Tải bản đầy đủ

CHUYÊN ĐỀ: TỰ HỌC, HỢP TÁC NHÓM, CHỦ ĐỘNG TIẾP THU KIẾN THỨC CHO HỌC SINH KHI HỌC MÔN TOÁN

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHẰM THÚC ĐẨY
TINH THẦN TỰ HỌC, HỢP TÁC NHÓM, CHỦ ĐỘNG TIẾP
THU KIẾN THỨC CHO HỌC SINH
1.Cơ sở lý luận
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông
tin, con người ở khắp mọi nơi trên thế giới không phân biệt sắc tộc, tôn giáo, giới tính
vẫn có thể cùng nhau học tập, nghiên cứu dù ở cách xa nhau hàng ngàn cây số. Thế ki
21 là ki nguyên của tri thức, của sự hợp tác, liên kết.
Đổi mới phương pháp dạy học đang là nhiệm vụ cấp bách của nền giáo dục
nước ta hiện nay. Mục tiêu của đổi mới phương pháp dạy học là đào tạo được những
con người mới đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng của thời đại công nghiệp hoá,
toàn cầu hoá như hiện nay. Bốn trụ cột của giáo dục trong thế kỷ XXI là “Học để biết,
học để làm, học để cùng nhau chung sống, học để tự khẳng định mình” mà UNESCO
đã đề ra là mục tiêu giáo dục Việt Nam hướng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại
ngang tầm với các nước trong khu vực và các nước trên thế giới. Với mục tiêu đó thì
học sinh không những cần phải chiếm lĩnh được kiến thức mà còn có năng lực hoà
nhập trong xã hội, một trong những năng lực đó là năng lực hợp tác. Sự hợp tác giữa
các con người với nhau tạo nên sự tồn tại của xã hội loài người. Vì thế, dạy học hợp
tác nhằm tạo cho học sinh phát triển khả năng hợp tác của con người.
Dạy học hợp tác với những đặc điểm là:
• Thúc đẩy học sinh học tập tích cực và đạt được những thành tích cao;

• Làm tăng khả năng ghi nhớ của học sinh;
• Đề cao những kết quả đạt được từ kinh nghiệm học tập của học sinh;
• Giúp học sinh phát triển các kĩ năng giao tiếp bằng lời nói;
• Phát triển các năng lực xã hội (khả năng lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng
lòng tin...);
• Thúc đẩy lòng tự trọng và nâng cao ý thức về bản thân;
• Đẩy mạnh các mối quan hệ tích cực giữa các học sinh như: tinh thần đồng đội,
sự chia sẻ, sự tận tụy, sự cổ vũ động viên...
Toán học là một môn khoa học có tính trừu tượng cao. Vì vậy, các khái niệm là
nguồn gốc của những khó khăn, trở ngại đối với những học sinh yếu về Toán, đa số
những học sinh này thậm chí không hiểu các khái niệm cơ bản về Toán học.
Trang 1


Việc vận dụng phương pháp dạy học hợp tác không đơn giản là chi áp dụng một
cách máy móc việc ghép học sinh vào các nhóm nhỏ để tiến hành quá trình dạy học mà
nó còn tuỳ thuộc vào môn học, điều kiện học tập, đối tượng học sinh, tính chất của bài
học và năng lực sư phạm của người thầy. Những điều đó khẳng định việc vận dụng
phương pháp dạy học hợp tác trong quá trình dạy học môn toán nói chung và dạy học
khái niệm toán học nói riêng ở trường trung học phổ thông vẫn còn mới mẻ và cần
thiết. Việc vận dụng phương pháp này vào dạy học khái niệm toán học như thế nào cho
có hiệu quả là vấn đề đang được quan tâm hiện nay.
2.Cơ sở thực tại
2.1.Vì sao cần đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) theo hướng tích cực?
a) Thực trạng dạy học
Ngày nay khoa học kĩ thuật (KHKT) phát triển nhanh như vũ bão, đặc biệt là
lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT). Theo đó hệ thống giáo dục trên thế giới nói
chung và Việt Nam nói riêng cũng phải đặt ra những yêu cầu phải đổi mới. Từ việc thi
theo kiểu thuộc lòng kiến thức, thuộc nhiều sách ,…được thay thế bằng năng lực giải
quyết những vấn đề thực tiễn, mang lại hiệu quả cao trong mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế, xã hội.
Trước đòi hỏi của thực tiễn, dưới ánh sáng NQ đại hội lần thứ 11 của Đảng
nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng nền kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luật giáo dục cũng ghi rõ: “PPDH phổ thông
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc điểm của
từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú cho học sinh”. Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường không chi trang bị những
kiến thức sẵn có của nhân loại mà còn phải bồi dưỡng, hình thành ở học sinh tính năng
động, tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành, áp dụng, tức là đào tạo những người lao


động không chi có kiến thức mà phải có năng lực hành động thực tiễn, kĩ năng thực
hành. Để thực hiện các yêu cầu cấp thiết của đất nước và hội nhập quốc tế, chúng ta đã
trải qua nhiều cuộc cải cách, đổi mới với nhiều thành tựu nhưng cũng còn không ít hạn
chế, tồn tại bộc lộ cần phải từng bước khắc phục.
NQ 08 khóa 11 của BCH trung ương Đảng năm 2013 về “ Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục, đào tạo” là sự quan tâm, sâu sát của Đảng với sự nghiệp GD & ĐT
của nước nhà.
Trang 2


Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã được đề ra từ lâu, chúng ta cũng
đã đổi mới chương trình và sách giáo khoa( SGK) cho hệ phổ thông 12 năm nhưng ở
nhiều trường phổ thông, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo việc học vẫn
là truyền thụ “một chiều”, “phương pháp đọc chép”, “Học để thi”, “Dạy để thi”, áp lực
nặng nề của “Bệnh thành tích” trong giáo dục chưa thuyên giảm. Việc dạy học vẫn
nặng tính lý thuyết, thiếu kỹ năng thực hành, thiếu tính thực tiễn, chưa quan tâm đến
việc hình thành thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo,
năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.
b) Sự cần thiết đổi mới
Việc đổi mới PPDH xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển kinh tế, đời sống xã hội.
CNTT phát triển như vũ bão ngoài chức năng cung cấp thông tin còn là công cụ hỗ
trợ tích cực cho dạy và học, là cộng cụ dạy học hiện đại, hiệu quả cao, giúp học sinh
tiếp cận tri thức trong nước, toàn cầu qua mạng Intenet.
Nền kinh tế đất nước ta đòi hỏi phải nhanh chóng đưa nước ta trở thành nước công
nghiệp hiện đại vào năm 2020. Muốn vậy phải có nguồn nhân lực có trình độ học vấn
rộng, thực hiện được nhiều nhiệm vụ, chuyên môn hóa cao, đảm bảo chất lượng và
hiệu quả xứng tầm khu vực và thế giới.
Đặc điểm, tâm sinh lý của học sinh: Ngày nay học sinh thu lượm thông tin rất
nhanh và chia sẻ thông tin qua mạng với tốc độ chóng mặt, mỗi trẻ em tìm kiếm thông
tin theo nhiều cách khác nhau. Việc sử dụng CNTT giúp các em xử lí nhiều tình huống
khác nhau cùng một lúc. Rõ ràng trẻ em Việt Nam ngày nay khác biệt rất xa trẻ em
cách đây vài thập kỷ. Các nghiên cứu trong khu vực và thế giới gần đây cho thấy mỗi
học sinh có cách học riêng theo sở thích hay phong cách học riêng. Việc này đòi hỏi
dạy học ngày nay phải quan tâm đến phong cách học của học sinh. Như vậy nếu học
theo kiểu thông báo hàng loạt sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu của học sinh,
các em lĩnh hội kiến thức thụ động cũng sẽ gặp khó khăn khi giải quyết các vấn đề gặp
trong cuộc sống thực tế. Việc quan tâm đến phong cách học của học sinh là yếu tố thúc
đẩy sự phát triển tối đa năng lực học tập của các em.
Bảng đánh giá: Chúng ta nhớ được chừng nào?
Nội dung
Những điều ta nghe
Những gì ta đọc
Những gì ta áp dụng
Từ các buổi trình bày, trình diễn
Từ các hoạt động thảo luận

