Tải bản đầy đủ

Tài liệu ôn thi môn Nguyên lý cơ bản MLN phần thứ nhất

1.MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
a. Vai trò của vật chất đối với ý thức
* Vật chất quyết định ý thức
- Vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai. Vật chất là nguồn gốc sinh ra ý thức.
- Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người. Ý thức phản
ánh thế giới hiện thực khách quan, các quy luật khách quan, hoạt động thực tiễn chính là
cơ sở cho sự hình thành các quan điểm, quan niệm, ý chí, tình cảm xã hội.
- Trong tồn tại xã hội, ý thức chỉ là sự phản ánh tồn tại xã hội, tồn tại xã hội thay đổi thì ý
thức xã hội sớm muộn cũng phải thay đổi theo. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội.
- Ý thức xã hội không tồn tại tự nó, nó chỉ có thể hình thành và phát triển trên cơ sở hoạt
động thực tiễn của con người.
b. Tính độc lập tương đối của ý thức
Vai trò của ý thức đối với vật chất chính là vai trò của con người trong quá trình cải tạo
thế giới khách quan.
- Ý thức có tính năng động, sáng tạo nên thông qua hoạt động thực tiễn của con người có
thể thúc đẩy hoặc kìm hảm ở một mức độ nhất định các điều kiện vật chất, góp phần cải
biến thế giới khách quan.
+ Ý thức phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan nó sẽ góp phần thúc đẩy hiện thực
khách quan phát triển.
+ Ngược lại, ý thức khi không phản ánh đúng hiện thực khách quan thì nó sẽ trở thành
lực cản đối với sự phát triển của hiện thực khách quan.

- Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với thế giới hiện thực khách quan (vật chất)
phải dựa trên sự phản ánh thế giới vật chất và các điều kiện khách quan nhất định.
Như vậy, tri thức khoa học giúp con người hiểu biết được những mối liên hệ và quy luật
khách quan nhờ đó mà cải tạo được tự nhiên và xã hội. Trình độ nhận thức quy luật càng
cao thì khả năng cải tạo tự nhiên và xã hội càng lớn.

2. NGUYÊN LÍ VỀ MỐI QUAN HỆ PHỔ BIẾN
a. Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến
Thế giới là một chỉnh thể thống nhất, các sự vật, hiện tượng và các quá trình cấu thành
thế giới đó vừa tách biệt nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn
nhau.
- Khái niệm mối liên hệ: Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự
tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt
của một sự vật hiện tượng trong thế giới.


Liên hệ là sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định lẫn nhau, tác động,
chuyển hóa lẫn nhau ... giữa các mặt bên trong sự vật hoặc giữa các sự vật khác nhau.
- Khái niệm mối liên hệ phổ biến: là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến của các mối
liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới mà ở đó các sự vật, hiện tượng hoặc các
mặt bên trong sự vật có mối liên hệ ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, ảnh hưởng, quy định
lẫn nhau, tác động, chuyển hóa lẫn nhau
b. Tính chất của các mối liên hệ
Những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho
rằng, cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng
là một lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, cảm giác của con người. Chẳng hạn, G.W.F.
Hegel đứng trên lập trường duy tâm khách quan đã cho rằng, “ý niệm tuyệt đối là nền
tảng của mối liên hệ còn George Berkeley người theo lập trường duy tâm chủ quan cho
rằng, “cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng”.
Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định, tính chất của mối liên hệ phổ biến bao
gồm: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng.
- Tính khách quan của mối liên hệ
Mối liên hệ mang tính khách quan. Bởi, các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới đa dạng,
phong phú, khác nhau. Song chúng đều là những dạng vật thể của thế giới vật chất. Và
chính tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ. Nhờ có tính thống
nhất đó, các sự vật, hiện tượng, không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà trong sự tác
động qua lại chuyển hoá lẫn nhau.
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận
động, tác động qua lại lẫn nhau. Bản chất, tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ
bộc lộ thông qua sự tác động của chúng với các sự vật, hiện tượng khác.


- Tính phổ biến của các mối liên hệ:
+ Thứ nhất, bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác.
Không có sự vật hiện tượng nằm ngoài mối liên hệ. Mối liên hệ cũng có ở mọi lĩnh vực:
tự nhiên, xã hội, tư duy.
+ Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, tuỳ theo điều kiện nhất
định. Nhưng dù dưới hình thức nào, chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến
nhất, chung nhất.
- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Có rất nhiều loại liên hệ khác nhau:
+ Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài;
+ Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp;


+ Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu;
+ Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản;
+ Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến...
Chính tính đa dạng trong quá trình vận động, tồn tại và phát triển của bản thân sự vật,
hiện tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ. Vì vậy, trong sự vật có nhiều mối liên
hệ, chứ không phải có một cặp mối liên hệ.
Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, chuyển hóa lẫn nhau giữa các
yếu tố, các thuộc tính, các mặt của một sự vật. Mối liên hệ này giữ vai trò quyết định tới
sự tồn tại và phát triển của sự vật.
Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng với nhau, mối liên hệ
này nhìn chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động, phát triển của
sự vật. Và nếu có nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mới thực hiện được.
Ví dụ: Sự lĩnh hội tri thức của người học trước hết và chủ yếu được quyết định bởi chính
người đó (nghệ thuật, truyền thụ tri thức...) dù có tốt, có đầy đủ mà người học không chịu
học, không chịu tiếp nhận thì tri thức cũng không thể tự nó có được trong đầu óc người
đó.
Các cặp mối liên hệ khác nhau cũng có mối liên hệ biện chứng với nhau. Đương nhiên
mỗi cặp liên hệ có đặc trưng riêng. Tuy nhiên, vai trò quyết định của các mối liên hệ
trong từng cặp phụ thuộc vào quan hệ hiện thực xác định.
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ có ý nghĩa tương đối, vì mỗi loại liên hệ chỉ có một
hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ hổ biến. Mỗi loại liên hệ trong từng
cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết
quả vận động và phát triển của chính các sự vật.
Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có các tác động phù hợp nhằm đưa
lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình.
d. Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện.
- Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng với tất cả các
mặt, các mối liên hệ; đồng thời phải đánh giá đúng vai trò, vị trí của từng mặt, từng mối
liên hệ; nắm được mối liên hệ chủ yếu có vai trò quyết định.
- Quan điểm toàn diện bao hàm quan điểm lịch sử cụ thể. Quan điểm lịch sử cụ thể đòi
hỏi phải nhận thức đầy đủ các mối liên hệ của sự vật, nắm được bản chất bên trong, trực
tiếp, đồng thời phải nhận thức được không gian, thời gian, điều kiện cụ thể của sự tồn tại
và xuất hiện các mối liên hệ, trên cơ sở đó mới nắm bắt được xu hướng biến đổi của các
sự vật, hiện tượng.


- Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiếm diện. Quan điểm phiếm diện là cách
xem xét từng mặt, từng mối liên hệ tách rời nhau, không thấy được mối liên hệ nhiều vẻ,
đa dạng của sự vật.

3. QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH GIỮA CÁC
MẶT ĐỐI LẬP
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng đều bao hàm mâu thuẫn bên trong, quá trình đấu tranh của
các mặt đối lập hay là quá trình giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực bên trong
của sự vận động và phát triển.
Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật duy vật. Nó nói lên
nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Quy luật này là hạt nhân của phép biện chứng.
a. Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn
* Khái niệm mâu thuẫn và mặt đối lập
- Khái niệm mâu thuẫn:
Mâu thuẫn là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ, thống nhất, đấu tranh và chuyển hoá
giữa các mặt của sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Quan điểm siêu hình thì ngược lại.
Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là các mặt đối lập.
- Khái niệm mặt đối lập:
Mặt đối lập là khái niệm dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính có khuynh hướng vận
động trái ngược nhau, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau nhưng tồn tại gắn bó với nhau
trong một thể thống nhất hợp thành mâu thuẫn.
Ví dụ: Hưng phấn - ức chế; chân lý – sai lầm; điện tích âm - điện tích dương; .....
* Tính chất chung của mâu thuẫn
- Tính khách quan, phổ biến.
- Tính đa dạng và phong phú.
Phép biện chứng duy vật khẳng định, mâu thuẫn tồn tại khách quan phổ biến và đa dang,
phong phú trong tự nhiên, xã hội và tư duy và không chịu sự chi phối của ý thức con
người.
Ví dụ: Trong tự nhiên, đó là mâu thuẫn giữa điện tích dương và điện tích âm; giữa sức
hút và sức đẩy; đồng hóa và dị hóa ; di truyền và biến dị; giống đực và giống cái; sống và
chết.
Trong xã hội: mâu thuẫn giữa giai cấp bị bóc lột với giai cấp bóc lột; giữa thiện và
ác; giữa tiến bộ và lạc hậu, giữa hòa bình và chiến tranh.


Trong tư duy, đó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; giữa
biện chứng và siêu hình; vô thần và hữu thần; chân lý chân lý và sai lầm.
b. Quá trình vận động của mâu thuẫn
Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất vừa đấu tranh với nhau
- Khái niệm mặt đối lập:
Mặt đối lập là những mặt có thuộc tính, khuynh hướng vận động trái ngược nhau, bài
trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau, nhưng tồn tại gắn bó với nhau trong một thể thống nhất
hợp thành một mâu thuẫn.
+ Mặt đối lập có thể là bản thân những thuộc tính, khuynh hướng đối lập, cũng có thể là
những yếu tố, bộ phận, sự vật trong đó chứa những thuộc tính, khuynh hướng đối lập.
+ Một mâu thuẫn bao gồm hai mặt đối lập có mối liên hệ với nhau.
- Khái niệm thống nhất giữa các mặt đối lập:
Thống nhất của các mặt đối lập là sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại
cho nhau, quy định lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau của các mặt đối lập.
- Khái niệm đấu tranh giữa các mặt đối lập:
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự bài trừ gạt bỏ, phủ định, chống đối nhau của các
mặt đối lập.
+ Thống nhất của các mặt đối lập là tương đối. Đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt
đối.
+ Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có quá trình phát triển từ thấp đến cao.
º Sự giải quyết mâu thuẫn không chỉ phụ thuộc vào bản chất và trình độ chín muồi của
mâu thuẫn, mà còn phụ thuộc vào những điều kiện cụ thể nhất định của sự tồn tại của nó.
- Khái niệm chuyển hoá giữa các mặt đối lập:
Chuyển hoá giữa các mặt đối lập không phải là sự thay đổi vị trí của các mặt đối lập một
cách giản đơn. Chuyển hoá giữa các mặt đối lập ở đây là sự chuyển hoá về chất.
* Mâu thuẫn là nguồn gốc và động lực của sự vận động và phát triển
- Đấu tranh giữa các mặt đối lập dẫn đến mâu thuẫn được giải quyết, khi mâu thuẫn được
giải quyết sẽ làm cho sự vật không ngừng được đổi mới. Mâu thuẫn cơ bản của sự vật
được giải quyết sẽ tạo ra bước nhảy của sự vật: sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời.
- Thông qua đấu tranh của các mặt đối lập, những gì lạc hậu, lỗi thời sẽ bị loại bỏ, cái
mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ, cái lạc hậu.
Như vậy, mâu thuẫn và việc giải quyết mâu thuẫn chính là nguồn gốc và động lực của sự
vận động và phát triển.


* Các loại mâu thuẫn
- Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài.
- Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
- Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn không chủ yếu
- Mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng
Nội dung của quy luật mâu thuẫn
Mọi sự vật, hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành
mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo
thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự
ra đời của cái mới.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
- Khẳng định tính khách quan của mâu thuẫn, PBCDV yêu cầu chúng ta muốn tìm hiểu
mâu thuẫn thì phải tìm ngay trong bản thân sự vật, hiện tượng đó và muốn tìm bản chất
của sự vật, hiện tượng thì phải phân đôi cái thống nhất và nhận thức từng bộ phận của nó.
Muốn tìm bản chất của sự vật thì chúng ta phải xem xét các mặt đối lập bên trong bản
thân mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng đó.
- Sự khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình sẽ có các mâu thuẫn khác nhau,
do vậ, cần phải có những phương pháp cụ thể, phù hợp để giải quyết từng loại mâu thuẫn.
- Cần phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn đó là phương pháp đâu tranh.
- Cần phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn xã hội là phải đứng trên lập trường
của giai cấp tiên tiến, phương pháp nhận thức là phương pháp duy vật biện chứng, chú ý
đến mối quan hệ hài hoà giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể.

4. QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH
Đây cũng là một trong 3 quy luật của phép biện chứng duy vật. Nó nói lên khuynh hướng
của sự phát triển.
Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng
* Khái niệm
- Phủ định nói chung là sự bài trừ, bác bỏ sự vật nhất định nào đó. Nói cách khác, phủ
định là một quá trình vận động trong đó sự vật, hiện tượng này được thay thế bởi sự vật,
hiện tượng khác (đây là sự biến đổi nói chung).
- Nghiên cứu sâu vào quá trình phát triển của thế giới, phép biện chứng duy vật cho rằng,
sự chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, sự đấu tranh
giữa các mặt đối lập dẫn tới mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi và sự vật mới ra
đời. Mỗi sự vật được thay thế ấy chính là mắt khâu trong sợi dây truyền của sự phát triển


