Tải bản đầy đủ

Huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế tỉnh trà vinh

Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Nguyễn Hồng Hà

HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỈNH
TRÀ VINH

2015

1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Chính sách đổi mới đất nước cùng quá trình thị trường hóa hoạt động kinh tế
theo định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu mang lại những kết quả nhất định, đạt tốc
độ tăng trưởng kinh tế cao, tạo tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, việc
CNH – HĐH cả nước đòi hỏi động viên cao độ những nguồn lực nội tại, đồng thời
tranh thủ tối đa việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên ngoài.
Trong những năm qua, việc huy động và sử dụng vốn đầu tư – đặc biệt vốn đầu
tư nước ngoài – tác động đáng kể đến tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế của cả

nước cũng như từng địa phương. Việc thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư luôn là
vấn đề phức tạp đối với các địa phương còn yếu kém về: cơ sở hạ tầng, mặt bằng dân
trí, chính sách thu hút,…cùng với hiệu quả sử dụng nguồn vốn cũng như nhiều bất cập
khi triển khai các dự án đầu tư (VCCI Cần Thơ, 2010). Sự phân bổ vốn đầu tư, bao gồm
nguồn vốn đầu tư nước ngoài, giữa các địa phương không đồng đều, do nhiều nguyên
nhân mà việc huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế còn nhiều vấn đề cần giải
quyết.
Số liệu của Bộ Kế hoạch & Đầu tư cho thấy, Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) với 13 tỉnh thành nằm ở hạ lưu sông Mê Kông, đất đai rộng lớn màu mỡ phù
sa, có thảm thực vật phong phú và rừng tràm quý giá; nguồn thủy sản đa dạng; trữ
lượng khí đốt khá lớn (khoảng 125 tỷ m3); hơn 700km bờ biển và khoảng 28,000km
sông ngòi là cơ sở cho hệ thống giao thông vận tải đường thủy và hình thành các cảng
sông, cảng biển quốc tế. Hơn nữa, ĐBSCL có lực lượng lao động dồi dào chiếm hơn
50% dân số với cơ cấu khá trẻ (60% ở độ tuổi từ 15->30).
Trà Vinh là một tỉnh ven biển thuộc ĐBSCL và nằm trong khu vực ảnh hưởng của
địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam. Trà Vinh còn có điều kiện cùng phát triển kinh tế
biển với Bà Rịa-Vũng Tàu, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ và cả nước. Sức hút của các
trung tâm phát triển này tạo điều kiện cho Trà Vinh đẩy mạnh phát triển kinh tế, đồng
thời đặt ra thách thức lớn cho Trà Vinh phải phát triển nhanh những lĩnh vực, những sản

2


phẩm đặc thù đang có lợi thế so sánh để liên kết ngang tầm với khu vực và cả nước
(travinh.gov.vn).
Việc tăng tốc xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hiện đại nhằm phát triển kinh tế đòi hỏi rất nhiều vốn. Trà Vinh cần đề ra và thực
hiện hiệu quả các giải pháp huy động nguồn vốn từ trong và ngoài nước, khơi dậy
nguồn lực to lớn trong dân, khuyến khích các thành phần kinh tế mạnh dạn kinh doanh
làm giàu cho mình, cho địa phương và cho đất nước.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của Tỉnh không tương xứng với tiềm năng vốn
có, cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí, khoa học kỹ thuật, tay nghề,… còn lạc hậu so với các
tỉnh trong vùng cũng như cả nước (travinh.gov.vn). Khi tích lũy nội bộ chưa cao do
mức độ phát triển thấp, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, việc tìm ra các giải
pháp thiết thực để thu hút vốn đầu tư đối với Trà Vinh đang là vấn đề đặc biệt cấp thiết
nhằm khơi dậy và phát huy hết các tiềm năng của tỉnh Trà Vinh, tạo thuận lợi đẩy mạnh
quá trình CNH và HĐH trong Tỉnh [22, tr.2].
2. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua, tỉnh Trà Vinh chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đến năm 2020 theo mục tiêu chung của ĐBSCL và cả nước nói chung


để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Thực tiễn vừa qua đã làm bộc lộ yếu
kém của con người, những nghịch lý gây bức xúc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội như: trình độ phát triển thấp nhất nước, dân trí thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ phát
triển kinh tế còn lạc hậu, thu nhập bình quân đầu người chưa cao. Hiện tổng vốn đầu
tư FDI cho Tỉnh chỉ bằng 3.6% so với ĐBSCL và 0.12% so với cả nước (Cục Xúc tiến
Đầu tư Nước ngoài - 2011),…Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng
trên là do Trà Vinh thiếu một chiến lược phát triển kinh tế tổng thể, toàn diện và lâu
dài, thiếu cả vốn đầu tư. Việc thu hút được nhiều vốn đầu tư cho phát triển kinh tế là
vấn đề mang tính sống còn cho sự phát triển của Tỉnh trong hiện tại cũng như tương
lai.
Nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế của tỉnh Trà Vinh cho thấy, tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân của Tỉnh so với các vùng khác đang ở mức thấp, đời sống
nhân dân chưa cao, những tiềm năng thế mạnh của Tỉnh chưa được khai thác triệt để.

3


Khi tích lũy nội bộ chưa đáng kể do mức độ phát triển thấp, để đẩy nhanh tốc độ tăng
trưởng kinh tế cần khơi dậy và huy động tối đa các nguồn lực đầu tư trong và ngoài
nước để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Tỉnh và của cả
ĐBSCL.
Ý thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác huy động vốn đầu tư
cho phát triển kinh tế, tác giả chọn “HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ CHO PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TỈNH TRÀ VINH” làm đề tài nghiên cứu sinh của mình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là huy động các nguồn vốn đầu tư tại Trà
Vinh; nghiên cứu tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Trà Vinh và các
nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư tại
tỉnh Trà Vinh. Đồng thời đưa ra luận chứng các giải pháp tăng cường khả năng huy
động vốn đầu tư ở tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới.
Về thời gian: đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu trong thời gian 2007 – 2013.
Về không gian: tập trung nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Trà Vinh.
4. Mục tiêu nghiên cứu
4.1. Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
tỉnh Trà Vinh; đánh giá tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Trà Vinh;làm
sáng tỏ các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của nhà đầu tư đối với môi trường
đầu tư tại tỉnh Trà Vinh. Đề xuất các giải pháp huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh
tế trong thời gian tới.
4.2. Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Làm sáng tỏ hệ thống hóa lý luận về huy động vốn đầu tư phát
triển kinh tế.
- Mục tiêu 2: Đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư ở tỉnh Trà Vinh thời gian
từ 2007 – 2013, những thành công và hạn chế, làm cơ sở đề ra giải pháp trong thời gian
tới.
- Mục tiêu 3: Phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng
trưởng kinh tế tỉnh Trà Vinh bằng mô hình định lượng.
4


