Tải bản đầy đủ

Code java Kiến trúc hướng dịch vụ và Ứng Dụng - SOA


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC HƯỚNG DỊCH VỤ (SERVICEORIENTED-ARCHITECTURE)......................................................................2
1.1. Kiến trúc phần mềm hiện nay.....................................................................2
1.1.1. Một số kiến trúc phần mềm phân tán hiện nay........................................2
1.1.2. Vấn đề phát sinh, nguyên nhân và giải pháp...........................................4
1.2. Kiến trúc hướng dịch vụ -SOA...................................................................5
1.2.1. Khái niệm.................................................................................................5
1.2.2. Nguyên lý SOA........................................................................................7
1.2.3. Tính chất của SOA...................................................................................8
1.2.4. Lợi ích của SOA......................................................................................10
1.2.5. Ưu nhược điểm của SOA........................................................................11
CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM DỰA VÀO SOA………..............12
2.1. Mô hình hoạt động và kiến trúc chi tiết của hệ thống................................13
2.1.1. Mô hình tổng thể của SOA......................................................................12
2.1.2. Mô hình giao tiếp bằng thông điệp (message) trong SOA......................13
2.1.3. Kiến trúc phân tầng chi tiết.....................................................................14
2.2. SOA và ứng dụng Web Service.................................................................15
2.2.1. Giới thiệu về Web service.......................................................................15
2.2.2. SOA và Web service trong vấn đề tíchhợp hệ thống..............................16

2.2.3. Cấu trúc và chi tiết các thành phần của Web service..............................18
2.3. Qui trình xây dựng hệ thống SOA..............................................................25
2.3.1. Thách thức khi xây dựng hệ thống..........................................................25
2.3.2. Vòng đời của hệ thống.............................................................................27


2.3.3. Các pha cơ bản xây dựng hệthống SOA.................................................28
2.3.4. Các chiến lượcxây dựng hệ thống...........................................................29
CHƯƠNG 3: Demo xay dung Webservice.......................................................34
3.1. Công cụ sử dụng và vấn đề tích hợp công nghệ........................................34
3.2. Xây dựng ứng dụng trả về thông tin đơn giản............................................36
LỜI KẾT............................................................................................................46
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................47

1


MỞ ĐẦU
Sự phát triển của Internet đã thúc đẩy nhu cầu cộng tác, làm việc qua mạng
và sử dụng các dịch vụ trực tuyến dần trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc
sống của chúng ta. Điều đó đòi hỏi các ứng dụng không chỉ là những hệ thống
hoạt động đơn lẻ trên một máy trạm (máy client) và chịu phụ thuộc vào một nền
tảng cố định nào nữa, mà chúng phải là những hệ thống linh động giúp người
dùng làm việc “mọi lúc, mọi nơi”. Điều đó đã làm nhà phát triển phải đối mặt với
hàng loạt các vấn đề mới như làm sao tích hợp các thành phần phân tán lại với
nhau; hay tái sử dụng những thành phần có sẵn; vấn đề triển khai và bảo trì…
đang là một vấn đề làm điên đầu các nhà phát triển.
Tuy nhiên, một thực tế hiện nay là phần mềm đang ngày càng trở nên phức tạp
quá mức và dường như đang vượt khỏi khả năng kiểm soát của các mô hình phát
triển hiện có. Nguyên nhân khiến cho hệ thống có độ phức tạp tăng cao là do sự
xuất hiện của nhiều công nghệmới tạo nên môi trường không đồng nhất,trong khi
nhu cầu trao đổi, chia sẻ, tương tác giữa các hệ thốngngày càng tăng và không
thể đáp ứng được trong môi trường như vậy. Cùng với đó là vấn đề lập trình dư
thừa và không thể tái sử dụng gây tốn kém rất nhiều không những trong giai đoạn
phát triển hệ thống mà trong cả vận hành bảo trì phần mềm. Giải pháp cho các
vấn đề này là gì?
“SOA” hay “Kiến trúc Hướng dịch vụ” là mô hình phần mềm không phải là
mới, song đang rất phát triển hiện nay. Đây cũng được coi là giải pháp ưu việt
cho các vấn đề đã đề cập ở trên. Kiến trúc này được phát triển từ đầu những năm
2000 đi đầu là IBM. Hiện nay SOA đang được ứng dụng rộng rãi với sự đầu tư


nghiên cứu của rấtcác tập đoàn lớn như IBM, Oracle, SAP, Microsoft…
Vậy thật sự SOA là gì ? Nó có thật sự hoàn hảo? Làm thế nào để triển khai
SOA? Các vấn đề của hệ thống SOA là gì ? Đó cũng chính là những câu hỏi mà
đề tài sẽ nghiên cứu và trả lời.

1


CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ KIẾN TRÚC HƯỚNG DỊCH VỤ
(SERVICE-ORIENTED-ARCHITECTURE)
1.1. Kiến trúc phần mềm hiện nay
1.1.1. Một số kiến trúc phần mềm phân tánhiện nay
Một số mô hình kiến trúc phân tán đang sử dụng phổ biến nhất hiện nay là:
CORBA, RMI, DCOM, và EJB. Các kiến trúc này là sự mở rộng của các hệ thống
hướng đối tượng bằng cách cho phép phân tán các đối tượng trên mạng. Đối tượng
có thể có không gian địa chỉ bên ngoài ứng dụng, hoặc ở một máy khác so với
máy chứa ứng dụng trong khi vẫn được tham chiếu sử dụng như một phần của
ứng dụng.
RMI (Remote Method Invocation):
RMI là một phần của bộ J2SDK (Java 2 Platform Standard Development
Kit) của Sun và là các hàm thư viện hỗ trợ cho các lời triệu gọi phương thức từ
xa và trả về giá trị cho các ứng dụng tính toán phân tán. RMI cho phép chạy các
đối tượng trên môi trường JVM (Java Virtual Machine) triệu gọi với đối trượng
chạy trên nền JVM khác thông qua việc sử dụng giao diện chung của các phương
thức trên client và server. RMI cung cấp cho việc trao đổi truyền thông giữa các
chương trình được viết bằng ngôn ngữ lập trình Java.

