Tải bản đầy đủ

Văn hóa giáo dục dưới góc nhìn xã hội học

VĂN HÓA GIÁO DỤC DƯỚI GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Văn hóa là các yếu tố bao trùm lên toàn bộ đời sống xã hội và trở thành nền tảng
cơ bản đối với đời sống của mỗi cá nhân cũng như toàn thể cộng đồng. Hiện nay văn hóa
được cụ thể hóa thành rất nhiều lĩnh vực khác nhau như: Văn hóa giao tiếp, văn hóa ẩm
i


thực, văn hóa giáo dục …. Hiện nay văn hóa giáo dục đang là vấn đề được xã hội quan
tâm bởi vì những tác động của nó không chỉ ảnh hưởng đến vấn đề giáo dục mà còn ảnh
hướng đến toàn xã hội đến sự phát triển của quốc gia.
Giáo dục được xem là một hiện tượng đặt biệt, ngay từ khi xã hội loài người xuất
hiện, các thế hệ luôn gắn bó với nhau trong nhiều lĩnh vực hoạt động: lao động, giao lưu,
chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật…. trong đó giáo dục là hiện tượng nảy sinh, tồn tại
và phát triển không ngừng với xã hội loài người. Hiện tượng này biểu hiện ở chổ thế hệ
trước truyền lại thế hệ sau những kinh nghiệm nhập đáp ứng nhu cầu phát triển mọi mặt
của đời sống xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, thế hệ sau lĩnh hội một cách có chọn lọc
những kinh nghiệm dó để tham gia vào mọi hoạt động xã hội, qua đó nhân cách được

hình thành và phát triển. Kinh nghiệm xã hội bao gồm tri thức, kỹ năng, niềm tin, thái độ
của con người trong hoạt động.

2


PHẦN I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA GIÁO
DỤC
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Văn hóa1
Về phương diện xã hội học, văn hóa nếu hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó là
phương thương thức sống chung của con người trong một xã hội nào đó. Chính vì thế, ở
Mỹ, đã có quan điểm cho rằng: chẳng có một xã hội học gì khác ngoài xã hội học văn
hóa. Cuốn Xã hội học của J. Fichter, có thể coi là một ví dụ: ông quan niệm văn hóa là
hình thái toàn diện của hệ thống thể chế (chính trị, kinh tế, gia đình, giáo dục, tín tưởng
và giải trí) mà con người có cùng chung trong xã hội.
Văn hóa là toàn thể những hình thức ứng xử mà một nhóm cá nhân được hợp nhất
bởi một truyền thống chung, truyền lại cho con cháu họ. (...) Như vậy, từ ấy không những
chỉ định các truyền thống nghệ thuật, khoa học, tôn giáo và triết học của một xã hội, mà
còn chỉ định cả các kỹ thuật riêng biệt, các phong tục chính trị và hàng ngàn cách sống
đặc định đời sống hàng ngày của xã hội ấy: các cách thức nấu nướng và ăn uống, cách ru
con trẻ ngủ, phương thức chỉ định chủ tịch hội đồng, thủ tục kiểm ra hiến pháp...

1 https://sites.google.com/site/buiquangthangvicas/sach-nghien-cuu/bai-1-xa-hoi-hoc-van-hoa

3


1.1.2 Giáo dục2
Giáo dục (tiếng Anh: education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó
kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới
sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm
nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều
có thể được xem là có tính giáo dục. Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn
như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học. Về
mặt từ nguyên, "education" trong tiếng Anh có gốc La-tinh ēducātiō ("nuôi dưỡng, nuôi
dạy") gồm ēdūcō ("tôi giáo dục, tôi đào tạo"), liên quan đến từ đồng âm ēdūcō ("tôi tiến
tới, tôi lấy ra; tôi đứng dậy"). Trong tiếng Việt, "giáo" có nghĩa là dạy, "dục" có nghĩa
là nuôi (không dùng một mình); "giáo dục" là "dạy dỗ gây nuôi đủ cả trí-dục, đức-dục,