- Mục tiêu 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư đối
với môi trường đầu tư tại tỉnh Trà Vinh bằng việc lập câu hỏi khảo sát và ứng dụng các
phần mềm xử lý.
- Mục tiêu 5: Đề xuất các giải pháp huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế tại
tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới trên cơ sở phân tích.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: thu thập thông tin, số liệu được công bố như: báo cáo
khoa học, báo chí, Internet, hội nghị, các đề tài hội thảo, các niên giám thống kê tại các
tỉnh ĐBSCL, báo cáo của Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Sở Tài chính tỉnh Trà Vinh, VCCI
Cần Thơ, Viện Nghiên cứu Kinh tế ĐBSCL (Đại học Cần Thơ), Tổng cục Thống kê,
Cục Thống kê tỉnh Trà Vinh, các huyện, thành phố, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội
tỉnh Trà Vinh hàng năm...Các thông tin này được tổng hợp và phân tích cho phù hợp với
mục tiêu nghiên cứu.
- Phỏng vấn chuyên sâu: hình thức chọn mẫu thuận tiện căn cứ vào khả năng tiếp
cận. Phỏng vấn trực tiếp các doanh nghiệp. Tất cả những thông tin thu thập cũng được
tổng hợp và phân tích theo mục tiêu nghiên cứu.
- Cơ sở vùng nghiên cứu bao gồm: (i) địa bàn tỉnh Trà Vinh, (ii) mẫu chọn bao
gồm 300 doanh nghiệp trên địa bàn (cụ thể lấy mẫu tại TP.Trà Vinh, huyện Cầu Ngang,
Trà Cú, Càng Long, Cầu Kè, Duyên Hải) làm mẫu đại diện trong Tỉnh.
5.2. Phương pháp phân tích số liệu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích số
liệu theo quy trình sau:
- Đối với mục tiêu 1: sử dụng phương pháp tổng hợp nhằm khái quát chung về
vốn đầu tư, kinh nghiệm huy động vốn tại các vùng, miền tại Việt Nam và một số quốc
gia; phân tích, đánh giá làm cơ sở lý luận cho đề tài (sử dụng số liệu thứ cấp).
- Đối với mục tiêu 2: phân tích thực trạng huy động vốn trong vùng giai đoạn
2007 – 2013, trong đó, đánh giá và phân tích toàn diện thực trạng huy động vốn đầu tư
cho phát triển kinh tế tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2007 – 2013 (sử dụng số liệu sơ cấp và

5


thứ cấp), ở tất cả các mặt như: thành tựu, hạn chế, tiềm năng phát triển và những thách
thức đối với việc huy động vốn đầu tư tại tỉnh Trà Vinh.
Áp dụng phương pháp thống kê mô tả cung cấp những tóm tắt đơn giản về thước
đo và mẫu, cùng với phân tích đồ họa đơn giản tạo nền tảng cho phân tích định lượng.
- Đối với mục tiêu 3:sử dụng phương pháp kiểm định mối quan hệ nhân quả,
phân tích phân rã phương sai và phân tích phản ứng đẩy để xem xét mối quan hệ giữa
FDI đến tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Trà Vinh (sử dụng dữ liệu thời gian).
- Đối với mục tiêu 4:sử dụng phương pháp điều tra trực tiếp nhằm xác định các
nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư tại tỉnh Trà
Vinh (sử dụng số liệu sơ cấp).
- Sử dụng phương pháp kiểm định: kiểm định giá trị trung bình của tổng thể theo
mẫu nghiên cứu.
- Phân tích nhân tố và sử dụng hàm hồi quy tuyến tính để phân tích các yếu tố
ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư đối vớimôi trường đầu tư tại địa bàn nghiên
cứu.
- Đối với mục tiêu 5:sử dụng phương pháp thống kê suy luận, kết quả phân tích
từ mô hình nghiên cứu hồi quy và kiểm định nhân quả để đề xuất giải pháp và kiến nghị
phù hợp.
6. Lược khảo tài liệu
6.1. Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Giang (2010)đánh giá một cách có hệ thống những
thành công và hạn chế trong thu hút vốn cho Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và
những nguyên nhân. Tác giả đã kế thừa mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng
kinh tế; tác giả dùng phương pháp định lượng để dự báo nhu cầu vốn của ĐBSCL đến
năm 2020, trên cơ sở đề xuất cơ cấu nguồn vốn nhằm khai thác nguồn vốn tiềm năng
của ĐBSCL. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất mô hình huy động vốn tư nhân đầu tư
phát triển kinh tế cho ĐBSCL, nhóm giải pháp hỗ trợ khác nhằm thúc đẩy ĐBSCL phát
triển nhanh và bền vững, trong đó, chú trọng sự thay đổi nhận thức liên quan đến định

6


hướng phát triển vùng nhằm khai thác thế mạnh và tiềm năng phát triển kinh tế tại địa
phương.
Nghiên cứu phản ánh những vấn đề về vốn đầu tư, các nguồn vốn trong và ngoài
nước, đề cập đến hiệu quả đầu tư (NPV, IRR, hiệu quả kinh tế xã hội của dự án), những
lý luận cơ bản về phát triển kinh tế và bài học kinh nghiệm huy động vốn của cả nước.
Phân tích thực trạng huy động và sử dụng vốn đầu tư tại ĐBSCL trong giai đoạn 20052009, đồng thời đánh giá hệ số ICOR đo lường hiệu quả vốn đầu tư. Bên cạnh đó, tác
giả nêu bật những thành tựu và hạn chế trong thu hút vốn đầu tư của vùng. Tác giả sử
dụng phương trình hồi quy: Y = Bo + B1*I, với Y là biến phụ thuộc (giá trị GDP), I là
biến độc lập (giá trị vốn đầu tư), đồng thời liệt kê các nhân tố tác động đến thu hút vốn
đầu tư tại ĐBSCL. Đề ra giải pháp thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư cho phát
triển kinh tế ĐBSCL thông qua ước lượng về vốn theo mô hình hồi quy. Đồng thời chú
trọng giải pháp hợp tác công tư (PPP) trong thu hút vốn đầu tư tại ĐBSCL.
Nghiên cứu của Sử Đình Thành (2001) thể hiện rõ cách thức sử dụng công cụ tài
chính để huy động vốn cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam như: Ngân sách nhà
nước (Thuế, chi ngân sách nhà nước,…), tín dụng nhà nước (vay nợ trong nước, vay nợ
nước ngoài), các quỹ hỗ trợ tài chính nhà nước. Bên cạnh đó, sử dụng thị trường tài
chính và các công cụ trên thị trường tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ…),
hỗ trợ cho quá trình huy động vốn phát triển kinh tế - xã hội. Tác giả nêu bật những bài
học kinh nghiệm từ Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc và Asean trong huy động vốn phát triển
kinh tế trong thời gian qua. Mỹ sử dụng chính sách thuế, Nhật Bản chú trọng phát triển
các công cụ tài chính để nâng cao tỷ lệ tiết kiệm và phân bổ nguồn lực tài chính có hiệu
quả đồng thời tăng cường sử dụng NSNN thực hiện chính sách huy động và phân bổ
nguồn lực tài chính. Các nước Châu Á mới nổi (NICS) chú trọng nâng cao tỷ lệ tiết
kiệm, gia tăng nguồn vốn đầu tư và kích thích xuất khẩu. Asean và Trung Quốc thực
hiện chính sách thuế linh hoạt và tự do hóa lãi suất, tăng cường đầu tư công vào cơ sở
hạ tầng, cải cách tài chính, tín dụng theo cơ chế thị trường để nâng cao hiệu quả huy
động vốn cũng như kêu gọi đầu tư từ nước ngoài. Tác giả phân tích và đánh giá thực
trạng huy động vốn tại Việt Nam từ 1986 đến năm 2000, bao gồm: các nguồn vốn trong
nước (nguồn vốn đầu tư từ Nhà nước, nguồn vốn tín dụng ngân hàng, vốn đầu tư từ khu
vực doanh nghiệp) và các nguồn vốn nước ngoài (nguồn vốn FDI, ODA, vốn vay,…).

