Tải bản đầy đủ

CHUYÊN ĐỀ QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ TIẾN LÊN KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH CHÍNH QUYỀN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA TRONG THỜI KÌ 19391945

Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ……………
TRƯỜNG THPT ………………….

CHUYÊN ĐỀ:
QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ TIẾN LÊN KHỞI NGHĨA
VŨ TRANG GIÀNH
CHÍNH QUYỀN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN
TA TRONG THỜI KÌ 1939-1945

Trường THPT D

1


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia

CHUYÊN ĐỀ
QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ TIẾN LÊN KHỞI NGHĨA VŨ TRANG GIÀNH
CHÍNH QUYỀN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA TRONG THỜI KÌ

1939-1945

Đối tượng học sinh bồi dưỡng: Lớp 12
Dự kiến số tiết: 6 tiết
Người viết chuyên đề:
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường
A. Néi dung kiÕn thøc
Trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước,
từ năm 1939-1945 Đảng ta đã xúc tiến chuẩn bị mọi mặt để tiến tới một cuộc
khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong cả nước. Đặc biệt, khi Nhật đảo
chính Pháp (9-3-1945), công cuộc chuẩn bị càng được tiến hành khẩn
trương. Chính vì vậy, khi thời cơ cách mạng chín muồi, Đảng đã dũng cảm
phát động nhân dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, làm
nên thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.
I.KHÁI QUÁT:
là thời kỳ chuẩn bị trực tiếp và toàn diện cho Cách mạng tháng Tám 1945
bùng nổ và thắng lợi. Sự chuẩn bị trực tiếp và toàn diện này được thể hiện:
1 là chủ chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng: bắt đầu đề ra
từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 11/1939 và được hoàn chỉnh trong
hội nghị BCH TW lần thứ VIII (5/1941).
Trường THPT D

2


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
2 là sự chuẩn bị về lực lượng cách mạng: Xây dựng lực lượng chính
trị (sự ra đời và phát triển của mặt trận Việt Minh). Xây dựng lực lượng vũ
trang (ra đời và phát triển của các trung đội cứu quốc quân công với sự ra
đời và phát triển của Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân).
3 là, chuẩn bị về căn cứ địa cách mạng mà tiêu biểu là sự ra đời của
khu giải phóng Việt Bắc.
4 là, chuẩn bị cho quần chúng tập dượt đấu tranh trong thời kỳ tiền
khởi nghĩa thông qua cao trào kháng Nhật cứu nước. Với hai phong trào:
phong trào phá kho thóc giải phóng nạn đói và khởi nghĩa từng phần ở
những địa phương có điều kiện.
5 là, chuẩn bị về bộ máy lãnh đạo tổng khởi nghĩa được thể hiện
thông qua Hội nghị Toàn quốc của Đảng (14 – 15/8/1945) và đặc biệt là
thông qua sự kiện Quốc dân Đại hội tại Tân Trào – Tuyên Quang (16 – 17).


Đây là sự chuẩn bị cuối cùng cho Tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi.
II. CÔNG CUỘC CHUẨN BỊ CHO KỞI NGHĨA VŨ TRANG.
1. Đảng ta đã hoàn chỉnh chuyển hướng đấu tranh - giương cao ngọn cờ
độc lập dân tộc
- Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
tháng 11-1939 đã đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng của Đảng - đặt
nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tiếp đó Hội nghị Ban Chấp hành
Trung ương tháng 11-1940 tiếp tục triển khai bước chuyển hướng đó. Hội
nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương tháng 5-1941 với sự chủ trì
của Nguyễn Ái Quốc, đã hoàn chỉnh quá trình chuyển hướng đấu tranh đó.
Trên cơ sở phân tích tình hình trong và ngoài nước, các mâu thuẫn Hội nghị
Trung ương VIII đã xác định:
- Mục tiêu trước mắt:

Trường THPT D

3


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
+ Xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật, thực
dân Pháp và các thế lực phản cách mạng, tay sai của chúng. Nhiệm vụ chủ
yếu trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc "Trong lúc này nếu
không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự
do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu
mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng
không đòi lại được". Hội nghị chỉ rõ sau khi đánh đuối đế quốc Pháp, Nhật
sẽ thành lập chính phủ nhân dân của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa.
Cách mạng Việt Nam chỉ làm một cuộc cách mạng giải phóng chứ không
phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền bao gồm dân tộc và điền địa nữa.
+ Tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia
ruộng đất cho dân cày” thay bằng các khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn
đế quốc, Việt gian chia cho dân cày nghèo, giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng
công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng.
- Về xây dựng lực lượng:
+ Thành lập mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt
Minh) bao gồm các tổ chức quần chúng lấy tên là hội cứu quốc. Mặt trận
Việt Minh đặt vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước Việt Nam- Lào –
Campuchia để phát huy cao độ tinh thần cách mạng của mỗi dân tộc “Liên
hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước không phân biệt giàu nghèo, già
trẻ, gái trai, không phân biệt tôn giáo xu hướng chính trị, đặng cùng nhau
mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn”
- Về phương pháp: Xác định hình thái của cuộc khởi nghĩa vũ trang ở
nước ta là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng nghĩa và nhấn mạnh:
chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân trong
giai đoạn hiện tại. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Đông Dương có một tầm quan trọng đặc biệt đối với
Trường THPT D

4


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
Cách mạng tháng Tám năm 1945. Những quyết định của Hội nghị đã hoàn
chỉnh chủ trương đấu tranh được đề ra từ Hội nghị Trung ương tháng 111939 nhằm thực hiện nhiệm vụ số một của cách mạng là độc lập dân tộc; Có
tác dụng quyết định trong việc vận động toàn Đảng, toàn dân ta tích cực
chuẩn bị tiến tới cách mạng tháng Tám; Góp phần quyết định vào thành
công của cách mạng tháng Tám năm 1945.
2. Xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng
a. Lực lượng chính trị cách mạng
- Thành lập mặt trận dân tộc thống nhất để đoàn kết rộng rãi mọi tầng
lớp nhân dân, đấu tranh chống đế quốc giải phóng dân tộc:
Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939) đã quyết định thành lập mặt trận
dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương với những đoàn thể quần chúng
trong mặt trận là các “Hội phản đế”.
- Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (5-1941) đã quyết định thành lập
Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh với những đoàn thể quần chúng trong
mặt trận là những “Hội cứu quốc”. Đến năm 1942 khắp 9 châu của Cao
Bằng đã có Hội cứu quốc, trong đó có 3 châu hoàn toàn. Các uỷ ban Việt
Minh tỉnh Cao Bằng, uỷ ban Việt Minh lâm thời liên tỉnh Cao - Bắc - Lạng ,
Tổng bộ Việt Minh được thành lập. 1943 ủy ban Việt Minh liên tỉnh Cao –
Bắc – Lạng lập ra 19 ban xung phong Nam tiến nhằm:
+ Liên lạc với căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai
+ Phát triển lực lượng cách mạng xuống các tỉnh miền xuôi.
- Đảng cũng rất chú ý đến việc đoàn kết các tầng lớp tiểu tư sản, tư
sản dân tộc trong mặt trận
+ 1943, ra bản đề cương văn hoá Việt Nam
+ 1944, thành lập Hội văn hoá cứu quốc Việt Nam

