Tải bản đầy đủ

BÀI GIẢNG đạo đức TRONG CV

TRƢỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA QTKD

GV: ThS. LÊ PHÚC MINH CHUYÊN

TẬP BÀI GIẢNG
MÔN
ĐẠO ĐỨC TRONG CÔNG VIỆC

-1-


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
 MỤC TIÊU CỦA CHƢƠNG
Sau khi nghiên cứu chương này, sinh viên sẽ đạt được:
 Phát biểu được khái niệm về đạo đức và đạo đức kinh doanh
 Giải thích tầm quan trọng của đạo đức trong môi trường kinh doanh
 Phân biệt giữa đạo đức và pháp luật
 Hiểu và giải thích về quan điểm đạo đức của thuyết vị lợi
 Giải thích thuyết công bằng Rawlsian là một học thuyết bình đẳng

 Vận dụng kiến thức cơ bản về đạo đức kinh doanh để xem xét các tình huống trong
thực tiễn
1.1 Khái niệm về đạo đức kinh doanh
1.1.1 Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức đã xuất hiện
hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại. Có rất nhiều quan
điểm đưa ra khái niệm về đạo đức:
 Theo gốc từ Latinh:
Đạo đức - Moralital có nghĩa là luân lý - bản thân mình cư xử.
 Theo gốc từ Hy lạp:
Đạo đức - Ethigos có nghĩa là đạo lý - người khác muốn ta hành xử và ngược lại ta
muốn họ.
 Ở phương Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại, bắt
nguồn từ cách hiểu về đạo và đức:
- "Đạo" có nghĩa là con đường, đường đi, đường sống của con người,
- "Đức" có nghĩa là đức tính, nhân đức, các nguyên tắc luân lý.
Do vậy, theo quan điểm này thì đạo đức là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc
sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.
Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề
tốt - xấu, đúng – sai. Đạo đức gắn liền với nền văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết
học và luật lệ xã hội.
 Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn
mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với
lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã hội trong quan hệ cá nhân – cá nhân
và quan hệ cá nhân – xã hội
-2-


 Theo từ điển Điện tử American Heritage Dictionary:
Từ giác độ khoa học, “đạo đức là một bộ môn khoa học nghiên cứu về bản chất tự
nhiên của cái đúng - cái sai và phân biệt khi lựa chọn giữa cái đúng - cái sai, triết lý về cái
đúng - cái sai, quy tắc hay chuẩn mực chi phối hành vi của các thành viên cùng một nghề
nghiệp”
 Đặc điểm của đạo đức - Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội:
-

Đạo đức có tính giai cấp, tính khu vực, tính địa phương.

-


Nội dung các chuẩn mực đạo đức thay đổi theo điều kiện lịch sử cụ thể.
Chức năng cơ bản của đạo đức là điều chỉnh hành vi của con người theo các chuẩn
mực và quy tắc đạo đức đã được xã hội thừa nhận bằng sức mạnh của sự thôi thúc
lương tâm cá nhân, của dư luận xã hội, của tập quán truyền thống và của giáo dục.

Đạo đức quy định thái độ, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với bản thân cũng
như đối với người khác và xã hội. Vì thế đạo đức là khuôn mẫu, tiêu chuẩn để xây dựng lối
sống, lý tưởng mỗi người.
Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức gồm: độ lượng, khoan dung, chính trực khiêm
tốn, dũng cảm, trung thực, tín, thiện, tàn bạo, tham lam, kiêu ngạo, hèn nhát, phản bội, bất tín,
ác…
 Một số phạm trù cơ bản của đạo đức:
Khi nghiên cứu đạo đức chúng ta cần quan tâm đến một số phạm trù cơ bản của đạo
đức.
 Ý thức nghĩa vụ và tình cảm nghĩa vụ :
Nghĩa vụ của đạo đức thể hiện ở chỗ khi con người tham gia vào hoạt động sản xuất và
hoạt động sống, anh ta ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với người khác và đối với
cộng đồng. Từ thế kỷ 17-18, các nhà duy vật Pháp đã chỉ rõ “Nghĩa vụ đạo đức là cái tất yếu
đối với tất cả mọi người thực hiện trách nhiệm của mình”. Nghĩa vụ đạo đức đã xuất hiện rất
sớm và nó tồn tại với thời gian, tồn tại qua các giai đoạn phát triển của lịch sử loài người.
Điều đó cho thấy, ở bất kỳ chế độ xã hội nào, thời kỳ phát triển xã hội nào thì nghĩa vụ cũng
rất cần thiết.
Con người sống trong xã hội ai cũng có những nhu cầu và lợi ích riêng, đồng thời ai
cũng muốn được thoả mãn những nhu cầu và lợi ích ấy. Muốn vậy con người phải lao động,
sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho cuộc sống của mình. Lao động và cuộc
sống xã hội đòi hỏi sự bình đẳng, đoàn kết, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau nhằm đạt hiệu quả lao
động cao và có đời sống tốt đẹp hơn. Vì vậy, mỗi cá nhân phải có ý thức nghĩa vụ là kết hợp
hài hoà những nhu cầu và lợi ích của mình với nhu cầu và lợi ích của người khác, của toàn xã
hội. Trong quá trình giao tiếp xã hội, con người nảy sinh dần tình cảm nghĩa vụ, tôn trọng đối
-3-


với nhu cầu và lợi ích của người khác, của xã hội, biết tự nguyện đặt nhu cầu và lợi ích cá
nhân trong nhu cầu và lợi ích chung của toàn xã hội, thôi thúc con người thực hiện nghĩa vụ
của mình với xã hội.
 Nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ đạo đức:
Trong xã hội, điều chỉnh hành vi của con người là pháp luật, phong tục, tập quán, tôn
giáo và đạo đức. Pháp luật quy định rõ cái gì được làm và cái gì không được làm, quy định
các chuẩn mực hành vi của con người trong xã hội. Tuy nhiên trong một số lĩnh vực của đời
sống xã hội, thôn xóm, gia đình ... đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con
người. Đạo đức quy định các chuẩn mực hành vi mà con người cảm nhận rõ mình có nghĩa vụ
phải tự giác tuân theo dù không có quy định của pháp luật.
 Hành vi đạo đức và tình cảm đạo đức:
Con người sống là phải có hành động. Hành động của con người có loại do bản năng
chi phối, là phản xạ tự nhiên đối với sự kích thích bên ngoài gọi là hành động bản năng.
Nhưng hầu hết các hành động của con người lại là những hành động tự giác, có mục đích rõ
rệt, có suy tính và ít nhiều hình dung được kết quả của nó. Những hành động này là hành
động có động cơ và được gọi là hành vi của con người.
Hành vi đạo đức là những hành vi của con người có động cơ bên trong phù hợp với
các yêu cầu và chuẩn mực đạo đức của xã hội, của nhân dân, những động cơ cao thượng, vô
tư, xuất phát từ sự cảm thông và tình thương yêu thực sự đối với người khác.
Con người sống trong xã hội, ngoài yêu cầu hành động còn có tình cảm, đó là những
nhân tố bên trong của tâm hồn con người, thể hiện thái độ cảm xúc của con người đối với
hiện thực khách quan.
Tình cảm của con người bao gồm: Tình cảm trí tuệ (lòng ham hiểu biết, sự say mê
khoa học, say mê nghiên cứu tìm tòi ...); tình cảm thẩm mỹ (yêu âm nhạc, nghệ thuật, văn
học, yêu cái đẹp, yêu sự hài hoà ...); tình cảm đạo đức (lòng nhân ái, yêu sự công bằng, yêu
lao động, ghét ăn bám bóc lột, yêu dân chủ và bình đẳng, ghét áp bức bất công ...)
Tình cảm đạo đức là những tình cảm của con người do các quan niệm đạo đức, các
chuẩn mực đạo đức chi phối, trở thành động lực bên trong của các đức tính, nhu cầu thực hiện
hành vi đạo đức, là động cơ của hành vi đạo đức.
Tình cảm đạo đức khi thì có ý nghĩa tích cực (lòng yêu thương, đồng cảm, quý mến
...), khi thì lại có ý nghĩa tiêu cực (lòng ghen ghét, đố kỵ ...).
 Lương tâm:
Tình cảm đạo đức của mỗi người và năng lực tự đánh giá hành vi đạo đức của chính
mình, đó là lương tâm. Khi con người có tình cảm đạo đức mạnh, luôn thực hiện những hành
vi đạo đức tốt thì lương tâm con người đó trong sáng và yên ổn. Khi con người có tình cảm
-4-


đạo đức chưa đủ mạnh, có lúc còn có những hành vi trái với chuẩn mực đạo đức của xã hội,
có những hành động sai lầm thì lương tâm vị cắn rứt, không yên ổn.
Lương tâm là một tình cảm tốt đẹp, thôi thúc con người vươn lên những giá trị đạo đức
đẹp đẽ, cao thượng, phải luôn luôn phấn đầu giữ lương tâm trong sạch.
 Nhân phẩm và danh dự :
Nhân phẩm là giá trị đạo đức cao đẹp của mỗi người, là điều mà ai cũng quan tâm và
chăm lo giữ gìn. Giữ được nhân phẩm ở mọi nơi, mọi lúc trong mọi hoàn cảnh là một điều
khó khăn, đòi hỏi mỗi người phải thường xuyên rèn luyện.
Nhân phẩm (còn gọi là phẩm giá) của con người là toàn bộ những giá trị đạo đức cao
đẹp mà người đó đã đạt được, là giá trị làm người của mỗi con người.
Người có nhân phẩm phải là người có những hiểu biết tốt đẹp sau :
-

Có lương tâm trong sáng, động cơ hành vi hợp đạo đức, có nhu cầu tinh thần và xã
hội phát triển cao, lành mạnh.