7


Đồng thời, tác giả phân tích thực trạng sử dụng công cụ tài chính để huy động vốn
trong đó phân ra 02 công cụ:
- Các công cụ huy động nguồn lực tài chính của Nhà nước như: Ngân sách (thuế,
chi ngân sách Nhà nước, tín dụng Nhà nước, các quỹ hỗ trợ tài chính Nhà nước).
- Các công cụ trên thị trường tài chính như: vốn tín dụng ngắn hạn (thị trường nội
tệ, ngoại tệ liên ngân hàng, thị trường trái phiếu, tín phiếu), vốn tín dụng dài hạn (thị
trường cho thuê tài chính, thị trường chứng khoán), trong đó ứng dụng các công cụ như:
lãi suất, thị trường mở, dự trữ bắt buộc, tỷ giá hối đoái,…đồng thời nêu bật những ưu và
nhược điểm của quá trình sử dụng công cụ tài chính để huy động vốn ở Việt Nam.
Nghiên cứu của Võ Thanh Khiêm (2007) phân tích sâu sắc thực trạng huy động
vốn, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của nhà
nước trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản tỉnh Bình Thuận, giúp việc quản lý đầu tư
đi vào nề nếp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong tương
lai, nêu lên những lý luận và thực tiễn về nội dung đầu tư, vốn đầu tư, trên cơ sở đó, đi
sâu phân tích đánh giá hiện trạng đầu tư của tỉnh Bình Thuận trước năm 2004, từ đó tập
trung đề xuất một số giải pháp theo định hướng phát triển đầu tư tỉnh Bình Thuận trong
thời kỳ 2005-2010.
Nghiên cứu của Huỳnh Thị Nguyệt Anh (2009) kế thừa các mô hình phát triển
kinh tế, cơ sở lý luận huy động vốn, mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế,
kinh nghiệm của một số nước trong việc huy động vốn đầu tư, đi sâu phân tích và đánh
giá thực trạng huy động vốn đầu tư trên địa bàn Trà Vinh giai đoạn 2003-2007. Dựa
theo mục tiêu và các chỉ tiêu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh đến
năm 2020, dự báo nhu cầu vốn đầu tư giai đoạn 2008-2020, luận văn đề xuất các giải
pháp cụ thể, đồng bộ và phù hợp với điều kiện thực tế của Tỉnh. Ứng dụng mô hình
SWOT trong khai thác những lợi thế vốn có của tỉnh Trà Vinh, cơ hội và thách thức
trong công tác huy động vốn trong thời gian tới.
6.2. Các nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu của Yun-hwan Kim and Purnima rajapakse (2001) phản ánh sự cần
thiết thu hút vốn đầu tư trong từng giai đoạn phát triển tại các quốc gia đang phát triển ở
Châu Á. Nguồn lực tài chính chopháttriểncó thểđược huy động từcảc nguồn trong và

8


ngoài nước. Bàiviết chỉ tập trung nghiên cứu việc thu hút đầu tư tư nhân nước ngoài.
Trướcnhững năm 1970 ODA lànguồnvốnnước ngoàilớnnhấtcho sự phát triển, trong
những năm 1980 và 1990, cơ cấu nguồn vốn đầu tư chuyển dịch sang nguồn vốn tư
nhân, nhưng 1997 cuộc khủng hoảngchothấyvấn đề cơ bảntrong việc sử dụngnguồn vốn
đầu tư nước ngoài. Cụ thể là, quảnlývốn tư nhânnướcngoàicần phải nhận đượcsự chú
ýđặc biệtcủa các nền kinh tế đang phát triển Châu Á, việcquản lý yếu kémvốntư nhân
nước ngoài góp phần vào cuộc khủng hoảng ChâuÁ. Toàn cầu hóa và chế độ tài
chínhphụ thuộc lẫn nhauđòihỏi quản lýcẩnthậnđầutư như là một vấn đề quan trọng và
cầnthiếtđể tăng hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên ngoài nướccủanền kinh tế châu
Ápháttriển. Hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên nước là thấptrước khủng hoảng,vàcác
nguồn tài nguyên được sử dụng sai mục đích vàlãng phítrong nhiều trường hợp. Do
đó,điềucầnthiết là tiếp tục cải cách doanh nghiệpvàtăng cường quản trịcác chínhsáchvà
quy định để tăng hiệuquảsử dụng các nguồn lựctàichínhtronggiai đoạn hậukhủng
hoảng.
Cuối cùng, Châu Á cần tối đa hóa việc sử dụngcác nguồn lựctài chính khu
vựctheokhu vực hợp tác khuôn khổ.Khu vực này nắm giữ mộtlượng lớndự trữ ngoại hối
và tiết kiệm trong nước, chủ yếu đầu tư vàocáctài sảnngoài khu vực đặc biệt là thị
trường chứng khoán. Dự trữ ngoại hốiđược tổ chức bởi ASEAN vàcácnền kinh tế
ĐôngÁhiện nay tổng số khoảng 900tỷ USD, nhiều hơn bảy lần số lượng trước khủng
hoảng. Tăng cường năng lựckhu vực hợp tác tài chính là mộttrong những nhiệm vụquan
trọng nhấtphải đối mặt vớinền kinh tế Châu Á giai đoạn hậu khủng hoảng. Từ đó, bài
viết đưa ra các chi phí vàlợiíchcủavốn đầu tư nước ngoàitrong quá trình phát triển kinh
tế trong khu vực phát triểnvà các vấn đềliên quan đếnquảnlýnó một cách khôn ngoan.
Nghiên cứu của Suresh n. Shende (2002) nhấn mạnh vai trò của quản trị ở cấp
quốc gia và quốc tế để phát triển bền vững cùng với tính minh bạch trong hệ thống tài
chính, tiền tệ và kinh doanh, cũng như việc loại bỏ những trở ngại ở các nước đang phát
triển và các nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi khi huy động các nguồn lực cần thiết
tài trợ cho phát triển bền vững của họ. Tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và xóa đói
giảm nghèo là ưu tiên hàng đầu và quan trọng nhất tại các nước phát triển và các nền
kinh tế đang chuyển đổi. Tuy nhiên một vài quốc gia có thể làm giảm ý nghĩa của vấn
đề xóa đói giảm nghèo, trừ khi họ duy trì một tỷ lệ tăng trưởng GDP ít nhất 3% một

9


năm và đạt được nhiều bước tiến cho mục tiêu chiến lược khác liên quan đến vốn cổ
phần, điều kiện con người và tính bền vững của quá trình phát triển kinh tế.
Trong lộ trình hướng tới thực hiện Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hợp Quốc,
việc huy động nguồn lực trong nước là nền tảng cho sự phát triển và duy trì ổn định.
Các nguồn lực trong nước, đầu tư trong nước và các chương trình xã hội đó cần thiết
cho sự tăng trưởng kinh tế và cho xóa đói giảm nghèo. Chiến lược phát triển kinh tế
thực thi tốt chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách tài khóa, trong đó thể hiện mục tiêu
rõ ràng cho việc huy động thu nhập từ thuế, phi thuế và chi tiêu công, chịu trách nhiệm
về giáo dục cơ bản và y tế, khu vực nông thôn và phụ nữ. Trách nhiệm chính để đạt sự
tăng trưởng và phát triển công bằng nằm ở bản thân các nước đang phát triển. Các vấn
đề về quản trị, chính sách kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô, tài chính công, tình trạng của
hệ thống tài chính, và các yếu tố cơ bản khác của môi trường kinh tế của đất nước là
vấn đề cốt lõi cho việc huy động các nguồn lực tài chính phát triển kinh tế quốc gia. Kết
luận, bài viết viết nhấn mạnh khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực nội tại của
quốc gia là một trong những yếu tố cần thiết và cơ bản để phát triển bền vững kinh tế
đất nước và xóa đói giảm nghèo, góp phần thực hiện tốt Tuyên bố Thiên niên kỷ của
Liên hiệp Quốc.
Nghiên cứu của Grant Thornton (2010)đưa ra quan điểm về vai trò quan trọng
của cả hai vấn đề đi vay – cho vay trên thị trường vốn tín dụng ngân hàng, nhằm cung
cấp những giải pháp huy động vốn có hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn trong kinh doanh.Tác giả đã sử dụng 14 câu hỏi trực tuyến để phỏng vấn 250 giám
đốc điều hành tài chính của cả hai loại hình doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong
các ngành nghề kinh doanh như: ngân hàng, xây dựng, y tế, giáo dục, tài chính, dịch vụ
ăn uống,…trong đó, nội dung cần hỏi thể hiện các vấn đề cơ bản sau: (1) nỗ lực huy
động vốn gần đây của DN; (2) các loại nợ mà DN đang đi vay; (3) ý kiến của DN về số
lượng tiền vay, lãi nợ vay và lãi suất hiện hành; (4) kết quả huy động vốn của DN; (5)
đề xuất của DN cho chính phủ về những cải cách tại Hoa Kỳ.
Bài viết thể hiện tầm quan trọng của thị trường tín dụng cũng như mối quan hệ
giữa người cho vay và người đi vay, cụ thể là các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong
đó, chú trọng vai trò của bảo hiểm tiền vay để chống nguy cơ vỡ nợ. Bài viết đề xuất