Trường THPT D

5


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
+ 1944, thành lập Đảng dân chủ Việt Nam
- Chú ý vận động binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp, tranh thủ
cả những ngoại kiều ở Đông Dương có tinh thần chống Pháp - Nhật đứng về
phía cách mạng.
- Ra sức phát triển báo chí của Đảng và Mặt trận: như tờ Giải phóng,
Cờ giải phóng, Cứu quốc, Việt Nam độc lập, chặt xiềng…góp phần quan
trọng vào việc tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, đấu tranh chống
mọi thủ đoạn chính trị văn hoá của địch, thu hút đông đảo quần chúng vào
hàng ngũ cách mạng.
Tóm lại với phương châm xây dựng lực lượng từ miền núi xuống
miền xuôi, từ thành phần cơ bản phát triển lên các tầng lớp khác mặt trận
Việt Minh đã phát triển lực lượng chính trị hùng hậu để trên cơ sở đó xây
dựng và phát triển lực lượng vũ trang.
Chính sách xây dựng lực lượng chính trị thể hiện chính sách đại đoàn
kết của Đảng ta, phù hợp với truyền thống dân tộc.
Vai trò của lực lượng chính trị:
+ Nó làm cho kẻ thù bị cô lập, suy yếu nghiêm trọng
+ Lực lượng chính trị hùng hậu là cơ sở để xây dựng và phát triển lực
lượng vũ trang.
Thực chất của công cuộc chuẩn bị lực lượng chính trị thời kỳ này
chính là sự ra đời, phát triển và vai trò của mặt trận Việt Minh.
* Sự ra đời của mặt trận Việt Minh
- Thực hiện chủ trương của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần
thứ VIII, ngày 19/5/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đứng ra thành lập thí
điểm Mặt trận Việt Minh tại Cao Bằng với tên gọi là các Hội Cứu quốc. Đến
cuối tháng 10/1941, Mặt trận đã công bố chương trình hoạt động với hai
mục đích hàng đầu là: Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho
Trường THPT D

6


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
dân Việt Nam được sung sướng tự do. Với mục đích đúng đắn này và dưới
sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận
không ngừng lớn mạnh.
* Sự phát triển
- Tại Cao Bằng: Cao Bằng là nơi được Nguyễn Ái Quốc chọn thí điểm
xây dựng mặt trận Việt Minh dưới tên gọi các Hội Cứu quốc. Đến 1942, tất
cả các châu của Cao Bằng đều có các Hội Cứu quốc. Đặc biệt, có ba châu
“hoàn toàn” (tất cả người dân đều tham gia Việt Minh). Trên cơ sở đó, Ủy
ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Ủy ban Việt Minh liên tỉnh Cao - Bắc Lạng được thành lập.
- Ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, các cơ sở của mặt trận Việt Minh
cũng lần lượt được thành lập, các Hội phản đế của thời kì trước đây được
thay thế bằng các Hội cứu quốc.
- Lực lượng tham gia mặt trận Việt Minh: Không dừng lại ở hai giai
cấp chủ yếu là công nhân và nông dân, Đảng chủ trương lôi kéo các lực
lượng còn lại tham gia mặt trận nhằm cô lập cao độ kẻ thù.Trong đó phải kể
đến trí thức tiểu tư sản và tư sản dân tộc.Cụ thể, năm 1943, Đảng, mặt trận
ban hành “ Đề cương văn hóa Việt Nam” thu hút đông đảo trí thức tiểu tư
sản tham gia Hội văn hóa cứu quốc; đến 1944 đảng dân chủ mà đông đảo là
tư sản dân tộc đứng trong hàng ngũ Việt Minh. Ngoài ra, mặt trận còn thu
hút được sự tham gia đông đảo của binh lính người Việt trong hàng ngũ
Pháp.
- Công cụ và phương tiện tuyên truyền: Đảng, Mặt trận Việt Minh
sáng lập hàng loạt các báo chí cách mạng mà tiêu biểu là các tờ: Giải phóng,
Cờ giải phóng, Chặt xiềng... Những báo chí cách mạng này trở thành công
cụ tuyên truyền hữu hiệu của Mặt trận.

Trường THPT D

7


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
- Đầu 1943 : Cuộc chiến tranh thế giới lần 2 ngày càng quyết liệt. Ở
mặt trận châu âu, hồng quân liên xô giành thắng lợi và chuyển sang thế phản
công.Trước tình hình đó cuối tháng 2 năm 1943 ban thường vụ trưng ương
đảng họp tại Đông Anh Hà nội. Sau khi phân tích tình hình HN vạch ra kế
hoạch cụ thể để chuẩn bị một cách toàn diện cho cuộc khởi nghĩa vũ trang
giành chính quyền.Vì vậy sau HN này mặt trận Việt Minh tiếp tục phát triển
lực lượng. Cụ thể của việc phát triển này:Trong 1943 ủy ban Việt Minh liên
tỉnh Cao-Bắc-Lạng thực hiện các ban xung phong nam tiến để phát triển lực
lượng tại các tỉnh miền xuôi.
- 20 giờ ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông
Dương.Thực dân pháp nhanh chóng đầu hàng.Trước tình hình trên, Thường
vụ Trung ương Đảng họp ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của
chúng ta”. Chỉ thị đã chính thức phát động cao trào kháng Nhật cứu nước
rộng lớn trên cả nước với 2 phong trào: phong trào khởi nghĩa từng phần và
phong trào phá kho thóc giải quyết nạn đói. Mặt trận Việt Minh đã tập hợp
lực lượng tham gia đông đảo và làm nên thành công của cao trào kháng Nhật
cứu nước. Cũng qua cao trào kháng Nhật cứu nước, lực lượng chính trị tham
gia Việt Minh ngày càng đông đảo, vì vậy, Mặt trận không ngừng mở rộng,
phát triển.
* Vai trò:
- Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa nửa phong kiến với 90% dân số
mù chữ, mặt trận Việt Minh đã có vai trò to lớn trong việc tập hợp đông đảo
lực lượng chính trị, đảm bảo cho Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ và
thắng lợi. Đây là vai trò to lớn nhất của Việt Minh - vai trò tập hợp lực lượng
chính trị.
- Mặt trận Việt Minh còn là nơi che chở bao bọc cho lực lượng vũ trang
phát triển.
Trường THPT D

