Tải bản đầy đủ

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh ở lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn non tranh, xã tân thành huyện phú bình tỉnh thái nguyên

P

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

HOÀNG VĂN THUẬN
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH CHO LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI
TẠI TRẠI NON TRANH, XÃ TÂN THÀNH,
HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo:

Chính quy

Chuyên ngành:


Thú y

Khoa:

Chăn nuôi Thú y

Khóa học:

2013 - 2017

Thái Nguyên, 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------

HOÀNG VĂN THUẬN
Tên chuyên đề:
“ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ
BỆNH CHO LỢN CON TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI
TẠI TRẠI NON TRANH, XÃ TÂN THÀNH,
HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo:
Chuyên ngành:
Lớp:
Khoa:
Khóa học:
Giảng viên hướng dẫn:

Chính quy
Thú y
K45 - TY - N02
Chăn nuôi Thú y
2013 - 2017
TS. NGUYỄN ĐỨC HÙNG

Thái Nguyên, 2017




i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm
- Đại học Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã
nắm được những kiến thức cơ bản ngành học của mình. Kết hợp với 6 tháng
thực tập tốt nghiệp tại trại lợn ông Đặng Viết Thuần, đã giúp em cũng cố lại
kiến thức chuyên môn, cũng như đức tính cần có của cán bộ nông nghiệp. Từ
đó, đã giúp em có lòng tin vững bước trong cuộc sống cũng như trong công
tác sau này. Để có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu trường đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên. Ban
chủ nhiệm khoa và tập thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y,
những người đã tận tụy dạy dỗ và dìu dắt em trong suốt quá trình học tập,
cũng như trong thời gian thực tập.
Tập thể lớp K45 - TY - 45 Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã
luôn sát cánh bên em trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường.
Các bác, các cô chú và các anh chị trong trại chăn nuôi lợn ông Đặng
Viết Thuần đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ trong thời gian thực tập để em hoàn
thành tốt khóa thực tập.
Đặt biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự quan tâm, chỉ bảo
tận tình của thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Đức Hùng
Nhân dịp này, em cũng xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều
kiện về vật chất cũng như tinh thần, động viên, giúp đỡ em trong suốt quá trình
học tập.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Sinh viên

Hoàng Văn Thuận


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương
châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, thực
tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của
sinh viên.
Giai đoạn thực tập là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống
hóa toàn bộ kiến thức đã học, làm quen với thực tế sản xuất, từ đó nâng cao
trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp tổ chức và tiến hành công việc
nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo
cho mình có tác phong làm việc đứng đắn, sáng tạo để khi ra trường trở thành
một người cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, đáp ứng được
yêu cầu thực tiễn góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển của đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, theo sự phân công của Khoa
Chăn nuôi - Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự đồng ý
của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, tôi đã về thực tập tại trại
chăn nuôi Non Tranh, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên từ
ngày 18/11/2016 đến ngày 18/05/2017.
Nhờ sự nỗ lực của bản thân, sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của lãnh đạo
và cán bộ, nhân viên ở trại, sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn, đến
nay tôi đã hoàn thành nhiệm vụ thực tập tốt nghiệp và hoàn thành bản báo
cáo tốt nghiệp với đề tài “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị
bệnh ở lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại lợn Non Tranh, xã Tân
Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”. Do bước đầu làm quen với thực

tiễn sản xuất và nghiên cứu khoa học nên bản báo cáo này không tránh khỏi
những hạn chế, thiếu sót. Vậy, tôi kính mong nhận được sự đóng góp quý
báu của các thầy, các cô, các bạn đồng nghiệp để bản báo cáo được hoàn
chỉnh hơn.
Thái nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2017
Người viết khóa luận

