 22/12/1944, thực hiện chỉ đạo của Bác, Đội
Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập với nhiệm vụ là hoạt động vũ trang tuyên
truyền, kết hợp chính trị với quân sự, nhưng chính trị hơn quân sự. Ngay sau khi thành
lập, Đội đã gây được tiếng vang lớn, nhờ chiến công xuất sắc, tiêu diệt gọn hai đồn giặc ở
Phay Khắt và Nà Ngần. Để đẩy nhanh việc chuẩn bị khởi nghĩa giữa tháng 4 năm 1945
Bác cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự Bắc kỳ quyết định đặt nhiệm vụ
quân sự lên hàng đầu, thống nhất sáp nhập Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân và
Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân. Lực lượng cách mạng chính trị và lực
lượng vũ trang không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã tạo điều kiện vô cùng quan trọng
cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi nhanh chóng.
3. Xây dựng căn cứ địa cách mạng
Căn cứ địa cách mạng có vai trò quan trọng vì là nhân tố thường xuyên quyết định
thắng lợi của cách mạng. Nhận thức rõ như vậy nên ngay khi vừa đặt chân về nước,
Người đã cho xây dựng căn cứ Pắc Bó (Cao Bằng). Người chọn nơi này làm chỗ đứng

17


chân đầu tiên là vừa để tiện chỉ đạo phong trào trong nước, vừa dễ liên hệ với phong trào
cách mạng thế giới. Từ Pắc Bó, căn cứ địa dần được mở rộng ra nhiều nơi ở các tỉnh Cao
– Bắc – Lạng. Lúc này Hồ Chủ tịch còn ra chỉ thị Nam tiến là để mở rộng dần căn cứ
xuống các tỉnh miền xuôi. Từ tháng 6-1945, Người lại cùng với Trung ương cho thành lập
khu giải phóng Việt Bắc gồm 6 tỉnh Cao – Bắc – Lạng – Hà – Tuyên – Thái. Trong khu
giải phóng, Người cho thi hành 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh để biến khu giải
phóng thành chỗ dựa vững mạnh của cách mạng cả nước, đồng thời thí điểm một bước
những chính sách ấy, rút kinh nghiệm trước khi áp dụng rộng ra cả nước sau này. Khu giải
phóng ngày càng vững mạnh, đang trở thành hình ảnh thu nhỏ của một nước Việt Nam
mới – nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đang hình thành và 10 chính sách ấy chính là
đường lối đối nội và đối ngoại của Nhà nước ta ngày nay. Từ căn cứ địa, khi thời cơ đến
chúng ta đã tiến lên giải phóng cả nước.
2. Các câu hỏi thuộc cấp độ tư duy thông hiểu
- Các câu hỏi thuộc cấp độ thông hiểu, được nhận biết qua các từ hoặc cụm từ như:
“giải thích”, “phân biệt”, “tại sao”, “vì sao”, “lí giải”, “vì sao nói”…
- Đây là dạng câu hỏi yêu cầu thí sinh hiểu được những khái niệm, những sự kiện
lịch sử. Ở bậc này, thí sinh có thể giải thích được một số sự kiện, hiện tượng lịch sử…
- Việc giải các câu hỏi thuộc cấp độ thông hiểu cần được thực hiện theo các bước
sau đây:
+ Bước 1: Nhận dạng câu hỏi. Việc nhận dạng câu hỏi thuộc cấp độ thông hiểu còn
yêu cầu học sinh phải có kĩ năng lựa chọn sự kiện để giải thích, lí giải sự kiện, hiện tượng
lịch sử ấy.
+ Bước 2: Tái hiện, tổng hợp các kiến thức để trả lời câu hỏi.
-

Một số câu hỏi thuộc mức độ thông hiểu:

