Tải bản đầy đủ

Đảng bộ huyện tiền hải (thái bình) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2015

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

VŨ THỊ THU TRANG

ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI (THÁI BÌNH)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

VŨ THỊ THU TRANG


ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI (THÁI BÌNH)
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: T.S Lê Thị Quỳnh Nga

Hà Nội - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi thông tin số liệu công bố trong luận văn, là trung
thực, phản ảnh thực tế những gì tôi nhận thức khi tiếp nhận thông tin, khảo sát
địa bàn nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của mình. Tôi xin chịu trách
nhiệm về lời cam đoan trên.
Tác giả luận văn

VŨ THỊ THU TRANG


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng ơn sâu sắc tới TS. Lê Thị Quỳnh Nga, người đã rất
nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này. Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy,
các cô giáo trong Bộ môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Khoa lịch sử,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội,
những người đã truyền đạt, trang bị cho tôi những tri thức quý báu và các kỹ
năng cần thiết về phương pháp nghiên cứu khoa học, từ đó tôi có thể tư duy
và nhận thực tốt hơn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cơ quan, ban ngành và các tổ chức đã
nhiệt tình cung cấp thông tin số liệu cho luận văn của tôi như: Huyện ủy Tiền
Hải, UBND huyện Tiền Hải, phòng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn
huyện Tiền Hải, phòng Thông Kê huyện Tiền Hải.
Do năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế, luận văn khó tránh khỏi
những thiếu xót. Rất mong được sự đóng góp, dạy bảo của các thầy, các cô
giáo để trong tương lai, nếu tiếp tục theo hướng nghiên cứu này, tôi sẽ cố
gắng hoàn thiện bản thân hơn.




MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ
NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI ........... 6
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên

– xã hội và thực trạng kinh tế nông

nghiệp huyện Tiền Hảitrƣớc năm 2000 ......................................................... 6
1.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội ...................................................................... 6
1.1.2 Tình hình kinh tế nông nghiê ̣p huyê ̣n Tiề n Hải trước năm 2000 ........... 10
1.2. Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005 ..... 14
1.2.1 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của TW Đảng và Đảng bộ
tỉnh Thái Bình .................................................................................................. 14
1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Tiền Hải về phát triển kinh tế nông
nghiệp tại Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIV (2000). ............................... 19
1.2.3 Quá trình chỉ đạo thực hiện. .................................................................. 23
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 31
CHƢƠNG 2. LÃNH ĐạO ĐẩY MạNH PHÁT TRIểN KINH Tế NÔNG
NGHIệP CủA ĐảNG Bộ HUYệN TIềN HảI Từ NĂM 2006 ĐẾN NĂM
2015 ................................................................................................................. 32
2.1 Chủ trƣơng phát triển kinh tế nông nghiệp ......................................... 32
2.1.1 Chủ trương phát triển kinh tế của TW Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Bình ... 32
2.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải .. 39
2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện ................................................................... 45
2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng thị trường........... 46
2.2.2 Chỉ đạo chuyển đổi, hình thành các vùng chuyên canh cây trồng và các
gia trại, trang trại chăn nuôi........................................................................... 47
2.2.3 Chỉ đạo hình thành vùng chuyên canh nuôi trồng thủy sản .................. 55
Tiểu kết chƣơng 2 .......................................................................................... 58


CHƢƠNG 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ ..... 60
3.1 Một số nhận xét về sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Tiền Hải............ 60
3.1.1 Đảng bộ huyện Tiền Hải nhanh chóng lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ngành nông nghiệp ...................................................................................... 60
3.1.2 Công tác chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp luôn bám sát thực tiễn
và kịp thời đưa ra nhiều giải pháp phù hợp với tình hình địa phương........... 65
3.1.3 Đảng bộ huyện Tiền Hải còn mắc phải một số hạn chế trong công tác
lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế nông nghiệp....................... 68
3.2 Một số kinh nghiệm lịch sử .................................................................... 71
3.2.1 Quán triệt chủ trương của Đảng về chuyển dịch ngành trong nông
nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế của địa phương ........................................ 71
3.2.2 Cần đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường ........ 74
Tiểu kết chƣơng 3 .......................................................................................... 77
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 81
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 90


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

ĐCSVN

: Đảng cộng sản Việt Nam

HTX

: Hợp tác xã

HTXDV

: Hợp tác xã dịch vụ

KH – KT

: Khoa học – Kỹ Thuật

KTNN

: Kinh tế nông nghiệp

NN & PTNT

: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Nxb

: Nhà xuất bản

TW

: Trung ương

UBND

: Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Các dự án ngành nông nghiệp (2001 – 2005) ................................ 26
Bảng 2.1: Diện tích và năng suất cây vụ đông (2006 – 2010) ........................ 50
Bảng 2.2: Số lượng trang trại chăn nuôi giai đoạn (2005 – 2010).................. 54


