Tải bản đầy đủ

CHUYÊN ĐỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO MÔ HÌNH TRƯỜNG HỌC MỚI

1.Cơ sở đề xuất giải pháp
1.1. Sự cần thiết hình thành giải pháp
Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay không chỉ là phong trào mà là một nhu cầu
bắt buộc đối với mọi giáo viên. Trong xu thế đổi mới phương pháp giảng dạy có rất
nhiều phương pháp dạy học mới ra đời. Việc lực chọn phương pháp giảng dạy phù
hợp với đặc trưng từng bộ môn, từng bài học đóng vai trò rất quan trọng.
Đối với bộ môn vật lý cũng như các bộ môn khác trong chương trình vật lý phổ
thông hiện nay , học sinh của chúng ta phải tiếp thu một lượng thông tin khổng lồ.
Điều khó tránh khỏi là tâm lý nhàm chán, thụ động trong học tập và lĩnh hội kiến
thức làm ảnh hưởng đến hiệu quả của tiết học. Vì vậy để một tiết học thành công thì
bước đầu người giáo viên phải khơi gợi hứng thú học tập, khơi gợi được nhu cầu
nhận thức ở học sinh. Thế nhưng, thực tế ở nhiều trường phổ thông hiện nay vẫn sử
dụng phương pháp dạy học truyền thống theo kiểu “thầy đọc trò chép” và học sinh
rất thụ động. Giáo viên chưa phải là người định hướng cho học sinh tự học, tự thể
hiện kiến thức mình tìm hiểu được. Phương pháp này làm cho học sinh không phát
huy được tính sáng tạo, năng lực tự nghiên cứu của mình và rất nặng nề cho học sinh
khi phải ghi nhớ một cách máy móc. Do đó, việc tìm hiểu và ứng dụng các phương
pháp dạy học nhằm phát huy được tính tự học, tự nghiên cứu của học sinh là hết sức
cần thiết. Phương pháp dạy học theo kiểu dạy – tự học sẽ là một trong những phương
pháp đáp ứng được nhu cầu trên. Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn
góp một phần nhỏ của mình vào việc nâng cao hiệu quả dạy học, tôi đã xây dựng

chuyên đề dạy học theo mô hình trường học mới thông qua bài “Phản xạ toàn phần”.
1.2. Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp
Trong thời kỳ đất nước ta đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế tiếp
tục thị trường hóa, tăng cường giao lưu, hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có được nguồn
nhân lực, người lao động có đủ tri thức và năng lực để có thể đáp ứng được nhu cầu
của thời kì hiện nay. Làm thế nào để con người có thể có được những năng lực ấy?
Không còn cách nào khác ngoài việc phải học tập không ngừng, thu nhận những kiến
thức cần thiết cho bản thân, ở mọi nơi thông qua nhiều hình thức, trong đó tự học là
hình thức phải được lấy làm nòng cốt. Đối với học sinh, là tương lai của đất nước, là
lực lượng sẽ bước tiếp cha anh để đi xây dựng và phát triển đất nước, cần phải được
bồi dưỡng và rèn luyện kĩ năng tự học ngay từ khi còn ở phổ thông. Việc các em học
sinh được bồi dưỡng năng lực tự học từ trường phổ thông sẽ là nền tảng để các em
1