của hiện thực và tư duy. Sự ra đời của cái mới là kết quả của sự phủ định cái cũ, cái lỗi
thời. Quá trình đó gọi là phủ định biện chứng.
Vậy phủ định biện chứng là gì? Phủ định biện chứng là quá trình tự phủ định, tự phát
triển, là mắt khâu trên con đường dẫn tới sự ra đời của cái mới, cái tiến bộ hơn so với
cái tự phủ định.
Có hai loại phủ định:
- Phủ định không biện chứng thực hiện do nguyên nhân bên ngoài, không có tính tất yếu
đối với quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, không có kế thừa.
- Phủ định biện chứng là sự thay thế cái cũ bằng cái mới tiến bộ hơn.
* Đặc trưng của phủ định biện chứng
Phủ định biện chứng gồm hai đặc trưng sau đây:
- Tính khách quan: Phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định, là kết quà giải quyết
mâu thuẫn bên trong của sự vật tồn tại khách quan
- Tính kế thừa: Đây là đặc trưng cơ bản nhất của phủ định biện chứng. Phủ định biện
chứng là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, nhưng cái mới chỉ phủ định mặt lạc
hậu, lỗi thời của cái cũ, đồng thời kế thừa những giá trị của cái cũ. Do đó, phủ định biện
chứng là sự phủ định nhưng đồng thời cũng là sự khẳng định.
- Từ hai đặc trưng nêu trên của phủ định biện chứng chúng ta thấy nó đối lập hẳn với
quan điểm siêu hình. Quan điểm siêu hình cho rằng:
+ Phủ định đó là biến sự vật thành cái khác, đối lập với nó.
+ Đó là sự phủ định sạch trơn không kế thừa, không có trọn lọc
+ Nó là phủ định có thể là khách quan, có thể là chủ quan. Khách quan là tự thân phủ
định; còn cái bị các thế lực khác chi phối là phủ định chủ quan.
b. Phủ định của phủ định – hình thức “xoáy ốc” của sự phát triển
- Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng là sự thống nhất
giữa loại bỏ, giữ lại (kế thừa) và phát triển. Mỗi lần phủ định biện chứng được thực hiện
sẽ mang lại những nhân tố mới. Do đó, sự phát triển thông qua những lần phủ định biện
chứng sẽ tạo ra xu hướng tiến lên không ngừng.
Ví dụ: Tằm Ò Kén Ò Ngài (ÒBướm Ò Trứng Ò Tằm)
CSNT Ò CHNL Ò PK ÒTBCN Ò CSCN
CNDV cổ đại Ò CNDV siêu hình Ò CNDVBC
- Phủ định biện chứng là sự tự phủ định, biểu hiện sự phát triển do mâu thuẫn bên trong
của sự vật. Mỗi lần phủ định là kết quả của đấu tranh và chuyển hoá của các mặt đối lập
trong bản thân sự vật, giữa mặt khẳng định và mặt phủ định.


- Phủ định biện chứng được hoàn thành trong một chu kỳ phát triển. Sự vật ở điểm xuất
phát ban đầu qua lần phủ định thứ nhất trở thành cái đối lập với nó - bước trung gian của
sự phát triển; lần phủ định thứ hai, tái lập cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn. Lần phủ
định thứ hai được gọi là phủ định của phủ định.
Ví dụ: Hạt thóc Ò Cây lúa Ò Bông lúa
Số nguyên dương Ò Số nguyên Ò Số hữu tỉ Ò Số thực Ò Số phức
- Phủ định của phủ định làm xuất hiện cái mới là kết quả tổng hợp tất cả những yếu tố
tích cực ban đầu đã được phát triển từ trong cái khẳng định ban đầu và cả trong những cái
phủ định tiếp theo. Do vậy, cái mới với tư cách là kết quả phủ định của phủ định nó sẽ có
nội dung toàn diện và phong phú hơn cái khẳng định ban đầu và cái kết quả của lần phủ
định thứ nhất.
- Sự phủ định của phủ định là giai đoạn kết thúc của một chu kỳ phát triển, ở đó sự phát
triển dường như quay lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn, đây là đắc điểm quan trọng
nhất của sự phát triển biện chứng - điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển đồng thời là
điểm xuất phát của một chu kỳ phát triển tiếp theo.
- Phủ định của phủ định được hoàn thành trong chu kỳ phát triển, thông thường mỗi chu
kỳ trải qua hai lần phủ định. Tuy nhiên, thế giới tồn tại rất đa rạng, do đó, số lần phủ định
một chu kỳ có thể nhiều hơn. Nhưng trong số rất nhiều lần phủ định của một chu kỳ
chúng ta vẫn có thể khái quát lại hai lần: Phủ định lần thứ nhất chuyển cái xuất phát
thành cái đối lập mình; phủ định lần thứ hai chuyển cái trung gian thành cái đối lập với
nó, sự vật dường như lặp lại cái xuất phát nhưng trên cơ sở mới cao hơn.
- Quy luật phủ định của phủ định khái quát tính chất tiến lên của sự phát triển. Sự phát
triển không phải diễn ra theo đường thẳng mà theo đường “xoáy ốc”
- Diễn tả quy luật phủ định của phủ định bằng đường xoáy ốc chính là hình thức biểu đạt
rõ ràng nhất các đặc trưng của quá trình phát triển biện chứng: tính kế thừa, tính lặp lại
nhưng không quay trở lại mà tiến lên của sự phát triển. Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc
thể hiện một trình độ cao hơn của sự phát triển, đồng thời dường như quay trở lại cái đã
qua, dường như lặp lại vòng trước. Sự nối tiếp nhau của các vòng thể hiện tính vô tận của
sự phát triển, tính vô tận của sự tiến lên từ thấp đến cao.
Nội dung quy luật
Quy luật này nói lên mối liên hệ, sự kế thừa giữa cái bị phủ định và cái phủ định; do sự
kế thừa đó, phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, bác bỏ tất cả sự
phát triển trước đó, mà là điều kiện cho sự phát triển, nó duy trì và gìn giữ nội dung tích
cực của các giai đoạn trước, lặp lại một số đặc điểm cơ bản của cái xuất phát, nhưng
trên cơ sở mới cao hơn; do vậy, sự phát triển có thính chất tiến lên không phải theo
đường thẳng, mà theo đường xoáy ốc.
c. Ý nghĩa phương pháp luận


- Giúp ta hiểu được khuynh hướng của sự phát triển: tiến lên theo đường trôn ốc, cái mới
ra đời trên cơ sở cái cũ, kế thừa tất cả những yếu tố tích cực của cái cũ. Chống lại thái độ
phủ định sạch trơn cái cũ.
- Khắc phục cách nhìn đơn giản về sự phát triển: phát triển theo đường thẳng, đường tròn
khép kín.
- Trong công tác chúng ta phải biết quý trọng và phát hiện cái mới, phải tin vào tương lai
phát triển của cái mới, mặc dù lúc đầu nó có thể là cái cá biệt, nhưng dần dần cái cá biệt
khi được bồi dưỡng, phát huy nó sẽ trở thành cái phổ biến, hoàn thiện