-

Thực hiện tốt các nghĩa vụ đạo đức đối với xã hội, với người khác.
Thực hiện tốt các chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Xã hội đánh giá cao người có nhân phẩm, được kính trọng và có vinh dự lớn. Người
không có nhân phẩm sẽ bị xã hội coi thường, thậm chí khinh rẻ.
Danh dự là nhân phẩm của con người đã được xã hội cũng như chính bản thân người
đó đánh giá, công nhận. Mỗi người có quyền đánh giá công nhận nhân phẩm của mình, nhưng
sự đánh giá và công nhận của xã hội thường vẫn có ý nghĩa quyết định. Danh dự có ý nghĩa
rất lớn đối với con người. Trừ một số kẻ đạo đức xấu. Người ta ai cũng có danh dự mà chính
mỗi người phải giữ gìn và mọi người trong xã hội phải tôn trọng, không được xúc phạm. Giữ
gìn danh dự là sức mạnh tinh thần thúc đẩy con người làm điều tốt và ngăn cản con người
làm điều xấu.
Con người cũng phải có lòng tự trọng, chăm lo giữ gìn nhân phẩm và danh dự của
mình đồng thời luôn luôn tôn trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, không được có hành
vi thô bạo xúc phạm đến những giá trị đạo đức và nhân phẩm của người khác. Người có lòng
tự trọng sẽ được xã hội quý trọng và sự quý trọng của xã hội càng củng cố lòng tự trọng của
mỗi cá nhân.
 Hạnh phúc và tình yêu
Trong cuộc sống của cá nhân, những kích thích bên ngoài, những tác động của hiện
thực khách quan đã ảnh hưởng tới con người và gây ra những cảm xúc rung cảm, làm cho con
người vui sướng hoặc đau khổ ở nhiều mức độ khác nhau, tuỳ theo con người được thoả mãn
hoặc không thoả mãn nhu cầu lợi ích, những mong ước chủ quan để đảm bảo sự sống và sự
phát triển của mình.
-5-


Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng, bao gồm : nhu cầu vật chất (như ăn,
mặc, ở, đi lại ...) nhu cầu tinh thần (như học tập, nghiên cứu sáng tạo, thưởng thức văn hoá
nghệ thuật ...), nhu cầu giao tiếp và hoạt động xã hội. Con người luôn vươn tới sự thoả mãn
nhu cầu vì khi đã thoả mãn được nhu cầu này thì con người lại nảy sinh những nhu cầu mới
cao hơn, phức tạp hơn đòi hỏi được thoả mãn tiếp.
Khi con người được đáp ứng nhu cầu và lợi ích của mình thì con người có cảm xúc vui
sướng, thích thú, khoan khoái ... và lúc đó con người cảm thấy hạnh phúc.
Cảm xúc của con người luôn gắn với từng cá nhân cụ thể cho nên nói đến hạnh phúc
trước tiên là nói đến hạnh phúc cá nhân. Tuy vậy con người sống trong xã hội phải có nghĩa
vụ đối với mọi người đem lại lợi ích và hạnh phúc cho mọi người, phục vụ lợi ích và hạnh
phúc của xã hội. Vì vậy con người phải chăm lo xây dựng hạnh phúc cho mình và cho mọi
người.
Lòng yêu nước, tình yêu đất nước là một tình cảm đã có từ lâu đời, nó được lớn dần
lên cùng với sự mở rộng quan hệ của con người với đất nước. Qua nhiều thế hệ tình yêu đất
nước được củng cố, được kế thừa những giá trị tinh hoa và được nâng lên mãi, có xu hướng
mong muốn đem toàn bộ hoạt động của mình phục vụ lợi ích của Tổ Quốc.
Tình yêu đất nước được bắt nguồn từ :
- Tình yêu đối với những người thân thiết nhất, gần gũi nhất của mỗi người trong xã
hội như : Tình yêu cha mẹ, vợ con, anh, chị em, họ hàng, tình yêu lứa đôi và những
người xung quanh mình.
-

-

Tình yêu quê hương, lúc đầu là thôn xóm, làng xã nơi mình sinh ra, nơi gắn bó
những kỷ niệm thời thơ ấu. Khi con người lớn lên, hoạt động xã hội mở rộng thì
quê hương là Huyện, Tỉnh hoặc Thành phố của mình và lớn nhất là Đất nước.
Từ tình yêu người thân, yêu xung quanh và yêu quê hương, mỗi người tiến dần đến

tình yêu đất nước, yêu nhân dân.
Đạo đức là một hiện tượng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ
bản thân cuộc sống của con người. Trong đời sống xã hội, đòi hỏi tất yếu mỗi người phải ý
thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Những
hoạt động đó thường có sự chi phối của những quan hệ giữa các cá nhân, cá nhân và xã hội.
Những mối quan hệ đó quy định giới hạn nhất định nhằm đảm bảo lợi ích của cộng đồng và
xã hội. Những quy định này tự giác tạo thành động lực cho phát triển xã hội. Đó là các quy
tắc, chuẩn mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi cá nhân, trong tất cả các quan hệ
xã hội. Nói cách khác, đó chính là đạo đức của con người trong xã hội.
1.1.2 Khái niệm đạo đức kinh doanh
 Kinh doanh
 Theo điều 4 Luật doanh nghiệp số 68/2014:
-6-


Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của
quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.
 Đạo đức kinh doanh
Như đã đề cập ở phần đầu về khái niệm đạo đức thì khái niệm về kinh doanh được
hiểu là hoạt động gắn liền với các lợi ích kinh tế, do vậy khía cạnh thể hiện trong ứng xử về
đạo đức không hoàn toàn giống với các hoạt động khác: Tính thực dụng, sự coi trọng hiệu
quả kinh tế là những đức tính tốt của giới kinh doanh nhưng nếu áp dụng sang các lĩnh vực
khác như giáo dục, y tế... hoặc sang các quan hệ xã hội khác như vợ chồng, cha mẹ con cái thì
đó lại là những thói xấu bị xã hội phê phán. Điều cần lưu ý ở đây là đạo đức kinh doanh vẫn
luôn phải chịu sự chi phối bởi một hệ giá trị và chuẩn mực đạo đức xã hội chung.
Phạm trù quyết định đạo đức trong kinh doanh không chỉ giới hạn ở các loại quyết
định tạo ra những hậu quả xã hội. Trong mỗi thời điểm, mỗi nhân viên và đặc biệt là người
quản lý phải đối mặt với một vấn đề mà đòi hỏi phải đưa ra một quyết định đạo đức. Không
phải quyết định nào đưa ra cũng đã được quy chuẩn bởi những điều luật hay nguyên tắc của
công ty, xã hội hay pháp luật. Vì vậy, để đưa ra một quyết định có trách nhiệm điều này còn
tùy thuộc vào giá trị nhân thân và nguyên tắc của từng cá nhân. Đôi khi những quyết định của
nhà quản lý chỉ xoay quanh các vấn đề tác động đến toàn thể công ty, hoặc góp phần đưa ra
những quyết định giúp thiết lập tiền lệ của doanh nghiệp và cho xã hội. Hay nói một cách
khác đạo đức kinh doanh là việc đưa ra quyết định vì tính liêm chính cá nhân và vì trách
nhiệm xã hội.
Có rất nhiều quan điểm đưa ra về đạo đức kinh doanh:
- Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều
-

chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh chính là phạm trù đạo đức được vận dụng vào trong hoạt động
kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh là một dạng đạo đức nghề nghiệp
Đạo đức kinh doanh là một quy trình đưa ra quyết định có trách nhiệm