phát triển năng lực tự học cao hơn và xa hơn nữa là đào tạo được một con người có
khả năng tự học, tự nghiên cứu trong một xã hội đòi hỏi con người phải học tập suốt
đời. Vì lí do đó, vấn đề phát huy tính tự học của học sinh đã và đang được xã hội nói
chung và ngành giáo dục nói riêng rất quan tâm. Trong Luật Giáo dục ban hành năm
2005, Chương I, Điều 5 về phương pháp giáo dục có nêu rõ: “Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi
dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý
chí vươn lên”.
Như vậy, đổi mới phương pháp dạy học, chuyển sang dạy học tích cực mà ý tưởng
cốt lõi là giúp cho học sinh tự học, tự giáo dục là yêu cầu cần thiết trong giáo dục
hiện nay. Đối với môn Vật lý nói tiêng, là một môn học đòi hỏi học sinh không chỉ
hiểu bản chất, nội dung của các định luật, hiện tượng,…mà cần phải biết vận dụng
kiến thức này vào thực tiễn. Khi cho học sinh tự học thì các em sẽ có thời gian suy
ngẫm, liên hệ kiến thức với thực tế nhiều hơn, rèn luyện được ý chí và năng lực hoạt
động sáng tạo từ đó sẽ có được cái nhìn nhận về môn học một cách cụ thể và thấy
được tầm quan trọng của việc học hơn. Để đáp ứng được nhu cầu trên, giáo viên cần
phải có những phương pháp giảng dạy hiệu quả và tối ưu nhất, phù hợp mục tiêu bài
học, phải biết cách định hướng cho học sinh tự học, tự tìm tòi kiến thức, phải hiểu
được thực chất của dạy học là giúp đỡ người học tự học, tự nghiên cứu, tự điều
chỉnh, và xét cho cùng, người thầy giúp người học tự hiểu được bản thân mình để
biến đổi mình, mỗi ngày một tiến bộ.
1.3. Mục tiêu của giải pháp
Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng
cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí
vươn lên.


Phát huy khả năng làm việc nhóm, khả năng thuyết trình và khả năng vận dụng kiến
thức đã học vào thưc tiễn.
1.4. Các căn cứ đề xuất giải pháp
Theo cấu trúc của chương trình và sách giáo khoa vật lí lớp 11 thì trước khi học bài
“phản xạ toàn phần”, học sinh đã được học bài “ khúc xạ ánh sáng” . Vì vậy giáo
viên có thể giúp học sinh vận dụng những kiến thức này để hình thành một số kiến
thức của bài mới.
2


-Việc xây dựng kiến thức bài mới dựa trên việc sử dụng dụng cụ thí nghiệm mà học
sinh đã dùng qua ở bài trước giúp cho học sinh linh hoạt hơn trong quá trình tiến
hành thì nghiệm.
1.5. Phương pháp thực hiện, đối tượng và phạm vi áp dụng.
Phương pháp chung: Xây dựng bài học và tổ chức hoạt động học theo nhóm và
hướng dẫn học sinh tự học theo 5 hoạt động sau:
Hoạt động khởi động
Hoạt động này nhằm giúp học sinh (HS) huy động những kiến thức, kĩ năng, kinh
nghiệm của bản thân về các vấn đề có nội dung liên quan đến bài học mới.
Giáo viên (GV) nêu các câu hỏi gợi mở hoặc yêu cầu HS đưa ra ý kiến nhận xét về
các vấn đề liên quan đến nội dung kiến thức trong chủ đề.
Cần hướng dẫn tiến trình hoạt động khởi động của HS thông qua hoạt động cá nhân
hoặc nhóm được tổ chức linh hoạt sao cho vừa giúp các em huy động kiến thức, kĩ
năng, kinh nghiệm của bản thân, vừa xây dựng được ý thức hợp tác, tinh thần học tập
lẫn nhau trong HS. Việc trao đổi với GV có thể thực hiện sau khi đã kết thúc hoạt
động nhóm.
Hoạt động hình thành kiến thức
Hoạt động này giúp HS tìm hiểu nội dung kiến thức của chủ đề, rèn luyện năng lực
cảm nhận, cung cấp cho HS cơ sở khoa học của những kiến thức được đề cập đến
trong chủ đề.
Có thể đặt các loại câu hỏi để HS tìm hiểu kiến thức liên quan trực tiếp đến các nội
dung trong chủ đề hoặc câu hỏi sáng tạo khuyến khích các em tìm hiểu thêm kiến
thức liên quan ngoài nội dung trình bày trong chủ đề.
Cần nêu nhiệm vụ cụ thể và hướng dẫn HS hoạt động theo nhóm để thực hiện nhiệm
vụ. Kết thúc hoạt động, HS phải trình bày kết quả thảo luận với GV.
Hoạt động luyện tập
Hoạt động này yêu cầu HS phải vận dụng những kiến thức vừa tiếp thu được để giải
quyết những nhiệm vụ cụ thể, qua đó GV xem HS đã nắm được kiến thức hay chưa
và nắm được ở mức độ nào.
Đây là những hoạt động như trình bày, luyện tập, bài thực hành,… giúp cho các em
thực hiện tất cả những hiểu biết ở trên lớp và biến những kiến thức thành kĩ năng.
3