8


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
- Tại khu giải phóng Việt Bắc, Việt Minh còn thực hiện chức năng chính
quyền.
- Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp
đông đảo lực lượng chính trị một mặt lôi kéo phần tử trung gian đứng về
phía cách mạng để cô lập cao độ kẻ thù, mặt khác tạo áp lực buộc kẻ thù đầu
hàng. Có thể khẳng định cách mạng tháng 8 năm 1945 thắng lợi nhanh
chóng và ít đổ máu, ngoài nguyên nhân khách quan là diễn ra đúng thời cơ
chin muồi còn có nguyên nhân chủ quan là do vai trò to lớn của Mặt trận
VM dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng.
b. Sự chuẩn bị về lực lượng vũ trang:
- Quán triệt tư tưởng cách mạng bạo lực đã được xác định trong Luận
cương chính trị năm 1930 và qua các Hội nghị Trung ương 6-7-8 Đảng nhấn
mạnh xây dựng lực lượng vũ trang để tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành
chính quyền.
- Ngay khi khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại, Đảng có chủ trương duy trì
đội du kích Bắc Sơn - Võ Nhai, sau phát triển thành cứu quốc quân.
- Từ tháng 7/1941- 2/1941 Cứu quốc quân phát động chiến tranh du
kích để chống lại sự vây quét của địch sau đó phân tán thành nhiều bộ phận
để chấn chỉnh lực lượng và tiến hành công tác vũ trang tuyên truyền, gây
dựng cơ sở chính trị trong quần chúng.
- Ở Cao Bằng, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hồ Chí Minh phong trào
Việt Minh phát triển mạnh, trên cơ sở đó hàng nghìn tự vệ và tự vệ chiến đấu
đã ra đời.
- Từ giữa năm 1944, tình hình thế giới và trong nước có những bước
phát triển gấp rút, có lợi cho cách mạng, tháng 7/5/1944 Tổng bộ Việt Minh
ra chỉ thị cho các cấp sửa soạn khởi nghĩa, kêu gọi nhân dân sắm vũ khí đuổi
thù chung.
Trường THPT D

9


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
- 11/1944 nổ ra cuộc khởi nghĩa ở Vũ Nhai, lực lượng cách mạng bị
tổn thất, dưới sự lãnh đạo của Đảng cuộc khởi chuyển thành chiến tranh du
kích để bảo toàn lực lượng.
- Ở Cao - Bắc - Lạng, Nguyễn ÁiQuốc đã kịp thời hoãn cuộc khởi
nghĩa vũ trang do nổ ra chưa đúng thời cơ.
- 22/12/1944 Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành
lập, ngay sau khi ra đời đã làm nên 2 chiến thắng Phay Khắt và Nà Ngần.
- Đồng thời ở Thái Nguyên Cứu quốc quân đã phát động chiến tranh
du kích hạ đồn chợ Chu, tiến đánh Chiêm Hóa.. chính quyền nhân dân được
thành lập suốt một vùng rộng lớn, phía Nam xuống đến tận Thái Nguyên
Vĩnh Yên.
- Khi Nhật đảo chính Pháp (3-1945), Đảng phát động cao trào kháng
Nhật cứu nước. Từ trong cao trào lực lượng vũ trang tiếp tục phát triển: Du
kích Ba tơ, các chiến khu Đông Triều, Hoà – Ninh - Thanh, Vần - Hiền
Lương…
- 5/1945 Hai đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và cứu quốc
quân gặp nhau tiến tới hợp nhất thành Việt Nam giải phóng quân.
Vai trò của lực lượng vũ trang:
- Tuy số lượng còn ít và vũ khí thô sơ nhưng có vai trò quan trọng:
+ Nó có tác dụng gây thanh thế cho cách mạng, góp phần phát triển
lực lượng chính trị ngày càng đông đảo
+ Nó giữ vai trò xung kích mở đường cho lực lượng chính trị tiến lên.
+ Sự ra đời:
- 11/1940 hội nghị trung ương đảng họp quyết định duy trì đội du kích
bắc sơn vì vậy du kích Bắc Sơn là lực lượng vũ trang đầu tiên của đảng
trong thời kỳ này.
Trường THPT D

10


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
- Hội nghị Trung ương 8 tháng 5/1941 chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là
nhiệm vụ trung tâm của toàn đảng, toàn dân.Vì vậy kể từ đây lực lượng vũ
trang được Đảng ta hết sức chú trọng duy trì và phát triển.
+ Sự phát triển.
- Sự ra đời của các đội cứu quốc quân.
- Tại căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, lực lượng du kích tiếp tục phát
triển.14.2.1941 các lực lượng du kích đã hợp nhất trung đội cứu quốc quân
số 1.
- Trước sự truy quét của kẻ thù cứu quốc quân đẩy mạnh chiến tranh du
kích nhằm bảo toàn và phát triển lực lượng.Vì vậy đến giữa 9.1942 trung đội
cứu quốc quân thứ 2 được thành lập.
- Đầu năm 1943 (Nêu như ở mặt trận Việt Minh). Thực hiện chủ trương
của hội nghị lực lượng vu trang tiếp tục phát triển.Đầu 1944 trung đội cứu
quốc quân thứ 3 được thành lập.
- Sự ra đời và phát triển của đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
- Về hoạt động của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.......thực hiện chỉ thị của lảnh
tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Ngày 22/ 12/ 1944 đội Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân được thành lập.
+ Hoạt động : Ngay khi mới thành lập đội đã dành thắng lợi vẻ vang ở 2
trận Phay Khắt và Nà Ngần.
→ Đến đây chúng ta thấy lực lượng vũ trang từ chỗ là đội quân du kích
đã phát triển thành 3 trung đội cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân.
+) Vai trò:
- Lực lượng vũ trang phối hợp với lực lượng chính trị làm nên cuộc cách
mạng tháng 8 vĩ đại. Trong đó lực lượng vu trang có vai trò và luôn đi đầu
trong việc trừ khử những phần tử phản động cứng đầu.
Trường THPT D