thể-dục."
1.1.3 Xã hội hóa3
Xã hội hóa Quá trình qua đó mà ta có thể tiếp nhận được nền văn hóa của xã hội
trong đó chúng ta được sinh ra và lớn lên, quá trình mà trong đó ta trở thành con người xã
hội (học được cách suy nghĩ và ứng xử được coi là thích hợp với xã hội của ta)
1.1.4 Xã hội học4
Nếu hiểu “Xã hội học là khoa học nghiên cứu xã hội loài người và hành vi xã hội”
thì cách định nghĩa là khá mơ hồ, không đủ thông tin, không xác đáng khi phân biệt nó
với các khoa học xã hội và nhân văn khác. Xã hội học quan trọng ở cách nghiên cứu “
như thế nào” (chứ không ở nghiên cứu “cái gì”). Để khắc phục những khó khăn đó các
nhà xã hội học đã chỉ ra những phạm vi cụ thể như trong gia đình mọi người cư xử với
nhau thế nào? đối với thần thánh mọi người phải làm gì? tại sao ở những điều kiện nhất
định mọi người lại phải ứng xử theo một cách nào đó chứ không phải tùy tiện (đám ma
không được cười, đám cưới không được khóc chẳng hạn?), tại sao có người lại phạm tội?
v.v... Tuy nhiên, những phạm vi nghiên cứu đó cũng chưa thể phân biệt được xã hội học
với các ngành khoa học khác và người ta đã thấy rằng, thực ra khác biệt nhất của xã hội
2 https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%C3%A1o_d%E1%BB%A5c
3 https://sites.google.com/site/buiquangthangvicas/sach-nghien-cuu/bai-1-xa-hoi-hoc-van-hoa
4 https://sites.google.com/site/buiquangthangvicas/sach-nghien-cuu/bai-1-xa-hoi-hoc-van-hoa

4


học không hẳn là nghiên cứu cái gì mà là nghiên cứu như thế nào? Nói cách khác, trong
các nghiên cứu xã hội học phải chỉ ra cho được các quan điểm và phương pháp nghiên
cứu của xã hội học đối với đối tượng được nghiên cứu như thế nào.
1.2 Tính quy định của xã hội đối với giáo dục
1.2.1

Tính lịch sử

Mỗi một giai đoạn xã hội điều có một nên giáo dục riêng và phù hợp với thực tại của
xã hội ấy. Trong giai đoạn cộng sản nguyên thủy giáo dục chủ yếu là sự truyền thụ kinh
nghiệm từ thế hệ trước sang thế hệ sau.
Trong xã hội phong kiến việc học chỉ dành cho nam giới và gia đình khá giã, phụ nữ
hay những người nghèo không được đi học. Nội dung của nền giáo dục Nho học Việt
Nam thời phong kiến là coi trọng giáo dục đạo đức (dạy tứ thư, ngũ kinh), khinh tài trí, vì
đối với quan cai trị, cần thiết là đức, có đức thì an dân. Trong xã hội ngày nay, giáo dục
chúng ta quan niệm giáo dục là cho tất cả mọi người và ai cũng có quyền được học, mọi
người điều có quyền bình đẳng như nhau trong giáo dục.
1.2.2 Tính giai cấp
Bởi lẽ giáo dục là một thiết chế xã hội và nó chịu sự chi phối của giai cấp thống trị
nên mỗi giai đoạn lịch sử, xã hội giáo dục điều nhằm phụ vụ cho giai cấp thống trị. Do đó
giáo dục mang tính giai cấp là một điều tất yếu. Điển hình như trong xã hội phong kiến
chỉ có con em tầng lớp phong kiến mới được đi học còn con em của tầng lớp nông dân thì
không được đi học. Trong xã hội chúng ta ngày nay, nên giáo dục mang tính giai cấp
công nhân, quyền lợi của các giai cấp khác điều thống nhất với quyền lợi của giai cấp
công nhân nên mỗi người điều có quyền được đi học như nhau. Có thể khẳng định, giáo
dục luôn chịu sự quy định của xã hội, giáo dục không thể vượt ra khỏi quy định của xã
hội.
1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục5
Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cách mạng sớm có tầm nhìn về sứ mạng và ý nghĩa
của giáo dục. Từ khi trở thành lãnh tụ cách mạng đến tận cuối đời, Người luôn coi công
việc “trồng người” là một nhiệm vụ vừa cấp bách vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài.
Tháng 9-1945, khi UNESCO chưa thành lập, Hồ Chí Minh đã đưa vấn đề giáo dục vào
5 Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vấn đề về giáo dục đại học ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật,
2017