Hình 1.1: Phương thức hoạt động của RMI
Ưu điểm của kiến trúc đối tượng phân tán RMI là người lập trình chỉ cần lập
trình các lời gọi phương thức vì đối tượng được gọi đã hiện diện trong máy ảo
2


của nó. Nhưng nhược điểm là RMI chỉ thích hợp cho các ứng dụng viết trên ngôn
ngữ Java.
CORBA (Common Object Request Broker Architecture)
Là một chuẩn công nghiệp được đưa ra bởi OMG (Object Management
Group), cho phép gọi các phương thức từ xa và nhận kết quả trả về, nhưng không
giống như RMI, nó có thể được sử dụng khi bên phía gọi và bên phía phương
thức được gọi có thể sử dụng ngôn ngữ lập trình khác nhau, bao gồm cả trường
hợp cả 2 bên không sửdụng ngôn ngữ Java.
CORBA được định nghĩa từ 2 thứ:
• Thực thể mà cho phép liên lạc giữa 2 tiến trình được gọi là 1 mô giới yêu
cầu đối tượng (Object Request Broker -ORB).
• Một giao thức được ORB dùng để liên lạc giữa nhiều tiến trình,được gọi
là IIOP (Internet Interoperability Protocol).

Hình 1.2: Mô hình mô tả hoạt động của CORBA.
Ưu điểm của CORBA: các lập trình viên có thể tùy chọn ngôn ngữ lập trình, nền
tảng phần cứng, giao thức mạng và công nghệ để phát triển mà vẫn thỏa mãn các
tính chất của CORBA. Tuy nhiên CORBA có nhược điểm là nó là ngôn ngữ lập
trình cấp thấp, rất phức tạp, khó học và cần một đội ngũ phát triển có kinh nghiệm.
Ngoài ra các đối tượng CORBA khó tái sử dụng. Các ứng dụng dựa trên CORBA
hiện nay đang dần đi vào thoái trào.
DCOM (Distributed Component Object Model)
DCOM là công nghệ độc quyền của Microsoft, nó định nghĩa các thành
phần của phần mềm được phân tán qua các mạng máy tính để truyền thông với
các thành phần khác. DCOM hỗ trợ kết nối giữa các đối tượng và kết nối này có
thểđược thay đổi lúc đang chạy. Các đối tượng DCOM được triển khai bên trong
các gói nhị phân chứa mã lệnh quản lý vòng đời của đối tượng và việc đăng ký
đối tượng.
3


Hình 1.3: Mô hình tương tác của các đối tượng DCOM.
DCOM mang đến nhiều ưu điểm như: dễ triển khai, chi phí thấp, tính ổn định,
không phụ thuộc vào địa lý, quản lý kết nối hiệu quả và dễ mở rộng. Tuy nhiên,
các công nghệ của Microsoft có một nhược điểm lớn là bị giới hạn trên hệ nền
Windows do chiến lược độc quyền của Microsoft.
1.1.2. Vấn đề phát sinh, nguyên nhân và giải pháp
Hiện nay áp lực đặt lên các doanh nghiệp ngày càng lớn như: giảm chi phí
đầu tư cơ sở hạ tầng, khai thác có hiệu quả các công nghệ có sẵn, phục vụ yêu
cầu khách hàng tốt hơn, đáp ứng tốt các thay đổi thường xuyên về nghiệp vụ, khả
năng tích hợp cao với các hệ thống bên ngoài…
Xây dựng được hệ thống đáp ứng được tất cả các nhu cầu đó quả là vấn đề
vô cùng khó khăn. Bởi vậy một hướng đi mới cho các doanh nghiệp chính là tìm
kiếm các giải pháp tích hợp các ứng dụng có sẵn hoặc kết hợp với ứng dụng của
các doanh nghiệp khác sao cho thỏa mãn nhu cầu.
Trong quá trình kết hợp chắc chắn sẽ gặp những khó khăn:
- Không đủ khảnăng quản lý quy trình nghiệp vụ
- Tốn chi phí tích hợp
- Quá nhiều định dạng dữ liệu
- Nhu cầu và yêu cầu của khách hàng thường xuyên thay đổi nhanh chóng
nhằm tạo ra tính cạnh tranh liên tục.
-Vấn đề an ninh bảo mật.
Đa phần những khó khăn trên là bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:
- Phức tạp: Ngày nay mỗi doanh nghiệp công nghệ thông tin có nhiều
những hệ thống trên các nền tảng khác nhau, và hoạt động nghiệp vụ khác nhau.
Các công ty phát triển phần mềm phải thuê các nhóm nhân viên giàu kinh nghiệm,
có khảnăng trên các lĩnh vực khác nhau để phát triển, triển khai và quản lý các
ứng dụng và hệ thống mà bản thân chúng không đồng nhất. Thêm đó là việc nâng
4


cấp khó khăn, tích hợp cùng với nhau, và bảo mật ngày càng cao đã làm gia tăng
tính phức tạp cho hệ thống.
- Không linh hoạt: Cùng với sự phức tạp trong chiến lược phát triển, cũng
như cơ sở hạ tầng của các công ty. Hầu như công ty nào cũng có những ứng dụng
có sẵn nhưng khó nâng cấp, khó kết hợp hoạt động, mà không thể thay thế được.
Vấn đề tích hợp trở nên khó khăn hơn và tốn kém hơn.
- Không bền vững: Tiếp đó là sự không bên vững của hệ thống. Các phương
pháp tiếp cận truyền thống trong việc xây dựng các hệ thống phần mềm thương
dẫn đến rất nhiều những giải pháp khác nhau được lắp ghép, tích hợp. Kết quả
mỗi khi thay đổi về quy trình nghiệp vụ hay yêu cầu thì các công ty phải chấp
nhận phát triển những dự án tốn kém hoặc thay thế các công nghệ không phù hợp.
Chính vì vậy mà các doanh nghiệp cần phải có một hướng tiếp cận mới để giải
quyết vấn đề môi trường không đồng nhất và tốc độ chóng mặt của sự thay đổi
công nghệ trong khi nguồn ngân sách bị hạn hẹp. May mắn thay, vẫn còn có một
giải pháp để giải quyết khá toàn diện về mọi mặt khó khăn này và nó đã được
triển triển khai trong thực tế. “Kiến trúc hướng dịch vụ” (Service Oriented
Architecture - SOA) là cách tiếp cận để xây dựng hệ thống công nghệ thông tin
cho phép các doanh nghiệp tận dụng những gì đang có và dễ dàng thay đổi theo
yêu cầu đểhỗ trợ cho doanh nghiệp.