Tỷ lệ %
5%
10%
20%
30%
50%
Trang 3


Từ hành động và giải thích cho người khác

85%

- Tại sao phải áp dụng dạy và học tích cực?
Giải thích, minh
Giải thích

Giải thích và minh họa

họa



trải

nghiệm
Những



nhớ

được sau 3 tuần
Những gì nhớ sau
3 tháng

70%

72%

85%

10%

32%

65%

c) Định hướng đổi mới PP dạy và học theo hướng tích cực
Trong đổi mới dạy và học theo hướng tích cực thì phương pháp học của học
sinh là mối quan tâm hàng đầu. Để thiết kế và tổ chức dạy học có hiệu quả thì mỗi
thầy cô giáo cần phải suy nghĩ và giải quyết các vấn đề sau trong từng tiết học và trong
cả quá trình:


Đâu là mối quan tâm hàng đầu của học sinh trong tiết học, vấn đề, nội dung bài
học?



Học sinh nên học như thế nào thì hiệu quả?



Điều gì tạo nên động cơ thúc đẩy học sinh học tích cực?
Như vậy vấn đề quan trọng không chi là “Học sinh biết gì?” mà còn phải thêm

trong mỗi tiết học thầy cô giáo phải dự kiến được: “Điều gì xảy ra với học sinh?” khi
các em tham gia vào quá trình học tập. Khi lấy học sinh làm trung tâm thầy cô giáo
cần xác định thế nào là quá trình học tập hiệu quả nhất. Trên cơ sở đó thầy cô giáo
điều chinh các hoạt động dạy học phù hợp với năng lực, sở thích và nhu cầu của học
sinh. Điều này đảm bảo không có học sinh “ Bị bỏ rơi” trong tiết học, bài dạy. Nó đòi
hỏi thầy cô giáo phải có cách nhìn nhận mới, suy nghĩ mới về quan hệ với học sinh và
những vấn đề liên quan.
Hai yếu tố cốt lõi của dạy và học tích cực là: Cảm giác thoải mái và sự tham
gia: “Sự tham gia” là cường độ của hoạt động, sự tập trung, sự say mê để học sinh trở
nên hăng hái, yêu thích môn học, khám phá và vượt qua giới hạn khả năng của mỗi
người. Nó là biểu hiện xuất sắc cho sự hoàn thiện quá trình học tập nói riêng và quá
trình phát triển nói chung của học sinh.

Trang 4


Quá trình dạy và học tích cực thực sự hiệu quả khi thầy cô giáo thực hiện tốt 5
yếu tố sau đây:


Không khí học tập và các mối quan hệ trong nhóm, lớp
Nội dung, nhiệm vụ, các hoạt động lĩnh hội kiến thức phù hợp với mức độ phát

triển của học sinh, gần gũi với thực tế, đa dạng về hình thức, tạo điều kiện cho học
sinh được tự do sáng tạo. Môi trường học tập thân thiện mang tính kích thích học sinh
được thể hiện đa dạng, phong phú: bàn ghế, không gian lớp học, sự thoải mái về tinh
thần, không căng thẳng, không nặng nề, không gây phiền nhiễu, có các hoạt động phụ
trợ, giải trí nhẹ nhàng.Ví dụ: Khi dạy về “ Hai quy tắc đếm” ( Đại số và Giải tích lớp
11) để tránh khô cứng thầy cô giáo có thể cho các em sắp xếp số điện thoại có thể có
của một hãng nào đó đang lưu hành hiện tại: Vietel, Vinaphone,…
Hỗ trợ cá nhân một cách tích cực, tạo cơ hội để học sinh giao tiếp, thể hiện
quan điểm, giá trị, mơ ước, chia sẻ kinh nghiệm, … và hợp tác trong các hoạt động
học tập.


Phù hợp với mức độ phát triển của học sinh
Việc giao các nhiệm vụ, tổ chức các hoạt động học tập cần có sự phân hóa,

quan tâm đến sự khác nhau về nhịp độ học tập, khả năng tư duy, phát triển của các đối
tượng học sinh. Có sự thỏa thuận, cam kết rõ ràng về mong đợi, yêu cầu của thầy cô
với học sinh và ngược lại. Các yêu cầu đối với học sinh cần rõ ràng, tránh mơ hồ, đa
nghĩa. Tức là việc đặt vấn đề, câu hỏi phải đảm bảo các yếu tố kĩ thuật đem lại lợi ích
cao nhất.
Thầy cô nên khuyến khích học sinh giúp đỡ lẫn nhau, quan sát học sinh học tập
để tìm ra phong cách và sở thích của từng học sinh, có sự hỗ trợ kịp thời, yêu cầu học
sinh động não, tạo điều kiện để các em trao đổi về nhiệm vụ học tập.


Gần gũi với thực tế
Các nội dung và nhiệm vụ học tập nên gắn với các mối quan tâm của học sinh

với thế giới bên ngoài. Thầy cô cần tận dụng mọi cơ hội để học sinh giao tiếp với các
tình huống thực tế, góp phần áp dụng kĩ năng, kiến thức và các tình huống trong đời
sống hàng ngày. Ví dụ: Thu thập số liệu năng suất lúa của địa phương trường đóng,
của huyện, tinh khi học thống kê( Đại số lớp 10), trong một số năm: 5 năm, 10 năm, 15
năm, 20 năm gần đây giúp so sánh, đối chiếu và đưa ra kết luận.