10


các doanh nghiệp nên sẵn sàng trong trạng thái giao dịch khi thiếu vốn, đặc biệt là:
nâng cao khả năng quản trị tài chính, am hiểu thị trường, đầu tư hiệu quả,…
Nghiên cứu của Christoph Denk (2011)đưa ra quan điểm về sự cần thiết đầu tư
cho nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng bền vững ở từng quốc gia, đặc biệt là trong điều
kiện “thắt lưng buộc bụng” của các chính phủ tại Châu Âu, trong đó, chú trọng khai
thác các nguồn vốn dài hạn từ tư nhân và nhà nước theo mô hình hợp tác công-tư.
Bàiviết chỉ ra những rủi ro trong cơ chế hợp tác công tư như: rủi ro chính trị,
chính sách công không rõ ràng minh bạch, những vướng mắc trong các văn bản pháp
luật về mua sắm, đầu tư, năng lực thể chế chưa hoàn hảo và đầy đủ,…là những tác nhân
cản trở sự phát triển của nguồn vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng. Bài viết còn nhấn mạnh
sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế góp phần huy động vốn từ bên ngoài, đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng bền vững của quốc gia đó.
Vietnam economic News from FT Information of Asia Intelligence Wire (1998)
chỉ ra tầm quan trọng của nguồn vốn ODA cho sự phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam
đặc biệt trong giai đoạn sau khủng hoảng 1998 tại các nước Đông Nam Á, trong hội
thảo “Phát triển cơ sở hạ tầng Việt Nam” tổ chức tại Hà Nội tháng 05/1998. Bài viết chỉ
rõ sự cần thiết thực hiện các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng bằng nguồn vốn vay ưu đãi theo
phương thức hoàn vốn được huy động từ nhiều nguồn khác nhau theo phương thức
BOT (Build-Operation-Transfer), trong đó, chú trọng thu hút và khai thác nguồn vốn tư
nhân trong và ngoài nước vào cơ sở hạ tầng.
Vietnam economic News from ProQuest document (1998)thể hiện quan điểm
“vốn nước ngoài là quan trọng, trong khi vốn địa phương là quyết định”, trong đó, đánh
giá sâu sắc những vấn đề phát sinh cần giải quyết như: số vốn được huy động trong
ngắn hạn; mức độ minh bạch hóa thông tin công bố; mức độ sử dụng hiệu quả đồng
vốn,.. bài viết nêu bật sự cần thiết xây dựng một hành lang pháp lý cho hoạt động của
thị trường vốn trong và ngoài nước, tạo điều kiện thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước
ngoài được thông thoáng tránh những cú sốc trong quá trình chuyển vốn ra ngoài. Bài
viết nhấn mạnh tính hiệu quả sử dụng vốn trong thu hút các nguồn từ bên trong và bên
ngoài, đặc biệt là ODA và FDI.
Evans, Sandra; Jordan, Mary (1990) và Pedro R. Payne, PhD, Kirk R. Williams,
PhD (1997) cho rằng sự cần thiết huy động nguồn vốn trong xã hội để đáp ứng nhu cầu
11


tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, đặc biệt là nguồn vốn nước ngoài – cùng khả
năng thu hút vốn ở các khu vực lân cận để giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế của địa
phương.
Déau, Thierry (2011) nhấn mạnh tầm quan trọng của nguồn vốn tư nhân trong
quá trình phát triển cơ sở hạ tầng của các nước OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) nhằm tạo sự hài hòa trong chính sách đầu tư công cũng
như khai thác tốt nguồn vốn dài hạn này cho nền kinh tế. Bài viết đề cập đến tính minh
bạch trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của các quốc gia thuộc khối OECD, công
khai trong chính sách quy hoạch cho sự phát triển, đặc biệt xây dựng một hành lang
pháp lý an toàn cho chiến lược quan hệ đối tác công tư (PPPs) về hạ tầng làm chìa khóa
thu hút nguồn vốn tư nhân đầu tư vào hạ tầng.
Bài viết đưa ra quan điểm thúc đẩyđầu tư vàocác tài sản dàihạnnhư: cơ sở hạ
tầngthông qua thực hiệnmột cách kịp thờinhững hành động chínhsau đây: Xây dựng
quy chế tài chínhvàmục tiêu chính sách về cơ sở hạ tầng của từng quốc gia;Thực
hiệnmục tiêuhỗ trợtài chính côngcho các dự ánchiến lược; Thúc đẩysự tham giatích
cựctrong quản lýcơ sở hạ tầng đầu tư của cáctổ chức đầu tư; Tạo khuôn khổpháp lý ổn
địnhcho các dự án hạ tầng vàtối ưu hóa các nguồn tài trợ.
7. Thảo luận kết quả nghiên cứu
Qua nghiên cứu các công trình khoa học có liên quan trong và ngoài nước cũng
như các văn bản pháp quy. Tác giả đưa ra một số nhận định sau:
- Đa số các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một hoặc một vài nguồn
lực tiêu biểu để khai thác và tận dụng nó.
- Các công trình nghiên cứu còn mang nhiều ý tưởng chủ quan của tác giả thông
qua việc thu thập số liệu thứ cấp từ các cơ quan ban ngành, các tổ chức thống kê mà
chưa đưa ra được một công cụ dự báo thích hợp.
- Các nghiên cứu ít sử dụng điều tra, thu thập số liệu sơ cấp để đánh giá sát thực
và khách quan đối tượng nghiên cứu cho phù hợp.
- Các bài viết ít sử dụng phương pháp phân tích nhân tố và nghiên cứu định
lượng nhằm đánh giá khả năng thu hút vốn đầu tư tại một địa phương nhằm đề ra các
giải pháp mang tính đặc thù của từng địa phương.
12