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bước sang thế kỷ XXI, xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ
trên toàn thế giới, đây là cơ hội đồng thời cũng là thách thức lớn đối với Việt Nam
cùng với sự chủ đô ̣ng hô ̣i nhâ ̣p kinh tế vớ i khu vực và các tổ chức kinh tế thì đòi hỏi
đấ t nước ta cầ n có các chiế n lươ ̣c thúc đẩ y phát triể n nề n kinh tế hà ng hóa để có thể
hòa nhâ ̣p mô ̣t cách thành công. Trước yêu cầu mới Đảng Cộng sản Việt Nam đã
khẳng định muốn đưa kinh tế nước ta theo hướng tiến lên sản xuất hàng hóa hội
nhập kinh tế quốc tế phải tiến hành CNH, HĐH đất nước. Căn cứ thực tiễn của đất
nước, Đảng cũng chỉ rõ muốn tiến hành thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn và coi đây là nhiệm vụ then chốt của cả nước.
Huyện Tiề n Hải tỉnh Thái Bình là một huyệ n đấ t rô ̣ng người đông có nhiều
đồ ng bào theo đa ̣o Thiên chúa giáo, là huyệ n có nền kinh tế thuầ n nông, gầ n 90%
dân số số ng dựa vào sản xuấ t nông nghiê ̣p, công nghiê ̣p và dịch vụ chưa phát triể n,
viê ̣c xây dựng và phát triể n kinh tế nông nghiê ̣p theo hướng CNH, HĐH ngày càng
có ý nghĩ a cấ p bách, quan trọng để thúc đẩ y nhanh tăng trưởng, phát triể n kinh tế ,
xã hội để từng bước thực hiê ̣n mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằ ng,
dân chủ văn minh".
Hòa mình vào sự phát triển chung của đất nước và phát huy truy ền thố ng tố t
đe ̣p của quê hương Đảng bô ̣ huy ện Tiền Hải một huyện thuần nông của tỉnh Thái
Bình, vừa mang trong mình những đặc điểm chung của nền kinh tế nông nghiệp của
đất nước, vừa có những đặc điểm riêng biệt của vùng lúa quê Bắc Bộ. Để phát triển
kinh tế Nông nghiệp, Đảng bộ huyện Tiền Hải đã quán triệt và vận dụng đường lố i ,
chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước vào công tác lãnh đạo phát triển
kinh tế nông nghiệp của huyện. Quá trình vận dụng, thực hiện chủ trương, đường lối
của Đảng về CNH, HĐH Nông Nghiệp tại địa phương là một vấn đề cần thiết và có
ý nghĩa thực tiễn lớn. Nhất là thời gian sau khi thực hiện nội dung CNH, HĐH nông
nghiệp đã được đề ra từ đại hội Đảng lần thứ VIII. Việc nghiên cứu về quá trình lãnh
đạo của Đảng bộ huyện Tiền Hải phần nào làm rõ quá trình nhận thức, vận dụng chủ
trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương.

1


Với mục tiêu tìm hiểu những vấn đề trên, chúng tôi đã quyết định chọn vấn
đề:“Đảng bộ huyện Tiền Hải (Thái Bình) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ
năm 2000 đến năm 2015” làm đề tài cho Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử
Đảng Cộng Sản Việt Nam
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấ n đề xây dựng và phát triể n kinh tế nông nghiê ̣p

đã thu hút rấ t nhiề u sự

quan tâm của các nhà nghiên cứu . Đế n nay có rấ t nhiề u công trin
̀ h nghiên cứu liên
quan tới nề n kinh tế nông nghiê ̣p . Để đ ạt đươ ̣c mu ̣c tiêu của min
̀ h các

tác giả đã

nghiên cứu và tiế p cầ n ở nhiề u góc đô ̣ khác nhau và đây là các công trình nghiên
cứu được thể hiện ở hai nhóm sau:
Nhóm 1 : Các công trình, bài viết về nền kinh tế nông nghiệp
Nguyễn Văn khánh (2001) Biế n đổ i cơ cấ u ruộng đấ t và nông nghiê ̣p ở vùng
châu thổ sông Hồ ng trong thời kì đổ i mới , Nxb Chin
́ h tri ̣Quố c gia, Hà Nội; Nguyễn
Xuân Thảo (2004), Góp phần phát triển bền vững nông nghiệp

, nông thôn Viê ̣t

Nam, Nxb Chiń h tri ̣Quố c gia , Hà Nô ̣i; Nguyễn Ngô Hải (2002), CNH, HĐH, nông
nghiê ̣p nông thôn Viê ̣t Nam , Nxb Chính tri ̣Quố c gia , Hà Nội ; Lê Mạnh Hùng
(1998), thực trạng CNH , HĐH nông thôn Viê ̣t Nam , Nxb Thố ng kê , Hà Nội... Các
công triǹ h này đã cho thấ y đươ ̣c tầ m qua n tro ̣ng của nề n kinh tế nông nghiê ̣p trong
quá trình phát triển đất nước theo hướng hội nhập kinh tế với các nước trên thế giới .
Ngoài ra các nhà nghiên cứu đặc bi ệt chú tro ̣ng tới CNH , HĐH trong nông nghiê ̣p
là nhu cầu tất yếu và là nhân tố quyế t đinh
̣ đế n sự phát triể n kinh tế - xã hội nước ta.
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu , bài viết về sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản Viê ̣t Nam , Đảng bộ các cấ p , sự quản lý của Nhà nước về sự phát triể n
của kinh tế nông nghiệp, chuyển dich
̣ cơ cấ u nông nghiê ̣p.
Trầ n Thi ̣Hòa (2010), chuyể n di ̣ch cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p theo hướng
CNH, HĐH của huyện Tiền Hải – tỉnh Thái Bình, Đề tài khoa ho ̣c; Đặng Kim Oanh
(2011), Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
(1996 – 2006) Luâ ̣n án tiế n si ̃ Lich
̣ sử Đảng , Trường ĐHKHXH & NV; Luâ ̣n văn
Thạc sĩ Lịch sử , Học viện Chính Trị Quốc gia Hồ Chí Min h, Nguyễn Tuấ n Thành
(2006) Đảng bộ tỉnh Bắ c Giang lãnh đạo phát triển nông nghiê ̣p , nông thôn trong