 Theo Stoner (1989), ông đã nêu khá rõ: đạo đức kinh doanh là khi và chỉ khi:
- Xem xét quyền và nghĩa vụ các bên liên quan, áp dụng các nguyên tắc nhân bản
trong quá trình ra quyết định quản trị kinh doanh và
- Quan tâm đến tác động của quyết định lên người khác cả bên ngoài lẫn bên trong
doanh nghiệp.
Như vậy thực thi đạo đức kinh doanh trước hết phái tuân thủ pháp luật. Nhưng vượt xa
hơn việc tuân thủ pháp luật là tuân thủ các nguyên tắc mà con người và xã hội chấp nhận.
Hiểu theo cách này, chúng ta loại trừ các doanh nghiệp vi phạm pháp luật, chúng ta chỉ quan
-7-


tâm, phân tích những doanh nghiệp vẫn tuân thủ pháp luật nhưng có đảm bảo đạo đức kinh
doanh hay không.
Những năm 80, 90 của thế kỷ trước, những người bắt đầu làm kinh doanh và những
sinh viên đã có những hoài nghi về đạo đức kinh doanh. Họ cho rằng đạo đức kinh doanh
giống như tôm voi – sự ghép nối nghịch lý. Tuy nhiên, có một số người lại cho rằng đạo đức
kinh doanh là sự kết hợp của tình cảm và ý kiến cá nhân nhằm giúp doanh nghiệp hoạt động
hiệu quả. Thế thì, ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai? Tuy nhiên, thái độ đó không còn trong môi
trường kinh doanh ngày nay. Trong thời điểm hiện tại, các công ty không còn quan tâm nhiều
đến việc tại sao và liệu có nên xem đạo đức là một phần trong kinh doanh hay không, mà điều
họ quan tâm chính là việc họ nên dựa theo những giá trị và nguyên tắc nào khi đưa ra các
quyết định kinh doanh và nên kết hợp đạo đức với kinh doanh như thế nào cho đúng. Có thể
nói rằng, sinh viên chưa quen với khái niệm và những phạm trù đạo đức cơ bản, họ chưa
được trang bị kỹ lưỡng về những vấn đề đạo đức và chưa chuẩn bị sẵn sàng về đạo đức phát
sinh trong những ngành nghề đã chọn như kế toán, tài chính, ngân hàng, kinh doanh….
1.2 Vai trò của đạo đức kinh doanh
1.2.1 Đạo đức kinh doanh trong hoạt động doanh nghiệp
 Trách nhiệm với xã hội
- Tuân thủ luật pháp xã hội
- Chất lượng hàng hoá.
-

Với khách hàng, thị trường, quảng cáo, cạnh tranh
Các cơ quan hữu quan.
Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Tham gia cứu trợ xã hội..

 Trách nhiệm trong nội bộ doanh nghiệp
- Với người lao động: đãi ngộ, giao tiếp, lãnh đạo…
- Với cổ đông: huy động vốn, thông tin, chia lãi…
1.2.2 Vai trò của đạo đức kinh doanh trong doanh nghiệp
-

Đạo đức kinh doanh góp phần điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh
Đạo đức kinh doanh góp phần vào chất lượng của doanh nghiệp.
Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự cam kết va tận tâm của nhân viên.
Đạo đức kinh doanh góp phần làm hài lòng khách hàng.
Đạo đức kinh doanh góp phần tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự vững mạnh của nền kinh tế quốc gia.

1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đạo đức kinh doanh
1.3.1 Đạo đức kinh doanh và việc đưa ra quyết định có đạo đức
-8-


Đạo đức kinh doanh là thể hiện qua việc đưa ra các quyết định có đạo đức. Không có
một cuốn sách nào mà có thể hình thành để tạo nên những con người có trách nhiệm đạo đức
hoặc thay đổi hành vi của họ theo một hướng nào đó. Tuy nhiên, sinh viên có thể học tập và
rèn luyện cách tư duy có trách hiệm. Có thể thấy rằng, những quyết định tuân thủ theo một
quy trình lập luận sâu sắc và kỹ lưỡng thì sẽ có những quyết định có trách nhiệm và đạo đức.
Hay nói cách khác, khi chúng ta suy nghĩ và đưa ra những quyết định có trách nhiệm thì
chúng ta sẽ cư xử có đạo đức hơn.
Vậy, mục đích của khóa học đạo đức kinh doanh là gì?
Một mặt, đạo đức ám chỉ đến những nguyên tắc chuẩn mực đã tồn tại trong nhiều thế
kỷ nên có thể nói rằng việc học lịch sử hình thành các nguyên tắc này sẽ là một trong số
những mục tiêu chính của lớp học đạo đức. Do đó, trong khóa học đạo đức, sinh viên có thể
sẽ phải học về những nhà đạo đức vĩ đại trong lịch sử như Aristotle, Joh Stuart Mill và
Immanuel Kant. Như các môn học khác, phương pháp dạy và học môn đạo đức sẽ chú trọng
vào hàm lượng thông tin của lớp học
Tuy nhiên, theo một số nhà quan sát, việc học các lý thuyết đạo đức và hiểu lịch sử
đạo đức vẫn chưa đủ. Nhiều người, từ các công ty đang tìm kiếm và thuê sinh viên mới tốt
nghiệp về làm, đến các giáo viên và sinh viên kinh doanh, hy vọng lớp học đạo đức sẽ tập
trung vào hành vi đạo đức, chứ không chỉ vào các thông tin và các học thuyết đạo đức. Nói
chung, lớp học đạo đức là cái có thể ngăn ngừa các tình huống của tổ chức trong tương lại.
Đạo đức không chỉ nói đến những nguyên tắc chuẩn mực mà là con người đã tiếp thu những
nguyên tắc chuẩn mực này như thế nào, hay nói cách khác là con người nên sống như thế nào
cho đúng.
1.3.2 Đạo đức kinh doanh chính là tính chính trực cá nhân và trách nhiệm xã hội
Ở mức độ cơ bản nhất, đạo đức đề cập đến cách chúng ta hành động và cách chúng ta
sống. Phần lớn, mọi người thường đặt câu hỏi cho mình: chúng ta nên sống như thế nào?
Theo nghĩa này, thì đạo đức mang tính thực tiễn, luôn song hành với cách chúng ta hành
động, lựa chọn, cư xử và làm việc. Các triết gia thường nhấn mạnh, đạo đức là quy chuẩn, là
những lập luận nền tảng cho các hành động của chúng ta. Đồng thời, các môn học khoa học
xã hội như: tâm lý học và xã hội học đều tìm hiểu về quy trình đưa ra quyết định và hành
động của con người
1.3.3 Đạo đức và pháp luật
 Sự khác biệt giữa đạo đức và pháp luật:
- Sự điều chỉnh hành vi của đạo đức không có tính cưỡng bức, cưỡng chế mà mang
tính tự nguyện, các chuẩn mực đạo đức không được ghi thành văn bản pháp quy.

-9-


-

Phạm vi điều chỉnh và ảnh hưởng của đạo đức rộng hơn pháp luật. Pháp luật chỉ
điều chỉnh những hành vi liên quan đến chế độ xã hội, chế độ nhà nước; còn đạo
đức bao quát mọi lĩnh vực của thế giới tinh thần. Pháp luật chỉ làm rõ những mẫu
số chung nhỏ nhất của các hành vi hợp lẽ phải, hành vi đạo lý đúng đắn tồn tại bên
trên luật.

1.3.4 Đạo đức, lập luận thực tiễn
Đạo đức ám chỉ đến các hành động, lựa chọn, quyết định mang tính thực tiễn và quy
chuẩn. Theo cách tiếp cận này, đạo đức như một phần lập luận thực tiễn – lập luận này lý giải
chúng ta nên làm gì và nó khác với lập luận lý thuyết – là lập luận lý giải những gì chúng ta
nên tin.
1.4 Những biểu hiện của đạo đức trong kinh doanh
1.4.1 Trong mối quan hệ với các đối tượng hữu quan
Đối tượng hữu quan bao gồm cả những người bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Những người bên trong là các công nhân viên chức, kể cả ban giám đốc và các ủy viên trong
hội đồng quản trị. Những người bên ngoài doanh nghiệp là các cá nhân hay tập thể khác gây
ảnh hưởng tới các hoạt động của doanh nghiệp như khách hàng, nhà cung cấp, các cơ quan
nhà nước, đối thủ cạnh tranh, cộng đồng địa phương.
1.4.1.1 Chủ sở hữu
Chủ sở hữu với tư cách là người đại diện và được ủy thác, phải có trách nhiệm nghĩa
vụ kinh tế, pháp lý, đạo lý nhất định. Không nhận thức được những nghĩa vụ này thì việc khai
thác và sử dụng các nguồn lực tài chính có thể gây ra những vấn đề đạo đức. Các vấn đề đạo
đức liên quan đến chủ sở hữu bao gồm :
 Mâu thuẫn giữa nhiệm vụ của nhà quản lý đối với chủ sở hữu và lợi ích của chính họ,
và sự tách biệt giữa việc sở hữu và điều khiển doanh nghiệp
 Chủ sở hữu có nghĩa vụ với xã hội. Nhiều chủ sở hữu rất quan tâm đến vấn đề môi
trường nhưng một số người khác cho rằng: môi trường không có liên quan gì đến kinh
doanh và phớt lờ hoặc vi phạm luật bảo vệ môi trường bởi họ biết rằng làm theo luật
này sẽ rất tốn kém.
1.4.1.2 Người lao động
Các vấn đề đạo đức liên quan đến người lao động bao gồm cáo giác, quyền sở hữu trí
tuệ, bí mật thương mại, điều kiện, môi trường lao động và lạm dụng của công.
 Vấn đề cáo giác:
Cáo giác là việc một thành viên của tổ chức công bố những thông tin làm chứng cứ về
những hành động bất hợp pháp hay vô đạo đức của doanh nghiệp.
- 10 -