5


một trong 6 nhiệm vụ cấp bách của chế độ mới, coi nạn mù chữ là một nguy cơ của đất
nước. Nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hồ Chí
Minh đã gửi thông điệp đến các nhà giáo và học sinh, đề cập những điểm căn cốt của
giáo dục nước nhà. Quan điểm văn hóa giáo dục phản ánh tầm nhìn của Hồ Chí Minh về
triết lý phát triển Việt Nam. Xây dựng văn hóa giáo dục là để xứng đáng với một nước
Việt Nam độc lập, dân chủ cộng hòa. Giá trị của giáo dục trong quan điểm của Hồ Chí
Minh thể hiện rõ ở việc trả lời ba câu hỏi lớn: Giáo dục để làm gì? Giáo dục cái gì? Giáo
dục như thế nào?
Hồ Chí Minh nhấn mạnh “học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng
sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Học để sửa chữa tư tưởng. Học
để tu dưỡng đạo đức cách mạng. Học để tin tưởng. Học để hành. Giáo dục để đào tạo con
người mới và cán bộ mới. Hồ Chí Minh không dùng khái niệm “thực học, thực nghiệp”
nhưng tư tưởng của Người về “giáo dục liên kết với đời sống của nhân dân, với công
cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc” là phản ánh nội dung đó. Đặc biệt, Người
nhấn mạnh mục đích của giáo dục là thật thà phụng sự nhân dân. Tóm lại, về mục đích
giáo dục, di sản Hồ Chí Minh nổi lên hai vấn đề lớn liên quan mật thiết với nhau. Một
là, học để làm người, phát triển năng lực sẵn có của người học, và hai là, học để làm việc,
thật thà phụng sự Tổ quốc, nhân dân và nhân loại.
1.3 Vai trò của giáo dục – đào tạo đối với sự phát triển xã hội
Trong đời sống xã hội, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối
với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại. Trong xu thế phát triển tri thức ngày nay, giáo
dục - đào tạo được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở
nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam không phải là ngoại lệ.
Bác Hồ đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” bởi không có tri thức,
hiểu biết về xã hội, tự nhiên và chính bản thân mình, con người sẽ luôn lệ thuộc, bất lực
trước những thế lực và sức mạnh cản trở sự phát triển của dân tộc, đất nước mình. Giáo
dục góp phần nâng cao dân trí ở mọi quốc gia, dân tộc. Ngày nay, giáo dục và đào tạo còn
góp phần tạo ra hệ thống giá trị xã hội mới. Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, tri thức là
sản phẩm của giáo dục và đào tạo, đồng thời là tài sản quý giá nhất của con người và xã
6


hội. Sở hữu tri thức trở thành sở hữu quan trọng nhất được các nước thừa nhận và bảo hộ.
Nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc từ tài nguyên, sức lao động
cơ bắp là chính chuyển sang nguồn lực con người có tri thức là cơ bản nhất.
Giáo dục và đào tạo góp phần bảo vệ chế độ chính trị của mỗi quốc gia, dân tộc
bởi giáo dục - đào tạo góp phần xây dựng đội ngũ lao động có trình độ cao làm giàu của
cải vật chất cho xã hội đồng thời có bản lĩnh chính trị vững vàng, đủ sức đề kháng chống
lại các cuộc “xâm lăng văn hóa” trong chính quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu.
Giáo dục - đào tạo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ góp phần phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia, giúp bồi dưỡng nhân tài, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ
chuyên môn, tay nghề cao. Kinh tế tri thức được hiểu là kinh tế trong đó có sự sản sinh,
truyền bá và sử dụng tri thức là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế, làm giàu của cải
vật chất, nâng cao chất lượng cuộc sống. Vì thế tất cả các quốc gia phát triển đều có chiến
lược phát triển giáo dục.