2


những năm (1997 – 2006); Luâ ̣n văn Tha ̣c si ̃ Lich
̣ sử Đảng , Trung tâm đào ta ̣o , bồ i
dưỡng giảng viên lý luâ ̣n Chiń h tri, ̣ Đại học Quốc gia Hà Nội, Bùi Quang Thọ(2010),
Đảng bộ Tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiê ̣n CNH , HĐH nông nghiê ̣p, nông thôn từ
năm (1995 – 2005); Luâ ̣n văn Tha ̣c si ̃ Lich
̣ sử Đảng, học viện Chính trị - Hành chính
quố c gia Hồ Chí Minh, Nguyễn Thi ̣Năm(2009), Quá trình thực hiện đường lố i CNH,
HĐH nông nghiê ̣p, nông thôn của Đảng ở tỉnh Hà Tây (1996 – 2000); Luâ ̣n văn Tha ̣c
sĩ Lịch sử Đảng, Trường Đa ̣i ho ̣c KHXH & NV (Đa ̣i ho ̣c Quố c gia Hà Nô ̣i), Hà Nội,
Tố ng Văn Chung (2011), Những nhân tố kinh tế xã hội t ác động đến sự chuyển cư
của cư dân nông thôn trong quá trình CNH, HĐH...
Những luâ ̣n văn , luâ ̣n án trên đã nêu lên đươ ̣c quá trình lañ h đa ̣o của Đảng
đố i với viê ̣c phát triể n kinh tế nông nghiê ̣p ở một số điạ phương, trong đó bao gồm
có tỉnh Thái Bình. Các công trình này đã để lại nhiều tư liệu cần thiết để tác giả tham
khảo, kế thừa.
Cho tới nay , các công trình viết về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp
huyê ̣n Tiề n Hải không nhiề u, có một số công trình nghiêncứu dưới góc đô ̣ lich
̣ sử như:
Lịch sử Đảng bộ huyện Tiền Hải( 1926 – 2010) Nxb Chin
́ h Tri ̣Quố c gia – Sự Thâ ̣t –
Hà Nội 2011; Trầ n Thi ̣Hòa (2010), Chuyể n di ̣ch cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p theo
hướng CNH, HĐH của huyê ṇ Tiề n Hải – Tỉnh Thái Bình… tuy nhiên các công trình
này chỉ nói một cách tổng quát về sự phát triển kinh tế nông nghiệp mà chưa đi sâu vào
nghiên cứu, phân tích cu ̣ thể, chi tiế t và có hê ̣ thố ng về sự lañ h đa ̣o của Đảng bô ̣ huyê ̣n
Tiề n Hải lañ h đa ̣o xâydựng và phát triể n kinh tế nông nghiê ̣p(2000 – 2015).
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ
huyện Tiền Hải về phát triển KTNN từ năm 2000 đến năm 2015.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luâ ̣n văn tiế n hành nghiên cứu trên ịa
đ bàn huyện Tiền Hải,
tỉnh Thái Bình bởi vì các điều kiện tự nhiên nơi đây phù hợp cho phát triển kinh tế nông
nghiệp, người dân chủ yếu là làm nghề nông.
Phạm vi thời gian : Đề tài nghiên cứu quá trình lãnh đạo phát triển KTNN
của Đảng bộ huyện Tiền Hải từ năm 2000 đến năm 2015.

3


4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Làm rõ sự lãnh đạo phát triển KTNN của Đảng bộ huyện Tiền Hải từ năm
2000 – 2015, rút ra một số nhận xét, kinh nghiệm và đóng góp một phần cho quá
trình phát triển ,kinh tế nông nghiệp của địa phương.
4.2 Nhiê ̣m vụ
- Phân tích các yếu tố tác động tới sự lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp
huyện Tiền Hải trước năm 2000
- Hệ thống hóa các quan điểm phát triển kinh tế nông nghiệp và kết quả thực
hiện ở huyện Tiền Hải từ năm 2000 đến năm 2015.
- Nêu những ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo phát triển KTNN của
huyện Tiền Hải. Từ đó phân tích một số bài học kinh nghiệm được.
5. Nguồn sử liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn sử liệu
Để thực hiện đề tài này tôi đã tham khảo các nguồn tư liệu như sau:
- Các văn kiện Đa ̣i hô ̣i đa ̣i biể u toàn quố c của Đảng , các ghị quyết của TW
Đảng; các chỉ thi ̣, nghị quyết của Bộ Chính trị, các văn bản pháp luật của Nhà nước
có liên quan tới kinh tế nông nghiệp.
- Các nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình
, các quyết định UBND tỉnh
.
- Các nghị quyết, báo cáo , chỉ th ị về phát triển nông nghiệp của Đảng bộ
huyện Tiền Hải.
- Các luận án, luận văn, sách chuyên khảo, các bài báo đăng trên các tạp chí
về lĩnh vực kinh tế nông nghiệp.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp như: lịch sử và logic, thống
kê, so sánh, quan sát thực tế.
6. Đóng góp của Luâ ̣n văn
- Hệ thống hóa chủ trương và quá trình chỉ đạo phát triển kinh tế nông
nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải trong 15 năm phát triển gần đây.
- Cung cấp một số nhận xét, kinh nghiệm lịch sử góp phần cho công tác hoạt
động chủ trương phát triển KTNN của địa phương.

4


- Góp phần tìm hiểu lịch sử Đảng tại địa phương.
7. Kế t cấ u của Luâ ̣n văn
Bố cục ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận
văn có bố cục:
Chương 1: Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm
2005 của Đảng bộ huyện Tiền Hải
Chương 2: Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền
Hải từ năm 2006 đến năm 2015.
Chương 3: Một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử.

5


CHƢƠNG 1.LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾNÔNG NGHIỆP TỪNĂM
2000 ĐẾN NĂM 2005 CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN TIỀN HẢI
1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên

– xã hội và tình hình kinh tế nông nghiệp

huyện Tiề n Hảitrƣớc năm 2000
1.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội
Tiền Hải là huyện đồng bằng ven biển nằm ở vị trí Đông Nam tỉnh Thái Bình
thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, giáp các huyện: Phía Bắc giáp huyện Thái
Thụy; phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ; phía Nam giáp với huyện Giao Thủy (Nam
Định); phía Tây giáp huyện Kiến Xương.
Tiền Hải không chỉ biết đến bởi những đặc sản của vùng biển mà còn nhắc
đến với hai từ thân thuộc “Quê Lúa”. Trong chiến tranh Tiền Hải đã làm tốt vài trò
của hậu phương lớn, chi viện cho miền Nam. Đạt thành tích cao trong sản xuất nông
nghiệp không chỉ thời chiến, mà thời bình huyện Tiền Hải còn tiếp tục phát huy
truyền thống quê lúa, đạt nhiều thành tựu trong sản xuất.
Huyện được thành lập từ tháng 9 năm 1828, sau cuộc khẩn hoang của người
nông dân vùng ven biển Tiền Châu do doanh Điền sứ Nguyễn Công Trứ xuất xưởng
và tổ chức. Trải qua 180 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, nay Tiền Hải có
một Thị Trấn, 34 xã. Tiền Hải cách thành phố Thái Bình 21km và cách Thủ Đô Hà
Nội chừng 130km, hệ thống giao thông đường thủy, đường bộ thuận lợi cho giao lưu hội
nhập thương mại, thông tin khoa học kỹ thuật, tiếp thu thành tựu khoa học tiên tiến, khả
năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước.
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ được bồi đắp bởi phù sa của các con
sông lớn như Sông Hồng, Trà Lý. Do đặc trưng vùng châu thổ sông Hồng nên địa
hình của huyện khá bằng phẳng và nghiêng dần từ Đông Bắc sang Tây Nam. Tuy
với đặc điểm của bãi bồi ven biển nên địa hình của huyện có dạng lồng chảo vùng
trũng ở phía nội đồng, vùng cao ở ven biển. Vùng trũng chủ yếu là các xã: Tây
Phong, Tây Tiến, Đông Lâm, có độ cao Trung Bình là 0,5 – 0,6 so với mặt nước
biển. Vùng cao ven biển chủ yếu ở các xã: Đông Minh, Đông Trà, Đông Hoàng,
Đông Quý có độ cao trung bình là 1m so với mặt nước biển rất thuận lợi cho việc
canh tác nông nghiệp.