Hoạt động luyện tập có thể thực hiện qua hoạt động cá nhân rồi đến hoạt động nhóm
để các em học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau, giúp cho quá trình học tập hiệu quả
hơn.
Hoạt động vận dụng
Hoạt động vận dụng nhằm tạo cơ hội cho HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng, thể
nghiệm giá trị đã được học vào trong cuộc sống thực tiễn ở gia đình, nhà trường và
cộng đồng.
Với hoạt động này, HS có thể thực hiện cá nhân hoặc theo nhóm, có thể thực hiện với
cha mẹ, bạn bè, thầy cô giáo hoặc xã hội. Có những trường hợp hoạt động vận dụng
được thực hiện ngay ở lớp học hay trong nhà trường,…
Hoạt động tìm tòi, mở rộng
Hoạt động này khuyến khích HS tiếp tục tìm hiểu thêm để mở rộng kiến thức, nhằm
giúp HS hiểu rằng ngoài kiến thức đã học trong nhà trường còn rất nhiều điều cần
phải tiếp tục học hỏi, khám phá.
GV giao cho HS những nhiệm vụ nhằm bổ sung kiến thức và hướng dẫn các em tìm
những nguồn tài liệu khác, cung cấp cho HS nguồn sách tham khảo và nguồn tài liệu
trên mạng để HS tìm đọc thêm.
Đối tượng và phạm vi áp dụng
Đối tượng tôi đã thực hiện phương pháp mới này là học sinh lớp 11A10 trường trung
học phổ thông Hòa Bình năm học 2017-2018.
Phạm vi áp dụng là chương VI “ khúc xạ ánh sáng” chương trình vật lý 11 cơ bản.
2. Quá trình hình thành và nội dung giải pháp
2.1.Quá trình hình thành
Đặc điểm của môn Vật lý là môn học khoa học tự nhiên và là môn học khoa học thực
nghiệm, có nhiều ứng dụng trong sản xuất và đời sống. Ví dụ trong phần Quang hình,
các hiện tượng khúc xạ ánh sáng, phản xạ toàn phần được sử dụng để giải thích nhiều
hiện tượng thực tế trong đời sống như: hiện tượng mắt nhìn thấy đáy hồ nông hơn so
với thực tế, hiện tượng ảo ảnh trên sa mạc,…; hay ứng dụng của thấu kính trong việc
chữa các tật về mắt (cận, viễn, loạn,…), ứng dụng trong các quang cụ như: máy ảnh,
đèn chiếu, kính thiên văn, kính hiển vi, kính lúp, máy quang phổ,… Để có thể nắm
vững kiến thức Vật lý ở trường phổ thông học sinh không những hiểu bản chất, nội
dung của các định luật, hiện tượng và các thuyết,.. mà còn cần có khả năng vận dụng
kiến thức này vào thực tiễn, tìm hiểu sâu về bản chất vật lý của vấn đề , biến đổi
4