Câu 1: Vì sao năm 1911 Nguyễn Tất Thành lại ra đi tìm đường cứu nước?
Hướng dẫn trả lời
Vào đầu thế kỷ XIX, tình hình thế giới có nhiều biến động, bức tranh phân chia thế
giới của chủ nghĩa đế quốc ngày càng được phác họa cơ bản và rõ nét. Sự áp bức và xu
hướng thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đế quốc đã tăng lên rõ rệt. Sự xuất khẩu tư bản vào
các nước thuộc địa đã làm cho các dân tộc thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản
thực dân chủ nghĩa. Cũng từ đó sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh tự
giải phóng khỏi ách áp bức của thực dân tăng lên một cách mạnh mẽ. Việt Nam đã chịu sự
tác động của bối cảnh lịch sử đó.
Năm 1858, Việt Nam đã bị thực dân Pháp xâm lược, mở đầu bằng cuộc tiến công vào
cảng Đà Nẵng. Chúng từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn bạo, phản động của chủ
nghĩa thực dân trên đất nước ta. Sau khi hoàn thành việc xâm lược và bình định vũ trang,
thực dân Pháp tiến hành những cuộc khai thác thuộc địa nhằm cướp đoạt tài nguyên thiên

18


nhiên, bóc lột nhân công rẻ mạt, cho vay nặng lãi, mở rộng thị trường tiêu thụ hành hoá
của chính quốc. Trên tất cả mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế đến văn hoá tư tưởng chúng
đều tìm mọi cách kìm hãm sự phát triển của dân tộc ta.
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại
chúng. Ở khắp nơi trong nước, nhân dân ta đã tham gia đấu tranh dưới ngọn cờ của các sĩ
phu yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Từ những phong trào tự
phát đến những phong trào có tổ chức, lãnh đạo, các phong trào diễn ra ngày càng một
hoàn thiện hơn. Tuy rằng các phong trào đều bị đàn áp dã man nên đã bị thất bại nhưng tất
cả những cuộc khởi nghĩa đó đã để lại tiếng vang lớn, gây cho địch nỗi hoang mang lo sợ.
Nguyễn Ái Quốc tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890
tại Làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Cha của Người là cụ Nguyễn Sinh
Sắc (1863-1929) đỗ Phó Bảng, bị ép ra làm quan, sau bị cách chức, chuyến sang làm nghề
thầy thuốc. Mẹ của Người là bà Hoàng Thị Loan (1868-1900), một phụ nữ có học, đảm
đang, chăm lo cho chồng con hết mực. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, trên
quê hương Nghệ Tĩnh giàu truyền thống đấu tranh cách mạng, lại lớn lên trong cảnh nước
mất nhà tan nên Người sớm có tinh thần yêu nước. Người rất khâm phục tấm lòng yêu
nước và tinh thần đấu tranh của các bậc tiền bối như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,
Phan Đình Phùng… nhưng lại không tán thành với con đường cứu nước của các cụ. Xuất
phát từ lòng yêu nước và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng
tiến bối. Nguyễn Aí Quốc đã quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước.
Câu 2: Hãy giải thích vì sao năm 1928, Nguyễn Ái Quốc thực hiện chủ trương “Vô

sản hóa”.
Hướng dẫn trả lời
Vào cuối 1924 Nguyễn Ái Quốc đã tiếp xúc với các nhà cách mạng Việt Nam ở
đây, nhất là những thanh niên hăng hái trong tổ chức Tâm tâm xã để tiến tới thành lập Hội
Việt Nam cách mạng thanh niên (6/1925) với nhóm Cộng sản đoàn làm nòng cốt rồi
truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam chuẩn bị cho việc thành lập chính đảng
của giai cấp công nhân Việt Nam, Người sáng lập tuần báo Thanh niên làm cơ quan tuyên
truyền của Hội.
Sau khi đưa những thanh niên yêu nước Việt Nam vào Hội Việt Nam cách mạng thanh
niên, Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp mở nhiều khóa huấn luyện chính trị nhằm đào tạo đội
ngũ cán bộ cốt cán cho cách mạng Việt Nam. Từ 1924 – 1927 đã đào tạo được 75 hội
viên. Một số được cử đi học ở trường Đại học Phương Đông (Liên Xô), một số đi học ở
các trường quân sự ở Trung Quốc, Liên Xô…,còn phần lớn trở về nước hoạt động. Trong
đó Người vừa tổ chức lớp học, vừa biên soạn tài liệu giảng dạy, vừa là giáo viên trực tiếp
truyền đạt những nội dung học tập. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc về sau được tập