11


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
- Sinh ra và lớn lên trong một nước thuộc địa nửa phong kiến nên lực
lượng vũ trang không đơn thuần là thực hiện chức năng vũ trang mà còn có
vai trò lớn trong việc tuyên truyền và vận động quần chúng tham gia cách
mạng, góp phần xây dựng lực lượng chính trị.
- Ngoài ra lực lượng vũ trang có vai trò quan trọng trong việc thực hiện
chức năng bảo vệ cơ quan đầu não cách mạng, bảo vệ căn cứ địa cách mạng,
bảo vệ chính quyền cách mạng.
c. Chuẩn bị về căn cứ địa cách mạng
- Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, đảng chủ trương thành lập căn cứ địa Bắc
Sơn- Vũ Nhai.
- Sau khi về nước Hồ Chí Minh phụ trách việc xây dựng căn cứ địa
Cao Bằng.
- Hai căn cứ được mở rộng ra và đến năm 1943 thì liên lạc được với
nhau.
- Tháng 6 - 1945 khu giải phóng Việt Bắc ra đời bao gồm 6 tỉnh: Cao Bắc - Lạng – Hà – Tuyên - Thái. Uỷ ban lâm thời khu giải phóng do Hồ Chí
Minh đứng đầu, trong khu giải phóng Việt Bắc thi hành 10 chính sách của
Việt Minh. Khu giải phóng Việt Bắc trở thành hình ảnh thu nhỏ của nước
Việt Nam mới….
3. Tập dượt quần chúng đấu tranh
- Trong những năm 1940-1941 nổ ra những cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn,
Nam Kỳ…
- Phong trào phá kho thóc giải quyết nạn đói trong cao trào kháng
Nhật cứu nước.
- Những cuộc khởi nghĩa trong thời kỳ tiền khởi nghĩa: khởi nghĩa của
nhân dân Tiên Du (Bắc Ninh), Hiệp Hoà (Bắc Giang), Khởi nghĩa Bần Yên
Nhân, Khởi nghĩa Ba Tơ.
Trường THPT D

12


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
Những cuộc khởi nghĩa và đấu tranh đó có tác dụng tập dượt quân chúng
đấu tranh giành chính quyền để khi thời cơ đến tiến lên tổng khởi nghĩa
giành chính quyền.
- Đảng, Chủ nghĩa Mac-Lênin luôn quan niệm căn cứ địa cách mạng là nhân
tố quan trọng quyết định cách mạng thành công, vì căn cứ địa là nơi che chở
và bảo vệ an toàn cho lực lượng cách mạng, đặc biệt là cơ quan đầu não của
CM, căn cứ địa là nơi cung cấp sức người sức của cho cách mạng, là bàn đạp
của cách mạng.
- Biểu hiện:
+ Căn cứ địa chính và lớn nhất của cả nước chính là khu giải phóng Việt
Bắc 24/ 6/ 1945 lớn và trở thành “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam
mới”.
+Ngoài ra cho tới trước khi tổng khởi nghĩa ngoài khu giải phóng Việt
Bắc trên phạm vi cả nước còn có nhiều căn cứ địa cách mạng như:
Căn cứ Đông Triều (Quảng Ninh), Căn cứ Hòa-Ninh-Thanh, Căn cứ Ba
Tơ (Quảng Ngãi) và các vùng du kích chiến ở Nam Kì.
- Vai trò: Các căn cứ địa thực sự là bàn đạp để tổng khởi nghĩa nhanh
chóng lan rộng và thành công trong cả nước.
4. Sự chuẩn bị cuối cùng trước ngày tổng khởi nghĩa
Một là sự chuẩn bị về lực lượng.
Trước chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và tình hình trong nước,
từ 15 – 20/ 4/ 1945, Đảng tổ chức hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì - Hội
nghị đầu tiên bàn về lĩnh vực quân sự. Sau khi phân tích tình hình, Hội nghị
quyết định: Đẩy mạnh hơn nữa chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa
cách mạng và đặc biệt phải hợp nhất các lực lượng vũ trang. Thực hiện chủ
trương này, ngày 15/5/1945 các Trung đội Cứu quốc quân và Việt Nam
tuyên truyền giải phóng quân hợp nhất tạo thành Việt Nam giải phóng quân.
Trường THPT D

13


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
Hai là, đẩy mạnh chuẩn bị căn cứ địa cách mạng: Bước vào đầu năm
1945, nhiều căn cứ địa cáh mạng ra đời và đẩy mạnh hoạt động.
Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ HCM, ngày 04/6/1945, Khu Giải phóng
Việt Bắc ra đời với phạm vi gồm phần lớn lãnh thổ của 6 tỉnh Việt Băc (Cao
Bằng, Bắc Kạn, lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang) và các
khu vực vùng ven. Vừa mới ra đời, Khu đã thi hành 10 chính sách lớn của
MT Việt Minh và trở thành “hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam” mới.
Đến đây, chúng ta thấy, công cuộc chuẩn bị gấp rút hòan thành. Toàn dân
tộc sẵn sang chờ thời cơ vùng dậy tổng khởi nghĩa.
5. Khi thời cơ cách mạng chín muồi Đảng Cộng sản Đông Dương đã
dũng cảm phát động nhân dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền
a. Nhật đầu hàng Đồng minh, lệnh Tổng khởi nghĩa được ban bố
Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai đi tới những ngày cuối.
Ở châu Âu: phát xít Đức bị tiêu diệt. Tháng 5-1945, chính phủ mới ở
Đức đã kí văn kiện đầu hàng Đồng minh không điều kiên.
Ở châu Á-Thái Bình Dương, đầu tháng 8-145, quân Đồng minh tiến
công mạnh mẽ vào các vị trí của quân đội Nhật Bản ở châu Á- Thái Bình
Dương. Ngày 6 và 9-8-1945 Mĩ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành
phố của Nhật Bản. Ngày 9-8-1945 quân đội Liên xô mở màn chiến dịch tổng
công kích đội quân Quan Đông của Nhật Bản ở Đông Bắc Trung Quốc.
Ngày 15-8-1945 Nhật Bản chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh không
điều kiện. Quân Nhật ở Đông Dương rệu rã, chính phủ thân Nhật Trần Trọng
kim hoang mang. Trong khi đó quân Đồng minh chưa kịp vào nước ta. Điều
kiện khách quan thuận lợi cho Tổng khởi nghĩa đã đến.
Lúc này lực lượng trung gian đã chán ngán chính sách phản động của
bọn Nhật và tay sai ngả hẳn về phía cách mạng.