những kiến thức từ sách vở thành những kiến thức của cá nhân. Vì vậy, có thể tổ
chức đa dạng các hoạt động học tập tự lực của học sinh nhằm phát huy tính tự tìm
tòi, khám phá và tạo điều kiện để học sinh có thể sáng tạo. Sự nhấn mạnh đến việc tổ
chức hoạt động học tập tự lực của học sinh trong các tài liệu hướng dẫn đổi mới
phương pháp dạy học Vật lý Trong định hướng đổi mới phương pháp dạy học được
xác định trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước mà Bộ Giáo dục đào tạo đang chỉ
đạo triển khai nhằm đáp ứng yêu cầu của mục tiêu và nội dung giáo dục mới, đổi mới
phương pháp dạy học “dạy học lấy người học làm trung tâm” đã nêu rõ các nhiệm vụ
sau:
1. Sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống trên tinh thần phát huy tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
2. Dựa theo phương thức tiếp nhận thông tin của học sinh, các phương pháp truyến
thống có thể phân thành 3 nhóm:
+ Nhóm các phương pháp dùng lời như diễn giảng, vấn đáp, đọc sách giáo khoa, hội
thảo, dùng phiếu học tập, nghe băng,…
+ Nhóm các phương pháp trực quan: biểu diễn thí nghiệm, mô hình, xem tranh ảnh,
xem phim.
+ Nhóm các phương pháp thực hành: quan sát, đo đạt, làm thí nghiệm thực hành, sưu
tầm tài liệu…Đây là nhóm phương pháp quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng,
thói quen và ý thức tự học của học sinh. Trong các phương pháp trên thì hai nhóm
phương pháp thực hành và trực quan “tích cực” hơn phương pháp dùng lời. “Tích
cực” ở đây có nghĩa là trong hoạt động nhận thức, học sinh được kích thích, gợi hứng
thú và chủ động chiếm lĩnh tri thức mới dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đổi mới
phương pháp không phải là phủ nhận hoàn toàn các phương pháp truyền thống mà
đổi mới là kế thừa và phát triển các phương pháp đó theo quan điểm “phát huy tích
cực, chủ động và sáng tạo của học sinh”. Bên cạnh cải tiến các phương pháp truyền
thống, chúng ta có thể vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại như dạy học dự
án.
Dạy học bằng hoạt động và thông qua hoạt động của học sinh dựa theo cấu trúc của
tiến trình khoa học, hoạt động học tập của học sinh có thể chia thành các nhóm sau:
+ Nhóm hoạt động thu thập thông tin bao gồm: quan sát hiện tượng tự nhiên, tranh
ảnh, thí nghiệm biểu diễn của giáo viên, xem băng hình, thực hành thí nghiệm đo
đạc, lấy số liệu, tìm thông tin từ giáo viên, bạn bè, sách báo hay mạng internet…
+ Nhóm hoạt động xử lí thông tin bao gồm: suy luận logic (phân tích, tổng hợp, so
sánh qui nạp, diễn dịch..) để rút ra kết luận từ một dữ liệu đã thu thập, lập bảng biểu,
vẽ đồ thị từ đó rút ra các qui luật của hiện tượng, đề ra phương án thí nghiệm nhằm
kiểm tra một dự án hay giả thuyết,…Hoạt động xử lí thông tin đòi hỏi khả năng tư
duy sáng tạo của học sinh.
+ Nhóm hoạt động truyền đạt thông tin gồm: thông báo bằng lời các kết quả xử lí
thông tin, kết quả thí nghiệm, những dữ liệu điều tra; tham khảo, tranh luận về nội
dung học tập, trả lời câu hỏi của giáo viên; viết báo cáo, trình bày bằng sơ đồ, đồ thị,
tranh vẽ,…Hoạt động truyền đạt thông tin giúp học sinh củng cố kiến thức, phát triển
khả năng ngôn ngữ, đồng thời rèn luyện cho học sinh có khả năng cần thiết để hòa
5