Hoàng Văn Thuận


3


4

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Kết quả sản xuất của trại Non Tranh ................................................ 6
Bảng 1.2. Lịch phòng bệnh của trại lợn nái .................................................... 22
Bảng 3.1. Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm 2015 - 2017 .......................... 31
Bảng 3.2. Số lượng lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.......................... 33
Bảng 3.3. Lịch sát trùng trại lợn nái................................................................ 35
Bảng 3.4. Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn con theo mẹ ............................... 36
Bảng 3.5. Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con nuôi tại trại ......................... 37
Bảng 3.6. Triệu chứng chủ yếu của một số bệnh ............................................ 39
Bảng 3.7. Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày
tuổi trong thời gian thực tại trại. ..................................................... 42
Bảng 3.8. Kết quả những công việc khác đã thực hiện................................... 45


4

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cn

: Chủ nhật

CP

: Cổ phần

cs

: Cộng sự

Nxb

: Nhà xuất bản

Pr

: Protein

SS

: Sơ sinh

STT

: Số thứ tự


5

MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................. ii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................ iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iv
MỤC LỤC ......................................................................................................... v
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Đặt vấn đề ............................................................................................. . 1
2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề ....................................................... 2
2.1. Mục đích..................................................................................................... 2
2.2. Yêu cầu....................................................................................................... 2
Phần 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
1.1. Điều kiện cơ sở thực tập ..................................................................... . 3
1.1.1. Điều kiện tự nhiên của trang trại............................................................. 3
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của trại............................................................................ 4
1.1.3. Cơ sở vật chất của trại ............................................................................. 4
1.1.4. Thuận lợi và khó khăn............................................................................. 5
1.1.5. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm) ................... 6
1.2. Cơ sở khoa học của chuyên đề ........................................................... . 7
1.2.1. Một số hiểu biết về lợn con ..................................................................... 7
1.2.2. Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ ........................................................ 9
1.2.3. Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ................................................... 12
1.2.4. Cai sữa cho lợn con ............................................................................... 17
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con.............................. 19
1.2.6. Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ ............................. 21


6

1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ............................... 23
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 23
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 25
PHẦN 2. ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU....27
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...................................................... 27
2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ......................................................... 27
2.3. Nội dung nghiên cứu ........................................................................ . 27
2.4. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu. ............................ 27
2.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định. ................................... 27
2.4.2. Phương pháp thực hiện.......................................................................... 28
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 30
PHẦN 3. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ .................................... 31
3.1. Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Non Tranh trong 3 năm (2015
- 2017) .................................................................................................... . 31
3.2. Kết quả áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn con từ sơ
sinh đến 21 ngày tuổi tại trại ................................................................... . 32
3.3. Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho đàn lợn giai đọan từ
sơ sinh đến 21 ngày tuổi trong thời gian thực tập tại trại .......................... 34
3.3.1. Công tác vệ sinh phòng bệnh ................................................................ 34
3.3.2. Phòng bệnh bằng vắc xin ...................................................................... 35
3.4. Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh cho lợn con giai đọan từ sơ
sinh đến 21 ngày tuổi trong 6 tháng thực tập tại trại ................................. 37
3.4.1. Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi ....... 37
3.4.2. Kết quả chẩn đoán bệnh ........................................................................ 38
3.4.3. Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi
tại trại trong thời gian thực tập........................................................................ 40
3.5. Kết quả thực hiện một số công việc khác .......................................... 42


vii

3.5.1. Công tác chăn nuôi ................................................................................ 42
3.5.2. Công tác khác ........................................................................................ 44
PHẦN 4. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ........................................................... 46
4.1. Kết luận ............................................................................................ . 46
4.2. Đề nghị............................................................................................. . 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG THỜI GIAN THỰC TẬP TỐT NGHIỆP