19


hợp trong cuốn Đường kách mệnh (1927). Đây là tài liệu nhằm chuẩn bị cho những người
yêu nước Việt Nam những quan điểm cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng
giải phóng dân tộc Việt Nam.
Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc đã có tác dụng tích cực đến phong trào cách mạng
trong nước. Từ năm 1926 Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã xây dựng nhiều cơ sở ở
nhiều trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng, số lượng hội viên tăng lên nhanh từ 300
người (1928) lên đến 1700 người (1929). Đến đầu 1929 Hội đã có cơ sở hầu khắp cả nước
rồi các tổ chức đoàn thể quần chúng của Hội cũng lần lượt ra đời
Đặc biệt phong trào vô sản hóa của Hội từ 1928 trở đi đã góp phần thực hiện việc
kết hợp chủ nghĩa Mác – Lê nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước thúc
đẩy nhanh tiến trình hình thành Đảng cộng sản ở Việt Nam.

Câu 3: Vì sao đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc tổ chức hội nghị hợp nhất các tổ
chức cộng sản ở Việt Nam?
Hướng dẫn trả lời
Sự xuất hiện của 3 tổ chức cộng sản vào nửa sau năm 1929 ở Việt Nam lúc bấy giờ
là một xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam, nhưng vì cả 3 tổ chức đều hoạt động riêng
lẻ, công kích lẫn nhau, tranh giành địa bàn lẫn nhau nên đã gây trở ngại lớn cho phong
trào cách mạng. Vì vậy, yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải có một
Đảng cộng sản thống nhất trong cả nước để lãnh đạo cách mạng. Được sự ủy nhiệm của
Quốc tế cộng sản Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
thành một Đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam diễn ra từ ngày 03 – 07/02/1930 tại Hương
Cảng (Trung Quốc)
Câu 4: Nêu vai trò của Nguyễn Ái Quốc với cách mạng Việt Nam giai đoạn từ 1920
đến 1945. Vai trò nào quan trọng nhất? Vì Sao?
Hướng dẫn trả lời
* Quá trình tìm đường cứu nước và vận động thành lập Đảng.
- Xuất phát từ lòng yêu nước và trên cơ sở rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ
cách mạng tiền bối, ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu
nước…Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gửi Bản yêu sách của nhân dân An Nam tới Hội nghị
Vec-xai, gây tiếng vang lớn đối với nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và nhân dân các
thuộc địa Pháp.
- Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về
vấn đề thuộc địa của Lê-nin, từ đó Người hoàn toàn tin theo Lê-nin, dứt khoát đứng về
Quốc tế thứ ba.

20


- Tháng 12/1920, tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Người tán thành ra
nhập Quốc tế thứ ba, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện này đánh dấu bước
ngoặt trong hoạt động cách mạng của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa MácLê nin và đi theo con đường cách mạng vô sản. Như vậy công lao đầu tiên với cách mạng
Việt Nam là Người tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc.
- Năm 1921, Người cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp thành lập
Hội liên hiệp thuộc địa ở Pa- ri. Người tham gia sáng lập báo Người cùng khổ, viết nhiều
bài cho các báo Nhân Đạo, Đời sống công nhân và cuốn sách Bản án chế độ thực dân
Pháp.
- Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quôc rời Pháp sang Liên Xô dự Hội nghị Quốc tế
nông dân. Người ở lại Liên Xô, vừa làm việc, vừa nghiên cứu học tập; dự và đọc tham
luận quan trọng tại Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng (1924).
- Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người
thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trong đó tổ chức Cộng sản Đoàn làm
nòng cốt (6/1925). Người trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện chính trị để đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ cho cách mạng Việt Nam. Giữa năm 1927, Người rời Quảng Châu, trở lại
Liên Xô, qua Đức, Pháp, rồi trở về Thái Lan.
- Đầu năm 1930, Người từ Thái Lan đến Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc)
triệu tập đại biểu và chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy công
lao tiếp theo là đã thành lập Đảng, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng sau này.
* Đối với sự thắng lợi của cách mạng tháng Tám
- 1930-1940 tuy hoạt động ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn luôn theo dõi
sát sao và kịp thời chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
- 1941 Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp triệu tập và chủ trì hội nghị TW 8 tại
Pác Bó-Cao Bằng. Hội nghị đã quyết định những vấn đề quan trọng như Tiếp tục đặt vấn
đề giải phóng dân tộc lên hàng đầu, thành lập mặt trận Việt Minh.
- Thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
- Chớp thời cơ để phát lệnh tổng khởi nghĩa giành chính quyền: Chủ trì hội nghị
toàn quốc của Đảng(14-15/8/1945) phát lệnh tổng kn, chủ trì hội nghị quốc dân ở Tân
Trào(16-8-1945).
-Viết và đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
- Công lao to lớn nhất của Nguyễn Ái Quốc là tìm thấy con đường cứu nước cứu dân
cho dân tộc Việt Nam – đó là con đường cách mạng vô sản.
- Vì có tìm thấy con đường cứu nước mới có quá trình thành lập Đảng và từ khi Đảng
cộng sản Việt Nam ra đời đã đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: CM
tháng Tám thành công, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ thắng lợi.