=> SOA được xem như là bước phát triển tiếp theo của nghành công
nghệ phần mềm.
1.2. Kiến trúc hướng dịch vụ - SOA
1.2.1. Khái niệm
❖ SOA (Service Oriented Architecture) – Kiến trúc Định hướng Dịch vụ là một
cách tiếp cận hay một phương pháp luận để thiết kế và tích hợp các thành phần
khác nhau, bao gồm các phần mềm và các chức năng riêng lẻ lại thành một hệ
thống hoàn chỉnh. Kiến trúc SOA rất giống với cấu trúc của các phần mềm hướng
đối tượng gồm nhiều module. Tuy nhiên khái niệm module trong SOA không đơn
thuần là một gói phần mềm, hay một bộ thư viện nào đó. Thay vào đó, mỗi module
trong một ứng dụng SOA là một dịch vụ được cung cấp rải rác ở nhiều nơi khác
nhau và có thể truy cập thông qua môi trường mạng. Nói một cách ngắn gọn, một
hệ thống SOA là một tập hợp nhiều dịch vụ được cung cấp trên mạng, được tích
hợp lại với nhau để cùng cộng tác thực hiện các tác vụ nào đó theo yêu cầu của
khác hàng.
Một trong những cách hiểu sai lầm nhất về SOA là coi SOA là một công nghệ.
Mặc dù SOA hoạt động được là nhờ công nghệ, nhưng khách hàng cần phải
5


chuyển đổi từ chỗ chỉ việc tích hợp công nghệ SOA sang việc phải điều chỉnh các
phương pháp thực hiện dự án, chính sách bảo trì và thay đổi để đạt được các lợi
ích về khả năng trưởng thành và đáp ứng.

Hình 1.4 Mô hình lập trình SOA để triển khai thực hiện các dịch vụ Web
❖ Dịch vụ (service) là yếu tố then chốt trong SOA. Có thể hiểu dịch vụ như là
một loại module thực hiện mộtquytrình nghiệp vụ nào đó. Một trong những mục
đích của SOA là giúp các ứng dụng có thể “giao tiếp” được với nhau mà không
cần biết các chi tiết kỹ thuật bên trong. Để thực hiện điều đó SOA định ra một
chuẩn giao tiếp (dùng để gọi hàm dịch vụ) được định nghĩa rõ ràng và độc lập với
nền tảng hệ thống, và có thể tái sử dụng. Như vậy, SOA là cấp độ cao hơn của
phát triển ứng dụng, chú trọng đến quy trình nghiệp vụ và dùng giao tiếp chuẩn
để giúp che đi sự phức tạp kỹthuật bên dưới. Sự trừu tượng là cốt lõi của khái
niệm dịch vụ, nó giúp cho các doanh nghiệp có thể tích hợp các thành phần hiện
có vào các ứng dụng mới và các thành phần nàycó thểđược chia sẻ hoặc tái sử
dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau của công ty đó mà không cần phải chỉnh sửa
mã nguồn hay phảitái cấu trúc lại hệ thống.
Tóm lại, một dịch vụ có các đặc điểm sau:
▪ Có ranh giới rõ ràng (Boundaries Are Explicit): Mỗi service được xây dựng
dựa trên các giao chuẩn hóa đã được sử dụng rộng rãi. Chi tiết hiện thực của mỗi
service sẽ không được thể hiện ra bên ngoài. Mỗi service chỉ công bố một số các

6


giao của nó cho người sử dụng có thể dùng để gởi các yêu cầu và nhận kết quả
trả về.
▪ Tính tự trị (Autonomous): Về mặt lý thuyết, mỗi service có tính độc lập
cao, có thể được xây dựng và đưa vào sử dụng mà không phụ thuộc vào các
service khác.
▪ Share the Schema and Contract, Not the Class: Về mặt trao đổi dữ liệu, các
service không truyền các class và type. Thay vào đó, các class và type sẽ được
đặc tả hình thức (data được đặc tả trong schema, behavior được đặc tả thành các
contract).
▪ Service Compatibility Is Based on Policy: Sự tương thích giữa các service
được căn cứ vào các policy(chính sách). Tương thích về mặt cấu trúc dựa trên các
đặc tả hình thức bao gồm contract (dựa trên Web Service Description Language
(WSDL) hoặc Business Process Execution Language for Web Services
(BPEL4WS)) và schema (XSD). Sự tương thích dựa trên policy cung cấp khả
năng phân tích cũng như đảm bảo sự tương thích giữa các service.
Có nhiều cách khác nhau để kết nối các dịch vụ, chẳng hạn dùng các giao
thức mạng có sẵn, hoặc tạo một giao thức riêng. Nhưng từ năm 2001, các dịch vụ
web (Web service) được xây dựng dựa trên nền tảng web toàn cầu, bất cứ nơi nào
cũng có, đã trở thành một phương pháp phổ biến cho việc kết nối các thành phần
của hệ thống SOA với nhau. Thoạt nhìn SOA và Web Service trông có vẻ giống
nhau nhưng chúng không phải là một. Chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về các Web
Service trong các phần tiếp theo.

1.2.2. Nguyên lý SOA
SOA tìm cách giải quyết một số vấn đề theo cách nhìn lấy ứng dụng làm
trung tâm.Có thể tóm gọn những phát biểu đó theo các nguyên lý như sau:
- Ứng dụng phải mở ra khả năng cho phép các ứng dụng mới hoặc ứng dụng
đang tồn tại có thể sử dụng được. Nó cũng phải có khả năng kết nối tới các dịch
vụ được đưa ra bởi các ứng dụng khác để tạo thành các dịch vụ cao cấp hơn hay
còn gọi là ứng dụngtổ hợp.
7


- Sự khác biệt về công nghệ không thành vấn đề và khả năng tương tác trở
thành mục tiêu then chốt.
- Các chuẩn mở phải được thông qua để cho phép tích hợp giữa các doanh
nghiệp. Phối hợp tiến trình nghiệp vụ giữa nhiều nhà cung cấp, nhiều đối tác thậm
chí có thể với cả khách hàng.
- Phải chú ý tới việc quản lý và và đảm bảo khả năng có thể quản trị của hệ
thống để đảm bảo tính linh hoạt do ba nguyên tắc đầu tiên không bị xáo trộn và
xung đột với nhau.
Nói cách khác, SOA nhấn mạnh việc hạ thấp các rào cản truyền thống tới khả
năng tái sử dụng của ứng dụng. Tôn trọng nguyên tắc thiết kế này của SOA sẽ
giải quyết được bài toán lớn vềvấn đề tích hợp cũng như bảo trì hệ thống phần
mềm đang là thách thức đối với các nhà phát triển công nghệ thông tin trong giai
đoạn hiện nay.
Dựa trên nguyên lý, hệ thống SOA có những tính chất cơ bản. Để có thể xem
xét hoạt động và xây dựng được hệ thống thì việc hiểu rõ tính chất của hệ thống
đóng vai trò rất quan trọng.

