Tải bản đầy đủ

Tiểu luận đường lối cách mạng của đảng cộng sản việt nam Phân tích đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng (1946 1954)

Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
MỞ ĐẦU

1. Tầm quan trọng của đề tài
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra
đời. Nhân dân ta vừa được hưởng độc lập, tự do ít ngày thì các thế lực đế quốc tràn vào
nước ta, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng, xây dựng chính quyền bù nhìn, đưa nước ta
trở lại chế độ thuộc địa trước đây. Đáp ứng lời kêu gọi của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh, cả dân tộc đã nhất tề đứng lên bảo vệ thành quả cách mạng với tất cả điều kiện có
trong tay.
Với quyết tâm chiếm nước ta một lần nữa, thực dân Pháp đã dùng những thủ đoạn, âm
mưu thân độc: “Dùng người Việt trị người Việt”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến: Toàn dân, toàn diện,
trường kỳ và dựa vào sức mình là chính. Sau 9 năm kháng chiến, nhân dân ta dưới sự lãnh
đạo của Đảng đã đánh bại các thế lực xâm lược, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng,
giải phóng hoàn toàn miền Bắc, từ đó tạo cơ sở cho miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội, trở thành căn cứ đại cho cả nước, chi viện sức người, sức của cho việc giải phóng
miền Nam thống nhất Tổ quốc sau này.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ giành được thắng
lợi là do Đảng đã có đường lối kháng chiến đúng đắn, đó chính là “Đảng ta luôn luôn nêu
cao tinh thần tự lực cánh sinh, chống tư tưởng trông chờ và ỷ lại viện trợ của bên ngoài,

cổ vũ nhân dân ra sức xây dựng hậu phương, phát triển kinh tế kháng chiến, đẩy mạnh
sản xuất, thực hành tiết kiệm để cung cấp cho nhu cầu to lớn của tiền tuyến” ; từ đó đã
huy động được sức mạnh yêu nước của cả dân tộc để chiến thắng kẻ thù xâm lược.
Xuyên suốt lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã trải qua rất
nhiều cuộc chiến tranh. Và kết quả của những cuộc chiến tranh ấy chính là nền độc lập
dân tộc, là xã hội chủ nghĩa với tính chất công bằng, dân chủ, văn minh hôm nay. Để đạt
1


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
được kết quả này, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đổ rất nhiều mồ hôi, xương máu
và nước mắt. Và một trong những yếu tố quan trọng để quyết định sự thắng lợi trong các
cuộc đấu tranh chính là nhờ ở đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của những nhà
lãnh đạo – đó chính là đường lối quân sự của Đảng.
Đường lối quân sự của Đảng kế thừa và phát triển lên một trình độ mới, một chất
lượng mới truyền thống yêu nước, tự lập tự cường, anh hùng bất khuất, quyết chiến quyết
thắng, truyền thống quân sự cả nước chung sức đánh giặc của dân tộc Việt Nam, một dân
tộc vốn có tài thao lược kiệt xuất.
Nghiên cứu Đường lối kháng chiến chống Pháp, chính là nghiên cứu về lịch sử oanh
liệt đấu tranh giữ nước của dân tộc, nghệ thuật chỉ huy đánh giặc tài tình của Đảng, từ đó,
rút ra được bài học kinh nghiệm quý giá cho thời đại, để thấy được giá trị của đường lối
vẫn có ý nghĩa chiến lược trong công cuộc gây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay, cũng
như để lại tấm gương sáng hùng hồn để lớp trẻ học tập và noi theo.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu nội dung về Đường lối kháng chiến chống Pháp của Đảng giai đoạn 1946 –
1954; làm sáng tỏ được những quan điểm về sự hình thành và nội dung cơ bản của đường
lối. Đồng thời, liên hệ với thực tiễn, làm rõ những giá trị nội dung, tạo tiền đề để thấy
được tầm quan trọng của đường lối kháng chiến của Đảng vẫn mang những ý nghĩa chiến
lược lớn lao trong giai đoạn kiến thiết và bảo vệ đất nước hiện nay. Thông qua đề tài này,
ý thức được vai trò của lớp trẻ trong việc học tập nội dung đường lối, góp phần vào việc
xây dựng cũng như làm giàu cho Tổ quốc hiện nay.

2


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
CHƯƠNG 1

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CỦA ĐƯỜNG LỐI KHÁNG
CHIẾN CHỐNG PHÁP CỦA ĐẢNG (1946 – 1954)



1.1. Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam trước cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
1.1.1. Về thuận lợi
Sau chiến tranh Thế giới thứ hai, hệ thống chủ nghĩa xã hội trên Thế giới do Liên Xô
đứng đầu dần hình thành và phát triển, bao gồm ở cả các nước Đông Âu. Đồng thời, các
nước Tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ đã bị tàn phá nặng nề, các phong trào giải phóng dân
tộc, đấu tranh đòi dân chủ phát triển mạnh mẽ, diễn ra khắp mọi nơi. Đặc biệt, sau thắng
lợi của cách mạng tháng Tám, quần chúng nhân dân, ngày càng thêm tin tưởng vào sự
lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chính phủ mà đứng đầu là
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Niềm tự hào dân tộc, ý thức đoàn kết quốc gia truyền thống yêu
nước và tinh thần tương thân tương ái sẽ là động lực thúc đẩy con thuyền cách mạng Việt
Nam vượt qua mọi sóng gió, gian khổ để đến được bờ thắng lợi.
1.1.2. Về khó khăn
1.1.2.1. Đối ngoại :
Mặc dù sau chiến tranh, chủ nghĩa phát xít đã bị tiêu diệt, lực lượng đế quốc đã suy
yếu hơn trước, tuy nhiên với bản chất phản động, bọn Đế quốc ra sức đàn áp phong trào
cách mạng thế giới, đặc biệt là phong trào giải phóng dân tộc, giành giật lại thuộc địa.
Việt Nam cũng trở thành mục tiêu của các thế lực Đế quốc và tay sai. Theo quy định của
hội nghị Yalta và Postdam, vấn đề giải giáp quân đội Nhật ở Đông Dương, mà cụ thể là ở
Việt Nam được quy định như sau : phía Bắc vĩ tuyến 16 giao cho 20 vạn quân Tưởng,
đứng đằng sau là Mỹ. Còn Nam vĩ tuyến 16 được giao cho quân Anh, mà đằng sau chính
là thực dân Pháp.
3