21


Câu 5: Căn cứ vào đâu Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định
chuyển hướng đấu tranh đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hang đầu trong thời
kỳ 1939 - 1945
Hướng dẫn trả lời
- Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và ngày càng lan rộng: ở châu Âu, Đức tấn
công Ba Lan, đánh chiếm các nước Đức và Tây Âu trong đó có Pháp, chính phủ Pháp đầu
hang và thực hiện chính sách thù địch đối với các lực lượng tiến bộ trong nước và phong
trào cách mạng thuộc địa.
- Ở Đông Dương, chính quyền mới thực hiện mọt loạt các chính sách nhằm vơ vét
sức người, sức của…
- Trong nước, tháng 9 – 1940, quân Nhật vào miền Bắc Việt Nam, Pháp đầu hàng.
Nhật – Pháp cấu kết với nhau bóc lột nhân dân ta.
- Chính sách bóc lột của Pháp – Nhật đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực. Cuối năm
1944 – đầu năm 1945, có gần 2 triệu đồng bào ta chết đói. Các giai cấp, tầng lớp ở nước
ta, đều bị ảnh hưởng bởi chính sách bóc lột của Pháp – Nhật.
Mâu thuẫn giữa nhân dân ta với các đế quốc – phát xít Nhật – Pháp trở nên gay gắt
hơn bao giờ hết.
-Trước những chuyển biến của tình hình trên, Đảng và Hồ Chủ tịch phải kịp thời
chuyển hướng đấu tranh, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hang đầu.
Câu 6: Tại sao năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đề ra chủ trương thành lập Mặt trận
Việt Minh?
Hướng dẫn trả lời
- Mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dương với đế quốc phát xít xâm lược trở thành
mâu thuẫn chủ yếu nhất, đặc biệt từ khi nhân dân Đông Dương chịu 2 tầng áp bức bóc lột
Pháp – Nhật. Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Đông Dương
lúc này.
- Để phát huy sức mạnh mỗi dân tộc Đông Dương cần phải giải quyết vấn đề dân
tộc trong khuôn khổ mỗi nước ở Đông Dương. Mỗi nước cần phải có mặt trận riêng. Ở
Việt Nam mặt trận đó là Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh).
- Mặt trận Việt Minh có nhiệm vụ động viên mạnh mẽ hơn nữa tinh thần của nhân
dân ta trên tuyến đấu tranh vì độc lập, tự do. Đồng thời có trách nhiệm giúp đỡ, đoàn kết
với các dân tộc Miên (Campuchia) và Lào.
- Trên thế giới tình hình có biến chuyển mới. Tháng 6 – 1941, phát xít Đức tiến
công Liên Xô, tính chất cuộc chiến tranh thế giới thay đổi: một bên là lực lượng dân chủ
hòa bình gọi là phe Đồng minh, một bên là phe phát xít.