Trường THPT D

14


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
Điều kiện khách quan và chủ quan trên đây đã đưa thời cơ tổng khởi
nghĩa đi đến chín muồi.
b. Chủ trương của Đảng.
Từ ngày 13-8-1945, khi nhận được những thông tin về việc Nhật Bản
sắp đầu hàng, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh thành lập Uỷ ban
khởi nghĩa toàn quốc… ra bản quân lệnh số 1, chính thức phát lệnh Tổng
khởi nghĩa trong cả nước. Từ ngày 14 đến ngày 15-8-1945, Hội nghị toàn
quốc của Đảng họp ở Tân Trào, thông qua kế hoạch lãnh đạo toàn dân tổng
khởi nghĩa và quyết định những vấn đề quan trọng về chính sách đối nội, đối
ngoại sau khi giành được chính quyền. Từ ngày 16 đến ngày 17-8-1945, Đại
hội quốc dân được triệu tập ở Tân Trào. Đại hội tán thành chủ trương tổng
khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Việt Minh, cử ra Uỷ ban
dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân giành
chính quyền thắng lợi trong toàn quốc từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945. Ngày
2-9-1945, thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố
trước quốc dân và thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà.
B. HỆ THỐNG ĐỀ THI
Câu 1: Chủ trương giải phóng dân tộc được đề ra như thế nào tại HN
BCHTW Đảng 11/1939?
Hướng dẫn: (Trình bày hoàn cảnh, nội dung và ý nghĩa lịch sử của HN
BCHTW Đảng 11/39. Hội nghị đánh dấu bước chuyển hướng đấu tranh của
Đảng trong thời kì 1939-1945.
Câu 2: Việc hoàn chỉnh hướng chỉ đạo chiến lược CM được thể hiện như
thế nào qua HN BCH TW lần thứ VIII (tháng 5/1941)?
TL: Trình bày cụ thể hoàn cảnh LS, nội dung và nhận xét, ý nghĩa của HN
BCH TW lần thứ VIII (5/1941).
Trường THPT D

15


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia

Câu 3: Các hình thức tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất do Đảng Cộng
Sản Đông Dương đề ra và vận động thực hiện trong những năm từ 1930 1945 ở nước ta.
ĐVĐ: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Nhận thức được
vait rò và sức mạnh của quần chúng, trong mỗi thời kì lịch sử Đảng đều
thành lập tổ chức mặt trận nhằm tập hợp đông đảo quần chúng tham gia.
Giải quyết:
- Nêu khái niệm mặt trận:
+ Mặt trận là hình thức tập trung lực lượng.
+ Mặt trận dân tộc thống nhất là lực lượng của dân tộc đã được hình thành như
thế nào.
+ Ở Việt Nam, Mặt trận dân tộc thống nhất được xây dựng trên nền tảng khối
liên minh công nông vững chắc và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
- Nêu yêu cầu thành lập mặt trận ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng 1930
- 1945, và tên các mặt trận 1930 - 1931: Hội phản đế Đồng minh Đông
Dương (chưa thực hiện được). 7/1936: Mặt trận nhân dân phản đế Đông
Dương. 3/ 1938: Mặt trận dân chủ Đông Dương 11/ 1939: Mặt trận dân tộc
thống nhất phản đế Đông Dương 5/ 1941: Mặt trận Việt Minh
- Trình bày các hình thức mặt trận trong từng giai đoạn cách mạng, bối cảnh,
yêu cầu lịch sử ở từng giai đoạn.
+ Mặt trận hình thành và tác dụng của nó.
Cụ thể:
1.Giai đoạn 1930 - 1931:
- Bối cảnh: Việt Nam chịu ảnh hưởng cuộc khủng khoảng kinh tế 1929 - 1933
của chủ nghĩa tư bản, Pháp trút gánh nặng lên vai nhân dân ta, mâu thuẫn dân
tộc càng trở nên sâu sắc. Lúc này phong trào đấu tranh của quần chúng đã lên
cao. Đảng vừa ra đời, đã kịp thời lãnh đạo quần chúng đấu tranh.
- Mục tiêu đấu tranh: đánh đuổi đế quốc để giành độc lập dân tộc và lật đổ
phong kiến để giành ruộng đất cho dân cày.
- Mặt trận hình thành: Tại hội nghị trung ương lần thứ 1 ( tháng 10/1930) đảng
đã quyết định thành lập hội phản đế đồng minh Đông dương vào ngày
18/11/1930 với mục đích; tập hợp lực lượng quần chúng, đưa quần chúng vào
trận tuyến đấu tranh, đến khi tình thế cách mạng chín muồi sẽ làm cuộc tổng
khởi nghĩa giành chính quyền. Mặt trận này lấy liên minh công nông làm nòng
cốt, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông dương, nhưng mặt trận
không thực hiện được do thực dân Pháp đàn áp dã man.
2.Giai đoạn 1936 - 1939:
Trường THPT D

16


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
- Bối cảnh: Tình hình trong nước và thế giới có sự thay đổi:
+ Chủ nghĩa phát xít xuất hiện và nguy cơ chiến tranh đe doạ loài người.
+ Trong nước, đời sống của nhân dân hết sức cực khổ.
+ Thuận lợi mới: Quốc tế cộng sản ra chỉ thị cho các nước thành lập Mặt trận
nhân dân chống phát xít và nguy cơ chiến tranh. Mặt trận nhân dân Pháp có
Đảng Cộng Sản làm nòng cốt đã thắng thế trong cuộc tuyển cử, thi hành chính
sách tiến bộ với thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Trải qua thời kỳ khủng bố
trắng, lực lượng cách mạng đã được hồi phục và chúng ta có thêm hơn 3.000
chiến sĩ cộng sản, Đảng viên ra tù bổ xung cho lực lượng cán bộ cách mạng.
- Mặt trận ra đời: Yêu cầu đặt ra lúc này là Đảng phải tập hợp lực lượng để lãnh
đạo quần chúng đấu tranh chống phát xít, chống nguy cơ chiến tranh, bảo vệ
hoà bình và đòi những quyền tự do, dân sinh, dân chủ.
+ Tháng 7/1936, Đảng họp hội nghị và đề ra chủ trương thành lập Mặt trận
nhân dân phản đế Đông Dương. Đến tháng 3/ 1938 đổi thành Mặt trận dân chủ
Đông Dương. Mặt trận được thành lập trong giai đoạn này vẫn lấy liên minh
công nông làm nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông
Dương. Bên cạnh đó, mặt trận còn tập hợp những cá nhân, những tổ chức yêu
nước khác ngoài công nông, đấu tranh vì mục đích hoà bình và dân chủ.
+ Tác dụng : trong suốt giai đoạn tồn tại từ 1936 - 1939, Mặt trận đã lãnh đạo
quần chúng đấu tranh đòi những quyền tự do, dân sinh, dân chủ và tuyên truyền
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, đường lối của Đảng. Tập dượt cho quần chúng đấu
tranh bằng phương pháp mới là công khai, hợp pháp, đấu tranh chính trị.
3.Giai đoạn 1939 - 1945:
- Bối cảnh: Điều kiện thế giới và Việt Nam đã thay đổi. Tháng 9/1939, chiến
tranh thế giới thứ II bùng nổ, chỉ trong một thời gian ngắn nước Pháp bị chiếm
đóng, bọn Pháp ở Đông Dương đã phát xít hoá bộ máy chính quyền, tăng cường
bóc lột, đàn áp nhân dân Đông Dương. Những điều kiện đấu tranh công khai
không còn nữa. Đảng nhanh chóng rút vào hoạt động bí mật.
- Mặt trận ra đời: Tháng 11/1939 Đảng họp hội nghị Trung ương lần thứ 6 đề ra
chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương nhằm
chĩa mũi nhọn vào kẻ thù chủ yếu là bọn đế quốc, phát xít, giương cao ngọn cờ
giải phóng dân tộc. Ở thời kỳ này, mặt trận được tập hợp với quy mô rộng lớn
hơn và phương pháp đấu tranh cũng đã thay đổi - chuyển sang đấu tranh bí mật,
bất hợp pháp và khởi nghĩa vũ trang.Tháng 5/1941, khi tình hình thế giới và
trong nước có nhiều biến chuyển, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời trực tiếp chỉ đạo
cách mạng Việt Nam. Người đã cùng ban chấp hành Trung ương triệu tập hội
nghị Trung ương lần 8 và nêu chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, Mặt
trận bao gồm các tổ chức quần chúng yêu nước, các cá nhân để cùng chung mục
đích là giải phóng dân tộc “Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho
Trường THPT D