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ phải đối phó với nhiều kẻ thù đến như vậy. Đó là chưa
kể đến lúc này, 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp. Lúc bấy giờ, Đảng ta đã nhận định:
Việt Nam đang nằm trong vòng vây trùng trùng điệp điệp của chủ nghĩa Đế quốc, đồng
thời cũng xác định rằng: Pháp chính là kẻ thù nguy hiểm nhất đối với nền độc lập của
Việt Nam.
1.1.2.2. Đối nội :
Về chính trị, hệ thống chính quyền còn non trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo.
Khối đại đoàn kết toàn dân cần có thời gian củng cố. Chính phủ Hồ Chí Minh vừa mới
thành lập, nền độc lập chưa được nước nào trên thế giới công nhận nên gặp nhiều khó
khăn trong đối ngoại. Bọn phản động lợi dụng thời cơ ngóc đầu dậy ráo riết hoạt động.
Về kinh tế - tài chính, lúc này, kinh tế - tài chính nước ta lâm vào tình trạng kiệt quệ.
Nhà máy nằm trong tay tư bản Pháp, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. Tài chính
khánh kiệt, ngân quỹ trống rỗng, kho bạc Nhà nước chỉ còn khoản 1 triệu đồng tiền giấy
bạc, trong đó có hết phân nửa đã bị rách nát, ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay
tư bản Pháp. Quân Tưởng lại tung thêm tiền quan kim và quốc tệ đang mất giá khiến tình
hình tài chính càng thêm rối loạn.
Về văn hóa – xã hội, trình độ dân trí nước ta lúc bấy giờ còn thấp, 98% dân số mù chữ
do ảnh hưởng nặng nề của chính sách ngu dân để lại, các tệ nạn xã hội tràn lan. Hậu quả
của nạn đói lịch sử 1945 vẫn chưa thể khắc phục, gây nên cảnh khó khăn chồng chất khó
khăn.
Có thể nói, chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, Việt Nam lại phải cùng lúc đối phó với
nhiều kẻ thù đến như vậy. Vận mệnh dân tộc nằm trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
1.2. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng
1.2.1. Cơ sở của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng

4


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau cách mạng tháng Tám 1945, mặc dù phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong đối
nội nhưng Đảng và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vẫn luôn chú trọng đến
công tác giải quyết những vấn đề đối ngoại. Đặt chủ trương giải quyết các vấn đề đối nội
và đối ngoại một cách song song. Trong đường lối đối ngoại của mình, Đảng xác định rõ:
Trong các kẻ thù thù của Việt Nam lúc bấy giờ thì Pháp chính là kẻ thù nguy hiểm nhất đe
dọa trực tiếp, hằng ngày, hằng giờ đến nền độc lập vừa mới giành được của Việt Nam.
Xét về mặt vị thế, Pháp là một Đế quốc với tiềm lực kinh tế, chính trị và quân sự hùng
mạnh, là một tên Đế quốc già và đã có vị thế nhất định trên thế giới. Trong khi lúc này,
Việt Nam vừa mới giành được nền độc lập, trải qua hàng ngàn năm đấu tranh, một dân tộc
nhỏ bé với nền kinh tế nông nghiệp lúa nước lạc hậu, Việt Nam thực sự còn rất non trẻ.
Có thể nói so với Pháp, Việt Nam đứng ở thế yếu. Tuy nhiên sức mạnh tiềm tàng và cũng
là thế mạnh của Việt Nam mà Pháp hay bất cứ thế lực nào cũng không thể tác động đó là
sức mạnh của tinh thần đoàn kết, sức mạnh của niềm tự tôn dân tộc, của truyền thống yêu
nước hàng ngàn năm lịch sử, của ý thức tự giải phóng đất nước, giải phóng con người.
Hơn thế nữa, ngay lúc này, dư âm thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám đang sôi sục,
ý thức về nền độc lập dân tộc, về giải phóng cá nhân lại càng mạnh mẽ hơn bất cứ lúc nào
trong người dân Việt Nam. Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, của Chính phủ,
của Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự đã thu phực niềm tin của nhân dân. Vì vậy, Đảng,
Chính phủ và nhân dân Việt Nam nhất định bằng mọi giá sẽ phải giữ vững và nhất định
giữ vững nền độc lập dân tộc.
Với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, ngay sau khi Nhật đầu hàng đồng minh,
chính phủ Đờ-Gôn quyết định thành lập một đạo quân viễn chinh tiến hành xâm lược Việt
Nam. Đêm ngày 22, rạng sáng ngày 23/09/1945, Pháp nổ sung tấn công Trụ sở Ủy ban
nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ
hai. Đảng ta đã nêu chủ trương đánh Pháp để bảo vệ Nam Bộ.
Ngày 25/11/1945, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị về “Kháng chiến – kiến
quốc”, vạch ra con đường đi lên cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới.
5