nhập cộng đồng. Ngoài ra, trong học tập học sinh còn có các hoạt động vận dụng
kiến thức: giải quyết vấn đề trong thực tiễn, giải bài tập…là tổng hợp của các hoạt
động thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin. Trong mỗi hoạt động, giáo viên nên tự
nguyện rời bỏ vai trò chủ thể, không còn là người truyền đạt tri thức mà là người
giúp học sinh tìm ra tri thức. Giáo viên đóng vai trò là người cố vấn. Học sinh tự lực
hoạt động để chiếm lĩnh tri thức mới và kĩ năng mới. Hoạt động học tập của học sinh
không chỉ diễn ra trên lớp mà còn diễn ra ở nhà. Tăng cường học tập cá nhân phối
hợp hài hòa với học tập hợp tác Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học vẫn khẳng
định hình thức học tập cá nhân là hình thức học tập cơ bản nhất. Tuy nhiên để học tập
có hiệu quả, học sinh có hứng thú, tự giác và chủ động. Hình thức học tập hợp tác
hay học tập theo nhóm là hình thức góp phần làm cho việc học tập của cá nhân có
hiệu quả hơn, đồng thời rèn luyện cho học sinh tinh thần hợp tác trong lao động, chia
sẻ kinh nghiệm , học tập lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung. Các
hình thức dạy học này không thể tách rời nhau mà chúng luôn bổ sung cho nhau. Mặt
khác chúng ta cần tránh quan niệm sai lầm, tổ chức cho học sinh hoạt động theo
nhóm là đổi mới phương pháp dạy học. Hạn chế của phương pháp này ở chỗ không
gian chật hẹp của lớp học, thời gian hạn định của một tiết học, do đó giáo viên phải
có cách tổ chức hợp lí và học sinh phải quen với phương pháp này thì mới có hiệu
quả tốt. Vì vậy bên cạnh hình thức học tập cá nhân còn yếu, giáo viên nên cân nhắc
vào học sinh mà sử dụng hình thức học tập nhóm để phát huy năng lực của học sinh,
hiệu quả giảng dạy. Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học Tự học là phương
pháp học tập không thể thiếu được của một học sinh. Tổ chức hoạt động tự học một
cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học
mà là sự nghiệm của giáo viên. Mỗi cá nhân học sinh phải tự rèn luyện, biết cập nhật
thông tin, tự đổi mới mình không để bị tụt hậu. Vì vậy rèn luyện khả năng tự học là
rất quan trọng. Rèn luyện ngay trong các hoạt động học tập của học sinh, không
những ở trên lớp mà còn ở nhà. Coi trọng rèn luyện kỹ năng ngang tầm với truyền
thụ tri thức. Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Nhiệm vụ dạy
học không chỉ có truyền đạt kiến thức phổ thông mà còn phải bồi dưỡng cho học sinh
kỹ năng sống và lao động cần thiết. Trong các kỹ năng cần bồi dưỡng cho học sinh
thì kỹ năng học tập là quan trọng nhất. Việc đổi mới phương pháp dạy học phải bao
gồm đổi mới kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh. Kiểm tra đánh giá
kết quả học tập của học sinh nhằm xem xét mục tiêu dạy học có đạt hay không? Từ
đó có sự điều chỉnh đối với các khâu trong quá trình dạy học không đạt được mục
tiêu đã đề ra, qua đó thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục
khi kết thúc một giai đoạn học tập. Kết quả đánh giá là căn cứ để quyết định giải
pháp cải thiện thực trạng, nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục thông
qua việc đổi mới, tối ưu hóa phương pháp dạy học của giáo viên và hướng dẫn học
sinh biết tự đánh giá để tối ưu hóa phương pháp học tập. Kiểm tra – đánh giá có tác
dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng. Qua kiểm tra, tạo cơ hội cho
học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân, giúp học sinh
nhận ra sự tiến bộ hay khuyết điểm của mình để có phương pháp tự mình ôn tập,
củng cố và bổ sung nhằm hoàn thiện học vấn bằng phương pháp tự học. Việc chọn
6