17


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
dân Việt Nam được sung sướng, tự do”. Tác dụng: Mặt trận đã thức tỉnh tinh
thần dân tộc, tích cực chuẩn bị về mọi mặt cho cuộc tổng khởi nghĩa giành
chính quyền. Ở giai đoạn tiền khởi nghĩa, mặt trận Việt Minh có vai trò như một
chính quyền cách mạng.
4. Kết luận:
- Đánh giá vai trò của Mặt trận.
- Vai trò của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong
lãnh đạo cách mạng.
- Vai trò của quần chúng trong đấu tranh cách mạng.
5.Phần liên hệ:
- Mặt trận từ năm 1945 đến nay
- Tháng 5/1946: Hội liên hiệp Quốc dân Việt Nam
- Ngày 3/3/1951: Hội liên hiệp Quốc dân Việt Nam thống nhất với Mặt trận Việt
Minh thành Mặt trận Liên Việt
- Tháng 9/1955: Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất toàn quốc họp tại Hà Nội
quyết đinh thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Ngày 22/12/1960: Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời
- Ngày 31/1/1977: Tại thành phố Hồ Chí Minh Đại hội đại biểu các mặt trận
Dân tộc ở hai miền Bắc - Nam họp thống nhất lại gọi chung là: Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam
Câu 4: Sự khác biệt trong chủ trương chuyển hướng đấu tranh của Đảng
trong thời kì 39-45 có điểm gì khác so với thời kì 1936-1939?
1. Chủ trương của Đảng trong thời kì 39-45
- Căn cứ vào những biến đổi mới của tình hình thế giới và trong nước:
+ Thế giới: Cuộc chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ và lan rộng khắp thế giới.
Phe phát xít Đức, Nhật đã nhanh chóng bành trường được vùng lãnh thổ rộng
lớn....
+ Trong nước: thực dân Pháp thi hành những chính sách phản động...; 9/40,
Nhật nhảy vào Đông Dương, Pháp nhanh chóng đầu hàng và cấu kết với Nhật
bóc lột nhân dân ta làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ, mâu
thuẩn giữa nhân dân ta với Pháp –Nhật ngày càng sâu sắc...
- Trước tình hình đó, Đảng đã chủ trương chuyển hướng đấu tranh qua các kì
Hội nghị: HN 11/39, HN 11/40 và hoàn chỉnh vào HN lần 8 tháng 5/41.
Vấn đề quan trọng nhất được đề cập đến tại các HN là đưa vấn đề dân tộc lên
hàng đầu, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập trung đánh đổ đế quốc,
tay sai để giành độc lập dân tộc.

Trường THPT D

18


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
+ Khẩu hiệu đấu tranh là tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, đề ra khẩu
hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc, việt gian chia cho dân cày nghèo và chỉ rõ,
đánh đổ đế quốc phát xít Pháp- Nhật thành lập chính phủ nhân dân của nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa.
+ Các HN đều tập trung và chú ý đến việc tập hợp lực lượng trong mặt trận dân
tộc thống nhất để đoàn kết và phát huy sức mạnh của cả dân tộc nhằm thực hiện
nhiệm vụ số 1 là giải phóng dân tộc- thể hiện rõ nhất thông qua việc thành lập
mặt trận Việt Minh...
2. Chủ trương của Đảng trong thời kì 36-39
- Căn cứ vào sự thay đổi của tình hình thế giới khi chủ nghĩa phát xít lên nắm
quyền và nguy cơ chiến tranh, căn cứ vào sự chỉ đạo của quốc tế cộng sản qua
nghị quyết Đại hội VII, Đảng đã chuyển hướng đấu tranh:
- Xác định kẻ thù trước mắt của nhân dân Đông Dương không phải là thực dân
Pháp nói chung mà là bọn phản động Pháp ở thuộc địa cùng bọn tay sai không
chịu thi hành chính sách của mặt trận nhân dân Pháp
- Nhiệm vụ chiến lược vẫn là chống đế quốc và phong kiến. Nhiệm vụ trực tiếp
trước mắt là đấu tranh chống chế độ phản độngthuộc địa, chống phát xít, chống
nguy cơ chiến tranh, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo hòa bình.
- Đảng chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất nhân dân phản đế
Đông Dương, năm 1938 đổi thành mặt trận dân chủ Đông Dương nhằm tập hợp
các giai cấp, các tầng lớp, đảng phái, cá nhân kể cả những người Pháp có xu
hướng tiến bộ ở Đông Dương...
- Phương pháp đấu tranh: kết hợp các hnhf thức đấu tranh công khai, bí mật và
hợp pháp, bất hợp pháp...
Câu 5: Tại sao TW Đảng chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách
mạng trong thời kỳ 1939-1945? Chủ trương này được thể hiện như thế
nào?
* Do hoàn cảnh lịch sử thay đổi nên TW Đảng chủ trương chuyển
hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng trong thời kỳ 1939-1945 (trình bày
hoàn cảnh lịch sử của HN BCH TW tháng 11/1939 để chứng minh).
* Chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng trong thời
kỳ 1939-1945 của BCH TW Đảng được thể hiện qua các hội nghị BCH TW
tháng 11/1939, tháng 11/1940 và tháng 5/1941. (lần lượt trình bày nội dung
và ý nghĩa của các HN này để chứng minh).