8. Hướng đề xuất của luận án
Thứ nhất, xuất phát từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, luận án tập trung
nghiên cứu các vấn đề các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước và các nhân tố tác
động đến sự hài lòng của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư tại một địa phương.
Thứ hai, luận án tập trung phân tích thực trạng huy động vốn đầu tư phát triển
kinh tế tỉnh Trà Vinh trong thời gian 2007 - 2013 bằng nguồn số liệu thứ cấp từ cơ
quan, ban ngành địa phương, nhằm đánh giá công tác huy động vốn trong thời gian qua
và đề xuất giải pháp huy động vốn cho phát triển kinh tế phù hợp.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng và các nhân tố tác động đến sự hài lòng
của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh, tác giả lựa chọn một nguồn
vốn cụ thể là FDI để phân tích tác động qua lại giữa nguồn vốn này đối với tăng trưởng
kinh tế tỉnh Trà Vinh bằng các phương pháp định lượng như: kiểm định quan hệ nhân
quả Granger, phương pháp VAR.
Thứ tư, luận án xây dựng khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu các nhân tố tác
động đến sự hài lòng của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh Trà
Vinh, dựa vào mô hình hồi quy tuyến tính của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây.
Mô hình nghiên cứu luận án bao gồm các biến: chính sách thuế, chính sách ưu đãi,
chính sách đào tạo nghề, chính sách giá thuê đất, xúc tiến thương mại và marketing địa
phương. Ngoài ra, mô hình còn đưa thêm vào các biến hệ thống giao thông, hạ tầng
điện nước, văn hóa môi trường sống, chính sách tín dụng nhằm bổ sung các biến độc
lập theo đặc thù của địa phương.
Thứ năm, căn cứ vào những nghiên cứu định lượng nêu trên, luận án đề xuất các
giải pháp huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế tỉnh Trà Vinh trong thời gian tới.
9. Kết cấu luận án
Chương 1: Tổng quan về vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế: tập trung vào cơ sở lý
luận về vốn đầu tư, các nguồn vốn đầu tư, vai trò và chức năng các nguồn vốn, mối
quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư và tăng trưởng kinh tế; các nhân tố tác động đến môi
trường đầu tư. Đồng thời, nghiên cứu bài học kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư cho phát
triển kinh tế của các quốc gia, các địa phương trong và ngoài nước.

13


Chương 2: Thực trạng huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế tỉnh Trà Vinh: luận
án phân tích chi tiết thực trạng huy động và sử dụng các nguồn vốn đầu tư tại tỉnh Trà
Vinh, giai đoạn 2007 – 2013. Đồng thời, đánh giá tác động của vốn đầu tư cho phát
triển kinh tế trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua.
Chương 3: Phân tích mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng
trưởng kinh tế tỉnh Trà Vinh: trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài
nước, luận án tập trung thu thập số liệu FDI, tăng trưởng GDP từ 1999 đến 2013 tại
các niên giám thống kê, báo cáo các ban ngành địa phương qua các năm, ứng dụng
mô hình nhân quả phân tích tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Trà Vinh.
Chương 4: Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư đối với môi
trường đầu tư tại tỉnh Trà Vinh: trên cơ sở các nghiên cứu thực nghiệm, luận án tập
trung vào khảo sát các doanh nghiệp và sở, ban ngành tỉnh đồng thời, ứng dụng mô
hình hồi quy tuyến tính đo lường các nhân tố tác động đến sự hài lòng của đầu tư đối
với môi trường đầu tư tại tỉnh Trà Vinh.
Chương 5: Giải pháp huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế tỉnh Trà Vinh: từ kết
quả chương 3, 4 và định hướng huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn
đến 2020, luận án đề xuất các giải pháp huy động vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
trong thời gian tới.

14


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ
CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. Huy động vốn đầu tư
1.1.1. Huy động vốn đầu tư
Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển, các chủ thể cần có nguồn
lực tài chính nhất định. Chức năng huy động nguồn tài chính, hay còn gọi là chức năng
huy động vốn, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng
nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Chức năng huy động vốn được thực hiện trên cơ sở tương tác giữa các yếu tố
nhu cầu đầu tư (vì lợi nhuận trực tiếp của người đầu tư hoặc vì lợi ích cộng đồng, lợi
ích quốc gia), nhu cầu và khả năng tiếp nhận vốn đầu tư, hai yếu tố này gặp nhau được
hay không còn phụ thuộc vào môi trường chính trị - kinh tế - xã hội – tự nhiên…:
* Chủ thể cần vốn: doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
* Các nhà đầu tư.
* Hệ thống tài chính gồm thị trường tài chính và các định chế tài chính.
* Môi trường tài chính và kinh tế.
Cần huy động thêm nhiều nguồn lực khi các chủ thể vì nhiều lý do khác nhau
không đảm bảo khả năng tự tài trợ. Việc huy động nguồn vốn phải tuân thủ cơ chế thị
trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn. Các chủ thể phải lập chính sách huy động
có hiệu quả trên cơ sở tính toán nhu cầu và quy mô vốn cần huy động, lựa chọn các
công cụ tài chính và đòn bẩy kinh tế thích hợp. Các yêu cầu đặt ra cho chính sách huy
động nguồn vốn là:
* Về thời gian: Việc huy động nguồn vốn phải đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn để
giảm thiểu các tổn thất phát sinh do thiếu hụt vốn.
* Về kinh tế: chi phí chấp nhận được và có tính cạnh tranh.

15


* Về mặt pháp lý: mỗi chủ thể phải biết vận dụng các phương pháp huy động
thích hợp trong khuôn khổ luật pháp. Trong khu vực công, thuế là phương thức huy
động nguồn thu cơ bản để cân đối ngân sách. Khi ngân sách bị mất cân đối, chính phủ
phải vay nợ trong và ngoài nước trong giới hạn cho phép để giữ kỷ luật tài khóa. Trong
khu vực tư, tùy loại hình tổ chức doanh nghiệp có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu hay
vay của các định chế tài chính. Cá nhân, hộ gia đình khi cần vốn có thể vay ở các tổ
chức tín dụng…
Nhìn chung, hiệu quả huy động nguồn vốn phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của
hệ thống tài chính và cơ sở pháp lý ràng buộc.
1.1.2. Vai trò của vốn đầu tư
Vốn đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và cải thiện chất lượng
theo chiều sâu: nâng cao năng lực cạnh tranh (thông qua ứng dụng khoa học kỹ thuật,
đào tạo nguồn nhân lực để nâng cao năng suất lao động,…), chuyển dịch cơ cấu kinh tế
để khai thác các lợi thế của từng địa phương/quốc gia, chuyển dịch cơ cấu về sở hữu để
khai thác thế mạnh của từng thành phần kinh tế, đồng thời bảo vệ môi trường và tài
nguyên tự nhiên.
1.1.2.1. Vốn đầu tư thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Vốn đầu tư có vai trò quan trọng đặc biệt trong phát triển kinh tế xã hội tỉnh,
thành phố, bởi vốn là điều kiện ban đầu để chuẩn bị những yếu tố cần thiết cho sản xuất
kinh doanh. Mối quan hệ giữa vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế được thể hiện
qua hệ số ICOR (tỷ lệ vốn đầu tư trong GDP để tạo ra 1% tăng trưởng GDP). Từ chỉ số
này được xác định, muốn tăng GDP bao nhiêu phần trăm, cần tăng tương ứng mức độ
tích lũy cho đầu tư, nói cách khác, cần tăng nguồn vốn đầu tư với mức độ tương ứng. Ví
dụ, hệ số ICOR là 5, để có tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 8%/năm, cần mức đầu tư toàn
xã hội trên 40% GDP. Hệ số ICOR càng nhỏ cho thấy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư càng
cao. Tác động đó được thể hiện trên nhiều phương diện, tạo thuận lợi hơn cho tăng
trưởng và phát triển kinh tế.
1.1.2.2. Thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ nâng cao năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm, sức cạnh tranh