6


Đất ở đấy chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, phân bố trên địa hình khá bằng
phẳng, thích hợp với việc trồng lúa, cây hoa màu, cây công nghiệp có năng xuất
cao, có khả năng thâm canh, tăng vụ. Huyện có diện tích đất tự nhiên rộng song lại
có đặc điểm đất đai rất phức tạp và khó khăn hơn các huyện nội đồng. Đất chua
mặn nhiều, có thể chia thành ba miền khác nhau khoảng 45% diện tích đất vùng
ngọt, 30% diện tích đất vùng đệm, 25% diện tích đất phèn mặn. Địa hình đất đai cao
trũng khác nhau có độ chênh lệch lớn, nên công tác thủy lợi tưới tiêu khó khăn. Sự
khác biệt về chất đất của huyện, không những khó khăn thử thách lớn đối với sản
xuất nông nghiệp, mà trái lại huyện đã biến những khó khăn đó trở thành động lực,
phát triển ngành nông nghiệp đa dạng với nhiều lĩnh vực, cây trồng, con vật nuôi
mà không chỉ đơn thuần là sản xuất lúa. Do vậy công tác khai phá và cải tạo vùng
đất này để phục vụ sản xuất nông nghiệp luôn là một yêu cầu cấp thiết, vô cùng
quan trọng tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện.
Tiền Hải nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa mang nhiều nét đặc trưng của
khí hậu duyên hải, mùa đông thường thì ấm hơn, mùa hè thì mát hơn so với các
vùng sâu trong nội địa. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23°C - 24°C cao nhất lên
tới 39°C, thấp nhất khoảng 4,1°C, chênh lệch nhiệt độ giữ ngày nóng và lạnh là
khoảng từ 15°C tới 20°C.
Lượng mưa: Trung bình hàng năm từ 1.500 – 200mm, tập trung chủ yếu vào
mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm, mùa khô kéo dài
từ tháng 11 năm trước đến tháng 3,4 năm sau, độ ẩm dao động từ 80% - 90%.
Bức xạ mặt trời lớn: Số giờ nắng trung bình từ 1.600 – 1.800 giờ/năm. Tổng
nhiệt lượng cả năm 19.600 – 1.800 KCQ/cm²/năm.
Gió: Gió thịnh hành gió Đông Nam mang theo không khí nóng ẩm, mùa hè
hay có gió bão kèm theo mưa lớn, bão thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10,
mỗi năm trung bình chịu ảnh hưởng từ 2 đến 3 cơn bão. Mùa đông là gió mùa Đông
Bắc kèm theo không khí lạnh.
Thủy văn: Huyện có hệ thống sông ngòi chằng chịt với sông Hồng và cửa Ba
Lạt và các chi lưu của nó. Sông Hồng chảy qua phía Nam huyện đổ ra biển Đông là
ranh giới tự nhiên giữa Tiền Hải và Nam Định. Sông Trà Lý là chi nhánh của sông

7


Hồng đổ ra biển Đông chảy qua phía Bắc huyện là ranh giới giữa Tiền Hải và huyện
Thái Thụy. Sông Lân là chi lưu của sông Hồng chảy xuyên qua nội địa huyện đổ ra
Biển như dây cung vạch ngang địa hình, hai cánh cung là sông Hồng và sông Trà
Lý. Sông Long Hầu là chi lưu của sông Trà Lý chảy ngang qua huyện, đây là trục
sông chính dẫn nước ngọt cho toàn huyện Tiền Hải, ngoài ra nó có hệ thống kênh
mương dày đặc.
Sông ngòi: Tiền Hải có nguồn nước ngọt dồi dào tải lượng phù xa lớn và
thuận lợi về nguồn nước tưới thau chua rửa mặn cho toàn bộ ruộng của huyện. Với
lượng phù sa lớn đổ ra biển tạo thành những bãi bồi lớn ở các cửa sông là thế mạnh
của huyện cho phát triển nông lâm ngư nghiệp.
Bãi biển: Tiền Hải thuộc vùng biển nước triều theo chế độ nhật triều hoạt
động mạnh vào tháng 1, 6,7,12. Vì vậy nước mặn có thể theo chế dộ nhật triều vào
sâu trong nội địa ở các sông lớn như Trà Lý độ mặn (muối 1% vào sâu tới 8km,
sông Hồng vào tới 10Km).
Diện tích đất tự nhiên 28.698 ha do phù sa sông Hồng bồi đắp, trong đó diện
tích đất trong đê là 20.037 ha chiếm 70% diện tích, ngoài đê biển 8.661 ha chiếm
30% diện tích. Diện tích đất nông nghiệp 16.684 ha có 23km bờ biển thuận lợi cho
nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản và vận tải du lịch, có 3 cửa sông lớn đổ ra biển là
sông Hồng, sông Trà Lý và sông Lân, hàng năm đưa triệu m³ phù sa ra biển tạo ra
những bãi bồi lớn. Cứ khoảng 20 – 30 năm lại được thêm một xã mới, hiện nay có
khoảng gần 10.000 ha đất bãi bồi ven sông, ven biển tập trung ở khu Cồn Vành,
Cồn Thủ. Đây là tiềm năng to lớn của huyện đã và đang được khai thác nhất là việc
nuôi trồng, đánh bắt thủy hải sản và trồng rừng phòng hộ, tạo cảnh quan phát triển
du lịch. Tiền hải có mỏ khí đốt ở xã Đông cơ trữ lượng lớn, hiện nay đang được
khai thác để phục vụ cho các ngành công nghiệp như: Sứ, thủy tinh, gạch ốp lát,
gạch micado, xi măng trắng, điện khí đốt, sứ vệ sinh cao cấp...
Ngoài ra Tiền Hải còn có nước khoáng với chất lượng tốt đang được khai
thác ở độ sâu gần 500m, sản xuất nước khoáng theo công nghệ tiên tiến với quy mô
lớn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu như nước khoáng Vital.
Dân số và nguồn nhân lực : Tiền Hải là huyện đồng bằng ven biển cư dân
sống tập trung trong huyện ngày một đông. Theo kết quả điều tra tới năm 2009 thì