Mức độ và sự đa dạng của hoạt động

Trang 5


Trong việc tổ chức các hoạt động thầy cô giáo cần hạn chế tối đa thời gian chết
và chờ đợi; cần tạo ra các thời điểm hoạt động và trải nghiệm học tập tích cực. Nên
tích hợp các hoạt động, tổ chức trò chơi giáo dục, đố vui toán học. Tăng cường các trải
nghiệm thành công. Tăng cường sự tham gia tích cực, đảm bảo hỗ trợ đúng mức (học
sinh hỗ trợ lẫn nhau và từ phía thầy cô), đảm bảo đủ thời gian thực hành. Cụ thể trong
một tiết toán thầy cô phải phân phối thời lượng cho từng hoạt động và hoạt động thành
phần sao cho học sinh có thể có thời gian thực hành tối đa.


Phạm vi tự do sáng tạo
Học sinh được tạo điều kiện lựa chọn hoạt động theo sở thích; học sinh được

tham gia xây dựng kế hoạch và đánh giá bài học. Học sinh được tạo điều kiện tham gia
vào các hoạt động học tập.
Dạy học tích cực chi thực sự diễn ra khi học sinh có được cảm giác thoải mái:
được quan tâm, cảm thấy an toàn, không bị áp lực tâm lý, được thể hiện bản thân. Đó
là dấu hiệu của phát triển tâm lý tốt; nó chi tồn tại khi học sinh tự tin vào bản thân, có
lòng tự tôn cao. Biết rõ mình có thể mắc lỗi là yếu tố quan trọng có thể mang lại sự
tiến bộ và phát triển, giúp các em có thể đương đầu với khó khăn tốt hơn. Sự hỗ trợ
phản hồi tích cực và mong đợi thực tế cần trở thành một phần của cuộc sống trong nhà
trường.
Để tạo không khí thoải mái trong tiết dạy một trong những yếu tố là tính hài
hước, sự vui vẻ, tiếng cười đúng lúc, đúng chỗ.
Học sinh học tập hiệu quả nhất khi có cộng đồng học tập gắn kết và có sự quan
tâm lẫn nhau. Đó là nền tảng tạo nên sự thoải mái cho học sinh. Các thầy cô dạy có
hiệu quả sẽ quan tâm đến từng học sinh; biết được sở thích, điều kiện học tập, hoàn
cảnh gia đình của các em, nắm bắt được những khó khăn trong học tập của học sinh.
Để tạo ra môi trường học tập gắn bó, các hoạt động học tập cần liên hệ với những kiến
thức đã biết của học sinh.
Văn hóa gia đình đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng học tập. Trên quan
điểm đó, ta xem xét nhà trường như là phần mở rộng của gia đình, do vậy cần rút ngắn
khoảng cách giữa ở nhà và ở trường. Do vậy chúng ta phải tìm hiểu sự khác nhau của
về điều kiện của mỗi gia đình học sinh. Vì không phải mọi học sinh có hoàn cảnh gia
đình ổn định và có cơ hội học tập, điều kiện sống giống nhau. Nhà trường cần nỗ lực
tạo ra bầu không khí hỗ trợ, gắn bó giữa nhà trường và gia đình, điều đó khuyến khích
sự tham gia của phụ huynh trong quá trình học tập của học sinh. Các thầy cô dạy giỏi
Trang 6


coi lỗi của học sinh thường mắc phải là một phần tự nhiên trong quá trình dạy học, khi
được hỗ trợ và quan tâm, học sinh có thể thoải mái thể hiện nhận thức của mình mà
không sợ bị chế nhạo hay coi thường. Điều này thể hiện rõ ở một số học sinh học ban
cơ bản trong trường THPT.
Môi trường học tập và cách thức tổ chức học tập phải phù hợp với nhu cầu của
học sinh. Cảm giác thoải mái của học sinh thông qua sự cởi mở tiếp thu kiến thức tốt,
dễ dàng thích nghi, hòa nhập môi trường, không bị băn khoăn hay chán nản. Các em
bộc lộ sự nhận thức về bản thân: sự tự tin, khả năng bênh vực cái đúng, bảo vệ lẽ phải,
coi trọng bản thân và những người xung quanh. Ở mức độ cao thể hiện sự liên hệ bên
trong (ý chí, tình cảm). Các em tự biết cái gì cần cho bản thân, cái gì cần làm, mong
ước, suy nghĩ và cảm nhận. Các em cần phải cảm thấy an toàn, được tôn trọng trong
môi trường học tập thân thiện. Bằng cách này là điều kiện học sinh đạt được mức độ
cao và tham gia tích cực vào quá trình học tập. Cảm giác thoải mái và sự tham gia tích
cực có thể trở thành tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng của quá trình giáo dục.
Điều đó có nghĩa là các thầy cô giáo cần phải thiết kế những hoạt động học tập nhằm
đảm bảo mức độ tham gia cao của học sinh, đem đến cho các em niềm vui và sự hứng
thú trong học tập.
Những định hướng này sẽ làm thay đổi vai trò của thầy cô giáo và học sinh.
Trong đó thầy cô giáo chủ yếu giữ vai trò là người tạo môi trường học tập thân thiện,
phong phú, đa dạng, là người tư vấn, chi dẫn, động viên, kèm cặp, đưa đến những
thông tin phản hồi cần thiết, định hướng quá trình lĩnh hội tri thức và cuối cùng là
người thể chế hóa kiến thức.
2.2.Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là gì?
a) Tính tích cực
Đây là phẩm chất của con người trong đời sống xã hội. Hình thành và phát triển
tích tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con
người năng động, thích ứng và góp phần phát triển cộng đồng. Tính tích cực là điều
kiện, đồng thời là kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.
b) Tính tích cực học tập
Đó là những gì diễn ra bên trong người học, nói đến những hoạt động của chủ
thể. Về thực chất là tích cực nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ
và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.

Trang 7


Tính tích cực nhằm chuyển biến vị trí của học sinh từ đối tượng tiếp nhận tri
thức thụ động sang tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập. Nó liên quan đến
động cơ học tập. Động cơ đúng tạo nên hứng thú học tập là tiền đề của sự tự giác.
Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý tạo nên tính tích cực. Tính tích cực quan hệ
chặt chẽ với tư duy độc lập. Suy nghĩ, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo.
Ngược lại, học tập độc lập, tích cực, sáng tạo sẽ phát triển tính tự giác, hứng thú và
nuôi dưỡng động cơ học tập.
Một số đặc điểm cơ bản thể hiện tính tích cực học tập của học sinh


Có hứng thú học tập.



Tập trung chú ý tới bài học, nhiệm vụ học tập.



Mức độ tham gia vào xây dựng bài học, trao đổi, thảo luận, ghi chép.



Có sáng tạo trong quá trình học tập.



Thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập được giao.



Hiểu bài và có thể trình bày lại theo cách hiểu của mình.