lựa hình thức kiểm tra nào cũng rất quan trọng bởi vì nó quyết định đến độ tin cậy và
chính xác kết quả học tập của học sinh. Hiện nay, hình thức kiểm tra trắc nghiệm
khách quan đang phổ biến bên cạnh hình thức tự luận. Tăng cường sử dụng thiết bị
dạy học, chú trọng làm thí nghiệm, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học vật
lý Vật lý là môn khoa học thực nghiệm. Do đó, thực hành thí nghiệm là một biện
pháp quan trọng để thu thập thông tin từ thực tế. Qua thí nghiệm, những kiến thức
được hình thành một cách thuyết phục đối với học sinh, đồng thời cũng rèn luyện cho
học sinh kỹ năng thực hành (quan sát, sử dụng dụng cụ, lắp ráp dụng cụ,..) phát triển
óc phán đoán, tư duy vật lý. Hiện nay, công nghệ thông tin đang phát triển một cách
vượt bậc, được xác định là phương tiện hỗ trợ đắc lực và có hiệu quả cho việc giảng
dạy. Các phương tiện thuộc công nghệ thông tin giúp giáo viên chủ động thời gian
hơn, quá trình trao đổi thông tin diễn ra nhanh hơn và có hiệu quả hơn. Với vai trò là
công cụ dạy học, công nghệ thông tin góp phần đổi mới phương pháp dạy học ở các
mặt như: thực hiện dạy học bằng hoạt động, tăng cường khả năng tự học cho học
sinh, đa dạng hóa các hình thức học tập và hình thức kiểm tra – đánh giá.
. Đổi mới cách soạn giáo án đổi mới phương pháp dạy học phải bao gồm đổi mới
cách soạn giáo án. Giáo án được xem như một “kịch bản” về những hoạt động của
học sinh dưới sự điều khiển của giáo viên. Trong đó, giáo viên ước lượng những hoạt
động học tập của học sinh, dự kiến được các tình huống có thể xảy ra và cách giải
quyết giúp học sinh đạt được mục tiêu bài học. Quy trình của một giáo án đổi mới:
+ Lượng hóa các mục tiêu kiến thức và kỹ năng của bài học
+ Chia bài học thành những nội dung tương đối độc lập
+ Hoạch định các hoạt động học tập của học sinh thích hợp cho từng đơn vị kiến thức
+ Tìm các hình thức học tập phù hợp cho từng đơn vị kiến thức
+ Hoạch định các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ của giáo viên tương ứng với mỗi hoạt
động học tập của học sinh
+ Dự kiến thời gian cho mỗi hoạt động
+ Xác định các điều kiện cần chuẩn bị cho từng tiết học. Hiện nay, trước yêu cầu đổi
mới phương pháp và nội dung giáo dục nhằm đào tạo những con người chủ động,
sáng tạo, thích nghi với môi trường luôn biến động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế, thay đổi hình thức học tập là cần thiết. Chuyển từ hình thức học cá
nhân đơn lẻ sang hình thức học tập thể (nhóm) nhằm phù hợp với phương pháp dạy
học đang áp dụng và đạt hiệu quả. Như vậy, việc tổ chức quá trình dạy – tự học trong
dạy học Vật lý là phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai
đoạn hiện nay.
2.2. nội dung giải pháp
Tiến trình xây dựng kiến thức “Hiện tượng phản xạ toàn phần- Điều kiện xuất hiện
hiện tượng phản xạ toàn phần” theo con đường thực nghiệm của kiểu dạy – tự học.
Hoạt động khởi động
Từ bài toán:
Chiếu một chùm tia sáng hẹp từ thủy tinh có chiết suất n1 = 1,5 ra không khí với các
góc tới lần lượt là 300 và 600. Tính các góc khúc xạ tương ứng.
7