1

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Ở nước ta trồng trọt và chăn nuôi có vai trò rất quan trọng trong cơ cấu
nông nghiệp, chúng có quan hệ gắn bó hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước phát
triển mạnh mẽ. Song song với sự phát triển của nhiều ngành nghề khác nhau
thì ngành chăn nuôi giữ một vị trí rất quan trọng, đóng góp một phần rất lớn
trong sự nghiệp phát triển đất nước. Trong đó chăn nuôi lợn là một bộ phận
rất quan trọng trong ngành chăn nuôi. Hàng năm, chăn nuôi lợn đã cung cấp
một khối lượng lớn thịt, mỡ làm thực phẩm cho con người. Ngoài ra, chăn
nuôi lợn còn cung cấp một khối lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và
một số sản phẩm phụ của nó làm nguyên liệu cung cấp cho ngành công
nghiệp chế biến.
Thịt lợn không chỉ cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người mà
còn phù hợp với khẩu vị của đại đa số người sử dụng nó. Thịt lợn chiếm 75
80% tổng số các loại thịt trong chăn nuôi. Để đáp ứng được nhu cầu bức thiết
này, Đảng và Nhà nước đang hết sức chú ý đến việc phát triển chăn nuôi lợn.
Đồng thời các nhà khoa học nước ta cũng đã lai tạo đàn lợn nội và các giống
lợn ngoại có tầm vóc lớn, sinh trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao. Cùng với đó là
việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, mô hình chăn
nuôi lợn quy mô lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng
tiên tiến, chế biến thức ăn chất lượng cao với các loại thức ăn thay thế, thức
ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng và không
ngừng quan tâm đầu tư. Để phát triển chăn nuôi lợn cần thực hiện tốt các
khâu chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh. Xuất phát từ thực tế trên, được sự
đồng ý của khoa Chăn nuôi - Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và giáo viên


2

hướng dẫn, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc,
nuôi dưỡng và phòng trị bệnh ở lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại trại
lợn Non Tranh, xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”
2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề
2.1. Mục đích
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Non Tranh, xã Tân Thành,
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn con từ sơ sinh đến
21 ngày tuổi.
- Xác định tình hình nhiễm bệnh, thực hiện phòng và trị bệnh cho lợn
con theo phác đồ phòng, trị bệnh của trại
2.2. Yêu cầu
- Thực hiện nghiêm túc quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và điều
trị bệnh của trại.
- Làm việc tự giác, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công việc.
- Không ngừng học tập trong sách vở và thực tiễn, rèn luyện tay nghề,
kỹ năng sống của bản thân.


3

Phần 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Điều kiện cơ sở thực tập
1.1.1. Điều kiện tự nhiên của trang trại
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Trại lợn Non Tranh là một trại tư nhân lớn của ông Đặng Viết Thuần
nằm trên địa bàn xã Tân Thành, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Xã Tân Thành là một xã thuộc huyện Phú Bình tỉnh Thái nguyên, giáp
với xã Hợp Tiến của huyện Đồng Hỷ ở phía Bắc và Đông Bắc, giáp với xã
Tam Tiến của huyện Tam Thế thuộc tỉnh Bắc Giang ở phía Đông, giáp với xã
Tân Hòa ở phía Nam và Đông Nam, giáp với xã Tân Kim ở phía Tây. Nhìn
chung trại được đặt ở vị trí khá thuận lợi để phát triển do cách xa khu công
nghiệp, khu dân cư, bệnh viện, trường học. Vì trại cách xa trục đường quốc lộ
chính 7 km nên giao thông cũng chưa được thuận tiện cho giao thương trao
đổi sản phẩm chăn nuôi nhưng lại đạt hiệu quả cao trong quá trình sản xuất.
1.1.1.2. Đặc điểm khí hậu
Phú Bình là một huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên trong khu vực trung du,
miền núi phía Bắc, chịu ảnh hưởng rõ rệt của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Nóng
ẩm mưa nhiều, cho nên trại chăn nuôi và trồng trọt tổng hợp Non Tranh cũng
chịu ảnh hưởng của khí hậu này.
- Mùa mưa : nóng ẩm mưa nhiều (từ tháng 4 đến tháng 9), nhiệt độ trung
o

bình từ 25 - 27 C, độ ẩm trung bình đạt 83%, tổng lượng mưa đạt 1.726mm.
- Mùa khô: thời tiết khô, rét ít mưa (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau),
o

nhiệt độ trung bình từ 17 - 19 C, độ ẩm trung bình từ 80,8 %, tổng lượng mưa
là 299,2 mm. Với điều kiện thời tiết như vậy rất thuận lợi cho trồng trọt,
nhưng gây nhiều bất lợi cho chăn nuôi nói chung và nuôi lợn nuôi lợn nói
riêng.