Những người cáo giác là những nhân viên rất trung thành, họ gắn bó chặt chẽ và sâu
sắc với doanh nghiệp, những sai sót xảy ra đối với doanh nghiệp được họ coi là một sự mất
mát, họ cáo giác với một động cơ trong sáng và họ tin rằng họ sẽ được lắng nghe, được tin
tưởng
Thiệt hại đối với bản thân người cáo giác đôi khi rất lớn, vì vậy cần có ý thức bảo vệ
người cáo giác trước những số phận không chắc chắn. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp
giải quyết của các cơ quan chức năng.
Cần lưu ý động cơ của người cáo giác. Cáo giác có thể bị cá nhân lợi dụng vì động cơ
cá nhân, có thể người cáo giác chỉ lợi dụng mượn danh vì lợi ích xã hội, lợi ích doanh nghiệp
để đạt lợi ích riêng của mình, nhằm trả thù, hạ thấp uy tín, chứng tỏ cá nhân .
 Bí mật thương mại:
Bí mật thương mại là những thông tin được sử dụng trong quá trình tiến hành hoạt
động kinh doanh không được nhiều người biết tới nhưng lại có thể tạo cơ hội cho người sở
hữu nó có một lợi thế so với những đối thủ cạnh tranh không biết hoặc không sử dụng những
thông tin đó.
Bí mật thương mại cần phải được bảo vệ vì nó là một loại tài sản đặc biệt mang lại lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Nếu bí mật thương mại bị tiết lộ sẽ dẫn đến hậu quả làm mất lợi thế
cạnh tranh trong kinh doanh của doanh nghiệp.
 Điều kiện, môi trường làm việc:
Người lao động có quyền làm việc trong một môi trường an toàn và vệ sinh, có quyền
được bảo vệ tránh mọi nguy hiểm, có quyền được biết và được từ chối các công việc nguy
hiểm. Nếu lãnh đạo doanh nghiệp không cung cấp đầy đủ các trang thiết bị an toàn cho người
lao động, không thường xuyên kiểm tra xem chúng có an toàn không, không đảm bảo các tiêu
chuẩn cho phép về môi trường làm việc dẫn đến người lao động gặp tai nạn, bị chết, bị
thương tật ... thì hành vi của người lãnh đạo ở đây là vô đạo đức.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp đã cắt giảm những khoản chi phí này dẫn đến người lao
động phải làm việc trong một điều kiện, môi trường bấp bênh. Điều này cũng là phi đạo đức.
 Lạm dụng của công, phá hoại ngầm.
Nếu chủ doanh nghiệp đối xử với nhân viên thiếu đạo đức (không công bằng, hạn chế
cơ hội thăng tiến, trả lương không tương xứng...) sẽ dẫn đến tình trạng người lao động không
có trách nhiệm với doanh nghiệp, thậm chí ăn cắp và phá hoại ngầm.
Khắc phục tình trạng này, một số doanh nghiệp đã lắp đặt các thiết bị theo dõi hoặc
cho người giám sát. Tuy nhiên, khi thực hiện các giải pháp này sẽ làm cho nhân viên cảm
thấy có áp lực, do đó giảm năng suất công việc và có thể gây tai nạn lao động.
Trong trường hợp này, hành vi giám sát, theo dõi của công ty trở thành phi đạo đức vi
phạm quyền riêng tư của người lao động.
- 11 -


1.4.1.3 Khách hàng
Khách hàng chính là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ, đánh giá chất lượng sản phẩm,
dịch vụ, tái tạo và phát triển nguồn tài chính cho doanh nghiệp. Những vấn đề đạo đức điển
hình liên quan đến khách hàng là những quảng cáo phi đạo đức, những thủ đoạn marketing
lừa gạt về an toàn sản phẩm, họ sẽ phải gánh chịu những thiệt hại lớn như ảnh hưởng đến sức
khỏe, đến tính mạng và cả nhân phẩm nữa.
Doanh nghiệp muốn tồn tại được phải tìm mọi cách làm hài lòng khách hàng. Để làm
được như vậy, các doanh nghiệp phải biết được khách hàng cần và muốn gì, rồi sau đó tạo ra
những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được những mong muốn và nhu cầu đó
Trong nỗ lực làm hài lòng khách hàng, các doanh nghiệp không chỉ phải quan tâm đến
những nhu cầu tức thời của khách hàng mà còn phải biết được những mong muốn lâu dài của
họ. Vấn đề đạo đức có thể nảy sinh từ việc không cân đối giữa nhu cầu trước mắt và nhu cầu
lâu dài của khách hàng..
1.4.1.4 Đối thủ cạnh tranh
Trong kinh doanh, cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp phải cố vượt lên trên đối thủ
và lên chính bản thân. Cạnh tranh lành mạnh luôn rất cần thiết với các doanh nghiệp. Cạnh
tranh lành mạnh là thực hiện những điều pháp luật không cấm để cạnh tranh cộng với “đạo
đức kinh doanh” và tôn trọng đối thủ cạnh tranh. Đây là cơ sở cho doanh nghiệp có những
bước phát triển vững chắc.
Trên thực tế đã xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp,
gây ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp bị giảm sút.
Trong kinh doanh, cạnh tranh không lành mạnh thể hiện phổ biến nhất ở hành vi thông
đồng giữa các đối thủ cạnh tranh để nâng cao sản phẩm, dịch vụ.
Cạnh tranh không lành mạnh còn thể hiện ở hành vi ăn cắp bí mật thương mại của
doanh nghiệp đối thủ bằng rất nhiều cách khác nhau như:
- Cập nhật thông tin hữu ích qua các cuộc phỏng vấn nghề nghiệp những người làm
công của đối thủ cạnh tranh.
- Núp dưới chiêu bài tiến hành các công trình nghiên cứu, phân tích về ngành để mọi
thông tin.
- Giả danh là một khách hàng hay người cung ứng tiềm năng.
- Che dấu danh phận để đi tham quan cơ sở của đối thủ cạnh tranh nhằm thu thập
thông tin.
- Dùng mỹ nhân kế, nam nhân kế, khổ nhục kế để thu thập thông tin.
- Dùng gián tiếp với những phương tiện hiện đại để ăn cắp thông tin.
1.4.2 Trong các chức năng của doanh nghiệp
- 12 -


1.4.2.1 Đạo đức trong quản trị nguồn nhân lực
Vấn đề đạo đức trong quản lý nguồn nhân lực liên quan đến các vấn đề cơ bản sau:
 Đạo đức trong tuyển dụng, bổ nhiệm, sử dụng lao động.
Trong hoạt động tuyển dụng và bổ nhiệm nhân sự sẽ xuất hiện một vấn đề khá nan
giải, đó là tình trạng phân biệt đối xử. Phân biệt đối xử xuất phát từ định kiến về phân biệt
chủng tộc, giới tính, tôn giáo, địa phương, vùng văn hóa, tuổi tác ...
 Đạo đức trong đánh giá người lao động.
Đó là hành vi mà người quản lý đánh giá người lao động trên cơ sở định kiến. Nghĩa là
người quản lý dùng ấn tượng của mình về đặc điểm của nhóm người đó để xử sự và đánh giá
người lao động thuộc về nhóm đó. Các nhân tố như quyền lực, ganh ghét, thất vọng, tội lỗi và
sợ hãi là những điều kiện duy trì và phát triển sự định kiến.
 Đạo đức trong bảo vệ người lao động.
Đảm bảo điều kiện lao động an toàn là hoạt động có đạo đức nhất trong vấn đề bảo vệ
người lao động. Người lao động có quyền làm việc trong một môi trường an toàn. Mặt khác
xét từ lợi ích, khi người làm công bị tai nạn rủi ro thì không chỉ ảnh hưởng xấu đến bản thân
họ mà còn tác động đến vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.2.2 Đạo đức trong marketing
 Marketing và phong trào bảo hộ người tiêu dùng.
Các hoạt động marketing đều phải định hướng vào người tiêu dùng vì họ là người
phán xét cuối cùng việc doanh nghiệp sẽ thất bại hay thành công. Nhưng trên thực tế vẫn tồn
tại sự bất bình đẳng giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Hậu quả là người tiêu dùng phải
chịu những thiệt thòi lớn, sản phẩm không đảm bảo chất lượng ...
 Các biện pháp marketing phi đạo đức.
+ Quảng cáo phi đạo đức:
+ Bán hàng phi đạo đức
Sử dụng những biện pháp thiếu văn hóa khác để hạ uy tín của doanh nghiệp đối thủ
như gièm pha hàng hóa của đối thủ cạnh tranh, hoặc đe dọa người cung ứng sẽ cắt những
quan hệ làm ăn với họ.Các hành vi này gây thiệt hại cho người tiêu dùng không chỉ trước mắt
mà còn cả lâu dài.
1.4.2.3 Đạo đức trong hoạt động kế toán, tài chính
Kế toán là tác nghiệp không thể thiếu của doanh nghiệp. Do phạm vi hoạt động của tác
nghiệp này, các vấn đề đạo đức có thể xuất hiện cả về nội bộ hoặc ngoại vi của doanh nghiệp.
Chẳng hạn bộ phận này lạm quyền quyết định vốn và cơ cấu vốn hoạt động của doanh nghiệp
với chi phí sử dụng vốn, lạm quyền xây dựng các kế hoạch thu - chi tài chính, lạm dụng