1.2.3.Tính chất của SOA
1.2.3.1. Kết nối lỏng lẻo
Vấn đề kết nối nói tới một số ràng buộc giữa các module lại với nhau. Có 2
loại kết nốilà lỏng lẻo và chặt chẽ. Các module có tính chất kết nối lỏng lẻo có
một số ràng buộc được mô tả rõ ràng trong khi các module có tính kết nối chặt
lại có nhiều ràng buộc không thể biết trước. Hầu như mọi kiến trúc phần mềm
đều hướng đến tính kết nối lỏng lẻo giữa các module. Mức độ kết nối của hệ thống
ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chỉnh sửa hệ thống. Kết nối càng chặt bao nhiêu
thì có nhiều thay đổi chỉnh sửa khi có sự thay đổi nào đó xảy ra. Mức độ kết nối
tăng dần khi bên sử dụng dịch vụ cần biết nhiều thông tin ngầm định của bên
cung cấp dịch vụ để sử dụng dịch vụ được cung cấp. Nghĩa là nếu bên sử dụng
dịch vụ biết vị trí và chi tiết định dạng dữ liệu của bên cung cấp dịch vụ thì quan
hệ sẽ càng trở nên chặt chẽ. Ngược lại, nếu bên sử dụng dịch vụ không cần biết
mọi thông tin chi tiết của dịch vụ trước khi triệu gọi nó thì quan hệ giữa 2 bên
càng có tính lỏng lẻo.
Kết nối lỏng lẻo làm cho sự phụ thuộc ở mức tối thiểu. Khi đó, những sự thay
đổi sẽ có ảnh hưởng ít nhất tới hệ thống và hệ thống vẫn có thể hoạt động khi có
thành phần nào đó bị hư hỏng. Tối thiểu hóa sự phụ thuộc giúp hệ thống linh hoạt,
và ít xảy ra sự cố. Tính kết nối lỏng lẻo giúp gỡ bỏ những ràng buộc điều khiển
giữa những hệ thống đầu cuối. Mỗi hệ thống có thể tự quản lý độc lập nhằm tăng
8


năng xuất, khả năng mở rộng và khả năng đáp ứng cao. Những thay đổi cài đặt
cúng được che dấu đi. Tính chất kết nối lỏng lẻo đem đến sự độc lập giữa bên
cung cấp và bên sử dụng nhưng nó đòi hỏi các giao diện phải theo chuần và cần
một thành phần trung gian quản lý, trung chuyển yêu cầu giữa các hệthống đầu
cuối.
1.2.3.2. Tái sử dụng dịch vụ
Bởi vì các dịch vụ được cung cấp trên môi trường mạng và được đăng ký ở
một nơi nhất định nên chúng dễ ràng được tìm thấy và sử dụng lại. Nếu một dịch
vụ không có khả năng tái sử dụng, nó cũng không cần đến giao diện mô tả. Các
dịch vụ có thể được tái sử dụng lại bằng cách kết hợp lại với nhau theo nhiều mục
đích khác nhau. Tái sử dụng lại các dịch vụ còn giúp loại bỏ những thành phần
trùng lặp và tăng tốc độ vững chắc trong cài đặt, nó còn giúp đơn giản hóa việc
quản trị. Thực ra tái sử dụng dịch vụ lại dễ dàng hơn tái sử dụng thành tố hay lớp.
Những dịch vụ được dùng chung bởi tất cả các ứng dụng của một hệ thống SOA
gọi là những dịch vụ chia sẻ cơ sở hạ tầng.
1.2.3.3. Quản lý chính sách
Tập các chính sách là tập tất cả các qui tắc chung mà mọi thành phần trong
hệ thống đều phải tuân thủ. Khi sử dụng các dịch vụ chia sẻ trên mạng, tùy theo
mỗi ứng dụng sẽ có một luật kết hợp riêng gọi là các chính sách. Các chính sách
cần được quản lý và áp dụng cho mỗi dịch vụ cả trong quá trình thiết kế và trong
thời gian triển khai.
Việc đó làm tăng khả năng tạo ra các dịch vụ có đặc tính tái sử dụng. Bởi vì
các chính sách được thiết kế tách biệt, và tùy vào mỗi ứng dụng nên giảm tối đa
các thay đổi phần mềm. Nếu không sử dụng các chính sách, thì các nhân viên
phát triển phần mềm, nhóm điều hành và nhóm hỗ trợ phải làm việc với nhau
trong suốt thời gian phát triển để cài đặt và kiểm tra những chính sách. Ngược lại,
nếu sử dụng các chính sách, những nhân viên phát triển phần mềm chỉ cần tập
trung vào quy trình nghiệp vụ trong khi nhóm điều hành và nhóm hỗ trợ tập trung
vào các luật kết hợp.
1.2.3.4. Tự động dò tìm và ràng buộc động
SOA hỗ trợ khái niệm khai thác dịch vụ (service discovery). Một người sử
dụng cần đến một dịch vụ nào đó có thể tìm kiếm dịch vụ dựa trên một số tiêu
chuẩn khi cần. Người sử dụng chỉ cần hỏi một registry về một dịch vụ nào thỏa
yêu cầu tìm kiếm. Ví dụ, một hệ thống chuyển khoản, khách hàng yêu cầu một
registry tìm tất cả các dịch vụ có khả năng kiểm tra thẻ tín dụng. Registry trả về
một tập các danh mục thỏa mãn yêu cầu. Các mục đó chứa thông tin về dịch vụ,
bao gồm cả chi phí giao dịch. Bên sử dụng sẽ chọn một dịch vụ có phí giao dịch
9