8


dân số của huyện ước tính là 224.854 ngàn người với 55.632 hộ, trong đó dân số
trong nông nghiệp chiếm gần 85%. Mật độ dân số trung bình là 890 người/km²
huyện, thôn xóm đan xen lẫn nhau. Đến nay có 100% số xã có đường ôtô đi qua
trung tâm xã và đường rải đá láng nhựa. Từ 1993 đến nay toàn huyện đã rải được
trên 300km, năm 1999 bàn giao một số tuyến đường cho tỉnh quản lý, hiện nay
huyện còn quản lý 90km. Đường thôn xã rải đá láng nhựa 95km, đường bê tông
xóm 550km. Giao thông đường thủy thuận tiện với 23km bờ biển và hệ thống sông
Hồng, sông Trà Lý, sông Lam, sông Long Hầu đóng vai trò quan trọng trong vận
chuyển hàng hóa giao lưu giữa các vùng trong huyện và với các huyện, tỉnh ngoài.
Đến năm 2008 có thêm một cơ sở đóng tàu mới nâng tổng số lên là 3 cơ sở đó là
công ty Minh Thanh ở xã Đông Hải đang đóng mới 4 tàu biển với trọng tải trên 500
tấn/tàu, đó là một lợi thế phát triển vận tải biển.
Hệ thống thủy lợi là công tác rất quan trọng trong quá trình sản xuất, cải tạo
đất đai của huyện. Đến nay huyện đã có hệ thống kênh mương và trạm bơm khá hoàn
chỉnh, đảm bảo cơ bản nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp của toàn huyện.
Hai trạm bơm lớn là trạm bơm Thống Nhất và trạm bơm Nam Tiền Hải.
Cùng với trên 70 trạm bơm nhỏ với hàng trăm km mương cấp 1,2 và đê biển ngăn
mặn, chống lũ, đảm bảo đáp ứng nhu cầu kịp thời phục vụ cho sản xuất và đời sống
nhân dân. Thực hiện kiện cố hóa kênh mương từ năm 2000 đến nay đã triển khai
xây dựng ở một số xã, giá trị thực hiện năm 2000 là 3,5 tỷ đồng, xây dựng xong dự
án cải tạo nâng cấp trạm Thống Nhất là 28,3 tỷ đồng.
Hệ thống thông tin liên lạc tương đối hoàn chỉnh, từng bước được nâng cấp.
Hệ thống các đài phát thanh huyện, xã, thôn đảm bảo cung cấp đầy đủ những thông
tin về tình hình diễn biến của sản xuất nông nghiệp đến với nhân dân. Mạng lưới
điện được hoàn chỉnh, 35/35 xã, thị trấn có điện sáng, số hộ dân sử dụng đáp ứng
được yêu cầu phục vụ và sản xuất đời sống.
Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất ngày càng hoàn thiện là một điều kiện vô
cùng thuận lợi để huyện tập trung phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông
nghiệp nói riêng.
Người dân Tiền Hải cần cù, chịu khó có kinh nghiệm trong thâm canh, tăng
vụ lại năng động, sáng tạo có khả năng tiếp thu và mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ

9


thuật vào sản xuất nông nghiệp. Đây là điều kiện thuận lợi để huyện phát triển kinh
tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH. Tuy nhiên nguồn lao động còn nhiều hạn
chế, chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ thấp, phân công lao động giữa các
ngành, các địa phương không hợp lý; mặt khác do tính chất thời vụ trong sản xuất
nông nghiệp nên tình trạng thiếu việc làm là một sức ép lớn. Do vậy trong tương lai
để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thì việc đào tạo, nâng cao
chất lượng lao động, phân bố lại lao động là điều cần thiết.
Là huyện “đất chật người đông” cũng là một sức ép lớn đối với sản xuất
nông nghiệp, diện tích đất theo đầu người thấp. Các ngành kinh tế khác còn kém
phát triển, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh dẫn đến đất nông nghiệp ngày càng thu
hẹp, gây khó khăn trong giải quyết việc làm, do nhu cầu về việc làm của người lao
động ngày càng tăng dẫn đến lao động đi làm việc tự do ở các tỉnh ngày càng nhiều.
Do vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng năng suất, sản lượng lương thực, giải
quyết việc làm cho người lao động là điều cấp thiết, đòi hỏi Đảng bộ huyện phải có
chủ trương, giải pháp đúng đắn, phù hợp để lãnh đạo phát triển kinh tế cũng như
kinh tế ngành nông nghiệp của huyện ngày càng phát triển.
1.1.2 Tình hình kinh tế nông nghiê ̣p huyê ̣n Tiền Hải trước năm 2000
Đầu thập kỷ 80 của thế kỉ XX, nước ta lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh
tế - xã hội trầm trọng. Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã được
triệu tập, Đại hội đã chỉ ra những sai lầm, thiếu xót và đưa ra đường lối đổi mới
toàn diện nền kinh tế, trong đó có kinh tế nông nghiệp.
TW Đảng đã đánh giá thực trạng nông nghiệp nước ta, xác định mục tiêu,
quan điểm đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nước ta. Trên cơ sở đó,
đề ra phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế xã hội nông thôn dựa trên những
quan điểm chủ yếu là: Đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng coi trọng
đúng mức sản xuất lương thực, tăng nhanh sản lượng, năng xuất, nâng cao chất
lượng sản xuất và chế biến lương thực. Tăng tỷ trong chăn nuôi trong giá trị sản
phẩm nông nghiệp. Thâm canh mở rộng diện tích một số cây công nghiệp, mở rộng
phát triển cây ăn quả và xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn... Thực
hiện chính sách giao quyền tự chủ ruộng đất cho nông dân. Tiếp đó là coi trọng thực