- 13 -


quyền quyết định phân bổ các nguồn lực tài chính của bộ phận sản xuất - kinh doanh. Điều
này khiến hệ thống phân quyền trong tổ chức kém hiệu quả, quản lý chồng chéo.
1.5 Các thuyết nghiên cứu về đạo đức kinh doanh
Đạo đức bao hàm câu hỏi khá đặc biệt mà bất cứ người nào cũng có thể hỏi, đó là:
Chúng ta nên sống như thế nào? Đây không phải là một câu hỏi mới mẻ nhưng tất cả những
ngành triết học, văn hóa, chính trị và tôn giáo đều phải vật lộn vất vả vì nó. Một số truyền
thống đạo đức ở phương Tây đã tác động đáng kể đến sự phát triển của công ty và các nền
kinh tế hiện đại.
Tuy nhiên, nhiều sinh viên cho rằng, thảo luận về đạo đức triết học là quá khó và quá
trừu tượng. Do đó, những học thuyết đạo đức chúng ta sẽ thảo luận là quá lý thuyết và không
thích hợp cho môi trường kinh doanh. Chúng tôi hy vọng qua chương này các bạn sẽ hiểu và
dễ tiếp cận hơn với những học thuyết đạo đức và giúp các bạn có thể ứng dụng để giải quyết
những rắc rối thực tế mà các nhà kinh doanh đang phải đối mặt.
Học thuyết đạo đức chẳng qua cũng chỉ là một nỗ lực để đưa ra một câu trả lời có hệ
thống cho một câu hỏi đạo đức cơ bản, đó là: Con người nên sống như thế nào? Những học
thuyết đạo đức cố gắng đưa ra được những lý lẽ hợp lý để biện minh cho lý do tại sao chúng
ta lại có hành động và quyết định theo cách của ta.
Nội dung này sẽ giới thiệu một số khuôn mẫu đạo đức có ảnh hưởng đến quá trình
phát triển đạo đức kinh doanh: thuyết vị lợi – đạo nghĩa học – đức hạnh.
1.5.1 Thuyết vị lợi – Đưa ra quyết định dựa theo các kết quả đạo đức
Truyền thống đạo đức đầu tiên mà chúng tôi sẽ thảo luận chính là thuyết vị lợi – một
thuyết bắt nguồn từ triết học chính trị và xã hội ở thế kỷ 18 và 19. Thuyết vị lợi là một phần
của phong trào xã hội góp phần hướng đến chủ nghĩa tư bản dân chủ hiện đại.
Thuyết vị lợi – một kiểu đạo đức hướng dẫn chúng ta khi có bất kỳ quyết định nào đều
phải cân nhắc đến những hậu quả của những việc chúng ta làm. Thuyết vị lợi bắt đầu với
niềm tin rằng chúng ta nên quyết định những gì nên làm bằng cách xem xét các hậu quả mà
hành động đó mang lại kết quả toàn diện tốt hơn những cách khác. Kết quả tốt hơn là những
kết quả mà tạo cho con người cảm giác vui vẻ, thoải mái: niềm hạnh phúc, sức khỏe, lòng tự
trọng, quyền tự do, sự tôn trọng của tất cả mọi người. Nếu giá trị cơ bản của con người chính
là hạnh phúc cá nhân thì hành động nào tạo ra nhiều hạnh phúc cá nhân hơn sẽ được xem là
hành động hợp lý và chính đáng hơn. Dưới góc độ đạo đức, một quyết định mang lại nhiều
giá trị hạnh phúc nhất cho nhiều người nhất sẽ được xem là một quyết định hợp lý nhất.
Việc nhấn mạnh quan điểm tạo ra nhiều giá trị tốt nhất cho nhiều người khiến thuyết vị
lợi trở thành một triết lý xã hội ủng hộ mạnh mẽ các thể chế cũng như chính sách dân chủ và
phản đối các chính sách mà chỉ nhắm đến một thiểu số xã hội, kinh tế hay chính trị nào đó

- 14 -


Thuyết vị lợi giải đáp những câu hỏi cơ bản về đạo đức – Chúng ta nên làm gì? Bằng
cách tham khảo quy tắc: Hãy làm sao để mang lại hạnh phúc cho tất cả. Nhưng có một câu
hỏi khác vẫn chưa được trả lời: Làm thế nào để chúng ta có thể đạt được mục tiêu này?
Phương pháp nào là hiệu quả nhất nếu muốn đạt được mục tiêu đem lại hạnh phúc cho mọi
người? Hai câu hỏi này thể hiện mối liên quan đặc biệt trong kinh doanh và đạo đức kinh
doanh.
Liệu thuyết vị lợi có mang tính vị kỷ không?
Thuyết vị lợi nhấn mạnh việc tố đa hóa niềm vui và hạnh phúc, nghe có vẻ rất ích kỷ
và vị kỷ nhưng thật ra thuyết vị lợi khác thuyết vị kỷ ở nhiều điểm sau: Thuyết vị kỷ cũng là
một thuyết xét đến kết quả đem lại nhưng nó chỉ tập trung vào hạnh phúc cá thể.
1.5.2 Đạo lý học – Quyết định dựa trên các nguyên tắc đạo đức
Việc ra quyết định tính đến kết quả là một phần trong việc ra quyết định đạo đức có
trách nhiệm. Nhưng cách thức này cần được bổ sung thêm một yếu tố là: đôi khi con người
phải đưa ra quyết định dựa trên nguyên tắc chứ không phải dựa vào kết quả tiên đoán của
quyết định đó. Nói cách khác, không phải lúc nào kết quả cũng có thể biện minh cho phương
thức hành động. Nhưng làm thế nào chúng ta biết được nên tuân theo những nguyên tắc nào
và biết được khi nào nên tuân theo nguyên tắc nào và bỏ qua yếu tố kết quả nào? Do đó,
thuyết đạo đức dựa trên nguyên tắc hay đạo lý học sẽ tìm ra lời giải đáp cho các vấn đề nêu ở
trên.
Ngôn ngữ của “Đạo lý học” và “Đạo lý đạo đức” rất trừu tượng và sinh viên dễ nghĩ
rằng đây là lối văn cầu kỳ mang tính học thuật. Nhưng những ý tưởng tiềm ẩn bên dưới
phương thức này thì rất đời thường. Hiểu một cách đơn giản, các nguyên tắc đạo đức là các
loại quy tắc yêu cầu con người phải tuân theo ngay cả khi điều này không giúp mang lại kết
quả tốt cho tất cả mọi người và thậm chí còn gây ra hậu quả xấu. Quy tắc hay nguyên tắc,
chẳng hạn như: tuân thủ luật pháp, giữ lời hứa) đòi hỏi chúng ta có trách nhiệm hành động và
quyết định theo một cách riêng nào đó.
Dẫn chứng: nhiều người cho rằng phải có qui tắc đạo đức cấm lao động trẻ em, mặc
dù nếu việc này được cho phép thì sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội ở một mức độ
nào đó.
 Nguồn gốc của quy tắc:
Luật pháp là một ví dụ về loại qui tắc mà chúng ta phải tuân theo, ngay cả khi chúng ta
chẳng cảm thấy vui vẻ.
Ví dụ: - Trách nhiệm nộp thuế mặc dù số tiền này sẽ có hiệu quả hơn nếu dành cho
việc học của con cái.