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ở miền Bắc, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện các biện pháp chống Đế quốc và bọn
phản cách mạng. Trong mối quan hệ với quân Tưởng và tay sai, chúng ta chủ trương tránh
mọi xung đột. Với Tưởng, ta nhận cung cấp một phần lương thực, thực phẩm, phương tiện
giao thông, đồng thời đấu tranh hòa bình với chúng. Đối với bọn Việt quốc, Việt cách,
chúng ta thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc với chúng, nhường 70 ghế trong Quốc hội,
trong đó có một ghế phó chủ tịch nước cho chúng. Đổi lại, Hồ Chí Minh vẫn giữ chức
Chủ tịch nước, lực lượng cách mạng vẫn nắm ưu thế trong Chính phủ và Quốc hội. Với
bọn phản cách mạng, ta kiên quyết vạch trần và trừng trị theo pháp luật. Ngày 11/11/1945,
Đảng cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán nhưng thực chất là rút vào hoạt động bí
mật, tiếp tục lãnh đạo phong trào cách mạng.
Ngày 28/02/1946, Pháp và Tưởng ký kết Hiệp ước Hoa – Pháp, đặt nước ta trước một
tình hình mới. Lúc này, nếu chúng ta cầm súng chống Pháp có nghĩa là cùng lúc chúng ta
sẽ phải đối phó với cả Pháp, cả Tưởng và quân đồng minh. Đây là điều hoàn toàn không
có lợi cho ta. Vì vậy, giải pháp tốt nhất là chúng ta phải nhượng bộ có điều kiện với Pháp.
Lúc này, Pháp cũng đang muốn đàm phán với Việt Nam để xúc tiến nhanh chóng việc đưa
quân ra Miền Bắc, loại bỏ Tưởng. Đó chính là cơ sở dẫn đến việc ký kết Hiệp định Sơ bộ
(06/03/1946) giữa Việt Nam và Pháp. Trong Hiệp định ta đã nhân nhượng Pháp, cho Pháp
đưa 15000 quân ra Bắc thay Tưởng giải giáp quân đội Nhật, số quân này đóng tại những
địa điểm quy định và rút dần trong vòng 5 năm. Nhưng mặc khác, Hiệp định thể hiện sự
lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, nó chính là sự thừa nhận của Chính phủ Pháp về sự tồn
tại của Việt Nam với tư cách một quốc gia dân chủ cũng như thừa nhận địa vị đại diện cho
nhân dân Việt nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đập tan âm mưu liên kết chống Việt Nam
của Pháp và Tưởng. Tuy đã hết sức nhân nhượng nhưng Pháp vẫn lấn tới, chúng liên tục
vi phạm: vi phạm lệnh ngừng bắn ở Miền Bắc, cho quân đánh chiếm trái phép một số
vùng ở Bắc Bộ, thành lập chính phủ Nam kỳ tự trị hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt nam.
Các cuộc đàm phán hòa bình giữa Việt nam và Pháp không thành công do dã tâm của
Pháp. Trước nguy cơ cuộc chiến tranh Việt – Pháp đang đến gần, Chính phủ ta quyết định
nhân nhượng thêm với Pháp một lần nữa, ký với Pháp bản Tạm ước ngày 14/09/1946, tiếp
6


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế - văn hóa ở Việt Nam để tạo thời
gian hòa hoãn cho ta xây dựng, chuẩn bị lực lượng bước vào cuộc chiến tranh không thể
tránh khỏi, chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.
Đảng và Chính phủ ta đã tỏ rõ thiện chí hòa bình, cố gắng làm những việc có thể để
đẩy lùi chiến tranh. Trong khi chúng ta đã hết lòng nhân nhượng và chấp hành đúng
những gì đã thỏa thuận, ký kết thì thực dân Pháp lại liên tục bội ước. Chúng xem sự nhân
nhượng của ta là hành động hèn nhát đầu hàng, chúng kiêu căng ngạo mạn về sức mạnh
của mình, cho nên càng ngày chúng càng lấn tới. Với dã tâm cướp nước ta một lần nữa,
thực dân Pháp thi hành chính sách việc đã rồi, tăng cường khiêu khích và lấn chiếm. Ngày
20/11/1946, quân Pháp mở cuộc tấn công chiếm đóng thành phố Hải Phòng, thị xã Lạng
sơn và đổ bộ lên Đà Nẵng. Ngày 16/12/1946, những tên trùm thực dân Pháp ở Đông
Dương đã họp tại Hải Phòng bàn triển khai kế hoạch đánh chiếm Hà Nội và khu vực Bắc
vĩ tuyến 16. Ngày 17 và 18/12/1946, tại Hà Nội, quân Pháp tàn sát thảm khốc đồng bào ta
tại phố Hàng Bún, Yên Ninh đòi kiểm soát an ninh trật tự ở thủ đô. Trắng trợn hơn, chúng
còn gửi tối hậu thư buộc ta phải giao quyền kiểm soát thủ đô cho chúng, nếu không chậm
nhất là sáng 20/12/1946, quân Pháp sẽ hành động.
Lịch sử đã đặt dân tộc ta trước một sự lựa chọn mới. Thực tế cho thấy khả năng hòa
hoãn không còn. Hành động của thực dân Pháp đã đặt Đảng và Chính phủ ta trước một
tình thế không thể nhân nhượng thêm được nữa, vì nhân nhượng sẽ dẫn đến họa mất
nước, nhân dân sẽ trở lại cuộc đời nô lệ. Trong thời điểm lịch sử quyết đoán này, Hội nghị
của Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại làng Vạn Phúc – Hà Đông ngày 19/12/1946
đã quyết định hạ quyết tâm phát động kháng chiến toàn quốc. Mệnh lệnh kháng chiến
được phát đi. Vào lúc 20h ngày 19/12/1946, tất cả các chiến trường trên cả nước đều đồng
loạt nổ súng. Rạng sáng ngày 20/12/1946, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ
tịch Hồ Chí Minh được phát đi trên đài tiếng nói Việt Nam.
“Hỡi đồng bào toàn quốc!