Làm xuất hiện tình huống có vấn đề
Theo định luật khúc xạ ánh sáng, ta có: n1sini = n2sinr. Môi trường tới là thủy tinh có
chiết suất n1 = 1,5. Môi trường khúc xạ là không khí có chiết suất n2 = 1. Thay n1, n2
và các góc tới vào biểu thức định luật khúc xạ ánh sáng, ta lần lượt thu được giá trị
của góc khúc xạ r.
Với i = 300 ta có: 1,5. sin300 = sinr => r = 48035’
Với i = 600 ta có: 1,5. sin600 = sinr => sinr =1,3 (vô lý, theo lượng giác 0 �sinr �1)
=> Trường hợp góc tới 600 không tính được giá trị góc khúc xạ.
Hoạt động hình thành kiến thức
Đưa ra vấn đề cần giải quyết
Tại sao ta không tính được góc khúc xạ khi góc tới là 600?
Học sinh chỉ mới được học về hiện tượng khúc xạ ánh sáng và định luật khúc xạ ánh
sáng do đó học sinh không thể giải thích vì sao không tính được góc khúc xạ. Học
sinh chỉ có thể đề xuất ra giả thuyết vì sao không tính được góc khúc xạ.
Giải quyết vấn đề
Đề xuất giả thuyết 1 : Trong bài toán trên, với góc tới 300 ta tính được góc khúc xạ
nhưng ta không tính được góc khúc xạ khi góc tới là 600. => Ta không tính được góc
khúc xạ vì góc tới lớn ( i �60 ) và n1  n2 .
Kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết 1
0

Giả thuyết có thể được kiểm chứng trực tiếp từ thí nghiệm.
0

Không có tia khúc xạ khi và chỉ khi góc tới i �60
Thiết kế phương án thí nghiệm 1
Ta cần: nguồn sáng, môi trường thủy tinh có chiết suất n=1,5, bảng chia độ góc.
Học sinh có thể chọn dụng cụ thí nghiệm như sau:
- Nguồn sáng: Đèn laze, đèn sợi đốt, ngọn nến.
- Môi trường thủy tinh n = 1,5: Khối bán trụ
- Bảng chia độ góc: gắng trực tiếp lên môi trường thủy tinh.
Bố trí thí nghiệm 1 như hình vẽ

8


Tiến hành thí
nghiệm 1
Chiếu ánh sáng đi
từ bán trụ ra không khí với
0
một góc tới 60 , sau đó tăng dần góc tới, quan sát có tia khúc xạ ra môi trường không
khí không.
Kết quả: không có tia khúc xạ ra môi trường không khí.
Hình thành định nghĩa phản xạ toàn phần
“Phản xạ toàn phần là hiện tượng phản xạ toàn bộ ánh sáng tới, xảy ra ở mặt phân
cách giữa hai môi trường trong suốt”.
Chiếu ánh sáng đi từ bán trụ ra không khí với một góc tới 600, sau đó giảm dần góc
tới, quan sát có tia khúc xạ ra môi trường không khí không.
Kết quả: khi giảm dần góc tới từ 600 vẫn tiếp tục không có tia khúc xạ, tuy nhiên góc
tới giảm đến một giá trị nhất định thì xuất hiện tia khúc xạ ra môi trường không khí.
Thí nghiệm 1 phủ nhận giả thuyết 1. => Phải đề xuất giả thuyết 2.
Đề xuất giả thuyết 2 Từ thí nghiệm 1, chúng ta thấy không có tia khúc xạ khi góc tới
đạt đến một giá trị nhất định.
Theo định luật khúc xạ ánh sáng n1sini = n2sinr, chúng ta không nhìn thấy tia khúc xạ
0

sin i 

n2
n1

khi và chỉ khi r �90 =>
Như vậy, không có tia khúc xạ vì góc tới lớn hơn một giá trị xác định, góc đó được
sin i 

n2
n1 và

n1  n2
xác định bởi biểu thức
4. Kết luận được rút ra
Để làm xuất hiện hiện tượng phản xạ toàn phần thì
+ Ánh sáng truyền từ một môi trường tới một môi trường chiết quang kém hơn
+
Góc tới lớn hơn hoặc bằng góc giới hạn ( i  igh).
Hoạt động luyện tập: Từ thí nghiệm và kết quả đạt được trong phần hình thành kiến
thức yêu cầu học sinh so sánh phản xạ toàn phần với phản xạ thông thường và giải
nhanh bài tập vận dụng theo nhóm.
9