4

1.1.2. Cơ cấu tổ chức của trại
Trại lợn gồm có 36 người trong đó có:
- Lao động gián tiếp : 3 người.
+ Trại trưởng : 1 người.
+ Quản lý trang trại : 1 người.
- Quản lý thuốc : 1 người.
- Lao động trực tiếp:
+ 3 kỹ sư chăn nuôi.
+ 30 công nhân.
+ 1 thợ điện nước.
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như: tổ
chuồng đực, tổ chuồng bầu, tổ chuồng đẻ, tổ chuồng hậu bị, tổ chuồng cai
sữa. Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy
định của trại.
1.1.3. Cơ sở vật chất của trại
- Trang trại có tổng diện tích 25 ha, trong đó khu chăn nuôi và khu nhà
ở công nhân, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ
chiếm diện tích 6,5 ha. Diện tích còn lại là đồi núi trồng cây lấy gỗ.
- Khu chăn nuôi chia làm ba khu riêng biệt gồm: 1 khu chăn nuôi lợn nái
sinh sản và hai khu chăn nuôi lợn thịt. Trong đó khu chăn nuôi lợn nái sinh
sản được bố trí xây dựng chuồng trại cho hơn 1100 lợn nái và lợn đực với các
giống sản xuất chính như: Yorkshire, Landrace… được nhập từ công ty cổ
phần CP Việt Nam về.
- Trại lợn được chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất. Khu
điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại và nơi ăn, ở của công nhân.
- Khu sản xuất gồm: 6 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu, 4 chuồng hậu bị và 1
chuồng cai sữa. Chuồng được xây dựng theo hướng Đông – Tây, Nam – Bắc,


5

đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp vào mùa đông, chuồng xây dựng theo
kiểu 2 mái gồm 3 dãy chuồng chạy dài, mỗi dãy chuồng lớn gồm 2 dãy nhỏ
được xây dựng sát nhau. Chuồng lợn thiết kế theo kiểu cũi sắt, các chuồng
được trang bị thiết bị chiếu sáng, hệ thống uống nước tự động ở mỗi ô nái,
mùa hè có hệ thống quạt thông gió và dàn mát. Màu đông có hệ thống làm ấm
bằng bóng đèn hồng ngoại.
- Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, kho
thuốc, phòng tinh, phòng sát trùng...
- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại phục vụ cho chăn nuôi như:
kính hiển vi, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác.
- Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều
được đổ bê tông và có hố sát trùng. Khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm
ngặt. Mọi công nhân trong trại cho đến khách đều phải thay quần áo, đeo
khẩu trang, ủng chuyên dụng và phải đi qua hệ thống sát trùng.
- Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm đều được xử lý qua hệ thống
thoát nước ngầm.
- Xung quanh trang trại còn trồng rau xanh, cây ăn quả, bưởi những hồ
sinh học tạo môi trường thông thoáng.
1.1.4. Thuận lợi và khó khăn
1.1.4.1. Thuận lợi
- Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư nhưng thuận tiện
đường giao thông.
- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh
thần trách nhiệm cao trong công việc.
- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm
với công việc.