16


Tăng trưởng GDP và phát triển kinh tế ngày nay theo yêu cầu của kinh tế thị
trường phải không ngừng nâng cao trình độ công nghệ sản xuất làm nền tảng để nâng
cao sức cạnh tranh của các ngành nghề, các địa phương và toàn nền kinh tế.
Để nâng cao sức cạnh tranh, ngoài nỗ lực chủ quan, các chủ thể cần có phương
tiện, công nghệ ngày càng hiện đại kèm chất lượng của nguồn nhân lực. Những yếu tố
đó chỉ có thể mua được khi có vốn đầu tư, cho nên vốn đầu tư là một điều kiện quan
trọng để ứng dụng công nghệ hiện đại và nâng cao sức cạnh tranh của từng sản phẩm,
ngành hàng, toàn nền kinh tế. Tác động đó được thể hiện qua khác biệt thực tế giữa
quốc gia phát triển và đang phát triển. Tại các nước phát triển, nhờ nguồn vốn đầu tư
dồi dào, trình độ khoa học công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế thường cao hơn
nhiều so với các nước đang phát triển.
Trên thực tế, công nghệ và vốn đầu tư thường gắn chặt với nhau, đặc biệt trong
phương thức đầu tư trực tiếp. Các dự án đầu tư trực tiếp luôn được thực hiện dựa trên
những công nghệ hiện có nhất định, vì vậy thu hút được nguồn vốn đầu tư sẽ sử dụng
được những trình độ công nghệ nhất định. Điều này được thể hiện rõ nét hơn cả thông
qua sự hình thành và phát triển của các đơn vị kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Dưới
nhiều hình thức khác nhau, khu vực kinh tế này là nơi trực tiếp vừa thu hút và sử dụng
vốn, vừa thực hiện chuyển giao công nghệ từ nước ngoài.
Trình độ công nghệ phản ánh năng lực cạnh tranh, phản ánh năng lực ứng xử với
môi trường tự nhiên,…cho nên trong nhiều trường hợp quốc gia/địa phương không phải
thu hút vốn đầu tư càng nhiều càng tốt mà cần phải chọn lọc những dự án đầu tư có
trình độ công nghệ thích hợp.
1.1.2.3. Thúc đẩy hình thành các hình thức kinh doanh đa dạng, nguồn vốn đa
dạng, tăng cường cạnh tranh, tạo động lực mới cho tăng trưởng và phát triển kinh
tế
Trong nền kinh tế thị trường, Đầu tư về cơ bản là theo đuổi mục tiêu lợi nhuận
trong tinh thần cạnh tranh. Nhà đầu tư phải cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh
giữa các ngành, điều này chỉ có thể thực hiện khi các chủ thể sản xuất kinh doanh dễ
dàng tiếp cận các nguồn vốn đầu tư thông qua sự phát triển của các thị trường tài chính.

17


Đa dạng hóa các nguồn đầu tư là đa dạng hóa cơ cấu sở hữu, tạo nên sự cạnh tranh
đồng thời khai thác thế mạnh của từng thành phần kinh tế. Sự phát triển của nền kinh tế
nhiều thành phần với việc huy động các nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước và tập thể đã
tạo ra những đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ giữa các thành phần kinh tế cùng những hình
thức kinh doanh đa dạng. Sự có mặt ngày càng nhiều của các nguồn vốn đầu tư đó thực
sự tạo ra sự năng động, thúc ép bản thân các thành phần kinh tế không ngừng vươn lên.
Sức ép đó ngày càng lớn với sự hình thành, phát triển của các đơn vị kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài cùng với lộ trình hội nhập kinh tế vào khu vực và quốc tế của nước ta. Sự
tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác nhau
tạo ra xung lực mới cho phát triển kinh tế. Dù cơ cấu tỷ trọng các thành phần kinh tế có
thay đổi với sự giảm dần của kinh tế nhà nước và tăng dần của kinh tế ngoài nhà nước,
nhưng các thành phần kinh tế nước ta thời gian qua đều lớn mạnh và cùng đóng góp
vào tăng trưởng kinh tế.
1.1.2.4. Tăng cường khai thác những lợi thế tuyệt đối và tương đối để chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
Sự bổ sung vốn đầu tư cho nền kinh tế tạo điều kiện khai thác tiềm năng của đất
nước, từng bước hình thành những lợi thế mới trong phân công lao động quốc tế. Việc phát
huy nội lực và tranh thủ ngoại lực giúp xác định rõ hơn các ngành chủ lực, từ đó chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại với sự giảm dần về tỷ trọng của nông nghiệp, sự
gia tăng của công nghiệp, dịch vụ trong GDP và lực lượng lao động.
Cụ thể: Việt Nam có lợi thế tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp nhưng thiếu đầu tư
nên năng suất thấp, chất lượng kém. Vì vậy, vốn đầu tư giúp khai thác thế mạnh này (đầu
tư cho nông nghiệp và công nghiệp chế biến); có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên nhưng
thiếu nguồn vốn để khai thác; có lợi thế về vị trí địa lý nhưng thiếu nguồn vốn đầu tư phát
triển giao thông vận tải; có lợi thế về lực lượng lao động dồi dào nhưng thiếu nguồn vốn
đầu tư cho đào tạo chất lượng cao.
1.1.2.5. Mở rộng thị trường, thúc đẩy giao lưu kinh tế và hội nhập
Sự phát triển đa dạng của sản xuất kinh doanh dựa trên những nguồn vốn đầu tư
khác nhau theo cơ chế thị trường đã thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ thị trường và
không ngừng mở rộng thị trường theo hướng đồng bộ, gắn với khu vực và quốc tế. Sự

18


phát triển của các DN bằng các nguồn vốn trong nước cho phép phục vụ ngày càng tốt
hơn các nhu cầu trong nước và từng bước mở rộng xuất khẩu. Sự phát triển của các DN
có vốn đầu tư nước ngoài đã đẩy mạnh tiến trình hội nhập, tạo thuận lợi khai thác và
mở rộng thị trường ra nước ngoài. Với sự gia tăng của các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt
nguồn vốn FDI, kim ngạch xuất khẩu đã phát triển nhanh, cơ cấu xuất khẩu được cải
thiện theo hướng tăng tỷ trọng hàng chế biến, giảm tỷ trọng sản phẩm thô, tạo một số
mặt hàng có khối lượng lớn có nguồn cung và đầu ra ổn định.
1.1.2.6. Giúp giải quyết các vấn đề xã hội
Các Tỉnh phát triển kinh tế chưa cao thường là thuần nông hay sản xuất nông
nghiệp quảng canh. Do năng suất thấp, tích lũy để tái sản xuất mở rộng cũng thấp,
thường là thâm dụng lao động. Việc đầu tư thêm cho phép tận dụng những tiềm năng
còn để ngỏ. Sự gia tăng đầu tư thường được thực hiện thông qua Chính phủ và doanh
nghiệp, từ đó phát sinh nhu cầu sử dụng lao động. Sự gia tăng vốn đầu tư thúc đẩy sự
hình thành và phát triển của thị trường lao động, tạo thêm nhiều việc làm mới.
Trong tác động trực tiếp, vốn đầu tư mở rộng hoạt động của doanh nghiệp, thu
hút thêm lao động. Sự hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức tài chính giúp cá nhân và hộ
gia đình có thêm điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm.
Một cách gián tiếp, vốn đầu tư còn góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng lạc hậu, yếu
kém ở nhiều địa phương, tạo điều kiện phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời
sống của người dân, thêm nhiều việc làm.
Vốn đầu tư tạo cơ hội cho người dân tìm kiếm và tự tạo việc làm, mở mang
ngành nghề, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, đồng thời tạo cơ hội và điều kiện
hình thành và phát triển thị trường lao động.
Sự hình thành các doanh nghiệp lớn từ các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài
nước, một mặt, góp phần giải quyết nhiều việc làm, mặt khác, góp phần tăng chất lượng
nguồn nhân lực (kể cả lao động quản lý) và kỹ năng của người lao động trực tiếp theo
phương pháp công nghiệp thông qua việc đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động nhất là
ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Nguồn vốn huy động được từ các chương trình quốc gia, các dự án, v.v…tạo
bước đột phá trong khâu giảm nghèo. Cùng với việc hỗ trợ người dân về vốn và các
19