Hoạt động vận dụng: Yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa phần ứng dụng của hiện
tượng phản xạ toàn phần cho biết cấu tạo và ứng dụng của cáp quang.
Hoạt động tìm tòi, mở rộng: Yêu cầu học sinh tìm hiểu thêm về một số hiện tượng
liên quan đến phản xạ toàn phần và một số ứng dụng khác của hiện tượng phản xạ
toàn phần qua internet và các tài liệu khác.
3. Hiệu quả giải pháp
Sau khi áp dụng phương pháp trên đối với lớp 11A10 năm học 2017 – 2018 thì
không khí học tập trong lớp trở nên tự nhiên, nhẹ nhàng và thân thiện, giáo viên và
học sinh tương tác với nhau nhiều hơn, học sinh phát huy tốt các kỹ năng giao tiếp,
hợp tác, tự đánh giá lẫn nhau trong giờ học, thảo luận nhóm sôi nổi, hứng thú trong
quá trình học.
4. Kết luận và đề xuất, kiến nghị
4.1. Kết luận
Với việc dạy học theo mô hình trường học mới tôi nhận thấy những điều sau:
Đối với học sinh.
- Bước đầu các em đã có ý thức tự giác học tập, nhiều em đã phát huy được khả
năng vốn có của mình. Biết quản lớp, quản nhóm, biết hợp tác cùng bạn và biết đánh
giá hoạt động của bạn.
- Các em biết thi đua, cạnh tranh nhau cùng học trong nhóm.
- Học sinh được học tập tích cực, chủ động, hứng thú do có cơ hội bày tỏ, chia sẻ
những trải nghiệm, có cơ hội thực hành và vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học vào
đời sống hàng ngày. Học sinh có nhiều cơ hội để độc lập suy nghĩ, bộc lộ ý kiến
riêng khi làm việc cá nhân và phát huy năng lực hợp tác khi học theo nhóm. Các em
còn được tham gia đánh giá quá trình học tập của mình, của bạn vì thế học sinh hứng
thú học tập hơn, tự tin hơn.
Đối với giáo viên:
- chủ động, linh hoạt điều chỉnh nội dung cũng như các hoạt động sư phạm cho phù
10


hợp với tình hình thực tế của lớp mình.
- đóng vai trò là người mở đường, theo dõi, hướng dẫn học sinh khi cần thiết.
4.2. Đề xuất, kiến nghị
Xuất phát từ cơ sở lý luận, thực tiễn, mục đích dạy học cũng như những thành công
và hạn chế trong khi thực hiện đề tài, để góp phần vào việc giảng dạy bộ môn đạt kết
quả tốt, tôi có những kiến nghị sau:
* Về phía cơ sở:
Đối với các tổ chuyên môn cần tăng cường hơn nữa hoạt động trao đổi, thảo luận nội
dung chuyên môn trong các buổi sinh hoạt tổ, cần chuẩn bị và đưa những nội dung
mới và khó để thảo luận, bàn phương pháp giải quyết trước khi truyền đạt vấn đề cho
học sinh.
* Về phía lãnh đạo cấp trên:
- Cần tạo điều kiện cho giáo viên có cơ hội giao lưu, học hỏi và rút kinh nghiệm qua
các hội thảo chuyên đề.
- Cần đưa việc đổi mới phương pháp dạy học vào các đợt hội giảng cấp trường để
giáo viên có cơ hội tìm tòi và không ngừng đổi mới, sáng tạo trong quá trình dạy học.

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×