7


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng,
thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân
tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có
súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc.
Ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước.”
(Trích Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh)
Lúc này nhân dân Việt Nam bước vào cuộc đấu tranh chống Pháp với vai trò bảo vệ Tổ
quốc, tính chất của cuộc chiến tranh là cuộc chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân
bảo vệ hòa bình, chống lại kẻ thù xâm lược, nhân dân ta có thiên thời, địa lợi, nhân hòa.
Mặt khác, trải qua một quá trình lâu dài thực hiện hòa hoãn với Pháp, giờ đây ta đã loại
bỏ được các kẻ thù, chỉ còn lại kẻ thù duy nhất là Pháp, các công tác đối nội cũng đã được
giải quyết về cơ bản, các điều kiện cần thiết chuẩn bị cho chiến tranh đã sẵn sàng, Đảng
và nhân dân có đủ niềm tin để chiến đấu và chiến thắng. Trong khi đó, lúc này Pháp vấp
phải không ít khó khăn về kinh tế, chính trị, quân sự ở trong nước và tại Đông Dương,
những khó khăn này không dễ gì chúng khắc phục được ngay trong ngày một, ngày hai.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó, chúng ta cũng vấp phải một số khó
khăn nhất định. Lực lượng của ta so với Pháp còn yếu, vũ khí trang bị lạc hậu hơn. Ta bị
cô lập, bao vây bốn phía, chưa được công nhận địa vị trên trường quốc tế. Trong khi Pháp
lại có vũ khí tối tân và đã chiếm đóng được Lào, Campuchia và một số nơi ở Nam Bộ
Việt Nam, có quân đội đứng chân trong các thành thị lớn ở miền Bắc.
8


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Những đặc điểm của sự khởi đầu và những thuận lợi, khó khăn đó chính là cơ sở để
Đảng xác định đường lối cho cuộc kháng chiến.
1.2.2. Nội dung đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng
Đường lối kháng chiến của Đảng được hình thành từng bước qua thực tiễn đối phó với
âm mưu, thủ đoạn xâm lược của thực dân Pháp.
Ngay sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, trong chỉ thị về kháng chiến – kiến
quốc, Đảng đã nhận định kẻ thù chính, nguy hiểm nhất của dân tộc ta là thực dân Pháp
xâm lược, phải tập trung mũi nhọn đấu tranh vào chúng. Trong quá trình chỉ đạo kháng
chiến, trước những âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, Đảng đã đưa ra những chủ trương, chỉ
thị chỉ đạo kháng chiến thích hợp, kịp thời. Những văn kiện này đã cấu thành đường lối
kháng chiến chống Pháp của Đảng ta. Những nội dung cơ bản trong đường lối kháng
chiến chống Pháp của Đảng được thể hiện trong các văn kiện: Chỉ thị Kháng chiến – kiến
quốc (25/11/1945) của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Chỉ thị Toàn dân kháng chiến
(12/12/1946) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
(19/12/1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi
(09/1947) của đồng chí Trường Chinh và Chính cương của Đảng lao động Việt Nam sau
này.
Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng toát lên những nội dung cơ bản
sau :
Về mục đích kháng chiến, kế tục và phát triển sự nghiệp của Cách mạng tháng Tám,
đánh phản động thực dân Pháp, giành thống nhất và độc lập.
Về tính chất kháng chiến, cuộc kháng chiến của dân tộc ta là một cuộc chiến tranh
cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và
lâu dài. Là một cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình. Đó là cuộc
kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới.

9


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Về chính sách kháng chiến, ta chủ động liên hiệp với dân tộc Pháp, đoàn kết với Miên,
Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hòa bình. Đoàn kết chặt chẽ toàn dân, thực hiện
toàn dân kháng chiến… phải tự cấp, tự túc về mọi mặt.
Về chương trình và nhiệm vụ kháng chiến, đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính,
dân nhất trí… Động viên nhân lực, vật lực, tài lực, thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn
diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến. Giành quyền độc lập, bảo toàn lãnh thổ, thống
nhất Trung, Nam, Bắc. Củng cố chế độ cộng hòa dân chủ… tăng gia sản xuất, thực hiện
kinh tế tự túc…
Về phương châm tiến hành kháng chiến, tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực
hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính.
Về kháng chiến toàn dân :
Xác định kháng chiến toàn dân, Đảng dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn :
Cơ sở lý luận: Nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra rằng cách mạng là sự
nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân tiến hành. Trong suốt quá trình phát triển
của lịch sử dân tộc, mỗi khi đất nước đứng trước những thử thách to lớn, để chiến thắng
được kẻ thù thì điều cơ bản là phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc.
Cơ sở thực tiễn: Đảng ta tiếp tục kế thừa và phát triển truyền thống dựng nước và giữ
nước của ông cha ta. Đó là truyền thống cả nước chung lòng, toàn dân đánh giặc. Truyền
thống yêu nước này đã có từ hàng ngàn năm lịch sử với những Thánh Gióng, Hai Bà
Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, những Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,…
Muốn kháng chiến toàn dân thì phải xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, phải xây dựng
được những hình thức mặt trận tương ứng, phải phát động kháng chiến toàn diện: “Bất kỳ
đàn ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ. Hễ
là người Việt Nam phải đứng lên đánh thực dân Pháp”, làm sao cho mỗi người dân là
một chiến sỹ, mỗi làng xóm là một pháo đài, mỗi phố phường là một trận địa.