6

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến hiện nay, do đó rất phù hợp với điều
kiện chăn nuôi lợn công nghiệp.
1.1.4.2 Khó khăn
- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh
cao.
- Điều kiện nhiệt độ và độ ẩm trong mùa đông, xuân đã tạo điều kiện
thuận lợi để vi khuẩn, virus gây bệnh phát triển mạnh, nhất là virus PED với
tỷ lệ nhiễm rất cao.
Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao
gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại
1.1.5. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở (trong 3 năm)
Các chỉ tiêu và kết quả sản xuất của trang trại được trình bày chi tiết ở
bảng sau:
Bảng 1.1. Kết quả sản xuất của trại Non Tranh

STT

Chỉ tiêu

Đơn vị

Năm

Năm

2015

2016

Năm 2017
(5 tháng
đầu năm)

1

Tổng số nái sinh sản TB

con

1.100

1.100

1.100

2

Tổng phối

con

2.936

3.002

1.627

3

Tổng phối đạt

con

2.807

2.905

1.570

4

Tỷ lệ phối đạt

%

95,6

96,76

96,49

5

Tổng số nái xuống đẻ

con

2.807

2.905

1.570

6

Tổng số lợn con sinh ra

con

33.554

35.217

19.124

7

TB số lợn con sinh ra/nái

con

11,95

12,12

12,18

8

Tổng lợn con chết sơ sinh

con

2.704

2.612

1.201

9

Tỷ lệ lợn con chết sơ sinh

%

8,06

7,42

6,28


7

Qua bảng trên chúng ta thấy rằng:
Trại sản xuất với năng suất khá cao và tăng dần theo các năm từ năm
2015 đến năm 2017. Sở dĩ đạt được năng suất như vậy là do đây là trại giống
GGP (cụ kỵ) của Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, cho nên nhận
được sự quan tâm đặc biệt của công ty CP về cán bộ kỹ thuật cũng như công
tác thú y được thực hiện triệt để hơn so với các trại khác. Bên cạnh đó, chủ
trại đầu tư trang thiết bị hiện đại, bố trí đủ công nhân thực hiện tốt công tác vệ
sinh chăn nuôi cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng lợn.
1.2. Cơ sở khoa học của chuyên đề
1.2.1. Một số hiểu biết về lợn con
1.2.1.1. Đặc điểm về sinh trưởng, phát triển của lợn con
Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia
súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo, bào thai sẽ phát triển tốt sinh con
khỏe mạnh.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], so với khối lượng sơ sinh thì
khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp
4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,
lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.
Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng
đều qua các giai đoạn, nhanh nhất trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Sở
dĩ có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa
mẹ bắt đầu giảm và hàm lượng Hemoglobin trong máu của lợn con bị
giảm. Thời gian bị giảm sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là
giai đoạn khủng hoảng của lợn con. Để hạn chế sự khủng hoảng này, người
ta thường cho lợn con ăn sớm. Do lợn con sinh trưởng nhanh nên quá trình
tích lũy các chất dinh dưỡng mạnh.


8

Ví dụ: Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam
protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được
0,3 - 0,4 gam protein/1 kg khối lượng cơ thể.
Hơn nữa, để tăng 1kg khối lượng cơ thể, lợn con cần ít năng lượng
nghĩa là tiêu tốn năng lượng ít hơn lợn trưởng thành. Vì vậy, cơ thể của lợn
con chủ yếu là nạc, mà để sản xuất ra 1 kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để
tạo ra 1 kg mỡ.
1.2.1.2 Các thời kỳ quan trọng của lợn con
Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên
của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con
chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện
tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài. Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm
sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp.
Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn. Lợn
mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa
hồi phục, nên dễ đè chết lợn con. Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở
giai đoạn này.
Thời kỳ 3 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy
luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên. Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ
và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm
nhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn
con sinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu. Để
giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi.
Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi
trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên. Mặt khác, thức ăn
thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do
con người cung cấp. Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chu
đáo, lợn con sẽ bị còi cọc, rất dễ mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa.