điều kiện vật chất khác, Nhà nước và các tổ chức, đoàn thể cần giúp người nghèo tạo
việc làm và hướng dẫn họ sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế theo hoàn cảnh cụ thể
của họ. Đây chính là cách xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững. Sự hỗ trợ vốn và tạo
việc làm, hướng dẫn cách làm có hiệu quả, đem lại thu nhập mới cho người nghèo, tạo
điều kiện tích lũy mở rộng sản xuất bền vững, đẩy lùi các tệ nạn xã hội.
Việc huy động nguồn vốn để đầu tư mở rộng sản xuất, tạo thêm việc làm, giảm
bớt thất nghiệp góp phần giải quyết vấn đề an sinh xã hội thông qua hỗ trợ người
nghèo, dân tộc ít người, nhóm yếu thế khác trong xã hội;cải thiện các điều kiện hình
thành thị trường lao động; mở rộng sự tham gia và nâng cao vai trò của các tổ chức xã
hội, tổ chức phi chính phủ trong việc phát triển mạng lưới an sinh xã hội; đảm bảo công
tác an sinh và tái định cư cho người dân…
Nguồn vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội trên
phạm vi cả nước cũng như trên địa bàn Tỉnh, đặc biệt góp phần quan trọng giải quyết
các vấn đề xã hội.
1.2. Tổng quan về đầu tư cho phát triển kinh tế
1.2.1. Khái niệm về đầu tư
Từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế học đưa ra các khái niệm
khác nhau về đầu tư.
Paul A. Samuelson và William D. Nordhaus quan niệm “đầu tư là sự bổ sung vào
tư liệu sản xuất, ví dụ hàng hóa vốn. Hàng hóa vốn gồm các trang thiết bị, nhà xưởng,
hay hàng hóa vật tư lưu kho…“đầu tư” khi họ mua một miếng đất, hay chứng khoán cũ,
hay một tài sản nào đó. Trong kinh tế học, việc mua sắm này chỉ là các khoản chuyển
giao tài chính hay thay đổi cơ cấu tài sản, vì cái mà người này mua chỉ là cái mà ai đó
bán. Đầu tư chỉ thực sự xuất hiện khi tạo ra vốn thực tế”. Định nghĩa này nhấn mạnh ý
nghĩa kinh tế của đầu tư ở tầm vĩ mô.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (1995), đầu tư là hành động “bỏ vốn vào một
doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát
ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị mới, hoặc thực
hiện sự hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi

20


công cộng”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào đầu tư phát triển, vào hình thái biểu hiện và
động lực của đầu tư.
Theo Sách Tài chính Doanh nghiệp hiện đại (2005) của Trần Ngọc Thơ, đầu tư
là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đổi lấy khả năng giá trị không chắc chắn
trong tương lai. Khái niệm này xem xét đầu tư trên góc độ rủi ro và thời gian. Một
doanh nghiệp đầu tư hàng trăm ngàn đô la xây dựng nhà xưởng mới. Một luật sư đầu tư
hàng chục ngàn đô la xây dựng phòng tư vấn. Một giáo sư đại học đầu tư hàng chục
ngàn đô la mua cổ phần công ty IBM…Những hành vi trên đều liên quan đến sự hy
sinh hiện tại để đổi lấy triển vọng tương lai tốt đẹp. Với ý nghĩa rộng nhất đó, chúng ta
có thể cho rằng tất cả hành vi trên là đầu tư.
Theo Luật Đầu tư của Việt Nam (2005), đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng
các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu
tư. Khái niệm này còn chung chung, chưa cho thấy kết quả đầu tư mang lại lợi ích kinh
tế như thế nào nhằm thu hút đầu tư.
Đa số các nhà kinh tế học cho rằng, Nội dung cơ bản của khái niệm đầu tư bao
hàm các khía cạnh sau đây:
Thứ nhất, đầu tư là hành động mang tính tích lũy. Để có vốn đầu tư, nhà đầu tư
phải hy sinh một phần tiêu dùng hiện tại, do đó, họ luôn so sánh lợi ích giữa đầu tư và
tiêu dùng hiện tại khi quyết định đầu tư. Lợi ích từ đầu tư (lãi suất, lợi nhuận, tăng giá
của tài sản hình thành từ vốn đầu tư…) lớn hơn ích lợi của tiêu dùng hiện tại sẽ khuyến
khích họ đầu tư, còn ngược lại, tiêu dùng hiện tại sẽ được ưu tiên hơn.
Thứ hai, mục đích của đầu tư luôn là giá trị lớn hơn trong tương lai. Bất cứ
khoản đầu tư nào cũng chỉ được bỏ ra khi nhà đầu tư kỳ vọng sẽ thu hồi đủ vốn và có
lãi trong tương lai.
Thứ ba, quyết định đầu tư phụ thuộc vào tính toán của nhà đầu tư. Nhưng xét
trên tổng thể, việc bảo toàn vốn và tạo lãi cho nhà đầu tư phụ thuộc rất lớn vào tình
trạng chung của nền kinh tế quốc gia và thị trường thế giới. Trong nền kinh tế thị
trường, khi cơ chế tự phát còn quyết định trạng thái chung của nền kinh tế, tính bất ổn
của các chu kỳ kinh tế dẫn đến rủi ro đầu tư. Càng bất ổn, càng rủi ro, rủi ro quá cao sẽ
cản trở đầu tư.

21


Tóm lại, đầu tư là tiết kiệm tiêu dùng hiện tại để đưa một phần của cải xã hội đã
tích lũy được vào quá trình tái sản xuất xã hội nhằm tạo ra nhiều của cải hơn trong
tương lai. Đầu tư là chìa khóa của tăng trưởng kinh tế, đặc biệt tạo ra việc làm. Lý
thuyết đã chứng minh rằng tăng đầu tư sẽ bù đắp những thiếu hụt của “cầu tiêu dùng”,
từ đó tăng việc làm, tăng thu nhập, tăng hiệu quả biên của vốn đầu tư và kích thích tái
sản xuất mở rộng.
Căn cứ vào lý thuyết nêu trên, đầu tư luôn kỳ vọng giá trị lớn hơn trong tương
lai. Do vậy, nhà đầu tư luôn phải tính toán được giá trị kỳ vọng đó, tất nhiên cũng phải
chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định; nhà nước, nhất là tại một địa phương phải đảm
bảo những điều kiện để nhà đầu tư tư nhân đạt được giá trị kỳ vọng mới có thể thu hút
được vốn đầu tư vào địa phương mình, ngành mình.
1.2.2. Phân loại đầu tư: Dựa vào những tiêu chí khác nhau, có các loại đầu tư khác
nhau:
1.2.2.1. Xét theo chủ thể đầu tư: gồm có đầu tư của cá nhân, đầu tư của tổ chức, đầu
tư của nhà nướcvà đầu tư xã hội:
- Đầu tư cá nhân là từng cá nhân bỏ tài sản riêng của mình hoặc vay vốn để đầu tư
vào sản xuất, bất động sản hoặc các tài sản tài chính để kiếm lời.
- Đầu tư của tổ chức là các pháp nhân tự bỏ tài sản của tổ chức hoặc vốn vay vào
các công trình hay tài sản tài chính, bất động sản nhằm kiếm lời.
- Đầu tư của nhà nước là Chính phủ dùng Ngân sách Nhà nước, tài sản hoặc vốn
vay để xây dựng các công trình hoặc hình thành các tài sản tài chính nhằm mục tiêu lợi
nhuận hoặc hiệu quả chung của nền kinh tế.
- Tổng đầu tư xã hội là tổng lượng đầu tư của cá nhân, của pháp nhân và của nhà
nước.
1.2.2.2. Xét theo mức độ đóng góp vào năng lực sản xuất quốc gia: gồm có đầu tư
chuyển dịch và đầu tư phát triển:
- Đầu tư chuyển dịch đơn thuần là sự chuyển dịch các khoản vốn đã đầu tư giữa
các chủ thể đầu tư khác nhau.