Biết vận dụng những tri thức thu được vào giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Bảng nguyên nhân những khác biệt trong hiệu quả học tập
Hành vi
Năng lực
Niềm tin
Bản thể

Chăm chi
Có năng lực
Có động cơ
Có cảm giác kết nối (được hợp tác).Tác
động tới tâm can, bản thể.

Các biểu hiện của học tích cực


Tìm tòi, khám phá, tiến hành thí nghiệm,...



So sánh, phân tích, kiểm tra.



Thực hành, xây dựng,…



Giải thích, trình bày, thể hiện, hướng dẫn,…



Giúp đỡ, làm việc chung, liên lạc,…



Thử nghiệm, giải quyết vấn đề, phá bỏ làm lại,…



Tính toán,…

2.3.Phương pháp dạy và học tích cực
Trang 8


Đề cập đến các hoạt động dạy và học nhằm tích cực hóa các hoạt động học tập
và phát triển tính sáng tạo của học sinh. Trong đó các hoạt động học tập được định
hướng bởi thầy cô giáo, học sinh không thụ động, chờ đợi mà tự lực, tích cực tham gia
vào quá trình tìm kiếm, khám phá, phát hiện tri thức, vận dụng kiến thức để giải quyết
các vấn đề trong thực tiễn, qua đó lĩnh hội nội dung học tập và phát triển năng lực sáng
tạo.
PPDH tích cực không phải là một PPDH cụ thể, mà là một khái niệm, bao gồm
nhiều phương pháp, hình thức, kỹ thuật cụ thể khác nhau nhằm tích cực hóa, tăng
cường sự tham gia của học sinh, tạo điều kiện tối đa cho học sinh phát triển khả năng
học tập, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
PPDH tích cực mang lại cho học sinh sự hứng thú, niềm vui trong học tập, phù
hợp với đặc tính ưa hoạt động của lứa tuổi, khi đã là niềm hạnh phúc sẽ giúp các em tự
khẳng định mình, nuôi dưỡng lòng khát khao sáng tạo. Dạy và học tích cực nhấn mạnh
đến tính tích cực của hoạt động của học sinh và tính nhân văn của giáo dục.


Bản chất của dạy và học tích cực

- Khai thác động lực học tập của học sinh để phát triển chính các em.
- Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân học sinh để chuẩn bị tốt nhất cho các em
sau này khi ra trường thích ứng với nhu cầu, đòi hỏi của xã hội.


Sơ đồ thể hiện quan hệ của thầy cô giáo và học sinh:

- Tiêu chí hàng đầu của việc dạy và học là cách học.
- Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính chủ động của học sinh.
- Công cụ cần khai thác triệt để là công nghệ thông tin và đa phương tiện.
2.4. Những dấu hiệu đặc trưng của dạy và học tích cực
Trang 9


 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh và chú trọng rèn

luyện phương pháp tự học.
Khuyến khích học sinh tự lực khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những
điều đã biết. Học sinh tham gia trực tiếp vào các tình huống, trực tiếp thảo luận, quan
sát, trao đổi, làm thí nghiệm, khuyến khích các em đưa ra những giải pháp riêng, động
viên các em trình bày những quan điểm riêng. Qua đó không những chiếm lĩnh tri thức
mà còn làm chủ cách xây dựng kiến thức, từ đó tính tự chủ và sáng tạo có cơ hội được
bộc lộ, rèn luyện.
Tổ chức các hoạt động học tập của học sinh phải trở thành trung tâm của quá
trình giáo dục.Thầy cô giáo cần phải biết lập kế hoạch dạy học để hướng dẫn học sinh
phát triển các năng lực cần thiết trong cuộc sống, trong và ngoài nhà trường, hiện tại
và tương lai.
Dạy học cần bám sát các vấn đề của thực tiễn, áp dụng kiến thức vào giải quyết
các vấn đề thực tiễn thay cho việc nhồi nhét kiến thức, thông tin. Điều đó giúp học
sinh nhận thức, thông hiểu, tự biết mình cần phải học gì? Và vì sao phải học chúng? Ví
dụ phần Thống kê (Đại số lớp 10) nếu không phải để giải quyết những vấn đề trước
mắt của cuộc sống đòi hỏi thì nó sẽ là những con số khô cứng, không có ý nghĩa gì.
Trong quá trình dạy học chúng ta cần rèn luyện cho học sinh phương pháp tự
học, sẽ tạo cho các em lòng say mê học tập, khơi dậy nội lực vốn có và kết quả sẽ
được nâng lên.
Dạy và học tích cực tập trung vào hoạt động học, tạo ra sự chuyển biến từ học
tập thụ động sang chủ động, phát huy khả năng tự học ngay từ nhỏ của học sinh,
không chi trong giờ học trên lớp mà ở cả hoạt động ngoài giờ lên lớp, ở nhà,…
Trong dạy học truyền thống, thường chi đơn thuần khuyến khích học sinh ghi
nhớ kiến thức. Trong dạy học tích cực cần khuyến khích học sinh vận dụng kiến thức
vào điều kiện thực tế, giúp các em rèn luyện kỹ năng đã học.
 Hướng dẫn học sinh tự học, thầy cô giáo cần quan tâm đến những vấn đề

sau:
-

Học sinh có được tạo điều kiện để sáng tạo không?

-

Học sinh có thể hoạt động độc lập không?

-

Học sinh có được khuyến khích đưa ra các giải pháp của mình không?

-

Học sinh có thể xây dựng con đường học tập cho riêng mình không?

-

Học sinh có thể tự mình lựa chọn chủ đề, bài tập khác nhau không?
Trang 10


-

Học sinh có thể tự đánh giá không?

-

Học sinh có được tự chủ trong các hoạt động học tập không?

 Tăng cường hoạt động của mỗi cá nhân, phối hợp với học tập hợp tác

Trong dạy học tích cực, thầy cô giáo cần quan tâm đến sự phân hóa về trình độ
nhận thức, cường độ, tiến độ hoàn thành các nhiệm vụ học tập của mỗi học sinh.Trên
cơ sở đó xây dựng các nhiệm vụ, bài tập, mức độ hỗ trợ phù hợp với mỗi cá nhân
nhằm phát huy tối đa khả năng của học sinh.
Cần đặt học sinh vào mối tương tác giữa thầy – trò, trò – trò. Khi đó học sinh
không chi học qua thầy mà còn học được qua bạn, được chia sẻ kinh nghiệm sẽ kích
thích tính tích cực, chủ động của mỗi cá nhân, đồng thời hình thành năng lực tổ chức,
điều khiển, lãnh đạo, các kỹ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày, giải quyết vấn đề,…và
tạo môi trường học tập thân thiện. Để việc này thực hiện có hiệu quả thầy cô giáo cần
hình thành cho các em thói quen học tập tự giác, tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong
nhóm, trong lớp; giao việc phải rõ ràng, cụ thể, các thành viên trong nhóm phải có
trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ được giao, tránh tình trạng ỷ lại, thậm chí phá rối,
làm cho hoạt động hợp tác kém hiệu quả.
Ngoài vai trò hoạt động cá nhân học tập hợp tác còn đề cao sự tương tác, ràng
buộc lẫn nhau. Sự phân chia nhiệm vụ phải thể hiện mức độ hợp tác. Kết quả làm việc
phụ thuộc vào “Nguyên liệu” thu được trong nhóm. Dạy học hợp tác nhằm phát triển ở
học sinh những kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp xã hội, tích cực hóa hoạt động
học tập và tạo cơ hội bình đẳng trong học tập.
 Dạy và học chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu

và lợi ích của xã hội
Theo dấu hiệu này dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo, học sinh được chủ động
lựa chọn vấn đề mà mình quan tâm, ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu giải quyết
vấn đề và trình bày kết quả. Đó là đặc trưng lấy học sinh làm trung tâm.
Các chủ đề, nội dung học sinh có thể tự đề xuất (Vận dụng sáng tạo mức độ
cao), hoặc lựa chọn trong số do thầy cô giới thiệu (Vận dụng mức độ thấp) nhưng nó
phải gắn với nhu cầu, lợi ích của học sinh và các em phải thấy được giá trị, sự cần thiết
của những kiến thức đó.
Dạy và học cần chú trọng đến sự quan tâm và hứng thú của học sinh, nhu cầu,
lợi ích của xã hội nhằm phát huy cao độ tính tích cực, tự lực, rèn luyện cho học sinh
cách làm việc độc lập, phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng tổ chức công việc, trình bày
Trang 11


kết quả. Phải đảm bảo nguyên tắc phân hóa trong dạy học, quan tâm đến mọi đối
tượng, không có học sinh bị “ Bỏ rơi”
 Dạy và học coi trọng hướng dẫn, tìm tòi

Giúp học sinh phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề và nhấn mạnh rằng học sinh
có thể học thông qua hoạt động. Nó giúp các em khả năng làm việc độc lập, tự giác, tư
duy lô gic, khả năng phân tích, tổng hợp, đánh giá.

Một nhiệm vụ học tập tốt đặt ra sự thách thức đối với học sinh, không nên quá
dễ gây nên sự nhàm chán, cũng không quá khó gây ra sự lo lắng. Do vậy cần đa dạng
và thiết phù hợp từng loại đối tượng học sinh trong điều kiện cho phép. Thầy cô giáo
cần hỗ trợ kịp thời: yêu cầu nhìn lại nhiệm vụ, liên hệ kiến thức đã học,…
 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của học sinh

Trong dạy học thụ động thì đánh giá là nhiệm vụ của thầy cô giáo, chủ yếu là
qua điểm số bài kiểm tra, thi cử dẫn đến học vẹt, học tủ, đối phó và kết quả giáo dục
yếu kém.
Trong dạy và học tích cực, đánh giá không chi nhằm mục đích nhận định thực
trạng và điều chinh hoạt động học tập của học sinh mà còn nhận định thực trạng, điều
chinh hoạt động dạy của thầy cô giáo.
Tự đánh giá là hình thức học sinh tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các
mục tiêu của quá trình học tập. Đó là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả, ở
mức độ cao hơn là học sinh có thể phản hồi lại quá trình học của mình.

Trang 12


Như vậy tự đánh giá giữ vai trò quan trọng trong đánh giá vì học sinh chủ động
xem xét lại quá trình, kết quả học tập của mình để tự điều chinh cách học, xác định
động cơ học tập, lập kế hoạch tự nâng cao kết quả học tập. Tự đánh giá đúng và điều
chinh hoạt động học tập kịp thời là năng lực cần thiết cho sự thành đạt trong cuộc sống
mà nhà trường phải trang bị cho học sinh. Đây là sự khác biệt giữa dạy học thụ động
và dạy học tích cực.
Cùng với tự đánh giá, thầy cô giáo cần tổ chức cho học sinh đánh giá lẫn nhau
hay đánh giá “đồng đẳng”. Các nhóm học sinh trong cùng lớp đánh giá công việc, kết
quả công việc lẫn nhau. Chủ yếu dùng hỗ trợ học sinh trong quá trình học. Nó được
dựa trên các tiêu chí do thầy cô giáo cung cấp, các tiêu chí này cần rõ ràng, diễn giải
cụ thể, dễ hiểu.
Kết hợp đánh giá của thầy và của trò không những giúp học sinh nhìn nhận
chính mình để điều chinh cách học mà còn giúp thầy cô giáo điều chinh cách dạy.
Đánh giá trong dạy và học tích cực còn là sự đánh giá về việc học (kết quả), vì
việc học (quá trình học) với tự đánh giá.
2.5.Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực như thế nào?
Đổi mới PPDH theo hướng tích cực chính là phát huy tính tích cực của học sinh
tức là “Lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm”.
Dưới sự thiết kế, tổ chức, định hướng của thầy cô giáo học sinh được tham gia
vào quá trình hoạt động học tập từ khâu phát hiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn đề đặt
ra, thực hiện các giải pháp và rút ra kết luận. Đổi mới PPDH theo hướng tích cực có
nghĩa hoạt động học tập phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa hoạt động cá nhân
học sinh và hoạt động hợp tác, trong mối quan hệ giữa thầy và trò, trò – trò trong môi
trường học tập thân thiện, an toàn.
Học sinh là chủ thể hoạt động, thầy cô giáo đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn,
đòi hỏi thầy cô giáo phải có kiến thức sâu rộng, có kỹ năng sư phạm, đặc biệt phải có
tình cảm nghề nghiệp, hết lòng vì học sinh thì việc đổi mới PPDH mới có hiệu quả.
Với phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, người Thầy tạo ra
những tình huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác,
tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề, thông qua đó mà kiến tạo tri thức,
rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục tiêu học tập khác. Đặc điểm của phương
pháp này:

Trang 13




Học sinh được đặt vào một tình huống gợi vấn đề chứ không phải là được thông
báo tri thức dưới dạng có sẵn.



Học sinh hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri
thức và khả năng của mình để phát hiện giải quyết vấn đề chứ không phải chi
nghe Thầy giảng một cách thụ động.



Mục tiêu dạy học không phải chi làm cho học sinh lĩnh hội kết quả của quá
trình phát hiện và giải quyết vấn đề, mà còn làm cho họ phát triển khả năng tiến
hành những quá trình như vậy.
* Các bước thực hiện dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:
Bước 1: Phát hiện và thâm nhập vấn đề


Phát hiện vấn đề từ những tình huống gợi ra cho học sinh những khó
khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt
qua, nhưng không phải ngay tức khắc nhờ một thuật giải mà phải trải
qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động - các tình huống như thế
này thường do Thầy tạo ra. Từ đó, người học có thể liên tưởng những
cách suy nghĩ tìm tòi khám phá, dự đoán.