Trường THPT D

19


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
Câu 6: Tại sao trong ba năm liên tiếp 1939, 1940, 1941, BCH TW Đảng
đều triệu tập hội nghị? Vấn đề quan trọng nhất được các HN BCH TW
đề cập tới là gì?
* Do hoàn cảnh lịch sử thay đổi nên trong ba năm liên tiếp 1939,
1940, 1941, BCH TW Đảng đều triệu tập hội nghị nhằm chuyển hướng chỉ
đạo chiến lược cách mạng trong thời kỳ mới (trình bày hoàn cảnh lịch sử của
HN BCH TW tháng 11/1939 để chứng minh).
* Vấn đề quan trọng nhất được các HN BCH TW đề cập tới là vấn đề
giải phóng dân tộc được coi là nhiệm vụ hàng đầu, bức thiết và cấp bách.
(lần lượt trình bày nhiệm vụ trước mắt của các HN này để chứng minh).
Câu 7: Vai trò của lãnh tụ NAQ trong Hội nghị BCH TW lần thứ VIII
của Đảng (5/1941) được thể hiện như thế nào?
TL
Một là, Người đóng vai trò triệu tập Hội nghị (trình bày hoàn cảnh
lịch sử của HN TW VIII – tháng 5/1941 để chứng minh).
Hai là, Người đóng vai trò chủ trì HN, trực tiếp quyết định đến việc
hoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược CM của Hội nghị.
(trình bày nhận xét chung, y nghĩa của Hội nghị để chứng minh).
Câu 8: Tại sao nói thời kỳ 1939-1945 là thời kỳ chuẩn bị trực tiếp và
toàn diện cho CM tháng Tám 1945? Trong các sự chuẩn bị đó, đâu là
nội dung chuẩn bị quan trọng nhất? Điều này được thể hiện như thế
nào?
TL
* Thời kỳ 1939 – 1945 là thời kỳ chuẩn bị trực tiếp và toàn diện cho
CM tháng 8/1945 vì sự chuẩn bị trực tiếp và toàn diện này được thể hiện:

Trường THPT D

20


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
1 là chủ chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng: bắt đầu đề ra
từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 11/1939 và được hoàn chỉnh trong
hội nghị BCH TW lần thứ VIII (5/1941).
2 là sự chuẩn bị về lực lượng cách mạng: xây dựng lực lượng chính trị
(sự ra đời và phát triển của mặt trận Việt Minh) và xây dựng lực lượng vũ
trang (ra đời và phát triển của các trung đội Cứu quốc quân công với sự ra
đời và phát triển của đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, sau đó hợp
nhất thành Việt Nam giải phóng quân vào 15/5/1945).
3 là, chuẩn bị về căn cứ địa cách mạng mà tiêu biểu là sự ra đời và
hoạt động của Khu Giải phóng Việt Bắc.
4 là, chuẩn bị cho quần chúng tập dượt đấu tranh trong thời kỳ tiền
khởi nghĩa thông qua cao trào kháng Nhật cứu nước. Với hai phong trào:
phong trào phá kho thóc giải quyết nạn đói và phong trào khởi nghĩa từng
phần, giành chính quyền từng bộ phận ở những địa phương có điều kiện.
Qua Cao trào kháng Nhật cứu nước, lực lượng chính trị và lực lượng vũ
trang không ngừng củng cố, phát triển; ngược lại, kẻ thù tiếp tục bị đẩy tới
tình trạng khủng hoảng, hoang mang. Mặt khác, qua các cuộc Cao trào đã
tạo điều kiện khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng bộ phận, căn cứ
địa CM không chỉ được củng cố mà còn được mở rộng và phát triển. Có thể
nói, sự ra đời của Khu giải phóng Việt Bắc vào 4/6/1945 là hệ quả quan
trọng của khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền từng bộ phận thắng lợi ở
vùng Việt Bắc. Cao trào đã tập dượt quần chúng nhân dân sẵn sang vùng dậy
đấu tranh giành chính quyền khi thời cơ CM chín muồi. Vì vậy, Cao trào có
ý nghĩa là thời kỳ “tiền khởi nghĩa”.
5 là, chuẩn bị về bộ máy lãnh đạo tổng khởi nghĩa được thể hiện
thông qua Hội nghị Toàn quốc của Đảng (14 – 15/8/1945) và đặc biệt là

Trường THPT D

21


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
thông qua sự kiện Quốc dân Đại hội tại Tân Trào – Tuyên Quang (16 – 17).
Đây là sự chuẩn bị cuối cùng cho Tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi.
* Trong các sự chuẩn bị nêu trên, chủ chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược cách mạng: bắt đầu đề ra từ Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
11/1939 và được hoàn chỉnh trong hội nghị BCH TW lần thứ VIII (5/1941)
là nội dung chuẩn bị quan trọng nhất. (lần lượt trình bày nội dung và nhận
xét về hai HN này).
Câu 9: Trình bày sự ra đời, hoạt động và vai trò của các hình thức mặt
trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn
1930-1945.
TL
CN Mac-Lenin, Đảng ta luon chú trọng đến vấn đề mặt trận dân tộc
thống nhất nhằm tập hợp, đoàn kết lực lượng CM. Vì vậy, trong từng giai
đoạn lịch sử, Đảng luôn lựa chọn hình thức mặt trận dân tộc thống nhất cho
phù hợp.
Trong phong trào CM 1930-1931, Đảng chủ trương lập mặt trận dân
tộc thống nhất vào ngày 18/11/1930. Tuy nhiên, do chính sách đàn áp, khủng
bố gắt gao của kẻ thù, trên thực tế, mặt trận chưa thành lập. Hiện nay, ngày
18/11 hàng năm được lấy làm ngày đoàn kết toàn dân.
Trong ptr CM 1936-1939, Đảng đã thành lập và lãnh đạo thành công
Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đ D, đến tháng 3/1938, đổi tên là
M.Tr Dân chủ Đ D.
- Hoàn cảnh ra đời của MTr (trình bày hoàn cảnh lịch sử của ptr CM
1936-1939 và trình bày chủ trương tập hợp lực lượng cm của HN BCH TW
tháng 7/1936 của Đảng để chững minh cho ý này).
- Hoạt động: Đảng, MTr đã tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân
kết hợp đấu tranh hợp pháp với bất hợp pháp, công khai với bí mật trên
Trường THPT D