22


Cuộc đấu tranh của mỗi dân tộc Đông Dương là một bộ phận của cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa phát xít thế giới, tích cực góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
3. Các câu hỏi thuộc cấp độ tư duy vận dụng (bậc thấp, bậc cao)
- Các câu hỏi thuộc cấp độ tư duy vận dụng thường được nhận biết với các cụm từ
để hỏi như: “so sánh", “phân tích”, “bình luận”, “nhận xét”, “vận dụng”, “đánh giá”…
- Đây là dạng câu hỏi khó yêu cầu thí sinh trước hết phải nắm vững kiến thức cơ
bản. Tiếp theo cần biết cách hệ thống hoá, phân loại và sắp xếp kiến thức. Sau đó có thể
đưa ra những nhận xét, đánh giá, thái độ đối với sự kiện, hiện tượng lịch sử đó.
- Việc giải các câu hỏi thuộc cấp độ vận dụng cần được thực hiện theo các bước sau
đây:
+ Bước 1: Tập trung đọc kỹ câu hỏi để xem câu hỏi yêu cầu cái gì. Việc đọc kĩ câu
hỏi là tiền đề giúp cho thí sinh có được định hướng đúng để trả lời.
+ Bước 2: Xác định nội dung chính cần trả lời. Với các câu hỏi đánh giá, nhận xét,
cần đưa ra các lập luận, ý kiến của bản than.
+ Bước 3: Sắp xếp các kiến thức có liên quan đến các ý cần trả lời. Đây là khâu rất
quan trọng nhằm giúp thí sinh trả lời đúng và trúng vấn đề.
Để tiến hành các bước như vậy, thí sinh cần nắm chắc kiến thức cơ bản đồng thời
lại phải có sự linh hoạt để vận dụng kiến thức làm rõ yêu cầu của câu hỏi.
-

Một số câu hỏi thuộc mức độ vận dụng:

Câu 1: Phân tích công lao của Nguyễn Ái Quốc trong việc tìm ra con đường
cứu nước, giải phóng dân tộc?
Hướng dẫn trả lời
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại
chúng. Ở khắp nơi trong nước, nhân dân ta đã tham gia đấu tranh dưới ngọn cờ của các sĩ
phu yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Từ những phong trào tự
phát đến những phong trào có tổ chức, lãnh đạo, các phong trào diễn ra ngày càng một
hoàn thiện hơn. Tuy rằng các phong trào đều bị đàn áp dã man nên đã bị thất bại nhưng tất
cả những cuộc khởi nghĩa đó đã để lại tiếng vang lớn, gây cho địch nỗi hoang mang lo sợ.
Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tấm lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh của các
bậc tiền bối như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan Đình Phùng… nhưng lại không
tán thành với con đường cứu nước của các cụ. Xuất phát từ lòng yêu nước và trên cơ sở
rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng tiến bối. Người đã quyết tâm ra đi tìm
con đường cứu nước mới
Ngày 5/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng, chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc lấy tên là
Nguyễn Tất Thành đã tạm rời xa gia đình, xa Tổ quốc để bắt đầu cuộc hành trình của
mình. Tuy nhiên khác với những thanh niên cùng trang lứa đều chọn Nhật Bản làm nơi
dừng chân thì Nguyễn Ái Quốc lại hướng tầm nhìn của mình về các nước phương Tây,

23


trong đó có Pháp. Sỡ dĩ Người chọn phương Tây làm nơi đến vì Người muốn tìm hiểu
xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào để trở về giúp đỡ đồng bào mình, hơn nữa
Người cũng muốn biết nước Pháp là một tên đế quốc như thế nào mà lại sang xâm lược
nước ta và theo người muốn đánh thắng giặc Pháp xâm lược thì cần phải tìm hiểu rõ về
chúng, “ biết địch biết ta trăm trận trăm thắng “ chính vì lý do đó mà người đã quyết định
sang phương Tây, sang nước Pháp.
Tại đây, năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một đảng tiến bộ chủ trương
chống lại các chính sách áp bức bóc lột của thực dân Pháp ở các nước thuộc địa. Tháng 6
năm 1919, nhân dịp các nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất họp Hội nghị
Vec-xai ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc thay mặt nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi
tới Hội nghị Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam để tố cáo chính sách của thực dân Pháp
và đòi chính phủ Pháp phải thực hiện các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của
dân tộc Việt Nam. Bản yêu sách gồm 8 điểm như sau: 1. Tổng ân xá tất cả những người
bản xứ bị án tù chính trị. 2. Cải cách nền pháp lý Đông Dương bằng cách để người bản xứ
cũng được quyền hưởng những quyền bảo đảm về mặt pháp luật như người Âu châu. Xóa
bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung
thực nhất trong nhân dân An Nam. 3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận. 4. Tự do lập hội
và hội họp. 5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương. 6. Tự do học tập, thành lập
các trường kĩ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ 7. Thay chế độ ra
các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật. 8 .Có đại biểu thường trực của người bản xứ do
người bản xứ bầu ra tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện
vọng của người bản xứ.
Những yêu sách nói trên không được chấp nhận, nhưng nó đã có ý nghĩa rất lớn. Đó là
đòn tấn công trực diện đầu tiên của nhà cách mạng trẻ tuổi Nguyễn Ái Quốc vào bọn trùm
đế quốc và nó đã có tiếng vang lớn đối với nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và nhân
dân các nước thuộc địa Pháp. Một bài học lớn đã được rút ra: “Chỉ có giải phóng giai cấp
vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự
nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”.
Tháng 7 năm 1920. Nguyễn Ái Quốc đọc được Bản sơ thảo lần thứ nhất Luận cương
về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đăng trên báo Nhân đạo - cơ quan Trung ương
của Đảng Cộng sản Pháp. Người vui mừng đến phát khóc lên và muốn nói to lên như
đang nói trước đông đảo quần chúng: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần
thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” . Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy
con đường cứu nước giải phóng dân tộc. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội,
chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động
trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Từ đó Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tin vào Lênin, tin vào
Quốc tế thứ ba.