9

Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc
23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã
làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con
1.2.2. Kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ
Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ở thời
kỳ bú sữa, vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện
ngoại cảnh. Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ dẫn đến tỷ lệ hao hụt cao ở lợn
con. Một số yêu cầu kỹ thuật chăm sóc lợn con theo mẹ như sau:
1.2.2.1. Chuồng nuôi
Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ. Nền chuồng phải
luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảo nhiệt độ
và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có đèn sưởi để đảm
bảo chống lạnh cho lợn con. Ngoài ra chuồng nuôi phải có máng tập ăn và
máng uống cho lợn con riêng.
Nền cứng hoặc sàn thưa khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 35oC
o

trong mấy ngày đầu, sau đó giữ 21 - 27 C cho đến lúc cai sữa 3 - 6 tuần tuổi.
Nhiệt
độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc.
Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [4], nhiệt độ môi trường ảnh
hưởng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của lợn. Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùy
vào từng giai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ
o

o

30 - 31 C, lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24 C. Trong mùa đông ở
o

các tỉnh phía Bắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống dưới 10 C
ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng của lợn con.
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [16], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ
làm giảm khả năng đáp phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó
gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh.


10

1.2.2.2. Cắt đuôi, bấm răng nanh, thiến
Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôi cho
lợn nuôi thịt. Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và có mật
độ cao cho nên lợn thường cắn nhau gây mất ổn định, giảm năng suất chăn
nuôi. Vị trí tấn công thường là đuôi.
Việc cắt đuôi thường tiến hành ngay sau đẻ hoặc trong tuần đầu sau đẻ.
Dùng kìm điện cắt sát khấu đuôi sao cho để lại 2,5 - 3 cm. Cắt xong dùng cồn
o

iot 70 để sát trùng.
Ngoài ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc bấm răng nanh cũng
tiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây tổn thương bầu vú cho lợn mẹ
khi bú, làm giảm tỷ lệ gây viêm vú cho lợn mẹ. Khi cắt răng nanh, người cắt
tránh không gây tổn thương phần lợi hoặc lưỡi của lợn con, ngoài ra người cắt
cũng nên cẩn thận không để nanh gẫy bắn vào mắt mình.
Trong thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực không
dùng làm giống. Có thể thiến trong khoảng từ 8 - 10 ngày tuổi. Cần sát trùng
bằng cồn iod trước và sau thiến.
1.2.2.3. Quản lý lợn con
Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì cần phải có kế
hoạch quản lý tốt. Những con này sẽ được cân và đánh số ở các giai đoạn sơ
sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi. Đây chính là cơ sở giúp cho
việc lựa chọn để làm giống sau này.
* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi
Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề
5
- 10 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn. Lợn con đẻ ra phải được
lau khô bằng vải màn xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình o

rốn - bốn chân, cho vào ổ úm sau khi nhiệt độ môi trường thấp hơn 35 C. Lợn
nái đẻ


11

xong con cuối cùng tiến hành bấm nanh, cắt rốn, cố định đầu vú cho lợn
con mục đích là tạo điều kiện để đàn lợn con phát triển đồng đều.
* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi
Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đã
bước vào giai đoạn khởi động tốt. Trong thời gian này việc chăm sóc quản lý
rất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến
lợn đực con và cắt đuôi. Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu
của lợn con trong mọi vấn đề, trừ sắt. Sắt cần thiết cho việc hình thành
hemoglobin trong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể. Thiếu
sắt sẽ gây thiếu máu nhưng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [10], một trong các yếu tố làm cho lợn
con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt. Nhiều thực nghiệm đã chứng
minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 - 50 mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận
được lượng sắt qua sữa mẹ là 1 mg. Vì vậy phải bổ sung một lượng sắt tối
thiểu là 200 - 250 mg/con/ngày. Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ
thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc hội chứng tiêu chảy.
Nhu cầu sắt cho lợn con mỗi ngày cần 7 - 16 mg hoặc 21 mg/kg tăng
khối lượng duy trì hemoglobin (hồng cầu) trong máu, sắt dự trữ cho cơ thể tồn
tại và phát triển. Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhu
cầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm
lượng hemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân
trắng, chậm lớn, có khi chết.
* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa
Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, khỏe mạnh hơn và có khả năng
chống chịu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh . Vào thời gian này, phần lớn
lợn con theo mẹ đã được 3 - 4 tuần tuổi, chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn
nhanh, sự