10


hiện CNH, HĐH trong phát triển nông nghiệp, đưa nông nghiệp và kinh tế nông
thôn nên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trước mắt và lâu dài, là cơ sở
để ổn định tình hình kinh tế - chính trị - xã hội, củng cố liên minh giai cấp công
nhân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN.
Theo tinh thần chủ trương của Đảng đã đề ra trong thời kỳ đổi mới thì Đảng
bộ tỉnh Thái Bình đã đề ra những chủ trương phương hướng, xác định rõ mục tiêu
và đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp của tỉnh. Đó là
tiếp tục coi trọng nông nghiệp là mặt trận hàng đầu; tập trung sức chuyển sang sản
xuất hàng hóa, lấy nhu cầu thị trường, hiệu quả kinh tế- xã hội làm tiêu chuẩn và
căn cứ để bố trí cây trồng, vật nuôi, nhằm đạt giá trí cao nhất trên cùng một đơn vị
diện tích. Phấn đấu thực hiện 3 nhiệm vụ chủ yếu: đảm bảo ổn định các nhu cầu về
lương thực, thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh; hoàn thành các nghĩa vụ với nhà
nước; đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cho địa phương,
tăng nhanh khối lượng hàng hóa nông sản, thực phẩm xuất khẩu, trên cơ sở đó giải
quyết đồng bộ vấn đề nông dân và nông thôn.
Tháng 8/1996 Đại hội Đảng bộ huyện Tiền Hải lần thứ XXIII đã họp và đánh
giá khái quát tình hình sản xuất nông nghiệp trong 5 năm 1991 – 1995: “Sản xuất
nông nghiệp phát triển với tốc độ tăng nhanh toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, cả
chỉ tiêu sản lượng và giá trị sản lượng. Bước đầu phá vỡ thế độc canh cây lúa, từng
bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa ở nông thôn” [9; tr 1]. Đây chính là cơ sở
để tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp trong 5 năm tiếp theo.
Tại Đại hội, Đảng bộ huyện Tiền Hải đã vận dụng sáng tạo chủ trương của TW
Đảng và Đảng bộ tỉnh Thái Bình phương hướng, mục tiêu trong 5 năm 1996 – 2000 đó
là: “Tập trung sự lãnh đạo, dựa vào điều kiện tự nhiên – xã hội vồn có của huyện để
khai thác triệt để thế mạnh của huyện. Hướng tập trung là tiếp tục chuyển đổi cơ cấu
kinh tế nông thôn, nông nghiệp để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chống tụt hậu
về kinh tế, tạo điều kiện giải quyết tốt những vấn đề cấp bách”[9; tr 17].
Đảng bộ đã chỉ rõ mục tiêu phát triển kinh tế của huyện trong 5 năm (1996 –
2000) nông nghiệp đạt 790 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 8,7%
chiếm 65,5% năng suất lúa ổn định. Sản lượng lương thực quy ra thóc 180 – 200

11


ngàn tấn. Để đạt được mục tiêu huyện đã đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể
để phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện nhà trong 5 năm (1996 – 2000).
Chương trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã tạo ra bước đột phá trong nông
nghiệp đó là hình thành nên các vùng chuyên canh có quy mô lớn tạo ra một khối
lượng sản phẩm lớn. Tính đến năm 1995 tổng giá trị sản xuất đạt 650 tỷ đồng, tốc
độ tăng trưởng hàng năm trên 10%. Giá trị sản lượng canh tác đạt 25 triệu đồng,
năng suất lúa đạt 100ta/ha.
Toàn huyện đã chuyển đổi được 155 ha vùng úng, trũng cấp lúa bấp bênh,
không cho năng suất cao sang thả cá, cho thu nhập gấp 2 – 5 lần so với cấy lúa. Khu
vực đất nhiễm mặn trồng cây lúa hiệu quả thấp huyện đã quyết định chuyển đổi
sang trồng cói là 123 ha. Ngoài ra huyện đề ra các chương trình chuyển đổi các loại
cây có hiệu quả kinh tế chưa cao sang trồng một số cây lương thức có tính xuất
khẩu và có hiệu quả cao như cây dưa chuột, xa lát, ăn quả...cải tạo được hơn 1.000
ha vườn tạp.
Ngành chăn nuôi có bước phát triển mới với một diện mạo mới, nhiều vật
nuôi mới được nhân giống và đưa vào sản xuất như Bò Lai sin, Vịt siêu trứng, Lợn
hướng lạc...Năm 1995 tổng lợn đạt 65.000 con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng được
5.500 tấn/năm, trâu bò là 13.200 con tăng so với năm 1990 là 785 con.
Phong trào nuôi trồng thủy sản được phát triển mạnh mẽ như là: nuôi cá
nước ngọt. Số diện tích chuyển sang đào ao thả cá nước ngọt là 1.156 ha, sản lượng
cá mỗi năm đạt 3,425 tấn gấp 2 lần so với 1990.
Điển hình là nuôi tôm sú, cua và ngao, năm 1995 đạt 130 tấn tôm và
cua/ha/năm, ngao đạt 3.000 tấn/ha/năm. Huyện đã và đang chú trọng đầu tư vào
nuôi trồng thủy hải sản và coi đó là thế mạnh của huyện.
Dưới sự lãnh đạo tài tình, quan tâm sâu sắc tới đời sống nhân dân, Đảng bộ
huyện Tiền Hải đã và đang rất tích cực chỉ đạo, đưa ra các phương án và biện pháp
giúp cho nền kinh tế của huyện ngày càng phát triển theo hướng cơ chế thị trường,
sản xuất kinh tế nông nghiệp phát triển đồng đều cả về trồng trọt và chăn nuôi. Sau
năm 1996 thì tỷ lệ giống lúa dài ngày giảm xuống hẳn tới 40%. Thay vào đó là các
giống lúa lai ngắn ngày cho năng suất cao, Tiền Hải là huyện đi đầu trong toàn tỉnh