22


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
nhiều lĩnh vực từ các ptr đấu tranh đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo, hoà
bình đến đấu tranh trên lĩnh vực báo chí, đấu tranh trên nghị trường.
- Vai trò: Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mtr thống nhất nhân dân phản
đế Đ D, đến tháng 3/1938, đổi tên là M.Tr Dân chủ Đ D có vai trò to lớn
trong việc tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia cm làm cho
phong trào 1936-1939 trở thành ptr dân chủ chưa từng có trong lịch sử đấu
tranh của một xứ thuộc địa. Đặc biệt, qua đó, đội quân chính trị hùng hậu
hàng triệu người được Mtr tập hợp, rèn luyện. Ptr cm 1936-1939 xứng đáng
là cuộc tập dượt lần thứ hai cho cm tháng Tám bùng nổ và thắng lợi.
Thời kỳ 1939-1945, cùng với chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến
lược cm của Đảng trong thời kỳ mới, hình thức mặt trận dân tộc thống nhất
thay đổi cho phù hợp. Thời kỳ này chứng kiến sự ra đời và hoạt động của
Mtr thống nhất dân tộc phản đế Đ D (từ tháng 11/1939) và đặc biệt là sự ra
đời, hoạt động của Mtr Việt Minh. (trình bày cụ thể sự ra đời, hoạt động,
phát triển và vai trò của Mtr Việt Minh như đã học).
Tóm lại, trong từng giai đoạn, để phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, Đảng
đã lựa chọn, tổ chức thành công các hình thức Mtr dân tộc thống nhất cho
phù hợp nhằm tập hợp tối đa lực lượng cm. Qua đó khẳng định năng lực
lãnh đạo cm của Đảng.
Câu 10: Trình bày và nhận xét về kẻ thù, nhiệm vụ trước mắt, khẩu
hiệu, lực lượng và phương pháp cách mạng được Đảng xác định qua các
thời kỳ lãnh đạo cách mạng Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945.
TL
Qua các thời kỳ lãnh đạo CMNV giai đoạn 1930-1945, Đảng luôn căn
cứ hoàn cảnh lịch sử cụ thể để xác định đúng đắn kẻ thù, nhiệm vụ trước
mắt, khẩu hiệu, lực lượng và phương pháp cách mạng.

Trường THPT D

23


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
Trong thời kỳ 1930-1931, sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện qua
Cương lĩnh chính trị của đồng chí NAQ và đặc biệt là qua Luận Cương
chính trị của đ/c Trần Phú.
- Khái quát hoàn cảnh lịch sử: Do phát triển ồ ạt không có kế hoạch,
từ 1929-1933, thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng thừa chưa từng có trong
lịch sử, trong đó có nước Pháp. Việt Nam, Đ D đang là thuộc địa của Pháp
nên phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng trên tất cả
các phương diện từ kinh tế đến chính trị, xã hội. Dưới tác động của cuộc
khủng hoảng làm cho mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp dâng lên
đỉnh điểm. Đúng thời điểm đó, ĐCS VN ra đời (đầu 1930), đến tháng
10/1930, đổi tên là ĐCS Đ D đã kịp thời phát động phong trào CM rộng lớn
trên cả nước – ptr cm 1930-1931. Trong bối cảnh đó, Đảng đã xác định cụ
thể:
Kẻ thù CM là thực dân Pháp xâm lược và tay sai
Nhiệm vụ, khẩu hiệu CM: Gồm hai nhiệm vụ của CM tư sản dân
quyền là đánh đổ thực dân xâm lược làm cho nước Việt Nam được độc lập
và đánh đổ phong kiến thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng. Do vậy,
phong trào nêu cao hai khẩu hiệu: “độc lập dân tộc dân tộc” và “người cày
có ruộng”.
Lực lượng cm: Cương lính chính trị của đ/c NAQ chủ trương tập hợp
đông đảo lực lượng CM, bên cạnh động lực CM là công nhân và nông dân,
lực lượng CM còn bao gồm trí thức tiểu tư sản, tư sản dân tộc, thạm chí gồm
bộ phận trung, tiểu địa chủ, phú nông, nếu chưa lộ rõ mặt phản CM thì ra
sức lôi kéo, tập hợp họ đứng về phía CM. Đây là một trong những điểm
đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh. Đến Luận cương chính trị của đ/c Trần
Phú chủ trương lực lượng CM chỉ bao gồm công nhân và nông. Đây cũng là
hạn chế của Luận cương.
Trường THPT D

24


Hội thảo CĐ bồi dưỡng ôn thi THPT quốc gia
Phương pháp cm: Chủ trương sử dụng bạo lực cách mạng.
Nhận xét: Trong bối cảnh mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp
dâng lên đỉnh điểm bởi hậu quả của cuộc Khủng hoảng kinh tế 1929-1933,
lại đúng thời điểm Đảng ra đời nên đã trực tiếp làm bùng lên phong trào
cách mạng rộng lớn trong cả nước - Phong trào cách mạng 1930-1931.
Thời kỳ cách mạng 1936 - 1939 chịu sự chỉ đạo trực tiếp của HN
BCH TW tháng 7/1936.
- Khái quát hoàn cảnh lịch sử của ptr cm 1936 – 1939 như đã học.
Trình bày cụ thể nội dung của HN BCH TW tháng 7/1936.
Nhận xét: Do những điều kiện thuận lợi của hoàn cảnh lịch sử lúc đó,
HN TW 7/1936 xác định kẻ thù, nhiệm vụ trước mắt, lực lượng tham gia và
phương pháp CM như trên là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo phù hợp với tình
hình. Do đó đã trực tiếp làm bùng lên phong trào dân chủ 1936-1939 với lực
lượng tham gia, hình thức, phương pháp cách mạng và quy mô chưa từng có
trong lịch sử đấu tranh của một xứ thuộc địa.
Thời kỳ 1939-1945 là thời kỳ chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cm
được đề ra từ HN BCH TW tháng 11/1939 và được hoàn chỉnh trong HN
BCH TW lần thứ VIII tháng 5/1941. - Khái quát hoàn cảnh lịch sử của HN
BCH TW tháng 11/1939 như đã học.
- Trình bày nội dung của HN BCH TW lần thứ VIII tháng 5/1941 và
trình bày nhận xét về HN.
Nhận xét: Trong bối cảnh cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng
nổ, lan rộng và bối cảnh bọn thực dân, phát xít xiết chặt ách cai trị thời chiến
làm cho mâu thuẫn dân tộc ở ĐD nói chung, Việt Nam nói riêng dâng lên
đỉnh điểm, Đảng chủ trương đề xuất và hoàn chỉnh chủ trương chuyển
hướng chỉ đạo chiến lược như trên là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, phù hợp

Trường THPT D

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×