- 15 -


- Khi có đèn đỏ, chúng ta phải dừng lại. Nếu vượt đèn thì chúng ta sẽ đi đến
nơi nhanh hơn
Trong bối cảnh kinh doanh, việc ra quyết định sẽ xảy ra rất nhiều tình huống buộc
chúng ta phải tuân theo các qui tắc luật pháp ngay cả khi điều này mang lại kết quả không
mong muốn về mặt kinh tế hay những mặt khác.
Qui tắc xuất phát từ nhiều tổ chức khác nhau mà con người tham gia hay từ các vai trò
xã hội khác nhau mà con người đảm nhận.
Ví dụ: - Tôi phải đọc từng bài tập nghiên cứu của sinh viên một cách cẩn thận và kỹ
càng. Trong khi sinh viên không biết được là việc tôi có đọc kỹ hay không đọc kỹ bài.
- Với tư cách là trọng tài trong trận thi đấu thể thao, tôi có nhiệm vụ phải thi
hành luật thi đấu một cách công bằng ngay cả khi công việc của tôi sẽ đơn giản hơn nếu tôi
không làm như vậy.
Có nhiều trường hợp, trách nhiệm dựa vào vai trò xuất hiện trong kinh doanh. Là nhân
viên, mỗi người đảm nhận một vai trò nhất định gắn với nhiệm vụ riêng. Mọi doanh nghiệp
đều đặt ra một hệ thống các qui tắc mà nhân viên phải tuân theo. Đôi khi những qui tắc này
được nêu rõ trong các chuẩn mực đạo đức, sổ tay của nhân viên hoặc do ban giám đốc đưa ra.
Tương tự, một giám đốc doanh nghiệp phải tuân theo những qui tắc liên quan đến các cổ
đông, nhân viên, nhà cung cấp và các nhóm liên đới.
 Quyền lợi và nghĩa vụ về đạo đức
Chúng ta thường suy nghĩ: Có hay không những quy tắc mà chúng ta bắt buộc phải
tuân theo, những quyết định mà chúng ta phải đưa ra cho dù hậu quả như thế nào? Người đi
tiên phong về cách thức hành động đạo đức này là nhà triết học người Đức ở thế kỷ 18 –
Immanuel Kant – ông cho rằng nhất thiết phải có một nguyên tắc đạo đức nền tảng như thế:
đó là qui tắc tôn trọng phẩm giá của cá nhân.
Kant cho rằng: trách nhiệm tôn trọng phẩm giá cá nhân có thể được diễn đạt bằng
nhiều cách khác nhau:
+ Cách thứ nhất: là hướng chúng ta hành động theo các qui tắc được mọi người chấp
nhận – mệnh lệnh tuyệt đối nổi tiếng của Kant
+ Cách thứ hai: chúng ta đối xử với mọi người như thể họ là mục đích của chúng ta
chứ không phải họ chỉ là phương tiện để ta đạt đến kết quả mà chúng ta mong muốn. Nói một
cách khác, trách nhiệm của chúng ta là đối xử với mọi người như thể họ là chủ thể sống chứ
không phải họ chỉ là những vật thể tồn tại để phục vụ cho mục đích của chúng ta. Nhìn từ góc
độ ngữ pháp, con người là chủ thể bởi vì họ ra quyết định và thực hiện hành động chứ không
phải là vật thể chịu sự tác động của hành động. Con người có những mục đích và ý định
riêng, vì vậy con người không nên bị đối xử như là phương tiện để người khác đạt được mục
đích của họ.
- 16 -


Mỗi người đều có trách nhiệm cơ bản đối với người khác, vì thế mỗi người đều có
những quyền lợi đạo đức cơ bản: quyền được đối xử tôn trọng và quyền được người khác đối
xử như là mục đích để hướng đến chứ không phải là phương tiện hướng đến mục đích và
quyền được đối xử như một cá nhân độc lập.
Trao đổi từ dẫn chứng về lao động trẻ em:
Xem xét ngôn ngữ được dùng trong nhóm từ Quản trị nguồn nhân lực, cho thấy rằng
con người là nguồn tài nguyên cần được quản lý. Quan điểm của Kant phản đối về vấn đề lao
động trẻ em bởi vì cách hành xử này là đi ngược trách nhiêm của chúng ta là đối xử tôn trọng
với trẻ em. Chúng ta vi phạm quyền của trẻ em vì chúng ta đối xử với trẻ em như là phương
tiện để đạt được mục đích lợi ích kinh tế. Chúng ta đang đối xử với trẻ em như là một phương
tiện vì trẻ em chưa có quyền được tự do chọn lựa mục đích/hướng phát triển của mình. Chúng
ta chỉ sử dụng trẻ em như là công cụ hay vật dụng bình thường.
1.5.3 Công lý xã hội – Công lý của Rawls là sự công bằng
Thuyết này giúp chúng ta hiểu sâu hơn về tiến trình ra quyết định. Thuyết về công lý
xã hội xem sự công tâm như là nguyên tắc xã hội chủ yếu.
John Rawls – triết gia người Mỹ - đã đưa ra phiên bản hiện đại cho thuyết khế ước xã
hội, trong đó ngầm hiểu rằng những qui tắc đạo đức cơ bản là một phần của điều kiện cần
nhằm đảm bảo tính hợp tác, cộng đồng trong xã hội. Thuyết của Rawls có sự ảnh hưởng lớn
đối với các học thuyết chính trị, kinh tế và luật pháp. Thuyết công lý của Rawls gồm hai phần
chính: phương thức xác định các nguyên lý công bằng chi phối xã hội và các nguyên lý cụ thể
xuất phát từ phương thức đó.
Bản thân phương thức này là một loại khế ước xã hội mang tính giả thuyết, là công cụ
rất hữu hiệu trong việc quyết định các vấn đề về đạo đức. Chẳng hạn: Các cá nhân có lý trí và
có tính tư lợi phải lựa chọn và thống nhất với nhau về một số nguyên tắc cơ bản của xã hội.
Ý tưởng của vị trí xuất phát của việc phải ra quyết định khi không đủ lý trí là tư tưởng
chủ đạo của thyết Rawls là công bằng – là yếu tố chính của một quyết định công bằng.

- 17 -


CHƢƠNG 2:
RA QUYẾT ĐỊNH ĐẠO ĐỨC CHO CÁ NHÂN VÀ TRONG CÔNG VIỆC
 MỤC TIÊU CỦA CHƢƠNG
Sau khi nghiên cứu chương này, sinh viên sẽ đạt được:
 Mô tả quá trình ra quyết định trách nhiệm mang tính đạo đức
 Giải thích lý do tại sao người tốt lại có thể liên quan đến các hành vi vô đạo đức
 Biết được các rào cản của cá nhân khi đưa ra quyết định liên quan đến đạo đức
 Phân tích và ứng dụng trong các tình huống thực tiễn
2.1 Tiến trình ra quyết định có đạo đức cho cá nhân
2.1.1 Xác định những dữ liệu của tình huống
Mỗi cá nhân có sự trải nghiệm khác nhau và có cách hiểu tình huống khác nhau. Điều
này cho thấy mỗi cá nhân có sự trải nghiệm khác nhau và có cách hiểu tình huống khác nhau.
Điều này dẫn đến mỗi cá nhân có sự nhận thức khác nhau.
Việc xác định các dữ liệu là rất quan trọng nên cần có vai trò của khoa học (và các lập
luận lý thuyết) trong bất kỳ nghiên cứu nào về đạo đức. Một sự đánh giá về đạo đức được
thực hiện với sự xác định cẩn thận các dữ kiện sẽ hợp lý hơn sự đánh giá về đạo đức của một
người mà không dựa trên các dữ kiện. Một người hành động dựa trên sự xem xét cẩn thận các
dữ kiện sẽ có hành vi hay cách cư xử có trách nhiệm đạo đức hơn là những người hành động
không cần suy nghĩ cân nhắc yếu tố dữ liệu nào cả. Các ngành khoa học, đặc biệt là khoa học
xã hội có thể giúp xác định các dữ liệu có liên quan đến các quyết định của chúng ta.
Điều cốt lõi trong giai đoạn này chúng ta đừng vô tình làm cho người ta thành kiến với
quyết định của chúng ta, bằng cách chỉ tập trung các sự kiện mà hỗ trợ cho mục đích riêng
của mình.
2.1.2 Xác định các vấn đề đạo đức có liên quan
Bước này, đòi hỏi người đưa ra quyết định phải có khả năng nhận ra tính đạo đức
trong các quyết định hay các vấn đề mình đưa ra. Bước này, con người rất dễ bị lạc hướng
nếu không nhận ra yếu tố đạo đức trong quyết định của mình. Bằng cách nào người ta có thể
xác định được rằng một vấn đề nào đó là một vấn đề đạo đức? Khi nào thì quyết định kinh
doanh lại trở thành một quyết định đạo đức?
Đầu tiên, chúng ta cần nhận thấy rằng các quyết định kinh doanh và các quyết định
đạo đức không phải bao giờ cũng loại trừ lẫn nhau. Bởi vì một quyết định được đưa ra trên
nền tảng kinh tế không có nghĩa rằng nó không bao gồm sự xem xét về mặt đạo đức. Nhạy
cảm với các vấn đề đạo đức là một đặc điểm quan trọng rất cần thiết trọng việc xây dựng nên
con người có trách nhiệm đạo đức. Ngoài ra, chúng ta cũng cần xem xét các quyết định của
- 18 -