10


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, chúng đặt ách áp bức, bóc lột vô cùng dã
man và tàn bạo lên toàn thể nhân dân ta, theo quy luật thông thường, có áp bức – có đấu
tranh, toàn thể nhân dân Việt Nam sẽ vùng lên đấu tranh chống Pháp. Mặt khác, tương
quan lực lượng giữa ta và địch là rất lớn. Pháp có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh hơn ta
gấp nhiều lần, do đó buộc ta phải huy động sức mạnh toàn dân. Kháng chiến toàn dân sẽ
đem lại cho cách mạng Việt Nam một sức mạnh to lớn cả về vật chất và tinh thần, góp
phần đánh thắng mọi kế hoạch của Pháp.
Chúng ta tiến hành chiến tranh nhằm mục đích bảo vệ Tổ quốc, do đó cuộc chiến tranh
của ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa. Chiến tranh Việt
Nam là chiến tranh nhân dân do đó phải dựa vào dân, phải kháng chiến toàn dân.
Về kháng chiến toàn diện :
Cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam phải được tiến hành một cách toàn diện.
Có thể nói, chiến tranh bao giờ cũng là cuộc đối đầu toàn diện giữa hai bên tham chiến. Ở
đây, thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt nam trên tất cả mọi phương diện. Vì thế, cuộc
kháng chiến của nhân dân Việt Nam cũng sẽ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực.
Về chính trị, thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền,
các đoàn thể nhân dân; Đoàn kết Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do hòa bình.
Về quân sự, thực hiện quân sự toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu
diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến
đánh, chính quy, là “ triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo toàn thực lực, kháng
chiến lâu dài… Vừa đánh vừa võ trang thêm; vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ”. Lần
lượt đánh bại các kế hoạch, chiến tranh của Pháp, tiêu diệt lực lượng địch trên đất nước ta,
đè bẹp ý chí xâm lược của chúng, giành độc lập cho đất nước.
Về kinh tế, tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát
triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng. Chúng ta

11


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
đưa ra khẩu hiệu: “Xây dựng kinh tế ta, phá hoại kinh tế địch”, chống lại kế hoạch “lấy
chiến tranh nuôi chiến tranh” của Pháp.
Về ngoại giao, Đảng chủ trương thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực. “Liên hiệp
với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân Pháp”, sẵn sang đàm phán nếu Pháp công
nhận Việt Nam độc lập. Thoát khỏi thế bị bao vây cô lập.
Có thể nói, kháng chiến toàn diện chính là một biểu hiện của kháng chiến toàn dân.
Kháng chiến toàn diện giúp phát huy triệt để lợi thế của mỗi giai cấp, mỗi cá nhân trong
cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược.
Về kháng chiến trường kỳ :
Chúng ta thực hiện kháng chiến trường kỳ là để chống lại âm mưu của Pháp. Khi bắt
đầu cuộc chiến tranh, tương quan lực lượng có lợi cho Pháp, do đó Pháp muốn thực hiện
chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh. Để có thời gian phát huy yếu tố “Thiên thời, địa lợi,
nhân hòa”, ta phải thực hiện đánh lâu dài để vừa đánh vừa xây dựng và phát triển lực
lượng, làm tiêu hao lực lượng địch, chuyển hóa tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn
địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch, “Biến lớn thành nhỏ, biến nguy thành
an” (Hồ Chí Minh).
Kháng chiến trường kỳ nhưng không có nghĩa là mãi mãi, trong suốt quá trình tiến
hành cuộc kháng chiến cần phải xác định thời cơ để tạo ra những bước ngoặt thúc đẩy
kháng chiến đến thắng lợi, hạn chế tối đa hao tổn sức người, sức của của nhân dân.
Trường kỳ nhưng phải tất thắng, phải có niềm tin vào thắng lợi cuối cùng.
Kháng chiến dựa vào sức mình là chính :
Chúng ta tiến hành cuộc kháng chiến trong thế bị bao vây cô lập bốn phía, chưa được
một nước nào công nhận và đặt quan hệ ngoại giao, cũng như chưa được một nước nào
giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Lịch sử cũng đã chúng
minh: Không có nước nào trên thế giới chỉ dựa vào nước ngoài mà có độc lập thực sự, vì
12


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
“Có tự lập mới có độc lập, có tự cường mới có tự do”. Do đó, ta cần phải đem sức ta mà
giải phóng cho ta.
Mặt khác, khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, sự đồng tình
của bạn bè quốc tế. Song, lúc đó cũng không được ỷ lại, phát huy sức mạnh của dân tộc
và thời đại để giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến.
Về triển vọng kháng chiến, Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến và xác định rằng
mặc dù kháng chiến diễn ra lâu dài, còn nhiều gian khổ, khó khăn song nhất định sẽ thắng
lợi.