1.4 Tương quan giữa văn hóa và giáo dục
Cuộc sống con người càng phong phú đa đạng thì văn hóa càng được triển khai ra
nhiều chi tiết, nhiều lĩnh vực. Ngày nay chúng ta thấy ngày càng xuất hiện nhiều cụm từ
như văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, văn hóa ẩm thực, văn hóa xếp hàng, văn hóa giao
thông, văn hóa giáo dục….. những cái được coi là văn hóa đó không phải tự nhiên xuất
hiện mà phải trải qua quá trình con người tiếp thu, tích lũy, chọn lọc, bảo tồn và phát
triển, đây cũng được xem như là quá trình giáo dục. Thông qua các hoạt động giáo dục
con người tích lũy dần về tri thức, thông qua tri thức con người cải tạo môi trường tự
nhiên để phục vụ cho nhu cầu sống nhu cầu xã hội của con người từ đó cũng hình thành
nên những nét đặc trưng văn hóa của mỗi cộng đồng, mỗi nơi sinh sống.

PHẦN II. GIÁO DỤC DƯỚI GÓC NHÌN XÃ HỘI HỌC
2.1 Triết lý về giáo dục của nho giáo
Nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến thực chất là nền giáo dục Nho học. Mục
tiêu của nền giáo dục này là xây dựng mẫu người lý tưởng của Nho giáo cho xã hội người quân tử; đồng thời tập luyện cho người học để đạt tới văn hay, chữ tốt, tức là để có
năng lực diễn đạt, trình bày những tư tưởng Nho giáo bằng các bài thơ, phú, văn. Trong
7


thực tế, mục tiêu này trở thành mục tiêu chính. Xuất phát từ mục tiêu ấy, ở nước ta trong
gần 10 thế kỷ phong kiến, chương trình giáo dục chủ yếu là giáo dục đạo đức, không có
ngành nghề khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, không có chương trình dạy con người
về sản xuất nông nghiệp. Trong thời gian dài, Triều Lê tổ chức thi toán, thi tuyển lương y;
nhà Hồ có tổ chức thi toán; các triều đại sau không kế thừa, phát triển
Nội dung của nền giáo dục Nho học Việt Nam thời phong kiến là coi trọng giáo
dục đạo đức, khinh tài trí, vì đối với quan cai trị, cần thiết là đức, có đức thì an dân, có
đức thì thông cảm với trời đất, thì gió hòa, mưa thuận, còn kiến thức và kỹ năng về sản
xuất của cải vật chất chưa trở thành nội dung của giáo dục. Người nông dân học nông
nghiệp một cách tự phát, người buôn bán cũng vậy, các nghề thủ công như mộc, nề, xây
dựng, kể cả khai mỏ, luyện và đúc sắt, cơ khí... cũng được truyền lại bằng phương pháp
kèm cặp thông qua tổ chức phường hội và trực tiếp tham gia sản xuất, chứ không có
trường lớp, sách vở, chương trình gì. Vì thế, hệ thống sách giáo khoa của nền giáo dục
Nho học về cơ bản là sách kinh điển của Nho giáo được tập trung trong bộ Tứ thư và Ngũ
kinh, được viết bằng chữ Hán. Về cơ bản trong gần 10 thế kỷ tồn tại của nền giáo dục
Nho học Việt Nam chữ Hán là chữ độc tôn trong xã hội, chữ dạy và thi trong mỗi cấp học
và bậc học.
2.2 Đặc điểm của nền giáo dục nước ta hiện nay
Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc,
khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.
Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với
giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Nội dung giáo dục là toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; coi trọng giáo
dục tư tưởng và ý thức công dân; bảo tồn và phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa nhân
loại; phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi của người học. Phương pháp giáo dục
là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực
tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Chương trình giáo dục được cụ thể hóa
8