thấp nhất trong danh sách các dịch vụ trả về, kết nối đến nhà cung cấp dịch vụ
dựa trên thông tin địa chỉ registryđã cung cấp để sử dụng dịch vụ kiểm tra thẻ tín
dụng. Trong phần mô tả dịch vụ kèm theo đã có tất cả các tham số cần thiết dùng
để thực thi dịch vụ, bên sử dụng chỉ cần định dạng dữ liệu yêu cầu đúng theo mô
tả và gửi đi. Nhà cung cấp dịch vụ sẽ thực thi kiểm tra thẻ tín dụng và trả về một
thông điếp có định dạng đúng như trong phần mô tả dịch vụ. Mối ràng buộc duy
nhất giữa bên cung cấp và bên sử dụng là bản hợp đồng được cung cấp bởi registry
trung gian. Mối ràng buộc này là ràng buộc trong thời gian chạy. Tất cả thông tin
cần thiết về dịch vụ được lấy về và sử dụng trong khi chạy. Vậy với SOA, bên sử
dụng dịch vụ không cần biết định dạng của thông điệp yêu cầu và thông điệp trả
về, cũng như địa chỉ dịch vụ cho đến khi cần.
1.2.3.5. Khả năng tự hồi phục
Với kích cỡ và độ phức tạp của những hệ thống phân tán ngày nay, khả năng
phục hồi của một hệ thống sau khi bị sự cố là một yếu tố rất quan trọng. Một hệ
thống tự phục hồi là hệ thống có khả năng tự phục hồi sau khi lỗi mà không cần
sự can thiệp của con người.
Độ tin cậy là mức độ đo khả năng của một hệ thống xử lý tốt như thế nào
trong tình trạng hỗn loạn. Trong SOA, các dịch vụ luôn có thể hoạt động hay
ngừng hoạt độngbất cứ lúc nào, nhất là đối với những áp dụng tổng hợp từ nhiều
dịch vụ của nhiều tổ chức khác nhau. Độ tin cậy phụ thuộc vào khả năng phục
hồi của phần cứng sau khi bị lỗi. Hạ tầng mạng phải cho phép các kết nối động
từ nhiều hệ thống khác nhau kết nối đến trong khi chạy. Một khía cạnh khác ảnh
hưởng đến độ tin cậy là kiến trúc mà dựa trên đó những ứng dụng được xây dựng.
Một kiến trúc hỗ trợ kết nối và thực thi động sẽ có khả năng tự phục hồi hơn một
hệ thống không hỗ trợ những tính năng trên.
Ngoài ra, những hệ thống dựa trên dịch vụ yêu cầu tách biệt giữa giao diện
và cài đặt, nên có thể có nhiều cài đặt khác nhau cho cùng một giao diện. Nếu
một thể hiện service nào đó không hoạt động thì một thể hiện khác vẫn có thể
hoàn tất giao dịch cho khách hàng mà không bị ảnh hưởng gì. Khả năng này chỉ
có được khi client tương tác với giao diện của dịch vụ chứ không tương tác trực
tiếp cài đặt của dịch vụ. Đây là một trong những tính chất cơ bản của hệ thống
hướng dịch vụ (SOA).

1.2.4. Lợi ích của SOA
Sử dụng mô hình SOA trong việc thiết kế hệ thống mang lại rất nhiều lợi ích
về cả mặt kinh tếvà kỹ thuật.
Về mặt kinh tế:
10


- Doanh nghiệp có điều kiện tập trung thời gian để tìm kiếm các giải pháp
cho các bài toán liên quan đến kinh tế.
- Thúc đẩy khả năng phát triển của hệ thống hiện có cũng như khả năng mở
rộng của hệ thống trong tương lai.
Lợi ích về mặt kỹ thuật:
- Độc lập hệ thống : những service không phụ thuộc vào hệ thống và mạng
cụ thể.
- Có khả năng tái sử dụng.
- Khả năng hồi đáp thích nghi tốt và nhanh hơn để đáp ứng với sự thay đổi
về yêu cầu giao dịch.
- Cho phép dễ dàng triển khai chương trình, môi trường chạy và quản lý
service dễ dàng hơn.
- Những sự xác nhận và chứng minh của Service consumer về những tính
năng security dựa trên giao tiếp Service tốt hơn cơ chế kết nối chặt chẽ.
1.2.5.Ưu nhược điểm của SOA
SOA có thể được coi là một kiến trúc ưu việt trong thiết kế và xây dựng hệ
thống phần mềm cho doanh nghiệp bởi:
- Hệ thống uyển chuyển và lâu dài thuận tiện cho việc chỉnh sửa, nâng cấp
hoặc mở rộng hệ thống.
- Dễ dàng và nhanh chóng tạo ra các tiến trình nghiệp vụ từ các service đã
có.
- Khả năng tương tác của các service.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm SOA vẫn tồn tại một số yếu điểm như
sau:
- Hệ thống phức tạp.
- Khó miêu tảdữ liệu không cấu trúc trong header của message.
- Đặc biệt, khi xây dựng ứng dụng tổng hợp từ nhiều dịch vụ với tính tái sử
dụng cao thì vấn đề bảo mật như: xác thực, phân quyền, bí mật và toàn
vẹn dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư… trở thành một bài toán hết sức phức
tạp và đòi hỏi giải quyết bằng những hướng tiếp cận bảo mật hoàn toàn
mới so với các phương pháp bảo mật truyền thống.
Trên đây là những trình bày tổng quan và đặc trưng nhất của SOA. Vậy SOA
hoạt động như thế nào? Bằng cách nào để triển khai nguyên lý SOA vào hệ thống
phần mềm thực tế và qui trình xây dựng hệ thống ra sao? Phần tiếp theo sẽ đi sâu
hơn về SOA và trả lời các câu hỏi đó.

11


CHƯƠNG 2:
PHÁT TRIỂN PHẦN MỀM DỰA VÀO SOA
2.1. Mô hình hoạt động và kiến trúc chi tiết của hệ thống
2.1.1. Mô hình tổng thể của SOA

Hình 2.1: Mô hình tổng quan của SOA
- Service Provider: Cung cấp các service phục vụ cho một nhu cầu nào đó.
User (service consumer) không cần quan tâm đến vị trí thực sự mà service họ cần
sửdụng đang hoạt động.Họ chỉ cần quan tâm dịch vụ đó là gì.
- Serive Consumer: khách hàng dịch vụ hay những user sử dụng service được
cung cấp bởi Service Provider.
- Service Registry: Nơi lưu trữ thông tin về các service của các Service
Provider khác nhau, Service Consumer dựa trên những thông tin này để tìm kiếm
và lựa chọn Service Provider phù hợp.
Service Provider sẽ đăng ký thông tin về service mà mình có thể cung cấp
(các chức năng có thể cung cấp, khả năng của hệ thống (resource, performance,
giá cả dịch vụ...) vào Service Registry. Service Consumer khi có nhu cầu về một
service nào đó sẽ tìm kiếm thông tin trên Service Registry. Ngoài chức năng hỗ
trợ tìm kiếm, Service Registry còn có thể xếp hạng các Service Provider dựa trên
các tiêu chí về chất lượng dịch vụ, bầu chọn từ các khách hàng đã sử dụng
service... Những thông tin này sẽ hỗ trợ thêm cho quá trình tìm kiếm của Service
Consumer. Khi đã xác định được Service Provider mong muốn, Service
Consumer thiết lập kênh giao tiếp trực tiếp với Service Provider nhằm sử dụng
service hoặc tiến hành thương lượng thêm (vềmặt giá cả, resource sử dụng...).
12