13


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
CHƯƠNG 2
SỰ CHỈ ĐẠO TRIỂN KHAI ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG VÀ CÁC BƯỚC PHÁT
TRIỂN TRÊN MẶT TRẬN QUÂN SỰ

2.1. Quá trình triển khai đường lối và các bước phát triển trên mặt trận quân sự
2.1.1. Chống âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh”
Từ những ngày đầu kháng chiến, với sự chiến đấu ngoan cường, quân dân cả nước đã
chặn đánh địch khắp nơi, tiêu hao binh lực địch, giam chân và ngăn chặn bước tiến của
chúng, gìn giữ và phát triển lực lượng của ta.
Một bước tiến quan trọng là Chiến dịch Việt Bắc.
Ngày 15/10/1947, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị phải “Phá tan cuộc tấn
công mùa đông của giặc Pháp”, trong đó nêu rõ nhiệm vụ trước mắt của quân và dân ta
phải gây thiệt hại nặng cho địch, giữ vững chính quyền dân chủ, phá vỡ các chính quyền
bù nhìn, về quân sự phải đánh mạnh trên khắp các chiến trường… Trong tái chiến phải
biết giữ gìn chủ lực của ta và phải nhằm vào chỗ yếu của địch mà đánh. Thực hiện chỉ thị
của Đảng và căn cứ vào thực tế chiến trường, với lối đánh mưu trí linh hoạt, trải qua 75
ngày đêm chiến đấu, quân và dân ta đã giành thắng lợi lớn. Những thắng lợi trên đây đã
làm phá sản chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp, mở ra giai đoạn
mới của cuộc kháng chiến.
2.1.2. Chống âm mưu “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người
Việt”
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng (01/1948) đã đề ra nhiệm vụ và
các biện pháp về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa nhằm thúc đẩy kháng chiến tiến lên
giai đoạn mới. Đảng chú trọng đẩy mạnh chiến tranh du kích, củng cố khối đoàn kết toàn
dân, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, tịch thu ruộng đất của bọn phản quốc
14


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
cấp cho dân nghèo, thực hiện giảm tô, chia lại công điền, phát triển văn hóa, giáo dục,
tăng cường công tác xây dựng Đảng.
Ngày 27/03/1948, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Đảng ra
chỉ thị phát động phong trào thi đua ái quốc. Để tăng cường xây dựng bộ đội chủ lực,
tháng 11/1949, chủ tịch Hồ Chí Minh ra sắc lệnh về nghĩa vụ quân sự. Đảng và Chính phủ
quan tâm chăm lo bồi dưỡng sức dân, thực hiện chính sách ruộng đất, với tư tưởng chỉ
đạo là “dùng phương pháp cải cách mà dần dần thu hẹp phạm vu bóc lột của địa chủ
phong kiến bản xứ lại đồng thời sửa chế độ ruộng đất”. Từ năm 1949, nhiều địa phương
đã xúc tiến việc thống nhất Việt Minh và Liên Việt trên phạm vi toàn quốc.
Đảng chú trọng nêu cao tinh thần lương giáo đoàn kết, giác ngộ giáo dân; binh sĩ ngụy;
tranh thủ tầng lớp trên và kiên quyết trừng trị bọn phản động đội lốt tôn giáo. Trên mặt
trận văn hóa, Hội nghị Văn hóa toàn quốc tháng 07/1948 đã xác định đường lối nhiệm vụ
công tác văn hóa trong kháng chiến. Trường Chinh đã trình bày bản báo cáo “Chủ nghĩa
Mác và Văn hóa Việt Nam”, vạch rõ đường lối, phương châm xây dựng nền văn hóa dân
chủ mới VN có tính chất dân tộc, khoa họcvà đại chúng. Công tác xây dựng Đảng được
chú trọng qua việc thử thách và kết nạp Đảng viên và qua cuộc vận động xây dựng “chi
bộ tự động công tác”.
Kết quả của những chỉ đạo triển khai đường lối trên đây của Đảng là âm mưu “ lấy
chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt” của thực dân Pháp bị thất
bại, chiến tranh nhân dân được đẩy mạnh và lực lượng cách mạng được xây dựng, củng
cố về mọi mặt.
2.1.3. Chiến dịch biên giới 1950
Tháng 09/1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trương mở chiến dịch Biên
giới, đánh dấu lần đầu tiên ta chủ động mở chiến dịch tấn công quy mô lớn. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã ra mặt trận để cùng Bộ Chỉ huy trực tiếp chỉ đạo chiến dịch. Phối hợp với
chiến dịch, quân dân cả nước tăng cường chiến đấu trên khắp các mặt trận. Kết quả thắng
lợi của Chiến dịch Biên giới đã đập tan tuyến phòng thủ của địch, giải phóng hoàn toàn
15