5. QUY LUẬT QHSX PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN
CỦA LLSX
a. Khái niệm lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
* Lực lượng sản xuất và các yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên
trong quá trình sản xuất. (Là khái niệm để chỉ những phương thức kết hợp giữa người lao
động với TLSX trong sản xuất vật chất)
Với ý nghĩa như vậy, lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong
quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Nói cách khác, trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất nó thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người.
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, bao
gồm:
+ Người lao động với những kỹ năng, kỹ xảo, thói quen, tri thức, kinh nghịêm nhất định
có khả năng sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên để tạo ra của cải vật chất.
+ Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động.
+ Đối tượng lao động là những vật mà người lao động tác động vào để tạo ra của cải vật
chất.
+ Tư liệu lao động gồm công cụ lao động và những phương tiện lao động khác, là những
vật hay phức hợp những vật mà người lao động sử dụng để tác động vào đối tượng lao
động.
- Các yếu tố của lực lượng sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó người
lao động đóng vai trò quyết định, “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là
công nhân, là người lao động”.
- Trong tư liệu sản xuất, công cụ lao động là yếu tố cơ bản đóng vai trò quyết định. Công
cụ lao động do con người sáng tạo ra, là “sức mạnh của tri thức đã được vật thể hoá”, nó
có tác dụng “nối dài bàn tay và nhân lên sức mạnh trí tuệ” của con người trong quá trình
lao động sản xuất.


- Ngày nay, khoa học – công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Những thành tựu của khoa học – công nghệ được ứng dụng nhanh chóng và rộng rãi vào
sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Sự xâm nhập ngày càng sâu
của khoa học – công nghệ vào quá trình sản xuất đã làm cho lực lượng sản xuất có bước
phát triển nhảy vọt.
* Quan hệ sản xuất và ba mặt của quan hệ sản xuất
Trong quá trình sản xuất, con người không chỉ có mối quan hệ cới tự nhiên mà con có
mối quan hệ với nhau. Khái quát mối quan hệ giữa con người với con người trong quá
trình sản xuất, triết học Mác-Lênin gọi đó là quan hệ sản xuất.
Vậy, quan hệ sản xuất là quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất.
Đây không phải là quan hệ tình cảm, quan hệ tinh thần, mà đây là những quan hệ được
hình thành một cách khách quan (quan hệ vật chất). Đây là quan hệ cơ bản nhất, nó quy
định các quan hệ xã hội khác.
- Quan hệ sản xuất bao gồm:
+ Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất.
Có hai hình thức chiếm hữu cơ bản:Chiếm hữu xã hội (công hữu), Chiếm hữu tư nhân (tư
hữu)
+ Quan hệ giữa người với người trong việc quản lý và phân công lao động.
+ Quan hệ giữa người với người trong phân phối sản phẩm. Trong lịch sử đã có những
hình thức phân phối như: phân phối bình quân, phân phối theo tư liệu sản xuất, phân phối
theo lao động, v.v..
- Các mặt hợp thành quan hệ sản xuất gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ về sở
hữu tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định. Bởi lẽ, ai nắm được tư liệu sản xuất trong tay
người đó sẽ quyết định việc tổ chức, quản lý sản xuất cũng như phân phối sản phẩm lao
động.
b. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
* Tính thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúng tồn
tại khồn tách rời nhau mà tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quy
luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất.
Phù hợp là gì? Phù hợp là sự thích ứng tương dối tạm thời, thoảng qua của QHSX với
LLSX, và đây là mối quan hệ luôn vận động và biến đối không ngừng, cái không phù hợp
bị cái phù hợp phủ định…đây là sự phát triển theo con đường xoáy ốc.
* Trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất


- Trình độ của lực lượng sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của công cụ lao động,
trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng lao động của con người, trình độ tổ chức và phân công lao
động xã hội, trình độ ứng dụng của khoa hhọc vào quá trình sản xuất. Như vậy, trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất như thế nào nó sẽ phản ánh tính chất của lực lượng sảm
xuất như thế ấy.
- Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và sức lao động. Khi
sản xuất dựa trên công cụ thủ công, phân công lao động kém phát triển thì lực lượng sản
xuất có tính chất cá nhân. Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí hiện đại, phân công lao
động xã hội phát triển thì lực lượng sản xuất ngày càng có tính chất xã hội hoá.
* Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất
- Trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất
là hình thức xã hội của nó. Do đó, trong mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất, lực lượng sản xuất đóng vai trò quyết định.
- Trong phương thức sản xuất thì lực lượng sản xuất là yếu tố động nhất, cách mạng nhất.
Bởi vì, trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc, và đạt được năng xuất, hiệu
quả cao hơn, con người luôn tìm cách không ngừng nâng cao trình độ của mình, cải tiến,
hoàn thiện công cụ lao động và chế tạo ra những công cụ lao động mới ngày càng tinh
xảo hơn, vì thế, làm cho lực lượng sản xuất không ngừng biến đổi và phát triển.
- Cùng với sự biến đổi và phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất mới hình
thành, biến đổi và phát triển theo:
+ Khi quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi và theo kịp, phù hợp với trình độ phát triển
và tính chất của lực lượng sản xuất thì nó sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát
triển.
+ Khi quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi nhưng nó không theo kịp, không phù hợp với
trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất thì nó sẽ trở thành “xiềng xích” của
lực lượng sản xuất, kìm hảm lực lượng sản xuất phát triển. Khi mâu thuẫn này đạt đến độ
chín muồi thì quan hệ sản xuất cũ sẽ bị xoá bỏ và thay thế vào đó là một quan hệ sản xuất
mới tiến bộ hơn, phù hợp với trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất. Việc
xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ và thay thế vào đó là một quan hệ sản xuất tiến bộ hơn, cũng
có nghĩa là sự diệt vong của cả một phương thức sản xuất cũ, lỗi thời và thay thế vào đó
là một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn.
Như vậy, lực lượng sản xuất là nguyên nhân, là nội dung sinh động đòi hỏi quan hệ sản
xuất hình thành, biến đổi và phát triển cho phù hợp với trình độ phát triển và tính chất của
lượng sản xuất.
* Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với trình độ phát triển và tính
chất của lực lượng sản xuất
Mặc dù quan hệ sản xuất do lực lượng sản xuất quy định, nhưng nó cũng có vai
trò nhất định trong sự tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất.


- Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội mà lực lượng sản xuất dựa vào đó để phát
triển; do đó, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất. Tác động đó
diễn ra theo hai hướng:
- Thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, nếu quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ lực lượng sản xuất.
- Kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, nếu quan hệ sản xuất không phù hợp với
trình độ lực lượng sản xuất.
K.Marx viết: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật
chất của xã hội sẽ mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, ... mâu thuẫn với
những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển.
Từ chỗ là hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành
xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại của một cuộc cách mạng
xã hội” (Tuyển tập.tII, 638-639).
Tác dụng kìm hãm của lực lượng sản xuất không chỉ trong trường hợp quan hệ
sản xuất lạc hậu so với trình độ lực lượng sản xuất, mà cả trong trường hợp có những yếu
tố của quan hệ sản xuất vượt trước trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
- Sở dĩ quan hệ sản xuất đóng vai trò tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng
sản xuất là vì nó quy định mục đích của sản xuất, quy định hệ thống quản lý sản xuất và
quản lý xã hội, quy định phương thức phân thối sản phẩm. Từ đó nó hình thành nên một
hệ thống những yếu tố hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hảm sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Như vậy, lực lượng sản xuất phát triển chẳng những do yếu tố nội tại của nó, mà
còn do sự tác động của quan hệ sản xuất. Quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất
với trình độ phát triển và tính chất của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động
đến toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại. Sự tác động này đã đưa xã hội loài người trải qua
các phương thức sản xuất khác nhau từ thấp đến cao.
* Ý nghĩa phương pháp luận
- Phát triển lực lượng sản xuất: công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng lực lượng sản
xuất tiên tiến. Coi trọng yếu tố con người trong lực lượng sản xuất.
- Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đảm bảo sự phù hợp của quan hệ sản xuất với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm phát huy mọi tiềm năng vốn có của lực
lượng sản xuất ở nước ta.
- Từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Phát huy vai trò chủ đạo của
thành phần kinh tế nhà nước. Nâng cao sự quản lý của Nhà nước đối với các thành phần
kinh tế; đảm bảo các thành phần kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


6. BIỆN CHỨNG GIỮA CƠ SỞ HẠ TẦNG VÀ KIẾN TRÚC
THƯỢNG TẦNG
1. Khái niệm cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
a. Khái niệm cơ sở hạ tầng
* Khái niệm cơ sở hạ tầng
Quan điểm duy tâm, siêu hình coi xã hội là con số cộng đơn giản giữa người với người,
giữa người với vật; trái lại, triết học mácxít coi xã hội là tổng hợp những quan hệ giữa
người với người, trong đó quan hệ kinh tế là nền tảng của xã hội và là cơ sở của tất cả các
quan hệ xã hội khác.
- Cơ sở hạ tầng là gì? Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ
cấu kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
(Kết cấu hạ tầng là những yếu tố gắn kết CÁC yếu tố của LLSX chứ nó không phải là
CSHT)
K.Marx đã viết: “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy, hợp thành cơ cấu kinh tế của xã
hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính
trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”.
* Kết cấu của cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng bao gồm nhiều kiểu quan hệ sản xuất:
- Quan hệ sản xuất thống trị
- Quan hệ sản xuất tàn dư
- Quan hệ sản xuất mầm mống
Trong đó quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trò quyết định.
b. Khái niệm kiến trúc thượng tầng
* Khái niệm kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo
đức, tôn giáo, nghệ thuật v.v… cùng với các thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước,
đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội … hình thành trên một cơ sở xã hội nhất định.
* Các yếu tố cơ bản hợp thành kiến trúc thượng tầng của xã hội
- Những tư tưởng xã hội về chính trị, pháp quyền, triết học, khoa học, đạo đức, nghệ
thuật, tôn giáo.
- Những thiết chế tương ứng với những tư tưởng đó (nhà nước, các tổ chức chính trị, văn
hóa, các tổ chức tôn giáo, v.v..)
* Nhà nước – bộ máy tổ chức quyền lực đặc biệt của xã hội có đối kháng giai cấp


Bộ phận có quyền lực đặc biệt nhất trong kiến trúc thượng tầng của xã hội có đối kháng
giai cấp là Nhà nước – công cụ của giai cấp thống trị xã hội về chính trị, pháp lý. Chính
nhờ có Nhà nước mà tư tưởng của giai cấp thống trị mới thống trị được toàn bộ đời sống
xã hội. Giai cấp nào thống trị được về mặt kinh tế và nắm giữ quyền lực nhà nước thì hệ
tư tưởng cùng với những thiết chế xã hội của giai cấp ấy cũng giữ địa vị thống trị, nó quy
định và tác động trực tiếp đến xu hướng phát triển của toàn bộ đời sống tinh thần của xã
hội và quyết định cả tính chất, đặc trưng cơ bản của toàn bộ kiến trúc thượng tầng của xã
hội.
2. Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội
a. Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
- Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng trước hết thể hiện ở
chỗ, cơ sở hạ tầng nào thì nảy sinh ra kiến trúc thượng tầng ấy.
- Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm vị trí thống trị về kinh tế thì cũng chiếm
địa vị thống trị về đời sống chính trị.
- Mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế, xét đến cùng nó sẽ quyết định mâu thuẫn trong lĩnh
vực chính trị, tư tưởng.
- Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào cơ
sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định. Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến
trúc thượng tầng còn thể hiện ở chỗ, cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn kiến trúc
thượng tầng cũng phải thay đổi theo. Sự thay đổi đó không chỉ diễn ra trong giai đoạn
thay đổi từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, mà còn diễn
ra ngay trong bản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội.
- Sự thay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến sự thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp.
Trong đó có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng với sự
thay đổi của cơ sở hạ tầng như chính trị, pháp quyền.... nhưng cũng có những yếu tố thay
đổi chậm hơn rất nhiều so với sự biến đổi của cơ sở hạ tầng như tôn giáo, nghệ thuật,
hoặc có những yếu tố tiếp tục tồn tại dai dẳng ngay cả khi cơ sở kinh tế nảy sinh ra nó
không còn tồn tại và có những yếu tố của kiến trúc thượng tầng được kế thừa trong xã hội
mới. Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi đó thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng
xã hội.
b. Vai trò tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
- Toàn bộ kiến trúc thượng tầng cũng như các yếu tố cấu thành nó đều có tính độc lập
tương đối trong quá trình vận động và phát triển của cơ sở hạ tầng. Sự tác động trở lại của
kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thể hiện chức năng xã hội của kiến trúc
thượng tầng là bảo vệ, duy trì, củng cố và phát triển cơ sở hạ tầng sinh ra nó, chống lại
mọi nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó. Một giai cấp chỉ có thể đứng
vững được trong quan hệ thống trị về kinh tế chừng nào xác lập và củng cố được sự
thống trị về chính trị, tư tưởng.


- Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đến cơ sở hạ tầng.
Tuy nhiên, mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, có cách thức tác động khác nhau.
Trong xã hội có giai cấp thì nhà nước là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đối với cơ sở
hạ tầng, vì đó là bộ máy bạo lực, tập trung quyền lực của giai cấp thống trị về kinh tế.
Các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như triết học, đạo đức, nghệ thuật .... cũng đều
tác động đến cơ sở hạ tầng bằng những cách khác nhau. Thường những tác động đó phải
thông qua nhà nước, pháp quyền thì mới phát huy được hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng,
cũng như đối với toàn xã hội.
- Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai hướng:
+ Nếu kiến trúc thượng tầng phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động
lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển.
+ Còn ngược lại thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế, kimg hãm sự phát triển của
xã hội. Nhưng sự kìm hãm đó chỉ là tạm thời, sớm hay muộn, bằng cách này hay cách
khác, kiến trúc thượng tầng cũ sẽ được thay thế bằng kiến trúc thượng tầng mới phù hợp
với yêu cầu của cơ sở hạ tầng.
- Trong bản thân kiến trúc thượng tầng cũng diễn ra quá trình biến đổi, phát triển có tính
chất tương đối. Qúa trình đó càng phù hợp với cơ sở hạ tầng thì sự tác động của nó đối
với cơ sơ hạ tầng càng có hiệu quả.

7. HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI VÀ QUÁ TRÌNH LỊCH SỬ TỰ
NHIÊN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ
HỘI
1. Khái niệm, kết cấu hình thái kinh tế-xã hội
a. Khái niệm hình thái kinh tế-xã hội
Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội
ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất tương ứng với
những lực lượng sản xuất ở một trình độ phát triển nhất định và một kiến trúc thượng
tầng được dựng lên trên những quan hệ sản xuất đó.
Xã hội loài người đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội và tương ứng với 5 phương thức
sản xuất: Cộng sản nguyên thủy Ò chiếm hữu nô lệ Ò phong kiến Ò tư bản chủ
nghĩa Ò cộng sản chủ nghĩa.
b. Kết cấu của hình thái kinh tế-xã hội
Xã hội không phải là tổng số những hiện tượng, sự kiện rời rạc, những cá nhân riêng lẻ.
Xã hội là một chỉnh thể toàn vẹn có cơ cấu phức tạp, trong đó có những mặt cơ bản nhất
là: lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Mỗi mặt đó có một vai
trò nhất định và tác động đến các mặt khác tạo nên sự vận động của cơ chế xã hội. Chính
tính toàn vẹn đó được phản ánh bằng khái niệm hình thái kinh tế - xã hội.


- Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế - xã hội.
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau sẽ có những lực lượng sản xuất khác nhau. Sự
hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế - xã hội, xét đến cùng do lực lượng sản
xuất quyết định. Lực lượng sản xuất phát triển qua các hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp
nhau từ thấp đến cao.
- Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất. Đây là quan
hệ cơ bản ban đầu và quyết định tất cả những quan hệ xã hội khác. Mỗi hình thái kinh tế xã hội lại có một quan hệ sản xuất của nó tương ứng với một trình độ nhất định của lực
lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất đó là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ thể
này với xã hội cụ thể khác, đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển nhất định của
lịch sử.
- Kiến trúc thượng tầng. Những quan hệ sản xuất là bộ xương cơ thể xã hội hợp thành cơ
sở hạ tầng. Trên cơ sở những quan hệ sản xuất đó hình thành nên những quan điểm về
chính trị, pháp lý, đạo đức, triết học ... và những thiết chế tương ứng hợp thành kiến trúc
tượng tầng xã hội mà chức năng xã hội của nó là bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ
tầng sinh ra nó.
Ngoài những mặt cơ bản nêu trên (lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng) thì hình thái kinh tế - xã hội còn có những quan hệ dân tộc, quan hệ gia đình
và các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ đó gắn bó chặt chẽ với quan hệ sản xuất, biến
đổi cùng với sự biến đổi của các quan hệ sản xuất.
2. Quá trình lịch sử-tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế-xã hội
a. Tính lịch sử-tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế-xã hội
- Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển nối tiếp
nhau từ thấp đến cao. Tương ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế - xã hội. Sự
vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử đều do tác động
của các quy luật khách quan, đó là quá trìn lịch sử tự nhiên của xã hội.
Trên cơ sở phát hiện các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội, K.Marx đã
đi đến kết luận “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình
lịch sử - tự nhiên” (Tập 23, tr.21).
- Các mặt hợp thành của hình thái kinh tế - xã hội không tách rời nhau mà có mối liên hệ
biện chứng với nhau hình thành nên những quy luật vận động, phát triển khách quan và
phổ biến của xã hội. Đó là quy luật của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc
thượng tầng và các quy luật xã hội khác.
Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà các hình thái kinh tế - xã hội vận
động và phát triển từ thấp đến cao như một quá trình lịch sử tự nhiên, không phụ thuộc
vào ý muốn của con người. Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động và phát
triển của các hình thái kinh tế - xã hội thì sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất


và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có vai trò quyết định nhất. Nó vừa đảm
bảo tính kế thừa trong sự phát triển, vừa biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển của
lịch sử xã hội loài người.
- Sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế - xã hội phát
triển thay thế nhau từ thấp đến cao – đó là con đường phát triển chung của nhân loại.
Song, con đường phát triển của mỗi dân tộc không bị chi phối bởi các quy luật chung, mà
còn bị tác động bởi các điều kiện về tự nhiên, về chính trị, về truyền thống văn hoá, điều
kiện quốc v.v... Chính vì vậy, lịch sử phát triển của nhân loại hết sức phong phú và đa
dạng. Mỗi dân tộc đều có những nét độc đáo riêng trong sự phát triển của mình. Có
những dân tộc lần lượt trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao. Nhưng có
những dân tộc bỏ qua một hay một số hình thái kinh tế - xã hội nào đó. Tuy nhiên, sự bỏ
qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử tự nhiên chứ không phải theo ý muốn chủ
quan.
K.Marx đã từng lưu ý: “Một số dân tộc, một số quốc gia bỏ qua một vài giai đoạn để đến
với một giai đoạn xã hội cao hơn không phải là không có điều kiện mà nó phải tuân thủ
theo các điều kiện: Phương thức sản xuất định bỏ qua đã lạc hậu, lỗi thời; phương thức
mà xã hội ấy muốn thiết lập thì nó đã hình thành hoặc ít ra nó cũng đang hình thành và tỏ
rõ được tính ưu việt của nó; phải có sự giúp đỡ của quốc tế; ngoài ra bản thân dân tộc đó
phải có được lực lượng cách mạng - một chính đảng có đầy đủ năng lực để lãnh đạo
thắng lợi cuộc cách mạng ấy.
Như vậy, quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của sự phát triển xã hội chẳng những diễn
ra bằng con đường phát triển tuần tự, mà còn bao hàm cả sự bỏ qua một vài hình thái
kinh tế - xã hội trong những điều kiện nhất định.
b. Giá trị lịch sử của học thuyết hình thái – kinh tế xã hội
- Là cơ sở lý luận để hiểu được cấu trúc và quy luật phát triển của xã hội loài người
- Chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình về xã hội.
- Hiểu sự phát triển của xã hội như là quá trình lịch sử - tự nhiên.
V.I.Lênin viết: “Chủ nghĩa Mác mở đường cho việc nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá
trình phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế-xã hội, bằng cách xem xét
toàn bộ những xu hướng mâu thuẫn nhau, bằng cách quy những xu hướng ấy vào những
điều kiện sinh hoạt và sản xuất đã được xác định rõ ràng của các giai cấp trong xã hội,
bằng cách gạt bỏ chủ nghĩa chủ quan và thái độ tùy tiện khi lựa chọn những tư tưởng “chỉ
đạo” hay khi giải thích những tư tưởng ấy, bằng cách vạch ra nguồn gốc của mọi tư
tưởng và của mọi xu hướng khác nhau trong trạng thái của của lực lượng sản xuất vật
chất, không trừ một tư tưởng, một xu hướng nào cả. Con người làm ra lịch sử của chính
mình, nhưng cái gì quyết định những động cơ của con người và của chính quần chúng
nhân dân; nguyên nhân của những xung đột giữa những tư tưởng mâu thuẫn và giữa
những nguyện vọng mâu thuẫn là gì, toàn bộ những xung đột ấy trong toàn thể xã hội loài
người là như thế nào; những điều kiện khách quan của sự sản xuất ra đời sống vật chất,