22


- Đầu tư phát triển là các khoản đầu tư nhằm đưa thêm các năng lực sản xuất mới
vào hoạt động (sử dụng vốn trong hiện tại vào các hoạt động nhằm tạo thêm tài sản vật
chất và tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm để phát triển).
1.2.2.3. Xét theo thời gian: gồm có đầu tư ngắn hạn, trung hạn và đầu tư dài hạn:
Ở Việt Nam, đầu tư ngắn hạn thường đến 01 năm, đầu tư trung hạn từ trên 01->05
năm, đầu tư dài hạn thì trên 05 năm, có khi kéo dài hàng chục năm.
1.2.2.4. Xét theo quan hệ quản lý của nhà đầu tư với tài sản hình thành từ vốn đầu
tư: phổ biến hiện nay có đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:
- Theo Luật Đầu tư Việt Nam (2005), đầu tư trực tiếp là người có vốn tham gia
trực tiếp vào hoạt động và quản lý đầu tư, họ biết được mục tiêu đầu tư cũng như
phương thức vận động của các loại vốn bỏ ra. Đầu tư này có thể được thực hiện dưới
các dạng: hợp đồng, liên doanh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn. Nhà đầu
tư có thể là Chính phủ thông qua các kênh khác nhau để đầu tư cho xã hội, qua chi tiêu
của Nhà nước vào các công trình, chính sách xã hội. Nhà đầu tư còn có thể là cá nhân,
tập thể,... kể cả người nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
- Đầu tư gián tiếp là nhà đầu tư không trực tiếp tham gia đầu tư, chỉ mua cổ phần,
cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác thông qua thị trường chứng khoán và các
định chế tài chính trung gian khác. Như vậy, trong đầu tư gián tiếp, người bỏ vốn khác
người sử dụng vốn. Đầu tư gián tiếp thường thông qua kênh tín dụng hay kênh đầu tư
trên thị trường chứng khoán (Luật Đầu tư, 2005).
- Giữa đầu tư trực tiếp và gián tiếp có quan hệ chặt chẽ trong quá trình thực hiện.
Đầu tư trực tiếp là tiền đề phát triển của đầu tư gián tiếp, thể hiện qua nhu cầu vay vốn
của các doanh nghiệp tại các tổ chức tín dụng hay các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu
trên thị trường sơ cấp để huy động vốn. Mặt khác, môi trường đầu tư gián tiếp mở rộng
sẽ thúc đẩy đầu tư trực tiếp với mong đợi dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn.
1.2.3. Các nguồn vốn đầu tư và huy động vốn đầu tư
Nguồn hình thành vốn đầu tư là phần tích lũy dưới dạng giá trị được chuyển hóa
thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Thuật ngữ này chỉ các nguồn
tập trung và phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu chung của

23


nhà nước và xã hội. Trong nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư bao gồm nguồn trong nước và
nguồn từ nước ngoài.
Nguồn vốn trong nước thể hiện nội lực của quốc gia, có ưu điểm là ổn định, bền
vững, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và hậu quả xấu đối với nền kinh tế do những
tác động từ bên ngoài. Nguồn này chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong
nền kinh tế. Ngày nay, các dòng vốn nước ngoài ngày càng không thể thiếu đối với các
nước đang phát triển, nhưng nguồn tiết kiệm trong nước vẫn đóng vai trò quan trọng.
Vốn đầu tư của nền kinh tế được hình thành từ hai nguồn chính: vốn trong nước
và vốn ngoài nước.
1.2.3.1. Nguồn vốn đầu tư trong nước
1/. Nguồn vốn đầu tư từ khu vực nhà nước
a. Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
Là khoản chi cho đầu tư của Ngân sách Nhà nước, là một nguồn vốn đầu tư quan
trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Nguồn vốn này thường
được sử dụng cho các dự án cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ
các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của nhà nước, chi cho
công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng,
lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
Nguồn vốn này chủ yếu được Nhà nước đầu tư vào các dự án lớn, kinh phí cao
và thời hạn thu hồi kéo dài, đặc biệt cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế.
b. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
Cùng với quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Nguồn vốn
tín dụng đầu tư phát triển tích cực giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà
nước. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc
hoàn trả vốn vay. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ
chuyển từ phương thức cấp vốn ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án
có khả năng thu hồi vốn trực tiếp. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước còn phục
vụ việc quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô. Việc phân bổ và sử dụng nguồn vốn tín dụng

24


đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh tế khó khăn, giải quyết các vấn đề
xã hội như xóa đói giảm nghèo, đặc biệt có tác dụng tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
c. Nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước
Nguồn vốn này hình thành chủ yếu từ khấu hao tài sản cố định và tích lũy lợi
nhuận để đầu tư theo chiều sâu, mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị, hiện đại hóa dây
chuyền công nghệ của doanh nghiệp.
Xu hướng này phù hợp với sự chuyển đổi kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang
cơ chế thị trường, theo đó, Nhà nước rút dần vai trò đầu tư trực tiếp vào sản xuất kinh
doanh, chỉ chủ yếu tạo nguồn vốn mồi, đầu tư vào những lĩnh vực, những vùng mà tư
nhân cùng nước ngoài không muốn hoặc không thể đầu tư. Đồng thời cũng chứng tỏ sự
lớn mạnh nhanh chóng của các thành phần kinh tế khác.
2/. Nguồn vốn đầu tư từ nền kinh tế
a. Nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng
Các TCTD có thể dùng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế và dân cư hay nguồn
vốn nhận ủy thác để tài trợ trực tiếp các dự án đầu tư có hiệu quả, thường là tài trợ trung
dài hạn. Các TCTD còn có thể dùng một phần vốn chủ sở hữu của mình để tài trợ gián
tiếp các dự án đầu tư thông qua việc mua các chứng khoán – có hay không có tham gia
quản lý. Ở Việt Nam, trước mắt, nguồn này chưa dồi dào khi mức tự tích lũy từ nền
kinh tế còn thấp và chính sách tiền tệ đa mục tiêu hiện hành chưa khuyến khích tiền gửi
trung dài hạn. Nguồn vốn này thường dành cho những dự án đầu tư, phục vụ sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, nguồn vốn này chưa chú trọng đầu tư vào cơ sở
hạ tầng nơi lợi ích xã hội giữ vai trò trọng tâm.
b. Nguồn vốn từ doanh nghiệp tư nhân
Cùng với sự phát triển kinh tế đất nước, một bộ phận không nhỏ các doanh
nghiệp tư nhân có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập gia tăng hoặc do tích lũy
truyền thống. Nguồn vốn này của doanh nghiệp được hình thành từ: vốn đóng góp ban

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×