2.1.2.Mô hình giao tiếp bằng thông điệp (message) trong SOA
So với kiểu thiết kế Component-Based (hướng thành phần), điểm khác biệt
chính của SOA là cung cấp khả năng giao tiếp giữa các thành phần trong hệ thống
sử dụng thông điệp (message) dựa trên các giao thức đã được chuẩn hóa (HTTP,
FTP, SMTP...). Chính nhờ đặc điểm này, hệ thống SOA trở nên độc lập với nền
(platform independent). Các service hoạt động trên các platform khác nhau vẫn
có thể giao tiếp với nhau nhờ vào các interface giao tiếp đã được chuẩn hóa để
cộng tác xử lý một tác vụ nào đó.

Hình 2.2: Message được truyền nhận giữa các dịch vụ
Sử dụng thông điệp (message) để giao tiếp có các lợi thế sau:
• Độc lập nền: thông điệp (message) trở thành ngôn ngữ chung của các
platform và các ngôn ngữ lập trình khác nhau. Điều này đảm bảo các service trên
các platform khác nhau hoạt động với cấu trúc dữ liệu đặc thù của platform đó.
• Giao tiếp bất đồng bộ: Người gửi và người nhận không cần phải chờ thông
điệp trả lời sau khi đã gởi đi một thông điệp. Điều này giúp cho người gửi và
người nhận tiếp tục xử lý công việc sau khi gửi thông điệp mà không cần dừng
thực thi để chờ thông điệp trả lời.
• Giao tiếp tin cậy: các thông điệp từ bên gửi có thể được gửi đến một service
trung gian có nhiệm vụ lưu trữ (store) các thông điệp. Service trung gian sẽ
chuyển tiếp (forward) thông điệp cho bên nhận khi bên nhận có thể xử lý yêu cầu
tiếp theo. Cơ chế Store-and-Forward này đảm bảo các thông điệp sẽ không bị thất
lạc trong trường hợp Receiver bị quá tải và không thể nhận thêm yêu cầu mới.
• Quản lý luồng: Việc trao đổi thông điệp theo cơ chế bất đồng bộ giúp ứng
dụng không cần ngừng thực thi để chờ một tác vụ kết thúc mà có thể tạo ra các
luồng (thread)xử lý các công việc khác nhau.
• Giao tiếp từ xa: Các thông điệp lưu trữ thông tin về các đối tượng dữ liệu
dưới dạng đặc tả hình thức thay thế việc phải serialization and deserialization các
13


đối tượng dữ liệu truyền qua mạng khi ứng dụng thực hiện gọi từ xa một ứng
dụng khác.
• Bảo mật end-to-end: Thông điệp có thể lưu trữ thông tin về hình thức bảo
mật của kênh giao tiếp. Điều này cung cấp khả năng điều khiển liên quan đến bảo
mậtnhư xác thực và phân quyền.

2.1.3. Kiến trúc phân tầng chi tiết
Hiện nay chưa có một mô hình chính thức nào của SOA. Thật sự SOA là
một phương pháp luận giúp chúng ta tận dụng sức mạnh của các nguồn lực, nguồn
tài nguyên khác nhau trong mạng máy tính để trở thành một hệ thống nhất. Mỗi
một công ty có một mô hình SOA khác nhau. Nhìn chung mô hình SOA có các
đặcđiểm sau:

Hình2.3: Kiến trúc chi tiết của SOA
- Tầng Connectivity: đây là tầng thấp nhất của SOA, có nhiệm vụ giao tiếp
trực tiếp với các thành phần khác như cơ sở dữ liệu, giao tiếp với các ứng dụng
khác, các web service… Vì vậy có thể coi đây là tầng vật lý của SOA.
- Tầng Orchestration: là các dịch vụ xử lý các quy trình nghiệp vụ và độc lập
với tầng vật lý phía bên dưới. Tầng orchestration chứa các thành phần đóng vai
trò vừa là dịch vụ sử dụng vừa là những dịch vụ cung cấp. Những dịch vụ này sử
dụng những dịch vụ của tầng kết nối và các dịch vụ orchestration khác để kết hợp
những chức năng cấp thấp hơn thành những dịch vụ hoạt động ở cấp cao hơn, có
hành vi gần với những chức năng nghiệp vụ hơn.
- Tầng Composite Application: là các ứng dụng tổng hợp nhằm mục đích trình
diễn (presentation) và hiển thị thông tin cho người dùng cũng như cung cấp một
giao diện cho người dùng tương tác với hệ thống như là một phần mềm duy nhất.
Tầng này có thể là các website, portal, các ứng dụng client mở rộng (rich client),
các thiết bị di động thông minh (smart device),…
14


- Các thành phần khác: gồm có quy trình phát triển (development), quản lý
các dịch vụ (service management), và quản lý con người (governance). Như vậy
có thể thấy SOA không chỉ đơn thuần là về mặt công nghệ mà nó là tổng hòa của
rất nhiều yếu tố: công nghệ, cơ sở hạ tầng, con người và quy trình nghiệp vụ.

Hình2.4: Các thành phần tham gia triển khai hệ thống SOA
Vậy khi nào sử dụng SOA? Đó là khi thiết kế hệ thống đặt ra một câu hỏi
lớn là việc cân nhắc giữa khảnăng sử dụng lại và hiệu năng của hệ thống. Nếu hệ
thống cần việc chạy nhanh cho một ứng dụng đặc biệt thì RMI, CORBA, DCOM
là sự lựa chọn. Nhưng hệ thống khó có thể thay đổi hoặc sử dụng lại. Nếu hệ
thống dự định thay đổi thường xuyên mà không yêu cầu quá cao về tốc độ thì
SOA là phương cách tiếp cận tốt nhất. Nó dễ dàng sử dụng lại trong tương lai và
cho phép cácứng dụng tương tự được thiết kế một cách nhanh chóng.
SOA là tư duy hệ thống ưu việt cho giai đoạn công nghệ hiện nay. Vậy làm
cách nào để triển khai tư duy đó vào các ứng dụng thực tế? Đó là vấn đề về công
nghệ. Phần tiếp theo sẽ trình bày một công nghệ có thể nói là thể hiện tốt nhất
cho SOA hiện nay– Web Service.