tức là những điều kiện làm cơ sở cho mọi hoạt động lịch sử của con người, là những gì,
quy luật phát triển của những điều kiện ấy là gì? Mác đã chú ý đến tất cả những vấn đề ấy
và đã vạch ra con đường nghiên cứu lịch sử một cách khoa học, coi lịch sử là một quá
trình thống nhất và có quy luật, mặc dù quá trình đó cực kỳ phức tạp và có rất nhiều mâu
thuẫn [26/68-69].
- Nghiên cứu học thuyết hình thái kinh tế-xã hội giúp ta hiểu được đường lối và chủ
trương của Đảng ta trong việc xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để xây
dựng hình thái kinh tế-xã hội ở nước ta Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phát triển
lực lượng sản xuất bằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng cơ sở hạ tầng bằng chủ
trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng kiến trúc
thượng tầng xã hội chủ nghĩa bằng việc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, lấy
chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho hành động, v.v..

8. QUAN ĐIỂM CỦA CNDVLS VỀ CON NGƯỜI VÀ BẢN CHẤT
CỦA CON NGƯỜI
1. Con người và bản chất của con người
a. Quan niệm về con người trong Triết học Phương đông
- Phật giáo: Con người là sự kết hợp giữa sắc và danh (vật chất và tinh thần). Cuộc sống
vĩnh cửu là cõi Niết bàn, nơi linh hồn con người được giải thoát để trở thành bất diệt.
- Khổng Tử (551 – 479 tr.CN): Bản chất của con người là do “thiên mệnh”, chi phối,
đức “nhân” là giá trị cao nhất của con người, đặc biệt là con người quân tử. Khổng Tử
chia con người trong xã hội thành “quân tử” và “tiểu nhân”.
- Mạnh Tử: quy tính chất của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh hưởng của
phong tục, tập quán xấu, xa rời cái tốt đẹp. Vì vậy, phải thông qua tư tưởng, rèn luyện để
giữ được đạo đức của mình.
- Tuân Tử: Ông cho rằng, bản chất của con người khi sinh ra là các, nhưng có thể cải
biến được, phải chống lại cái ác, con người mới tốt được.
- Đổng Trọng Thư: Là người kế thừa Nho giáo theo xu hướng duy tâm cực đoan. Ông
quan niệm Trời và Người có thể thông hiểu lẫn nhau (Thiên nhân cảm ứng). Cuộc đời
con người bị quyết định bởi “thiên mệnh”.
- Lão Tử: Con người được sinh ra từ “Đạo”. Vì vậy, con người cần phải sống “vô vi”
theo lẽ tự nhiên, không trái với tự nhiên.
Có thể nói rằng, với nhiều hệ thống triết học khác nhau, triết học phương Đông biểu hiện
tính đa dạng và phong phú thiên về vấn đề con người trong mối quan hệ chính trị, đạo
đức...


Nhìn chung con người trong triết học phương Đông biểu hiện yếu tố duy tâm có pha trộn
tính chất duy vật chất phác ngây thơ trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội.
b. Quan niệm về con người trong triết học phương Tây trước K.Marx.
- Ky tô giáo: Ky tô giáo quan niệm con người có thể xác và linh hồn. Thể xác thì mất đi
nhưng linh hồn tồn tại vĩnh cửu. Vì vậy, phải thường xuyên chăm sóc linh hồn để hướng
đến Thiên đường vĩnh của.
- Hy Lạp cổ đại: Con người là một tiểu vũ trụ trong vũ bao la.
- Thời kỳ Trung cổ: Con người là sản phẩm sáng tạo của thượng đế. Cuộc sống trần thế
là tạm bợ, hạnh phúc là ở thế giới bên kia.
- Triết học Phục hưng: Con người là một thực thể có trí tuệ.
- Triết học cổ điển Đức: G.V.Hegel cho rằng, là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”, còn
L.Feuerbach lại cho rằng, con người là kết quả của sự phát triển của tự nhiên. Con người
và tự nhiên là thống nhất, không thể tách rời.
Các quan niệm về con người trong thời kỳ triết học trước Marx, dù là đứng trên nền tảng
thế giới quan duy tâm, nhị nguyên hay duy vật siêu hình đền không phản ánh đúng bản
chất con người. Nhìn chung các quan niệm trên đều xem xét con người một cách trừu
tượng, hoặc là tuyệt đối hoá mặt tinh thần, hoặc là tuyệt đối hoá mặt thể xác của con
người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên – sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống
con người.
c. Quan niệm của triết học Mác-Lênin về bản chất con người.
Trong tác phẩm Luận cương về Feuerbach, K.Marx chỉ ra hạn chế của Feuerbach trong
việc xem xét con người như là một cơ thể sinh vật có ý thức và tình cảm, như tình yêu,
tình bạn, không thấy mặt xã hội và hoạt động thực tiễn của con người. K.Marx vạch rõ:
“Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã
hội” (Toàn tập, tập 3, tr.11).
* Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội
- Mặt sinh vật bao gồm cơ thể cùng những nhu cầu cơ thể và những quy luật sinh học chi
phối đời sống của cơ thể con người.
- Mặt xã hội bao gồm “tổng hòa những quan hệ xã hội”, những hoạt động xã hội, đời
sống tinh thần của con người.
Hai mặt này có quan hệ khắng khít không thể tách rời nhau, trong đó mặt sinh học là nền
tảng vật chất tự nhiên của con người, nhưng không phải là yếu tố quyết định bản chất của
con người; mặt xã hội mới là mặtgiữ vai trò quyết định bản chất của con người. Bởi mặt
xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất. Lao động sản xuất ra
của cải vật chất là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời
hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.


Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quas trình hình thành và phát triển của con người
luôn luôn bị quyết định bởi hệ thống ba quy luật khác nhau nhưng thống nhất với nhau:
- Những quy luật sinh học chi phối đời sống của cơ thể
- Những quy luật hình thành tâm lý, ý thức.
- Những quy luật xã hội quy định đời sống xã hội của con người.
Ba hệ thống trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong đời sống con
người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội.
Bản chất của con người không phải là cái gì có sẵn, mà có quá trình hình thành, phát triển
và hoàn thiện cùng với hoạt động thực tiễn của con người.
* Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội.
Trong tác phẩm Luận cương về Feuerbach, K.Marx khẳng định: “Trong tính hiện thực
của nó, bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội”.
- Luận đề trên đã chỉ rõ: Con người luôn luôm cụ thể, xác định, sống trong một điều kiện
lịch sử cụ thể nhất định. Trong điều kiện lịch sử cụ thể đó, bằng hoạt động thực tiễn của
mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể
lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội, con người mới bộc lộ toàn
bộ bản chất xã hội của mình.
- Trong khi khẳng định bản chất xã hội của con người, triết học Mác-Lênin không phủ
nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người, triết học Mác-Lênin chỉ muốn nhấn mạnh sự
phân biệt giữa con người với thế giới động vật trước hết ở bản chất xã hội.
* Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
- Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người. Bởi
vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài của giới hữu sinh. Song,
điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội.
- Với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn, tác động vào tự nhiên, cải
biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội.
- Trong quá trình cải biến giới tự nhiên, con người cũng làm nên lịch sử của chính mình.
Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản
thân con người. Bản chất của con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ
thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải cho hoàn cảnh
ngày càng mang tính người nhiều hơn. Con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực
và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khách nhau. Đó là biện chứng của
mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội
loài người.


2. Khái niệm quần chúng nhân dân và vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân
dân và cá nhân
a. Khái niệm quần chúng nhân dân
Quần chúng nhân dân là bộ phân có cùng chung lợi ích căn bản bao gồm những thành
phần, những tầng lớp và những giai cấp liên kết lại thành tập thể dưới sự lãnh đạo của
một cá nhân, một tổ chức hay một đảng phái nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế, chính
trị, xã hội của một thời đại nhất định.
Quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động, biến đổi theo sự phát triển của
lịch sử xã hội.
b. Vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân và vai trò của cá nhân trong lịch
sử
* Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là lực lượng quyết định sự phát
triển của lịch sử
- Quần chúng nhân dân là người sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Hoạt động sản
xuất vật chất của họ là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội.
- Quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị tinh thần cho xã hội.
- Quần chúng nhân dân là chủ thể và là động lực của các phong trào xã hội.
- Lợi ích của quần chúng là điểm khởi đầu và cũng là mục đích cao nhất của mọi phong
trào cách mạng.
* Vai trò của cá nhân, vĩ nhân đối với sự phát triển của lịch sử
- Lãnh tụ là cá nhân kiệt xuất xuất hiện trong phong trào quần chúng nhân dân, được
quần chúng suy tôn làm người lãnh đạo phong trào quần chúng.
- Lãnh tụ là người có tri thức uyên bác, có tầm nhìn xa trông rộng, nắm được xu thế phát
triển khách quan của lịch sử, đề ra được đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn cho
phong trào quần chúng.
- Lãnh tụ là người có năng lực tập hợp, thống nhất, tổ chức, lãnh đạo quần chúng, thống
nhất hoạt động của quần chúng nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề ra.
- Lãnh tụ là người có ý chí, quyết tâm cao, có đạo đức tiêu biểu, là hạt nhât đoàn kết và
tượng trưng cho ý chí và sức mạnh của phong trào quần chúng.
* Cá nhân và mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội
- Cá nhân là gì? Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội nhất
định và được phân biệt với các cá thể khác thông qua tính đơn nhất và tính phổ biến của
nó.
- Quan hệ giữa cá nhân và xã hội


Cá nhân và xã hội có mối quan hệ khắng khít tác động lẫn nhau. Quan hệ về lợi ích
(trước hết là lợi ích kinh tế) là nền tảng của quan hệ cá nhân và xã hội.
+ Xã hội giữ vai trò quyết định đối với cá nhân, bởi vì:
Ø Sự hình thành nhân cách của cá nhân chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện xã hội
nhất định và phụ thuộc vào những điều kiện đó.
Ø Nhu cầu và lợi ích cá nhân chỉ hình thành và được thực hiện trong những điều kiện xã
hội nhất định.
+ Sự phát triển của cá nhân có tác động trở lại sự phát triển của xã hội:
Ø Cá nhân tích cực có vai trò thúc đẩy sự phát triển xã hội. nhất là những cá nhân kiệt
xuất (vĩ nhân) có vai trò rất to lớn trong sự phát triển xã hội. Nhân cách và hoạt động của
họ để lại dấu ấn rất sâu sắc trong lịch sử. Đó là những lãnh tụ cách mạng, những tướng
tài, những nhà triết học, khoa học, những tài năng nghệ thuật.
Ø Cá nhân tiêu cực có tác dụng kìm hãm sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, tác dụng kìm
hảm của họ chỉ có tính chất tạm thời, vì xã hội phát triển theo quy luật khách quan không
phụ thục ý chí cá nhân nào.
Trong các xã hội có giai cấp bóc lột, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội có mâu thuẫn
gay gắt. Chủ nghĩa cá nhân, nhất là chủ nghĩa cá nhân cực đoan là một trở ngại lớn cho
sự phát triển xã hội. Chúng ta đang phấn đấu xây dựng một xã hội, trong đó lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội được kết hợp hài hòa, tác động, thúc đẩy lẫn nhau cùg phát triển.
* Ý nghĩa phương pháp luận.
- Hiểu được vai trò quyết định của quần chúng nhân dân, tư đó xây dựng quan điểm quần
chúng: tôn trọng và tin tưởng vào sức mạnh và khả năng to lớn của quần chúng, dựa vào
quần chúng, phát huy nguồn sức mạnh tiềm tàng của quần chúng. Hiểu được quan điểm
của Hồ Chủ tịch và Đảng ta: coi sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
người cán bộ là đầy tờ trung thành của nhân dân.
- Hiểu được vai trò to lớn của lãnh tụ, lựa chọn lãnh tụ có đủ tài đức để lãnh đạo phong
trào. Tôn kính lãnh tụ, nhưng không được sùng bái cá nhân lãnh tụ. Tôn kính lãnh tụ là
tình cảm đạo đức đúng đắn, xuất phát từ chỗ hiểu biết tài năng, phẩm chất và cống hiến
của lãnh tụ. Trái lại, sùng bái cá nhân lãnh tụ xuất phát từ sự ngu dốt và mê tín, coi lãnh
tụ là thần thánh, làm cho lãnh tụ xa rời quần chúng, phạm sai lầm sai lầm không khắc
phục được.


Phần thứ nhất
1.Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức ................................................................................1
2. Nguyên lí về mối quan hệ phổ biến ..................................................................................................1
3. Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập......................................................................4
4. Quy luật phủ định của phủ định .......................................................................................................6
5. Quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX ...................................................................9
6. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ................................................................. 13
7. Hình thái kinh tế xã hội và quá trình lịch sử tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế xã hội .... 15
8. Quan điểm của CNDVLS về con người và bản chất của con người..................................................... 18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×