12

tăng khối lượng này là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần phải hạn chế
và tránh những yếu tố stress cho lợn con.
Một cách để đạt năng suất tối đa là tập cho lợn con ăn càng sớm càng tốt.
Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 tuần tuổi và bắt đầu
giảm, lợn con bắt đầu sinh trưởng nhanh ở tuổi này và cần nhận được thức ăn
bổ sung. Trong giai đoạn này nội ký sinh trùng là vấn đề ở phần lớn các trại
lợn và sự phá hoại do ký sinh trùng gây ra có thể bắt đầu từ rất bé. Yếu tố
chăm sóc, quản lý chủ yếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ là cai sữa,
tuổi cai sữa lợn con có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn.
Nói chung lợn con có thể cai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng
đòi hỏi sự quản lý càng tốt hơn. Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu
quả cao ta cần chú ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con:
+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg.
+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ
đông con.
+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể.
+ Số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được.
+ Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau
cai sữa.
+ Cứ 4 - 5 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2
vòi nước uống.
+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy.
1.2.3. Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
1.2.3.1. Cho lợn con bú sữa đầu và cố định đầu vú cho lợn con
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt. Thời gian tiết sữa
đầu của lợn nái là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với lợn con


13

là trong 24 giờ đầu. Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì cho cả đàn con
bú cùng lúc. Nếu lợn mẹ chưa đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú
trước.
Theo Vũ Đình Tôn và cs (2006) [22], lợn con khi mới sinh ra trong máu
hầu như không có kháng thể. Song lượng kháng thể trong máu lợn con được
tăng rất nhanh sau khi lợn con bú sữa đầu.
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [17], lợn con mới đẻ lượng kháng thể
tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch
của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu
được nhiều hay ít từ lợn mẹ.
Theo Trần Thị Dân (2008) [7], lợn con mới đẻ trong máu không có
globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ
sang qua sữa đầu. Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu. Các yếu tố miễn
dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn
dịch đặc hiệu của lợn con kém. Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để
tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là hội chứng tiêu chảy.
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao. Hàm lượng protein
trong sữa đầu gấp 2, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin
B1 và sắt gấp 1,5 lần so với bình thường. Đặc biệt trong sữa đầu có hàm
lượng γ-globulin mà sữa thường không có, γ-globulin có tác dụng giúp cho
++

lợn con có sức đề kháng đối với bệnh tật. Ngoài ra, Mg trong sữa đầu có tác
dụng tẩy các chất cặn bã (phân su) trong quá trình tiêu hóa phát triển thai để
++

hấp thu chất dinh dưỡng mới. Nếu không nhận được Mg thì lợn con sẽ bị rối
loạn tiêu hóa, gây tiêu chảy, tỷ lệ chết cao.
Việc cố định đầu vú cho lợn con nên bắt đầu ngay từ khi cho chúng bú
sữa đầu, theo quy luật tiết sữa của lợn nái thì lượng sữa tiết ra ở các vú phần
ngực nhiều hơn vú ở phần bụng, mà lợn con trong ổ thường con to, con nhỏ