mình sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến những người có liên quan. Mức độ một quyết định ảnh
hưởng đến quyền lợi của những người có liên quan bao gồm: hạnh phúc, sức khỏe, nhân
phẩm, tính chính trực, tự do, sự tôn trọng phản ánh mức độ đạo đức của quyết định đó.
Trong kinh doanh, khi ra quyết định con người dễ chú trọng đến khía cạnh tài chính
mà quên đi các khía cạnh đạo đức. Một số tác giả đã gọi sự bất lực trong việc nhận ra những
vấn đề đạo đức là chứng cận thị đạo đức hay là sự thiển cận trong cách nhìn nhận và đánh
giá các giá trị.
2.1.3 Xác định các nhóm người liên quan
Đây là bước khá quan trọng trong quá trình đưa ra quyết định. Yêu cầu đặt ra là chúng
ta phải xác định được tất cả những người sẽ ảnh hưởng bởi quyết định của chúng ta, họ
thường được gọi là “nhóm liên đới”. Nhóm liên đới bao gồm tất cả các nhóm và/hoặc các cá
nhân mà chịu ảnh hưởng bởi một quyết định, một chính sách hay hoạt động của một công ty
hay cá nhân. Xem xét các vấn đề từ nhiều cách nhìn nhận khác nhau chứ không chỉ từ ý kiến
chủ quan của cá nhân và áp dụng nhiều quy tắc chứ không phải chỉ một quy tắc địa phương
cục bộ, điều này giúp chúng ta đưa ra những quyết định hợp lý và có trách nhiệm hơn.
Thực tế cho thấy, có nhiều quyết định (của cá nhân hay tổ chức) đụng chạm đến quyền
lợi của các bên liên đới, điều này giúp chúng ta hiểu thêm về các thách thức mỗi khi chúng ta
đưa ra các quyết định đạo đức. Khi đưa ra một quyết định thì nó thường liên quan đến nhiều
quan điểm khác nhau và nhiều mối quan tâm khác nhau, điều đó có nghĩa là các quyết định có
đạo đức thường kéo theo các tình huống khó xử. Mỗi giải pháp có thể sẽ làm một số bên liên
đới phải trả giá và mang lại lợi ích cho những nhóm liên đới khác. Quyết định theo một cách
có lợi cho một nhóm thường có nghĩa những nhóm liên đới khác bị tước bỏ lợi ích.
2.1.4 Xem xét các giải pháp sẵn có
Một khi chúng ta kiểm tra lại các sự kiện, xác định các khía cạnh đạo đức có liên quan
và xác định rõ các nhóm liên đới là ai, bước tiếp theo là phải cân nhắc các giải pháp sẵn có.
Tính sáng tạo trong việc xác định các lựa chọn còn được gọi là trí tưởng tượng (moral
imagination) là một yếu tố phân biệt những người tốt dám đưa ra những quyết định có trách
nhiệm và những người tốt nhưng lại không dám đưa ra các quyết định đạo đức. Việc quan
trọng cần làm là không chỉ xem xét những giải pháp rõ ràng cho một tình thế khó xử cụ thể
mà cần phải lưu tâm đế những giải pháp khác. Chẳng hạn, trường hợp của Malden Mills, hãy
tự hỏi bản thân mình là có bao nhiêu người trong tình huống đó, vẫn còn có thể nghĩ đến việc
trả lương cho nhân viên trong thời gian đang xây dựng lại nhà máy.
2.1.5 So sánh và đánh giá các giải pháp

- 19 -


Đây là bước mà người đưa ra quyết định tạo ra một bàn tính trong đầu để đánh giá ảnh
hưởng của mỗi giải pháp mà bạn chọn đối với các nhóm liên đới. Có lẽ cách có ích nhất để
thực hiện điều này là cố gắng đặt mình vào vị trí người khác. Hiểu được từng tình huống,
từng quan điểm, nỗ lực đặt mình vào tình huống của người khác sẽ góp phần giúp chúng ta có
những quyết định đạo đức. Việc cân nhắc giữa các giải pháp để chọn lựa sẽ bao gòm cả việc
dự đoán những hậu quả có thể xảy ra cho những bên có liên quan hay nhóm liên đới. Ngoài
ra, phải xem xét các cách để giảm thiểu bất cứ hậu quả có hại nào cho các nhóm liên đới
hoặc/và xem xét các cách để làm tăng và kích thích các kết quả có lợi cho các nhóm này.
Tuy nhiên, việc xem xét sự ảnh hưởng cũng như tính tường minh của mỗi giải
pháp/quyết định không phải là phương tiện duy nhất để so sánh những giải pháp này với
nhau. Khi đưa ra một quyết định người ta còn phải lưu tâm đến các vấn đề khác như các
nguyên tắc, quyền lợi hay nghĩa vụ bên ngoài kết quả.
Để cân nhắc lựa chọn giải pháp cần có một bước nữa đó là việc xem xét các ảnh
hưởng của quyết định đó lên chính cá nhân người ra quyết định và tính cách của cá nhân đó.
Hiểu tính cách và các giá trị của cá nhân có vai trò nhất định trong việc ra quyết định
2.1.6 Ra quyết định
Một khi bạn đã cân nhắc tất cả các yếu tố lựa chọn trên, đây là thời điểm ra quyết định.
Tuy nhiên, đến đây thì quy trình này vẫn chưa thể gọi là hoàn tất. Để hoàn tất trách nhiệm đối
với quyết định mình đưa ra thì việc cân nhắc cẩn thận trong suốt quá trình ra quyết định vẫn
là chưa đủ. Thay vì thái độ buông xuôi, không đoái hoài đến phần tiếp theo của một quyết
định, với kiểu nói: “Bây giờ nó đã vượt khỏi tầm tay tôi rồi?” thì chúng ta nên có thái độ học
tập từ những trải nghiệm của mình rút ra sau khi áp dụng các quyết định/ các phương án đó.
2.1.7 Quan sát kết quả
Việc làm này, giúp chúng ta có trách nhiệm đánh giá ý nghĩa của những quyết định
mình đưa ra, để chúng ta có thể quan sát và học tập từ những kết quả có được sau mỗi quyết
định và từ đó điều chỉnh hành động của chúng ta một cách hợp lý khi đối diện với những thử
thách tương tự trong tương lai.
2.2 Rào cản của cá nhân khi ra quyết định có đạo đức
 Rào cản hoàn toàn có chủ định: cá nhân bỏ qua một dữ kiện nào đó có thể dẫn đến
những hành động không tốt, không có đạo đức.
 Rào cản không chủ định: đôi khi cá nhân chỉ quan tâm đến một số giải pháp hữu hạn.
Khi chúng ta phải đối mặt với một tình huống mà chúng ta đã nhìn thấy rõ có hai
hướng giải quyết cho tình huống đó thì chúng ta thường chỉ để tâm đến hai giải pháp
đó mà quên đi thực tế cũng có thể áp dụng những hướng giải quyết khác.
2.3 Ra quyết định kinh doanh ở vai trò quản lý
- 20 -


Bối cảnh xã hội có thể tác động rất lớn đến quyết định của cá nhân. Tùy theo từng
người mà bối cảnh xã hội có thể làm cho việc lập quyết định trở nên dễ dàng hoặc khó khăn
hơn. Đôi khi môi trường công ty cũng khiến cho những người có ý định tốt nhất lại không thể
hành động có đạo đức hoặc có thể khiến cho người không lương thiện lại không thể hành
động phi đạo đức. Ban quản trị và tập thể Tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm tạo ra những
hoàn cảnh để khuyến khích những hành vi có đạo đức và can ngăn những hành vi phi đạo
đức.
Tính liêm chính của cá nhân thể hiện ngay trong việc đưa ra quyết định cá nhân đó:
Tôi thuộc kiểu người nào? Tôi có những giá trị nào? Tôi ủng hộ cho cái gì? Mỗi cá nhân cũng
giữ nhiều vai trò đối với xã hội và những vai trò này mang đến cho họ nhiều kỳ vọng, nhiều
trách nhiệm và nghĩa vụ. Trong môi trường kinh doanh, các cá nhân phải xét đến hàm ý đạo
đức của cả quyết định cá nhân và quyết định kinh doanh. Những vai trò đối với xã hội là: bạn
bè, vợ chồng, con cái, công dân, hàng xóm. Một số vai trò đối với tổ chức: giám đốc, giáo
viên, sinh viên, chủ tịch hội học sinh – sinh viên.

- 21 -


CHƢƠNG 3
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH
NGHIỆP
 MỤC TIÊU CỦA CHƢƠNG
Sau khi nghiên cứu chương này, sinh viên sẽ đạt được:
 Phát biểu được khái niệm về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp
 Nhận biết được các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp
 Phân tích trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
 Vận dụng giải thích tình huống thực tế về văn hóa doanh nghiệp và trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp
3.1 Văn hóa doanh nghiệp
3.1.1 Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp
3.1.1.1 Văn hóa
Văn hoá là những điều tốt đẹp nhất của dân tộc, là động lực duy trì truyền thống văn
hoá qua nhiều thế hệ và là suy nghĩ phổ biến của mọi dân tộc trên thế giới. Văn hoá được hiểu
theo rất nhiều cách khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hoá.
 Nếu xét về ngôn ngữ:
 Phương Tây: văn hoá xuất phát từ tiếng La tinh: cultus có nghĩa là trồng trọt, vun
xới cây cối, thảo mộc làm cho nó xanh tươi và tươi tốt.
 Phương Đông: văn là lễ nghĩa, tốt đẹp và hoá là truyền đạt, giáo hoá, đưa nó ra.
 Nếu xét theo phạm vi
 Văn hoá theo nghĩa hẹp:
Thường được đồng nhất với văn hoá tinh hoa - là một tiểu văn hoá chứa những giá trị
đáp ứng các nhu cầu bậc cao của con người. Quy luật chung là những giá trị đáp ứng các nhu
cầu càng xa những đòi hỏi vật chất, đời thường, nhất thời bao nhiêu thì tính giá trị, tính người
càng cao bấy nhiêu, và do vậy càng mang tính tinh hoa về văn hoá. Theo nghĩa này, văn hoá
thường được đồng nhất với các loại hình nghệ thuật, văn chương. Văn hoá theo nghĩa hẹp
thường được đồng nhất với văn hoá ứng xử.
 Văn hoá theo nghĩa rộng
Là văn hoá trong khoa học nghiên cứu về văn hoá. Theo nghĩa này, định nghĩa văn hoá
cũng có rất nhiều. Chẳng hạn, định nghĩa đầu tiên của E.B.Tylor năm 1871 xem văn hóa là
- 22 -