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
vùng biên giới, tạo cánh cổng để Việt Nam liên lạc với các nước xã hội chủ nghĩa bên
ngoài. Đây cũng là bước ngoặt cho sự trưởng thành về trình độ tác chiến và chỉ đạo của
quân đội ta, giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ.
2.1.4. Quá trình phát triển lực lượng và mở các đợt chiến dịch
Đảng ta chú trọng phát triển lực lượng ba thứ quân, phát động phong trào rèn cán
chỉnh quân, xây dựng bộ đội chủ lực. Bên cạnh xây dựng quân đội, chúng ta còn phát
động các phong trào thi đua sản xuất, tiết kiệm, phát triển văn hóa giáo dục, xây dựng
Đảng, củng cố chính quyền địa phương, phát động quần chúng đấu tranh đòi giảm tô,
thực hiện cải cách ruộng đất… Tất cả đều nhằm xây dựng hậu phương vững chắc để làm
bàn đạp cho tiền tuyến.
Trên đà thành công tại chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950, phá được thế bị cô lập của
căn cứ địa Việt Bắc, khai thông biên giới Việt – Trung, quân đội Việt Minh đã chủ động
phản công. Những cuộc phản công này được mở ra trên nhiều quy mô, có thể kể đến một
số cuộc tiến công tiêu biểu như: Chiến dịch Trung Du (hay chiến dịch Trần Hưng Đạo)
(12/1950 – 01/1951); Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (chiến dịch Đường 18) (03 -04/1951);
Chiến dịch Hà Nam Ninh (05 - 06/1951); Chiến dịch Hòa Bình (11/1951 – 02/1952);
Chiến dịch Tây Bắc (10-12/1952); Chiến dịch Thượng Lào (04 - 05/1953). Tuy ở những
chiến dịch này, cả hai bên đều chịu thương vong khá lớn, nhưng kết quả cũng khá khả
quan. Việt Minh đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, đồng thời
thâm nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp. Những chiến dịch này
cũng làm quân Pháp đối phó bị động, lung lay và suy yếu nhiều, có nguy cơ thất bại ở
Đông Dương.
Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của Pháp, tướng Henri Navarre, đến Đông Dương.
Được sự hứa hẹn về việc Mỹ tăng viện trợ quân sự, Navarre đã chuẩn bị cho một cuộc
tổng tấn công, gọi là “Kế hoạch Navarre”. Để thực hiện kế hoạch này Pháp cho tiến hành
xây dựng và tập trung lực lượng cơ động lớn, mở rộng quân đội bản địa, càn quét bình
định vùng kiểm soát. Thực hành tấn công chiến lược ở vùng Khu 5, Navarre được nhà
16


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
nước Pháp cấp thêm cho 9 tiểu đoàn tinh nhuệ. Viện trợ Mỹ tăng vọt, chiếm đại đa số chi
phí chiến tranh. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được ra đời án ngữ miền tây bắc Bắc
Việt Nam, kiểm soát liên thông với Thượng Lào để làm bẫy nhử, thách thức quân chủ lực
Việt Minh tấn công và, theo kế hoạch của Pháp, quân Việt Minh sẽ bị nghiền nát tại đó.
Trước kế hoạch này của quân địch, dựa trên đường lối đã được đưa ra và sự lãnh đạo
trực tiếp của Đảng, chúng ta đã dồn toàn quân, huy động tối đa về sức người và sức của
để thực hiện chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 55 ngày đêm kháng chiến, toàn bộ quân Pháp
ở Điện Biên Phủ bị tiêu diệt và bị bắt làm tù binh, chúng ta đã giành thắng lợi hoàn toàn.
2.1.5. Kết hợp đấu tranh ngoại giao
Không chỉ đấu tranh quân sự, chúng ta còn thực hiện đấu tranh rất tích cực trên mặt
trận ngoại giao. Đặc biệt với những lợi thế của chúng ta trên mặt trận quân sự, mặt trận
ngoại giao giai đoạn này đã có điều kiện để đạt được rất nhiều thắng lợi. Thắng lợi đầu
tiên phải kể đến đó là việc khiến bốn bên là Liên Xô, Trung Quốc, Pháp và Mỹ đồng ý
đàm phán về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương vào tháng 01/1954. Ngày 26 tháng 4
năm 1954, Hội nghị Genèva về Đông Dương chính thức được khai mạc. Và đặc biệt, đến
ngày 21/7/1954 Hiệp định Giơnevơ chính thức được ký kết, đánh dấu thắng lợi của ta đối
với quân Pháp. Thắng lợi này cũng là minh chứng cho đường lối lãnh đạo cách mạng
đúng đắn của Đảng.
2.2. Ý nghĩa của đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng
Đường lối kháng chiến với những nội dung cơ bản như trên là đúng đắn và sáng tạo.
Đường lối kháng chiến chống Pháp là sự kế thừa và nâng lên tầm cao mới tư tưởng quan
sự truyền thống của tổ tiên, đúng với các nguyên lý về chiến tranh cách mạng của chủ
nghĩa Mác – Lênin, vừa phù hợp với thực tế đất nước lúc bấy giờ. Đường lối kháng chiến
chính là sự vận dụng sáng tạo nguyên lý chiến tranh cách mạng của chủ nghĩa Mác –
Lênin và kinh nghiệm quân sự của nước ngoài vào Việt Nam. Đây là đường lối chiến
tranh nhân dân, chiến tranh chính nghĩa “lấy yếu chống mạnh”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy
chính nghĩa thắng hung tàn”.
17