Giải thích và chính xác hóa tình huống để hiểu đúng vấn đề đặt ra.



Phát biểu vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết vấn đề đó.

Bước 2: Tìm giải pháp
Việc tìm một cách giải quyết vấn đề được thực hiện theo sơ đồ:
Bắt đầu
Phân tích vấn đề

Đề xuất và thực hiện hướng giải quyết
Hình thành giải pháp
Giải pháp đúng

Kết thúc
Trang 14


Bước 3: Trình bày giải pháp
Bước 4: Nghiên cứu sâu giải pháp


Tìm hiểu những khả năng ứng dụng kết quả.



Đề xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa,
lật ngược vấn đề,....... và giải quyết nếu có thể.



Vai trò của thầy cô giáo và học sinh trong dạy và học tích cực

Thầy cô giáo
Định hướng / Hướng dẫn
Tổ chức
Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra

Học sinh
Nghiên cứu, tìm tòi
Thực hiện
Tự kiểm tra, tự điều chinh

Mục đích của dạy và học tích cực so với dạy học thụ động:
- Học có hiệu quả hơn, bài học sinh động hơn.
- Quan hệ thầy – trò, trò – trò tốt hơn.
- Hoạt động học tập phong phú hơn; học sinh hoạt động nhiều hơn.
- Thầy cô giáo có nhiều cơ hội giúp học sinh hơn.
- Quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển cá nhân của học sinh.
Trong dạy học không có phương pháp hoàn toàn thụ động và phương pháp hoàn
toàn tích cực.Vấn đề là thầy cô giáo phải vận dụng các PPDH thế nào để phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh.
2.6.Điều kiện đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực
Đòi hỏi thầy cô giáo phải biết kế thừa, phát huy những ưu điểm, khắc phục
nhược điểm của các PPDH truyền thống và cập nhật các PPDH hiện đại sao cho phù
hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy học của nhà trường, địa phương.


Các điều kiện để thực hiện dạy học tích cực
- Nâng cao trình độ, năng lực sư phạm của đội ngũ thầy cô giáo.
- Điều chinh chương trình, SGK cho phù hợp với thực tế giáo dục, điều kiện và

hoàn cảnh của địa phương.
- Đảm bảo có đủ đồ dùng dạy học tối thiểu, trang thiết bị và cơ sở vật chất theo
quy định.
- Đổi mới kiểm tra đánh giá.
- Nâng cao trình độ, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý, đổi mới công
tác chi đạo quản lý của các cấp.

Trang 15


Như vậy trọng dạy và học tích cực, vai trò của thầy cô giáo quyết định chất
lượng giáo dục.


Yêu cầu đối với thầy cô giáo trong dạy và học tích cực

 Trách nhiệm- lương tâm của người thầy

- Có thái độ tích cực, thân thiện đối với học sinh.
- Có nhạy cảm sư phạm.
- Linh hoạt, sáng tạo trong vận dụng các PPDH, tổ chức các hoạt động dạy học
đảm bảo sự tương tác giữa thầy cô giáo và học sinh, giữa học sinh và học sinh.
 Đáp ứng sự đa dạng của dạy và học tích cực

- Hiểu rõ bản chất của dạy và học tích cực.
- Có năng lực chuyên môn vững vàng.
- Có thái độ coi trọng sự khác biệt của học sinh và có khả năng tổ chức các hoạt
động dạy học đáp ứng khả năng, năng lực của học sinh.
2.7. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
2.7.1. Dạy học theo dự án
a. Khái niệm dạy học theo dự án
Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực
hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo
ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự
lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến
việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chinh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện.
Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA.
b. Đặc điểm của dạy học theo dự án
- Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án xuất phát từ những tình huống của
thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống. Nhiệm vụ dự án
cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học.
- Có ý nghĩa thực tiễn xã hội: Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập
trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội. Trong những trường hợp lý tưởng,
việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động xã hội tích cực.
- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia chọn đề tài, nội dung học
tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của người học cần
được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án.

Trang 16


- Tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc
môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa
nghiên cứu lý thuyết và vận dung lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành.
Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ
năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học.
- Tính tự lực cao của người học : Trong DHDA, người học cần tham gia tích
cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến
khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. GV chủ yếu đóng vai trò tư vấn,
hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng
của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ.
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong
đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm.
DHDA đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành
viên tham gia, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong
dự án. Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội.
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được
tạo ra. Sản phẩm của dự án không giới hạn trong những thu hoạch lý thuyết, mà trong
đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực
tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu.
c. Các dạng của dạy học theo dự án
DHDA có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau. Sau đây là
một số cách phân loại dạy học theo dự án:
- Phân loại theo chuyên môn
+ Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.
+ Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau.
+ Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn
học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường.
- Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân. Dự
án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu. Trong trường phổ thông
còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
- Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với
sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV.
Trang 17


- Phân loại theo quỹ thời gian: K.Frey đề nghị cách phân chia như sau:
+ Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học.
+ Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới
hạn là một tuần hoặc 40 giờ học.
+ Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ
học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”).
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông. Trong đào tạo
đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn.
- Phân loại theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:
+ Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng.
+ Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá
trình.
+ Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra
các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực
hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác.
+ Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên.
Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Trong từng lĩnh vực chuyên
môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng.
d. Tiến trình thực hiện DHDA
Dựa trên cấu trúc chung của một dự án trong lĩnh vực sản xuất, kinh tế nhiều
tác giả phân chia cấu trúc của dạy học theo dự án qua 4 giai đoạn sau: Quyết định, lập
kế hoạch, thực hiện, kết thúc dự án. Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp,
người ta có thể chia cấu trúc của DHDA làm nhiều giai đoạn nhỏ hơn. Sau đây trình
bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy hoc theo dự án theo 5 giai đoạn.
+ Chọn đề tài và xác định mục đích của dự án : GV và HS cùng nhau đề xuất, xác
định đề tài và mục đích của dự án. Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng
một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ
với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống. Cần chú ý đến hứng thú của người học
cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài. GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học
viên lựa chọn và cụ thể hoá. Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định
đề tài có thể xuất phát từ phía HS. Giai đoạn này được K.Frey mô tả thành hai giai
đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến.
Trang 18


+ Xây dựng kế hoạch thực hiện: trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn của GV
xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án. Trong việc xây
dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu,
kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm.
+ Thực hiện dự án : các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho
nhóm và cá nhân. Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt
động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau.
Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực
tiễn. Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra.
+ Thu thập kết quả và công bố sản phẩm : kết quả thực hiện dự án có thể được viết
dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất
được tạo ra qua hoạt động thực hành. Sản phẩm của dự án cũng có thể là những
hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh
hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội. Sản phẩm của dự án có thể được trình bày
giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội.
+ Đánh giá dự án: GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh
nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp
theo. Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài. Hai giai đoạn cuối
này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án.
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chi mang tính chất tương đối. Trong thực tế
chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau. Việc tự kiểm tra, điều chinh cần được thực
hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án. Với những dạng dự án khác nhau có thể xây
dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án. Giai đoạn 4 và 5 cũng thường
được mô tả chung thành một giai đoạn (giai đoạn kết thúc dự án).
e. Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án
*Ưu điểm: Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của PPDH này. Có
thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án:
·

Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội;

·

Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học;

·

Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm;

·

Phát triển khả năng sáng tạo;

·

Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;

·

Rèn luyện tính bền bi, kiên nhẫn;
Trang 19


·

Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc;

·

Phát triển năng lực đánh giá.