“một phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng
mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt
được”. TS. Federico Mayor - Tổng giám đốc UNESCO, thì xem “văn hóa bao gồm tất cả
những gì làm cho dân tộc này khác với một dân tộc khác
 Định nghĩa văn hoá phổ biến nhất hiện nay:
Văn hoá là một hệ thống của các giá trị do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình
hoạt động thực tiễn, trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Định
nghĩa này hàm chỉ một hệ toạ độ ba chiều mà trong đó văn hoá tồn tại: con người là chủ thể
văn hoá; môi trường tự nhiên và xã hội là không gian văn hoá; quá trình hoạt động là thời
gian văn hoá. Việc cụ thể hoá ba thông số của hệ toạ độ này sẽ cho ta những nền văn hoá
khác nhau.
 Các định nghĩa khác về văn hoá tham khảo thêm
 Theo E.Heriot: “Cái gì còn lại khi tất cả những thứ khác bị quên đi, cái đó chính là
văn hoá”
 Theo Unesco: “Văn hoá thể hiện và phản ảnh một cách tổng quát, sống động mọi
mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và của mỗi công đồng), đã diễn ra trong quá
khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hằng bao nhiêu thế kỷ nó đã cấu
thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, và dưạ trên
đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình”
Hiện có trên 300 định nghĩa khác nhau về văn hóa doanh nghiệp
Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức phân biệt nó với các tổ chức khác
trong lĩnh vực”. (Gold, K.A.)
“Văn hóa thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến
trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài”. (Kotter, J.P. &
Heskett, J.L.)
“Văn hóa doanh nghiệp là những niềm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biến và tương
đối ổn định trong doanh nghiệp”. (Williams, A., Dobson, P. & Walters, M.)
Còn nếu nói nôm na: Nếu doanh nghiệp là máy tính thì văn hóa doanh nghiệp là hệ
điều hành. Nói một cách hình tượng thì: Văn hóa là cái còn thiếu khi ta có tất cả, là cái còn lại
khi tất cả đã mất.
Tuy nhiên, mọi định nghĩa đều có nét chung coi VHDN là toàn bộ các giá trị văn hóa
được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, chi phối tình cảm,

- 23 -


nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp; tạo nên sự khác biệt giữa các
doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp.
3.1.2 Các yếu tố hợp thành văn hoá doanh nghiệp
 Triết lý kinh doanh
 Đạo đức kinh doanh
 Hệ thống sản phẩm
 Thể chế hoạt động của doanh nghiệp
* Phong cách lãnh đạo
* Phong cách làm việc
* Hệ thống các qui chế, qui trình sản xuất kinh doanh và đời sống.
* Hệ thống giao tiếp và quan hệ ứng xử nội bộ, khách hàng và xã hội
 Một số biểu hiện của văn hoá doanh nghiệp
 Trong giao dịch với khách hàng
 Cạnh tranh
 Quản lý nhân viên
 Đề bạt và phát triển nhân viên
 Hệ thống giá trị của người lãnh đạo
 Tác phong và lề lối làm việc của doanh nghiệp
 Quan hệ với môi trường tự nhiên và xã hội
3.1.3 Nhà lãnh đạo có đạo đức và văn hóa doanh nghiệp
Nếu mục tiêu của văn hóa công ty là nuôi dưỡng những giá trị, kì vọng, niềm tin và
các kiểu hành vi mà vốn dĩ sẽ hỗ trợ tốt nhất và hiệu quả nhất cho quá trình đưa ra các quyết
định đạo đức thì các nhà lãnh đạo công ty phải có trách nhiệm phục vụ cho nỗ lực này. Các
nhà lãnh đạo phần nào có trách nhiệm trong việc này bởi vì các nhóm có liên quan trong tổ
chức sẽ phần lớn bị tác động dẫn dắt bởi tiếng nói của cấp cao.
Một Tổng giám đốc của Merck, Raymond Gilmartin, giải thích: “Trong tư duy, lời nói
và cả hành động, các nhà lãnh đạo công ty phải ủng hộ và tuân theo hành vi đạo đức một cách
rõ ràng và minh bạch”. Nếu một lãnh đạo có hanh vi trốn tránh trách nhiệm, lạm dụng công
quỹ của công ty, xuyên tạc năng lực của công ty hay có những hành vi không thích đáng thì
các nhóm có liên quan trong công ty sẽ ngầm hiểu rằng đây là một hành vi không những có
thể chấp nhận được, mà có thể đó còn là một hành vi được kì vọng và là một cách để tiến thân
trong công ty này. Thay vào đó, nếu như lãnh đạo công ty tự đặt hành vi đạo đức của bản thân
lên trên bất kì một khía cạnh nào khác thì các nhóm liên quan sẽ tuân theo mô hình vai trò đó
và sẽ cố gắng để thúc đẩy việc này.
- 24 -


Ngoài hành vi cá nhân, các nhà lãnh đạo còn có thể thiết lập một tinh thần chung qua
các cơ chế khác chẳng hạn như việc cung cấp các nguồn lực. Các nhà lãnh đạo có đạo đức
của công ty không chỉ nói về đạo đức, hành động có đạo đức mà họ còn phải phân bổ các
nguồn trong công ty để hỗ trợ và phát huy các hành vi đạo đức. Có một cương lĩnh quản lý
lâu dài: “Tất cả ngân sách rót ra là để tạo nên các giá trị”.
Chẳng hạn, vào thập niên 90 của thế kỉ trước khi lần đầu tiên công ty giới thiệu nhân
viên đạo đức vào cơ cấu của nó, sức ảnh hưởng của các nhân viên này chỉ được nhận thấy ở
các khía cạnh mà họ đươc cung cấp nguồn tài chính để hoạt động. Rõ ràng đạo đức không
phải là ưu tiên hàng đầu nếu như cố vấn luật pháp của công ty kiêm nhiệm luôn chức vụ nhân
viên đạo đức trong thời gian nhàn dỗi của họ, và không có nguồn bổ sung nào được bố trí cho
hoạt động này. Ngược lại, đạo đức sẽ có một vị trí khác trong công ty nếu công ty bố trí một
nhân viên có kĩ năng chuyên môn cao đảm nhiệm vị trí công việc toàn thời gian với chức
danh là nhân viên đạo đức và được cấp ngân sách cũng như nhân viên để hỗ trợ họ làm việc
theo yêu cầu. Tương tự, nếu công ty yêu cầu các lao động của họ phải đưa ra quyết định có
đạo đức dựa theo các quy tắc hành nghề, mở rộng áp dụng tiêu chuẩn tương tự đó cho các bên
bán, bên cung ứng và các nhà thầu khác của công ty, thì đó là biểu hiện cho thấy mức độ
nghiêm túc trong việc thực thi quy tắc đạo đức của công ty.
Qua một ngiên cứu về bản chất của khả năng lãnh đạo có đạo đức, người ta đã thấy
được tầm quan trọng của nhà lãnh đạo, cũng như tầm quan trọng của việc tham gia vào các
hoạt động đạo đức rõ rệt của những nhà lãnh đạo này. Bên cạnh những đặc tính được cho là
truyền thống như liêm chính, chân thật và đáng tin thì cũng có những đặc tính cũng không
kém phần quan trọng như: khả năng thấu hiểu, sự lắng nghe, có đầu óc cởi mở. Vì vậy, việc
để người ta biết mình là một nhà lãnh đạo có ý thức đạo đức rõ ràng, bày tỏ mối quan tâm đối
với nhiều nhóm có liên quan và áp dụng các quy trìnhđưa ra quyết định có đạo đức cũng rất
quan trọng. Những nhà lãnh đạo có đạo đức thì làm nhiều việc mà các “nhà lãnh đạo truyền
thống” hay làm (chẳng hạn, củng cố quy tắc đạo đức họ đang tìm kiếm, hình thành các tiêu
chuaanrcho hành vi và vân vân), nhưng họ lại thực hiện điều đó trong bối cảnh của một
chương trình nghị sự đạo đức. Mọi người sẽ nhận thây rằng mục tiêu của một nhà lãnh đạo có
đạo đức không chỉ thuần túy là cách làm việc mà cách làm việc phải tuân thủ theo các giá trị
và quy tắc đạo đức. Cuối cùng, những nhà lãnh đạo có đạo đức bày tỏ mối quan tâm đối với
nhiều người (lao động và các nhóm có liên quan bên ngoài) trong quy trình này.
Tuy nhiên, như được đề cập ở trên, tất cả những đặc tính và hành vi này phải nói rõ
ràng. Nếu Tổng giám đốc là một “nhà đạo đức trầm lặng” chỉ được biết đến trong phạm vi
ban quản trị cấp cao, còn các nhân viên cấp dưới lại không biết về điều đó, thì ông/bà ấy
thường không được biết đến như một nhà lãnh đạo có đạo đức. để gây được sự chú ý và tạo
sức ảnh hưởng đối với nhận thức của mọi người thì các đặc tính và hành vi đạo đức phải rõ
- 25 -


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×