12


về thay đổi cơ cấu giống lúa và năng suất lúa tính tới năm 2000 đạt 124 tạ/năm. Giá
trị sản lượng các ngành trong nông nghiệp đều tăng, giá trị sản xuất ngành nông
nghiệp năm 2000 đạt 584 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân là 4,7%. Cụ thể
năm 2000 ngành trồng trọt đạt 358,7 tỷ đồng, ngành chăn nuôi đạt 116,5 tỷ đồng,
ngành nuôi trồng thủy sản đạt 106,1 tỷ đồng, kinh tế nông nghiệp 59,8% tăng gấp
đôi so với năm 1995. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng
giảm dần tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi và thủy sản.
Thiên tai hạn hán mất mùa sản ra triền miên nhưng ngành trồng trọt vẫn đạt
sản lượng khá cao năm 2000 đạt 150,283 tấn, trong đó sản lượng lúa là 141,845 tấn.
Sản xuất cây màu cây công nghiệp, cây ăn quả cũng có sự chuyển dịch theo cơ chế
thị trường.
Năm 2000 tổng diện tích cây màu đạt 1.571 ha. Cây màu truyền thông vẫn có
hiệu quả kinh tế cao và chiếm tý trong diện tích lớn, các cây xuất khẩu như salat,
dưa chuột, dưa gang, củ cải, ngô... được chú trọng và phát triển. Các vùng chuyên
canh cây xuất khẩu ngày một nhiều, sản lượng rau quả xuất khẩu bình thường là 5 –
7 tấn, góp phần tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho nhân dân, nâng cao chất
lượng đời sống, phá vỡ thế độc canh cây lúa. Cùng đó là phong trào cái tạo vườn
trồng các loại cây ăn quả cho sản lượng hàng năm khá lớn, nhiều hộ gia đình thu
hoạch đặt 50 – 60 triệu đồng/ha/năm.
Ngành chăn nuôi biến chuyển mạnh mẽ, đang dần khoe ra diện mạo mới của
mình. Trong huyện đã hình thành các công ty nhân giống vật nuôi, kích thích quá
trình mở rộng diện tích nuôi cá, tôm, ngao... Điển hình là diện tích nuôi trồng thủy
hải sản được mở rộng, tính đến năm 2000 huyện đã có 3.068 ha trong đó nuôi tôm
sú và cua đạt 1.640 ha, cho sản lượng là 300 tấn/ha/năm. Ngoài ra sản lượng chăn
nuôi gia sức gia cầm cũng tăng mạnh, tính đến năm 2000 số lượng trâu và bò đạt
được 8.256 con. Lợn đạt 76.133 con trong đó sản lượng thịt hơi xuất chuồng là
6.759 tấn tăng lên so với năm 1995 là 1.259 tấn.
Như vậy, nền kinh tế nông nghiệp của huyện trước năm 2000 phát triển
tương đối toàn diện, cả về trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản. Tuy
nhiên trong quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Tiền Hải vẫn
còn bộc lộ nhiều hạn chế và khuyết điểm. Cụ thể là:

13


Vấn đề chuyển dịch cơ cấu các thành phần kinh tế theo hướng thị trường còn
yếu, chưa tận dụng ưu điểm của huyện về điều kiện tự nhiên – xã hội để thúc đẩy
phát triển kinh tế nông nghiệp. Do vậy một số địa phương trong huyện còn bỡ ngỡ,
chưa thích nghi kịp thời, gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất. Xác định
nuôi trồng thủy là thế mạnh của huyện nhưng lại chưa chú trọng đầu tư.
Công tác quy hoạch các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hóa chưa được
Đảng bộ huyện, các cấp các ngành quan tâm, đầu tư đúng mức dẫn đến nhiều mô
hình chỉ mang tính chất nhỏ lẻ, phân tán, tự phát làm cho hiệu quả kinh tế chưa
được cao, sản xuất chưa gắn liền với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ.
Người nông dân vẫn sản xuất nhưng đầu ra của snar phẩm thì không đáp ứng .
KHKT, công nghệ ứng dụng trong sản xuất còn hạn chế, cơ giới hóa nông
nghiệp chưa cao. Các mô hình sở hữu tư nhân, hộ gia đình còn thấp, mô hình sở
hữu nhà nước vẫn là cơ bản. Chính vì vậy, không khuyến khích được tính tự chủ
trong nhân dân, dễ nảy sinh tính ỷ lại trong sản xuất.
1.2.Lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2000 đến năm 2005
1.2.1 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của TW Đảng và Đảng bộ
tỉnh Thái Bình
* Chủ trương của TW Đảng
Trên cơ sở nhận định thời cơ và thách thức mới và từ thực tiễn sự nghiệp
lãnh đạo cả nước đi lên trong thế kỷ mới, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
diễn ra từ ngày 19/4/2001 đến ngày 22/4/2001 tại Hà Nội. Trên tinh thần kế tục
đường lối đổi mới của Đại hội VI, kiên định những quan điểm theo cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đại hội VII, Đại hội Đảng toàn
quốc đã đi sâu tổng kết những thành tựu đạt được của 5 năm thực hiện Nghị quyết
Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc, từ đó phát
triển toàn diện đường lối và chiến lượng phát triển kinh tế - xã hội. [52; tr 25].
Đại hội cũng chỉ rõ: “Tăng cường chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần
thiết để đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn. Tiếp tục phát triển và
đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến
bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ sinh học” [52; tr 92,93]. Đẩy mạnh
thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa, quy hoạch sử dụng đất hợp lý; đổi mới cơ