*Nhược điểm
·

DHTDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu
tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản;

·

DHTDA đòi hỏi nhiều thời gian. Vì vậy DHDA không thay thế cho PP thuyết
trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các PPDH
truyền thống.

·

DHTDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.

Tóm lại DHDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học
định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm
dạy học tích hợp. DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động,
nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng
lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả
năng cộng tác làm việc của người học.
2.7.2. Dạy học theo hợp đồng
a.Khái niệm dạy học theo hợp đồng: Là PP tổ chức hoạt động học tập, trong đó HS
làm việc theo một gói các nhiệm vụ trong một khoảng thời gian nhất định.
-

Dạy học theo hợp đồng HS sẽ được giao một hợp đồng trọn gói bao gồm các
nhiệm vụ khác nhau: Nhiệm vụ bắt buộc và nhiệm vụ tự chọn.

-

Hợp đồng sẽ được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định ( có thể
nhiều hơn 1 tiết học)

-

HS sẽ chủ động xác định thời gian và thứ tự thực hiện các nhiệm vụ.

b.Ưu điểm của dạy học theo hợp đồng:
-

Cho phép phân hóa nhịp độ và trình độ của HS;

-

Tăng cường tính độc lập của HS;

-

Nâng cao ý thức trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ học tập;

-

GV có nhiều cơ hội hướng dẫn cá nhân;

-

Các hoạt động học tập sẽ phong phú hơn;

-

Lựa chọn đa dạng;…

c.Các bước dạy học theo hợp đồng
-

Bước 1: Chuẩn bị

+ Lựa chọn nội dung bài học phù hợp
Trang 20


+ Xây dựng hợp đồng: Biên soạn văn bản hợp đồng; Thiết kế các nhiệm vụ/hoạt
động bao gồm cả phương tiện, tài liệu ( tư liệu nguồn, bản hướng dẫn theo mức độ
hỗ trợ, đáp án,…).
-

Bước 2: Tổ chức hoạt động dạy học

+ Giới thiệu bài học, giới thiệu hợp đồng
+ Tổ chức cho HS kí và thực hiện hợp đồng
+ Tổ chức trao đổi/chia sẻ kết quả học tập
d.Lưu ý khi tổ chức dạy học theo hợp đồng
-

Nội dung bài học phải phù hợp với đặc trưng của PPDH theo hợp đồng ( nên
áp dụng trong các giờ thực hành, ôn tập, luyện tập,..)

-

Nhiệm vụ bắt buộc phải căn cứ vào chuẩn kiến thức kỹ năng. Nhiệm vụ tự
chọn nhằm củng cố mở rộng nâng cao kiến thức, kỹ năng liên quan đến nội
dung bài học.

-

Cần đa dạng hóa: Nội dung ( Nội dung đóng: chi có 1 phương án giải quyêt,
Nội dung mở: có nhiều phương án giải quyết); Nhiệm vụ học tập ( bắt buộc/tự
chọn); Mức độ độc lập trong học tập ( Độc lập/Có hướng dẫn); Hình thức học
tập ( cá nhân/ nhóm); Các hoạt động học tập ( thực hành, trải nghiệm, vui
chơi,..)

-

Thiết kế phiếu hỗ trợ có các mức độ khác nhau ( hỗ trọ ít, hỗ trợ nhiều) đáp
ứng sự phân hóa về trình độ nhận thức của HS.

2.7.3.Dạy học hợp tác
a.Mục tiêu
Tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân
và nhóm nhằm
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của học sinh;
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh;
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa học sinh và học sinh.
b. Khái niệm
“Dạy học hợp tác là một PPDH, trong đó, mỗi học sinh được học tập trong một
nhóm, có sự cộng tác giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm để đạt mục đích
chung. Trong PPDH hợp tác, vai trò của GV là người tổ chức, điều khiển việc học của
học sinh thông qua học tập hợp tác, bằng việc thiết kế các giờ học hợp tác, vai trò của
người học sinh là người học tập trong sự hợp tác. Hợp tác vừa là phương tiện vừa là
Trang 21


mục tiêu của dạy học. Hoạt động trong giờ dạy học hợp tác bao gồm: hợp tác giữa các
học sinh trong một nhóm, hợp tác giữa các nhóm và hợp tác giữa học sinh và GV.
- Hợp tác trong nhóm học sinh bao gồm:
• Cá nhân tự nghiên cứu (hoạt động (HĐ) tư duy độc lập);
• Thảo luận nhóm ( HĐ tư duy hội thoại có phê phán);
• Trình bày kết quả của nhóm ( HĐ tư duy tổng hợp).
- Hợp tác giữa các nhóm gồm: HĐ ghép (và/hoặc) đồng nhất hoá các kết quả học
tập. Học tập lẫn nhau giữa các nhóm, tư duy tổng hợp, phê phán.
- Hợp tác giữa học sinh và GV bao gồm hoạt động phân tích, tổng hợp, hợp thức
hoá kiến thức, đánh giá và tự đánh giá.
*Các thành tố cơ bản của PPDH hợp tác
Thành tố 1: Sự phụ thuộc tích cực bên trong.
Thành tố 2: Trách nhiệm của mỗi cá nhân.
Thành tố 3:. Tương tác mặt đối mặt.
Thành tố 4: Kĩ năng làm việc nhóm và khả năng thích nghi với mọi người.
Thành tố 5: Sự tiến triển nhóm.
c.Tình huống dạy học hợp tác
* Tình huống dạy học hợp tác là gì?
Theo tôi, một tình huống dạy học hợp tác là tình huống dạy học trong đó xác
định rõ mục tiêu học tập cho mỗi học sinh trong một nhóm, phù hợp với nhận thức của
học sinh và tạo nhu cầu hợp tác trong học tập. Thực chất đó là một dạng tình huống
gợi vấn đề mà GV đưa ra với dụng ý tạo ra hoạt động học tập hợp tác cho học sinh.
Đặc điểm khác biệt nhất của tình huống dạy học hợp tác so với các tình huống
dạy học khác là: phải tạo được cơ hội cho học sinh thảo luận và từng bước đạt kết quả
học tập.
Một tình huống dạy học hợp tác phải đồng thời thoả mãn ba điều kiện sau:
• Tình huống phải có tác dụng gợi ra vấn đề.
• Học sinh thấy có nhu cầu hợp tác, trao đổi với nhau và hy vọng sự hợp tác đó sẽ
có tác dụng tốt.
• Tạo ra môi trường hợp tác để thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa vai trò cá
nhân với vai trò tập thể.
Trang 22