14

không đều nhau. Nếu để lợn con tự bú thì những con to khỏe thường tranh bú
ở những vú trước con ngực có nhiều sữa hơn và dẫn tới tỷ lệ đồng đều của
đàn lợn con rất thấp, có trường hợp có những con lợn yếu không tranh được
bú sẽ bị đói làm tỷ lệ chết của lợn con cao. Khi cố định đầu vú, nên ưu tiên
những con lợn nhỏ yếu được bú phía trước ngực. Công việc này đòi hỏi phải
kiên trì, tỉ mỉ bắt từng con cho bú nhiều lần trong một ngày (7 - 8) lần, làm
liên tục trong 3 - 4 ngày để chúng quen hẳn với vị trí mới thôi. Cũng có
trường hợp số lợn con đẻ ra ít hơn số vú thì những lợn vú bú phía sau có thể
cho mỗi con làm quen 2 vú, để vừa tăng cường lượng sữa cho lợn con, vừa
tránh bị teo vú cho lợn mẹ.
Nếu cố định đầu vú tốt thì sau 3 - 4 ngày lợn con sẽ quen tự bú ở các vú
quy định cho nó, lợn con quen nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thế nằm
của lợn mẹ, nếu lợn mẹ thường xuyên nằm quay về một phía khi cho con bú
thì lợn con nhận biết vú quy định của nó sớm hơn. Ngược lại, nếu lợn mẹ nằm
thay đổi vị trí liên tục thì lợn con sẽ chậm nhận biết hơn.
Theo Duy Hùng (2011) [14], vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng
ngày bằng dung dịch sát trùng. Bấm nanh cho lợn con mới sinh, nên cho lợn
con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn. Tăng cường ăn uống
đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế
nguy cơ thừa sữa. Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những
vú bị viêm. Dùng các phương pháp chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng bị
sưng.
Nếu ghép lợn con với lợn mẹ khác mẹ thì phun rượu Etylic cho cả đàn con

và mới không để lợn mẹ phát hiện, những con mới ghép cũng phải cố định
vú bú.
1.2.3.2. Bổ sung sắt cho lợn con
Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con
tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần
được bổ sung thêm sắt.


15

Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con 30 ngày đầu sau đẻ là 30 x 7 mg/
ngày = 210 mg. Trong đó, lượng sắt cung cấp từ sữa chỉ đạt 1 – 2 mg/ngày
(36 - 60 mg/30 ngày), lượng sắt thiếu hụt cho một lợn con khoảng 150 - 180
mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt. Trong thực tế
thường cung cấp thêm 200 mg.
Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày sau khi sinh. Việc tiêm sắt
thường làm với các thao tác khác để tiết kiệm công lao động. Nếu cai sữa lúc
3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 200 mg là đủ. Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200
mg sắt tiêm 2 lần. Lần 1: 3 ngày tuổi tiêm 100 mg; lần 2: 10 - 12 ngày tuổi
tiêm 100 mg.
Triệu chứng điển hình của sự thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng
hemoglobin giảm. Khi thiếu sắt, da của lợn con có màu trắng xanh, nhợt nhạt,
đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn, có khi bị chết.
Đưa sắt vào cơ thể lợn con bằng cách tiêm là đạt hiệu quả nhất. Nên
dùng sắt dưới dạng dextran, hợp chất này có tên là Ferri - Dextran. Ferri Dextran là hợp chất có phân tử lớn nên ngấm từ từ, hiệu quả kéo dài. Cách sử
dụng như sau:
- Cách 1: Chỉ tiêm 1 lần vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, với liều lượng 200
mg sắt (Fe - Dextran) cho 1 lợn con.
- Cách 2: Tiêm lần 2: lần thứ nhất 100 mg vào ngày thứ 3 sau khi đẻ, lần
thứ 2 (tiêm lặp lại) là 7 ngày sau khi tiêm lần thứ nhất. Cũng với liều lượng
100 mg cho 1 lợn con.
Để ngăn ngừa hiện tượng ngộ độc sắt cho lợn con, cần bổ sung thêm
vitamin E vào khẩu phần ăn của lợn mẹ 1 ngày trước khi tiêm (khoảng 500
mg). Nếu thiếu vitmin E thì chỉ cần cung cấp 20 - 30 mg Fe vào ngày thứ 3
sau khi sinh cũng đã gây ngộ độc cho cơ thể lợn con.
- Cách tiêm sắt cho lợn con


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×