2.2. SOA và ứng dụng Web Service
2.2.1. Giới thiệu về Web service
Đặc điểm chính của SOA là tách rời phần giao tiếp với phần thực hiện dịch
vụ. Điều này cho phép chúng ta liên tưởng đến một công nghệ được đề cập nhiều
hiện nay: Web Service. Web Service cho phép truy cập thông qua định nghĩa giao
thức-và-giao tiếp.
Về cơ bản, SOA là kiến trúc phần mềm phát xuất từ định nghĩa giao tiếp và xây
dựng toàn bộ mô hình ứng dụng như là mô hình các giao tiếp, hiện thực giao tiếp
15


và phương thức gọi giao tiếp. Giao tiếp là trung tâm của toàn bộ triết lý kiến trúc
này. Thực ra, tên gọi “kiến trúc định hướng giao tiếp” thích hợp hơn cho SOA.
Dịch vụ và module phần mềm nghiệp vụ được truy cập thông qua giao tiếp,
thường theo cách thức yêu cầu - đáp trả. Ngay cả với yêu cầu dịch vụ một chiều
thì nó vẫn là yêu cầu trực tiếp có chủ đích từ một phần mềm này đến một phần
mềm khác. Một tương tác định hướng dịch vụ luôn bao hàm một cặp đối tác:
nguồn cung cấp dịch vụ và khách hàng sử dụng dịch vụ.
Web service là một công nghệ triệu gọi từ xa có tính khả chuyển cao nhất
hiện nay: mang tính độc lập nền, độc lập ngôn ngữ. Với web service, các chương
trình viết bằng các ngôn ngữ lập trình khác nhau, chạy trên các nền tảng (phần
cứng & OS) khác nhau đều có thể trao đổi với nhau thông qua công nghệ này.
Tầng transport của Web Service thường dùng những công nghệ truyền tải phổ
dụng nhất như HTTP, SMPT... (tuy hiện nay thường chỉ dùng HTTP) nên khả
năng phân tán trên diện rộng như Internet là rất thuận tiện. Mà SOA là kiến trúc
kết nối lỏng lẻo các service và các service đó tương tác với nhau thông qua Web
service. Do đó, kiến trúc SOA sử dụng Web service như là một giải pháp chính
để giải quyết vấn đề tích hợp nghiệp vụ giữa các hệ thống. Và đặc biêt trong quá
trình internet hóa mọi dịch vụ hiên nay, thì triển khai dịch vụ bằng Web service
có thể nói là điều “tất nhiên”.

2.2.2. SOA và Web service trong vấn đề tích hợp hệ thống
Web services là những thành phần ứng dụng, giao tiếp bằng cách sử dụng
giao thức mở chứa đựng và mô tả chính nó, có thể được phát hiện bằng cách sử
dụng UDDI và có thể được sử dụng bởi ứng dụng khác khác nhau. Web service
hoạt động dựa trên nền tảng là XML và HTTP. Trong đó: XML cung cấp một
ngôn ngữ mà có thể được sử dụng giữa các nền tảng và ngôn ngữ lập trình khác
nhau và vẫn thể hiện thông điệp và chức năng phức tạp; Các giao thức HTTP là
giao thức Internet được sửdụng nhiều nhất.
Web Service với mô hình hoạt động 3 bên tương ứng với mô hình hoạt động
của SOA, sử dụng một bộ các chuẩn công nghệ. Đó là:
- XML: Chuẩn định dạng dữ liệu và thông điệp.
- SOAP: Giao thức dựa trên XML và HTTP cho phép giao tiếp trên môi
trường mạng.
- WSDL: Ngôn ngữ mô tả Web Service theo chuẩn.
- UDDI: Một bộ khung chuẩn cho phép mô hình hóa và cụ thể hóa các Web
Service đã được đăng ký.
16


Hình 2.5: Mô hình hoạt động của web service
Hoạt động của mô hình Web Service như sau:
- Service Provider: Dùng Web Services Description Language (WSDL) để
mô tả dịch vụ mà mình có thể cung cấp và xuất bản (đăng ký) với Service Broker
(tương tự với Service Registry trong SOA).
- Service Broker: Lưu trữ thông tin về các service được cung cấp bởi các
Service Provider. Cung cấp chức năng tìm kiếm hỗ trợ Service Requester (Service
Consumer trong SOA) trong việc xác định Service Provider phù hợp. Thành phần
chính của Service Broker là các kho lưu trữ được mô tả bởiUniversal Discovery,
Description, and Integration (UDDI).
- Service Requester: Dùng WSDL để đặc tả nhu cầu sử dụng (loại service,
thời gian sử dụng, resource cần thiết, mức giá ...) và gởi cho Service Broker. Bằng
việc sử dụng UDDI và chức năng tìm kiếm của Service Broker, Service Requester
có thể tìm thấy Service Provider thích hợp. Ngay sau đó, giữa Service Requester
và Service Provider thiết lập kênh giao tiếp sử dụng SOAP để thương lượng giá
cả và các yếu tố khác trong việc sử dụng service.
Như vậy, sử dụng Web Service cho việc tích hợp SOA giúp ứng dụng đạt được
những mục tiêu theo nguyên lý SOA:
- Thông qua các chuẩn công nghiệp. Các chuẩn này gồm Web Service với các
định nghĩa thành phần chuẩn công nghiệp cho XML.