* Quy trình thiết kế tình huống dạy học hợp tác trong dạy học
Bước 1: Xác định mục tiêu, ngoài mục tiêu về chiếm lĩnh kiến thức cụ thể trong
hoạt động học tập, cần chú trọng hơn đến mục tiêu rèn luyện cách học và cách giao
tiếp cho học sinh.
Bước 2: Chọn nội dung, không phải giờ học nào cũng có thể đưa ra để dạy học
hợp tác được, vì vậy phải chọn nội dung thích hợp.
Bước 3: Thiết kế tình huống cụ thể, bao gồm các nhiệm vụ.
Đề ra nhiệm vụ cho học sinh: có thể thông qua phiếu học tập, sử dụng máy
chiếu để thiết kế tình huống như một đoạn phim, những câu chuyện dẫn đến nghịch
lý,...
Bước 4: Tổ chức học tập hợp tác.
d. Các bước tiến hành dạy học hợp tác trong một tiết học
Dạy học hợp tác dựa trên hoạt động của các nhóm được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Tổ chức lớp học.
Bước 2: Làm việc theo nhóm.
Bước 3: Thảo luận, tổng kết kiến thức.
2.8. MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC
2.8.1. Kỹ thuật động não (Brainstorming)
a. Giớithiệu: Năm 1941, Alex Osborn đã miêu tả động não như là Một kỹ thuật hội ý
bao gồm một nhóm người nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề đặc trưng bằng cách góp
nhặt tất cả ý kiến của nhóm người đó nảy sinh trong cùng một thời gian theo một
nguyên tắc nhất định.
Động não hay Công não (Brainstorming) là một phương pháp đặc sắc dùng để
phát triển nhiều giải pháp sáng tạo cho một vấn đề. Phương pháp này hoạt động bằng
cách nêu các ý tưởng tập trung trên vấn đề, từ đó rút ra rất nhiều giải pháp căn bản cho
nó. Các ý niệm/hình ảnh về vấn đề trước hết được nêu ra một cách rất phóng khoáng
và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càng nhiều, càng đủ càng tốt. Các ý kiến có thể rất
rộng và sâu cũng như không giới hạn bởi các khía cạnh nhỏ nhặt nhất của vấn đề mà
những người tham gia nghĩ tới.
Trong động não thì vấn đề được đào bới từ nhiều khía cạnh và nhiều cách nhìn
khác nhau. Sau cùng các ý kiến sẽ được phân nhóm và đánh giá.
b. Dụng cụ:

Trang 23


- Tốt nhất là các bảng hoặc giấy khổ lớn để mọi người dễ đọc các ý kiến, hoặc có thể
thay thế bằng giấy viết.
- Có thể sử dụng hệ thống máy tính kết nối mạng để tiến hành động não.
c. Thực hiện:
- Giáo viên chia nhóm, các nhóm tự chọn nhóm trưởng và thư ký.
- Giao vấn đề cho nhóm.
- Nhóm trưởng điều hành hoạt động thảo luận chung của cả nhóm trong một thời
gian quy định, các ý kiến đều được thư ký ghi nhận, khuyến khích thành viên đưa càng
nhiều ý kiến càng tốt.
- Cả nhóm cùng lựa chọn giải pháp tối ưu, thu gọn các ý tưởng trùng lặp, xóa những
ý không phù hợp, sau cùng thư ký báo cáo kết quả.
d. Lưu ý:Trong quá trình thu thập ý kiến, không được phê bình hay nhận xét – cần xác
định rõ: Không có câu trả lời nào là sai.
e. Ưu điểm:
- Dễ thực hiện, không mất nhiều thời gian.
- Huy động mọi ý kiến của thành viên, tập trung trí tuệ.
- Do không được phép đánh giá trong quá trình thu thập ý kiến, nên mọi ý kiến đều
được ghi nhận, từ đó khuyến khích các thành viên nhóm tham gia hoạt động.
g. Hạn chế:
- Rất dễ gây tình trạng lạc đề nếu chủ đề không rõ ràng.
- Việc lựa chọn các ý kiến tốt nhất có thể sẽ mất thời gian.
- Nếu nhóm trưởng không đủ bản lĩnh sẽ gây ra tình trạng một số thành viên nhóm
quá năng động nhưng một số khác không tham gia.
- Việc lưu trữ kết quả thảo luận là khó khăn và dễ gây lãng phí.
2.8.2. Kỹ thuật thảo luận viết – Brainwriting
a. Giới thiệu:Thảo luận viết (Brain writing) là một biến thể của Động não, tuy nhiên,
trong thảo luận viết, từng thành viên trình bày ý kiến của mình trên giấy trước khi gởi
kết quả về cho thư ký của nhóm
b.Dụng cụ: Mỗi thành viên có giấy và bút riêng để viết ra ý tưởng của mình.
c.Thực hiện:
-Giáo viên chia nhóm, giao vấn đề cho nhóm.
-Quy định thời gian viết cá nhân trước khi thu thập ý kiến.

Trang 24


- Sau khi thu thập ý kiến, cả nhóm cùng nhau duyệt toàn bộ, sau đó lựa chọn giải
pháp tối ưu để thư ký báo cáo kết quả.
d. Lưu ý:Trong quá trình phát triển ý kiến, được phép tham khảo ý kiến của các bạn
khác cùng nhóm để phát triển ý tưởng.
e. Ưu điểm:
- Thu thập được nhiều ý kiến, do người viết cảm thấy không phải “tranh luận” về ý
kiến của mình.
- Các ý kiến thường có giá trị cao, do người ta có xu hướng suy nghĩ kỹ trước khi viết
ra giấy.
g. Hạn chế: Cần dành nhiều thời gian cho hai hoạt động: Viết cá nhân và đánh giá
toàn bộ ý kiến.
2.8.3. Kỹ thuật động não không công khai
a. Giới thiệu: Động não không công khai là một hình thức biến đổi của thảo luận viết,
mỗi thành viên của nhóm cũng viết ra ý nghĩ của mình để giải quyết vấn đề, tuy nhiên
không công khai và không tham khảo người khác, sau đó nhóm mới tiến hành thảo
luận chung.

b. Dụng cụ: Giấy bút cho các thành viên của nhóm.
c. Thực hiện:
- Giáo viên chia nhóm, giao chủ đề cho nhóm, quy định thời gian làm việc cá nhân để
giải quyết vấn đề trước khi thảo luận nhóm.
- Sau khi hoàn tất làm việc cá nhân, lần lượt từng người trình bày ý kiến.
- Bắt đầu thảo luận khi tất cả thành viên đã trình bày xong ý kiến.
Trang 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×