24


Tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua vào cuối tháng 12 năm 1920
Người đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III và tham gia sáng lập Đảng
Cộng sản Pháp. Hành động đó của Nguyễn Ái Quốc là sự kiện đánh dấu bước ngoặt lớn
trong hoạt động cũng như tư tưởng chính trị của Người, từ lập trường yêu nước chuyển
sang lập trường cộng sản. Sự kiện đó cũng mở ra cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt
Nam một giai đoạn phát triển mới, “giai đoạn gắn phong trào cách mạng Việt Nam với
phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính
Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và đi theo con
đường cách mạng vô sản”, nó đánh dấu bước mở đường giải quyết cuộc khủng hoảng về
đường lối giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Sau này, chính Người đã thừa nhận: “Lúc đầu
chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản đã làm tôi tin theo
Lênin, tin theo Quốc tế thứ III. Từng bước một trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lí
luận Mác – Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu rằng chỉ có chủ nghĩa xã
hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao
động trên thế giới khỏi ách nô lệ”
Câu 2: Có ý kiến cho rằng: “Công lao đầu tiên và to lớn nhất của Nguyễn Ái Quốc
là tìm ra được con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, góp phần
chấm dứt khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam
những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX”. Bằng những kiến thức lịch sử đã học,
em hãy bình luận ý kiến trên.
Hướng dẫn trả lời
Năm 1858 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, xác lập sự thống trị của chúng trên toàn
lãnh thổ. Ngay từ khi Pháp xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại chúng.
Ở khắp nơi trong nước, nhân dân ta đã tham gia đấu tranh dưới ngọn cờ thổ của các sĩ
phu yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau. Từ những phong trào tự
phát đến những phong trào có tổ chức, lãnh đạo, các phong trào diễn ra ngày càng một
hoàn thiện hơn. Tuy rằng các phong trào đều bị đàn áp dã man nên đã bị thất bại nhưng tất
cả những cuộc khởi nghĩa đó đã để lại tiếng vang lớn, gây cho địch nỗi hoang mang lo sợ.
Cách mạng Việt Nam cuối thế kỉ XX thực sự khủng hoảng về đường lối và lãnh đạo.
Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tấm lòng yêu nước và tinh thần đấu tranh của các
bậc tiền bối như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Phan Đình Phùng… nhưng lại không
tán thành với con đường cứu nước của các cụ. Xuất phát từ lòng yêu nước và trên cơ sở
rút kinh nghiệm thất bại của các thế hệ cách mạng tiến bối. Người đã quyết tâm ra đi tìm
con đường cứu nước mới
Ngày 5/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng, chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc lấy tên là
Nguyễn Tất Thành đã tạm rời xa gia đình, xa Tổ quốc để bắt đầu cuộc hành trình của
mình. Tuy nhiên khác với những thanh niên cùng trang lứa đều chọn Nhật Bản làm nơi
dừng chân thì Nguyễn Ái Quốc lại hướng tầm nhìn của mình về các nước phương Tây,

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×