17


- Sử dụng được những phần mềm thương mại đã xây dựng sẵn nhiều nhất có
thể. Phần mềm phải cung cấp các kênh giao tiếp (adapter) cho Web service.
- Đóng gói các ứng dụng cho phép kế thừa với giao diện đúng theo chuẩn
công nghệ chung. Các Web Service đều phải được sử dụng thông qua giao diện
này.
- Sử dụng dữ liệu và tầng dữ liệu độc lập nằm giữa các ứng dụng để ẩn đi cấu
trúc dữ liệu bên dưới. Mọi tương tác với dữ liệu đều phải thông qua Web Service.
Làm thế nào Web Service có thể đạt được những mục tiêu trên? Chúng ta sẽ đi
vào xem xét chi tiết các công nghệ và kỹ thuật thực hiện của Web Service.
2.2.3. Cấu trúc và chi tiết các thành phần của Web service
Nền tảng của các dich vụ web gồm các yếu tố: XML (eXtensible Markup
Language), SOAP (Simple Object Access Protocol), UDDI (Universal
Description, Discovery and Integration), WSDL (Web Services Description
Language).

Hình 2.6: Các thành phần của Web service

2.2.3.1. XML -eXtensible Markup Language
XML là một chuẩn mở do W3C đưa ra và được phát triển từ SGML.XML là
một ngôn ngữ mô tả văn bản với cấu trúc do người sử dụng định nghĩa, nó được
sử dụng để định nghĩa các thành phần dữ liệu trên trang web và cho những tài
liệu B2B.
Về hình thức, XML hoàn toàn có cấu trúc thẻ giống như ngôn ngữ HTML,
nhưng không tuân theo một đặc tả quy ước như HTML, người sử dụng hay các
chương trình có thểquy ước định dạng các tag XML để giao tiếp với nhau. Trong
18


khi HTML định nghĩa thành phần được hiển thị như thế nào thì XML lại định
nghĩa những thành phần đó chứa cái gì. Với XML, các thẻ có thể được lập trình
viên tự tạo ra trên mỗi trang web và được chọn là định dạng thông điệp chuẩn bởi
tính phổ biến và hiệu quảmã nguồn mở.
Do Web Service là sự kết hợp của nhiều thành phần khác nhau nên nó sử
dụng các tính năng và đặc trưng của các thành phần đó để giao tiếp. Vì vậyXML
là công cụ chính để giải quyết vấn đề này và là kiến trúc nền tảng cho việc xây
dựng một Web Service, tất cả dữ liệu sẽ được chuyển sang định dạng thẻ XML.
Khi đó, các thông tin mã hóa sẽ hoàn toàn phù hợp với các thông tin theo chuẩn
của SOAP hoặc XML-RPC và có thể tương tác với nhau trong một thể thống
nhất.
Ví dụ về tài liệu XML:



Xin Chào XML


Đây là chương trình XMLđầu tiên


Tài liệu XML chỉ chứa dữ liệu, không nhắc đến cách trình bày. Điều này có
ý nghĩa đó là một XML parser, không cần phải hiểu ý nghĩa của các thẻ. Nó chỉ
cần tìm các thẻ và xác định đây là một tài liệu XML hợp lệ vì trình duyệt không
cần phải hiểu ý nghĩa của các thẻ, nên người dùng có thể tạo ra các thẻ bất kì để
sử dụng.
2.2.3.2. SOAP (Simple Object Access Protocol)
Là một giao thức dựa trên XML để cho phép các ứng dụng trao đổi thông
tin qua HTTP, được thiết kế đơn giản và dễ mở rộng. Đơn giản, SOAP là một
giao thức để truy cập một Web Service, một giao thức truyền thông hay một định
dạng để gửi tin nhắn. Tất cả các thông điệp SOAP đều được mã hóa sử dụng
XML, cho nên không bị ràng buộc bởi bất kỳ ngôn ngữ lập trình nào hoặc công
nghệ nào. Vì những đặc trưng này, nó không quan tâm đến công nghệ gì được sử
19


dụng để thực hiện miễn là người dùng sử dụng các message theo định dạng XML.
Tương tự, service có thể được thực hiện trong bất kỳ ngôn ngữ nào, miễn là nó
có thể xử lý được những message theo định dạng XML.

Hình2.7: Mô hình gửi nhận thông điệp qua SOAP
Bộ khung của một thông điệp SOAP bao gồm:
- Protocol Header: Cho biết thông tin về các chuẩn giao thức được sửdụng.
- SOAP Envelop: Phần chính của thông điệp. Thông tin chính của message
bao gồm:
• SOAP Header: Chứa các SOAP header.
• SOAP body: Thông tin về name và data được đặc tả dưới dạng XML.
Ngoài ra còn có trường lỗi được dùng để gởi các web service exception.

Hình2.8: Cấu trúc của một SOAP message

20


Ví dụ:

xmlns:soap="http://www.w3.org/2001/12/soap- envelope"
soap:encodingStyle="http://www.w3.org/2001/12/soap- encoding">

...


...

...




2.2.3.3. WSDL (Web Service Discription Language)
WSDL là một ngôn ngữdựa trên XML dùng để mô tả giao diện của Web
Service. Nó cung cấp một cách thức chuẩn để mô tả các kiểu dữ liệu được truyền
trong các thông điệp thông qua Web Service, các hoạt động được thực hiện trên
các thông điệp và ánh xạ các hoạt động này đến giao thức vận chuyển.
• WSDL dựa trên XML.
• WSDL được dùng đểmô tả các Web Service .
• WSDL được dùng để xác định vị trí Web Service.
• WSDL là một chuẩn của W3C.
WSDL định nghĩa cách mô tả Web Service theo cú pháp tổng quát của XML, bao
gồm các thông tin:
- Tên dịch vụ.
- Giao thức và kiểu mã hóa sẽ được sử dụng khi gọi các hàm của Web Service.
- Loại thông tin: thao tác, tham số, những kiểu dữ liệu (có thể là giao diện của
Web Service cộng với tên cho giao diện này).
Một WSDL hợp lệ gồm hai phần:
- Phần giao diện: mô tả giao diện và giao thức kết nối.
- Phần thi hành: mô tả thông tin để truy xuất service.
Cả hai phần này sẽ được lưu trong 2 tập tin XML:
- Tập tin giao diện service (cho phần 1).
- Tập tin thi hành service (cho phần 2).
21


Hình 2.9: Cấu trúc WSDL
❖ Tập tin giao diện - Service Interface
Một tài liệu WSDL mô tả mộtWeb Service gồm các thành phần chính:

Element

Defines



Các kiểu dữ liệu được sử dụng bởi các Web Service



Các thông điệp được sử dụng bởi các Web Service



Các hoạt động được thực hiện bởi các Web Service



Các hoạt động được thực hiện bởi các Web Service

Cấu trúc một tài liệu WSDL sẽ như sau:


definition of types


definition of a message


definition of a port


definition of a binding....


22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×