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đường lối kháng chiến của Đảng được công bố sớm đã có tác dụng đưa cuộc kháng
chiến nhanh chóng đi vào ổn định và phát triển đúng hướng, từng bước đi tới thắng lợi vẻ
vang. Thực hiện theo tinh thần của đường lối, từ năm 1947 đến năm 1950, Đảng đã lãnh
đạo nhân dân đấu tranh chống Pháp trên tất cả các kĩnh vực và đặc biệt giành thắng lợi vẻ
vang trên mặt trận quân sự tại chiến dịch Việt Bắc thu – đông 1947 và chiến dịch Biên
giới 1950, giáng đòn mạnh mẽ vào ý chí xâm lược của địch, giành được thế chủ động trên
chiến trường chính Bắc Bộ. Đến đầu năm 1951, tình hình thế giới và cách mạng Đông
Dương có nhiều chuyển biến mới. Nước ta được các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và
đặt quan hệ ngoại giao. Cuộc kháng chiến của ba nước Đông Dương giành được những
thắng lợi quan trọng. Mỹ lợi dụng lúc Pháp gặp khó khăn để can thiệp trực tiếp vào cuộc
chiến Đông Dương. Điều kiện lịch sử đặt Đảng ta trước yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh
đường lối cách mạng. Tháng 02/1951, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng
họp tại xã Vinh Quang (Chiêm Hóa – Tuyên Quang) thông qua “Báo cáo chính trị” do chủ
tịch Hồ Chí Minh trình bày và báo cáo “Bàn về cách mạng Việt Nam” do Trường Chinh
trình bày. Bản báo cáo của Tổng bí thư Trường Chinh sau này đi vào lịch sử dân tộc với
tên gọi: “Chính cương của Đảng lao động Việt Nam”, xác định những vấn đề cơ bản của
cách mạng Việt Nam, tiếp tục hoàn thiện đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của
Đảng ta và đường lối này tiếp tục được bổ sung, phát triển qua các hội nghị Trung ương
tiếp theo, như Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (03/1951), Hội nghị Trung ương lần thứ
hai (từ 27/09 đến 05/10/1951), Hội nghị Trung ương lần thứ tư (01/1953), Hội nghị Trung
ương lần thứ năm (11/1953).
Nhờ việc đề ra và thực hiện triệt để thực hiện đường lối kháng chiến của Đảng chúng
ta đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đỉnh
cao là thắng lợi trong Đông – Xuân 1953 – 1954 với Chiến dịch Điện Biên Phủ. Bảo vệ
thắng lợi của cách mạng tháng Tám, làm thất bại âm mưu xâm lược của Pháp và can thiệp
của Mỹ, buộc chúng công nhận độc lập, chủ quyền và toàn bộ lãnh thổ của ba nước Đông
Dương. Nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, nó cũng mang trong

18


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
mình ý nghĩa quốc tế, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng thuộc địa và là
tiếng chuông báo tử cho hệ thống thực dân cũ trên toàn thế giới.

19


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
KẾT LUẬN
Sự lãnh đạo vững vàng của Đảng với đường lối kháng chiến đúng đắn đã huy động
được sức mạnh toàn dân đánh giặc; có sự đoàn kết chiến đấu của toàn dân tập hợp trong
mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi – Mặt trận Liên Việt, được xây dựng trên nền tảng
khối liên minh công nông và tri thức vững chắc. Có lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân
do Đảng ta trực tiếp lãnh đạo ngày càng vững mạnh, chiến đấu dũng cảm, mưu lược, tài
trí, là lực lượng quyết định tiêu diệt địch trên chiến trường, đè bẹp ý chí xâm lược của
địch, giải phóng đất đai của Tổ quốc. Bài học kinh nghiệm trải qua quá trình lãnh đạo, tổ
chức cuộc kháng chiến kiến quốc, Đảng ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quan
trọng. Thứ nhất, đề ra đường lối đúng đắn và quán triệt sâu rộng đường lối đó cho toáng
Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện, đó là đường lối chiến tranh nhân dân, kháng chiến
toàn dân, toàn diện và dựa trên sức mình là chính. Thứ hai, kết hợp chặt chẽ, đúng đắn
nhiệm vụ chống đế quốc với nhiệm vụ chống phong kiến và xây dựng chế độ dân chủ
nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội, trong đó nhiệm vụ tập trung hàng đầu là
chống đế quốc, giải phóng dân tộc, bảo vệ chính quyền cách mạng. Thứ ba, thực hiện
phương châm vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới, xây dụng hậu phương ngày
càng vững mạnh để có tiềm lực mọi mặt đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng
chiến. Thứ tư, quán triệt tư tưởng chiến lược kháng chiến gian khổ và lâu dài, đồng thời
tích cực chủ động đề ra và thực hiện phương thức tiến hành chiến tranh và nghệ thuật
quân sự sáng tạo, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, đưa kháng chiến
đến thắng lợi. Thứ năm, tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao sức chiến đấu và
hiệu lực lãnh đạo của Đảng trong chiến tranh từ Bắc chí Nam.
Trải qua ba thập kỷ vận dụng vào thực tế đấu tranh giải phóng dân tộc, đường lối quân
sự của Đảng hình thành và không ngừng phát triển từng bước. Qua thực tiễn phong phú
của Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đường lối
đó ngày càng trở nên hoàn chỉnh và trở thành một trong những yếu tố quyết định nhất
trong sự nghiệp cách mạng và chiến tranh cách mạng của nhân dân ta.

20


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày nay, đất nước đang trong quá trình đổi mới và hội nhập, đường lối quân sự của
Đảng vẫn là bó đuốc soi đường cho toàn quân, toàn dân trong sự nghiệp xây dựng lực
lượng vũ trang nhân dân, củng cố nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện hòa bình.
Tuân theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng
phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”, quân và dân ta luôn quán triệt
phương châm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, đồng thời không
ngừng nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ bầu trời, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh
thổ và lãnh hải của Tổ quốc, làm thất bại mọi âm mưu của kẻ thù.

21


Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1). Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
(2). Hồ Chí Minh Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
(3). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001
(4). Trường Chinh: Kháng chiến nhất định thắng lợi, NXB Sự thật, Hà Nội, 1947
(5). Trường Chinh : Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, NXB Sự thật, Hà
Nội, 1975

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×