14


cấu cây trồng, vật nuôi; tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích, giải quyết tốt vấn
đề tiêu thụ nông sản hàng hóa. Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh
tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề đa dạng,
chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề; chuyển
đổi một số bộ quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch
vụ, tạo nhiều việc làm mới, nâng cao chất lượng, cải thiện đời sống nông dân và dân
cư ở nông thôn.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4/2001) cũng nhấn mạnh:“ Đẩy nhanh
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng
hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng”. Đại hội
đưa ra định hướng phát triển nông nghiệp ở từng vùng, trong đó định hướng phát
triển cho vùng đồng bằng sông Hồng “ phát triển nông nghiệp hàng hóa đa dạng.
Cùng với lương thực đưa vụ đông thành một thế mạnh, hình thành các loại vùng
chuyên canh rau, cây ăn quả, thịt, hoa; mở rộng nuôi trồng thủy sản. Phát triển
công nghiệp chế biến và cơ khí phục vụ nông nghiệp” [52; tr 182].
Theo tinh thần của Đại hội, phương hướng kinh tế nông nghiệp trong thời gian
tới sẽ là :“Chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; xây
dựng các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh phù hợp với tiềm năng và lợi thế về
khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng địa phương. Ứng dụng nhanh khoa
học công nghệ vào sản xuất, nhất là ứng dụng công nghệ sinh học, gắn nông nghiệp
với công nghiệp chế biến; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ; hình thành liên kết
công - nông nghiệp – dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn” [52; tr 267].
Đại hội xác định công đường CNH, HĐH, ở nước ta cần và có thể rút ngắn
vừa có những bước đi tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt. Trong đó, CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn là khâu có vài trò quyết định.
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, ngày 18/3/2002
tại Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã đưa ra nghị
quyết số 15 – NQ/TW về “ đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ
2001 – 2010”. Nghị quyết đã đưa ra những nhận thức rõ nét về vài trò và vị trí của
công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, đưa ra những chủ trương, chính sách

15


nhằm đẩy mạnh phát triển CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn. Nghị quyết cũng
nêu nên mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là
xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn hiệu quả và bền vững có năng
xuất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu; xây dựng nông
thôn ngày càng giàu đẹp, dân chủ, công bằng, văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất phù hợp, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại.
Hội nghị Trung ương 5 khóa IX còn ban hành Nghị quyết số 13 – NQ/TW về
“tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”. Nghị quyết
thống nhất nhận thức: Phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn, phải
dựa trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế trang trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh
tế hộ, kinh tế trang trại phát triển. Đây là đổi mới căn bản trong nhận thức của Đảng
về kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn.
Ngày 24/5/2003, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 63 – CT/TW “về đẩy
mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ CNH, HĐH nông
nghiệp vŕ nông thôn” đưa ra những giải pháp đẩy mạnh ứng dụng KH – KT nhanh
chóng và rộng rãi vào sản xuất nông nghiệp hiệu quả hơn.
Đến đầu năm 2004, Hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương khóa IX,
bổ sung một số biện pháp cụ thể: “Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn theo hướng tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên
canh, thâm canh, có năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ và khoa học công
nghệ mới nhất là công nghệ sinh học, gắn với chế biến, tiêu thụ, phát triển mạnh mẽ
các doanh nghiệp công nghiệp,dịch vụ vừa và nhỏ”.
* Chủ trương của Đảng bộ Thái Bình
Quán triệt sâu sắc những Chủ trương của Trung ương Đảng về phát triển
kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH, Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã vận dụng
và triển khai phát triển kinh tế nông nghiệp trong phạm vi toàn tỉnh.
Đầu năm 2001, Đại hội lần thứ XVI của Đảng bộ tỉnh Thái Bình đã họp và
đưa ra nghị quyết, phương hướng phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh trong 5
năm (2001 – 2005). Mục tiêu phấn đấu của tỉnh đến năm 2005 là: Giá trị sản xuất
nông nghiệp đạt 4.659 tỷ đồng, nhịp độ tăng trưởng bình quân 3,5%/năm trở nên; tỷ

16


trọng giá trị sản xuất các ngành cơ cấu trong nông nghiệp: Trồng trọt 64%, chăn
nuôi 30,8%, dịch vụ 4,8%, giữ vững sản lượng lương thực trên 1 triệu tấn/năm, giá
trị sản xuất/ha canh tác 35 triệu đồng trở lên [58; tr 46 - 47].
Nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, tỉnh ủy Thái
Bình đã ban hành Nghị quyết số 04 – NQ/TW “về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật
nuôi trong nông nghiệp giai đoạn 2001 – 2008”. Nghị quyết đã khẳng định và chỉ
rõ: “ ... sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế trọng yếu của tỉnh. Về chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi là giải pháp cơ bản để phát triển nông nghiệp toàn diện và
bền vững, là con đường tất yếu để CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, đồng thời
phát huy mạnh mẽ được tiềm năng nhân tố con người, góp phần ổn định vững chắc
tình hình nông thôn” [4; tr 3].
Để thực hiện Nghị quyết có hiệu quả, Tỉnh ủy đã nêu ra các giải pháp sau:
Tập trung tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục làm chuyển biến sâu sắc nhận
thức của các cấp, các ngành và người sản xuất về yêu cầu cấp bách phải chuyển đổi
mạnh mẽ cơ cấu cây trồng, vật nuôi để chuyên sản xuất nông nghiệp sang sản xuất
nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nâng
cao thu nhập và đời sống nhân dân.
Tiến hành quy hoạch, quy vùng chuyển đổi các loại cây trồng, vật nuôi, đảm
bảo tính đồng bộ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ; tạo vùng sản xuất hàng hóa tập
trung bao gồm: vùng chăn nuôi, vùng cây nông nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, vùng
chuyên màu, vùng lúa giống, lúa chất lượng cao, vùng nuôi trồng thủy hải sản...
Tích cực tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản, thực phẩm, tìm
kiếm khảo nghiệm đưa vào sản xuất đại trà các loại cây, con có giá trị kinh tế cao,
có thị trường tiêu thụ và phù hợp với điều kiện tự nhiên. Củng cố quan hệ sản xuất trong
nông nghiệp và nông thôn. Ban hành và triển khai thực hiện một số cơ chế chính sách: giao
quyền sử dụng đất cho nông dân, dồn điền đổi thửa, hỗ trợ kinh phí...
Tháng 2/2002 Tỉnh ủy Thái Bình đã ban hành Nghị quyết số 07 về công tác
đồn điền đổi thửa xác định: “Thực hiện dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp, từ nhiều
thửa nhỏ thành thửa lớn là nguyện vọng tha thiết, bức xúc của nông dân là yêu cầu
cấp bách của việc đẩy mạnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn,

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×