thành sách giáo khoa, giáo trình, phù hợp với mục tiêu giáo dục của từng bậc học, cấp
học và trình độ đào tạo, đảm bảo tính ổn định và tính thống nhất.
Hệ thống giáo dục quốc dân gồm: giáo dục mầm non; giáo dục phổ thông (bậc
tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5; bậc trung học có trung học cơ sở từ lớp 1 - 9; trung học phổ
thông từ lớp 10 - 12); giáo dục nghề nghiệp (có trung học chuyên nghiệp và học nghề);
giáo dục đại học (có 2 trình độ cao đẳng và đại học); giáo dục sau đại học (có trình độ
thạc sĩ và tiến sĩ). Phương thức giáo dục có chính quy và không chính quy. Văn bằng hệ
thống giáo dục quốc dân gồm bằng tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung
học, trung cấp chuyên nghiệp, học nghề, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Chứng chỉ của
hệ thống giáo dục quốc dân cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được
đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp.
2.3 Quan niệm đổi mới căn bản toàn diện giáo dục dưới góc nhìn xã hội học
Trước đây cũng như hiện nay, giáo dục phải đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền độc lập
dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước, đáp ứng nhu cầu học tập cho tất cả mọi người
theo tinh thần “ai cũng được học hành”. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đào tạo
những con người vừa “hồng” vừa “chuyên”, giáo dục hôm nay tập trung vào mục tiêu
tổng quát là chất lượng và hiệu quả, lấy sự phát triển toàn diện con người cả phẩm chất
và năng lực làm thước đo của nền giáo dục. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, tiếp tục
quan điểm “thực dạy, thực học” tức là đi vào thực chất hiệu quả thật sự phục vụ Tổ quốc
và nhân dân. Cũng như trước đây, với tinh thần thi đua “dạy thật tốt, học thật tốt”, hiện
nay đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục tập trung vào ba đối tượng chính: người thầy,
người học và người quản lý. Muốn dạy tốt, học tốt, quản lý tốt thì phải dạy thật, học thật,
quản lý thật. Đó là điều căn cốt nhất. Ngược lại, nếu chạy theo thành tích, hình thức, phô
trương, nói mà không làm, nói một đường làm một nẻo thì số phận giáo dục coi như đã
an bài.
2.4 Ảnh hưởng của Nho giáo đến giáo dục Việt Nam
Ảnh hưởng tích cực
Tư tưởng của Nho giáo về giáo dục có những mặt tích cực đối với sự nghiệp giáo
dục của Việt Nam hiện nay.
9


Khổng Tử cho rằng con người thông thường phải chịu đựng khó khăn vất vả mới
biết. Đây là một quan điểm tiến bộ làm cho các môn đệ của ông trải qua hơn hai ngàn
năm lịch sử, vẫn tiếp tục tinh thần ham học, tinh thần học không biết chán, góp phần
quan trọng cổ vũ phong trào học tập.
Ngày nay, đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người
đứng trước một đòi hỏi lớn về phát triển trí tuệ, phát triển năng lực sáng tạo. Vì thế, việc
học ngày nay ở nước ta đối với mỗi người, mỗi gia đình và xã hội là yêu cầu cấp thiết.
Tinh thần ham học, học không biết chán của Nho giáo có ý nghĩa rất lớn đối với việc xây
dựng xã hội học tập hiện nay. Thứ hai, đó là tư tưởng về các mối quan hệ giữa Học với
Tập, giữa Học với Hành, giữa Dạy và Học. Đây cũng là tư tưởng có giá trị về phương
pháp giáo dục để thực hiện nguyên lý “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động
sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn” trong quá trình dạy và học hiện nay. Khổng Tử
nói, muốn học để biết, cần có bốn không: “không ý, không tất, không cố, không ngã”.
Nghĩa là, nếu chưa học hoặc chưa thật sự học đến nơi đến chốn mà đã có sẵn ý này, ý
khác về đối tượng và nội dung học thì rất dễ khuôn theo ý nghĩa sai đã có trước khi học.
Khi tìm hiểu đối tượng mà dựa vào những phán đoán chưa chắc chắn rồi khẳng định tất
phải thế này thế kia thì việc tìm hiểu sẽ thiếu khách quan, khó đạt tới chất lý.
Ảnh hưởng tiêu cực
Phương hướng học tập của Nho giáo là hướng về đời xưa, người xưa và việc xưa.
Gặp vấn đề thì phải tìm hiểu xem các “tiên vương”, “tiên thánh”, “tiên hiền” đã đặt ra và
giải quyết thế nào. Khác với “thiên cổ”, “cổ nhân” là sai, là chuyện quái gở, là điều tội
lỗi... Các nước bị người Hán thống trị chủ yếu hướng về “tiên vương”, “tiên thánh” và
“tiên hiền” của bản thân người Hán. Ở nước ta, cho đến giữa thế kỷ XIX, một số nhà Nho
sang Pháp, về nói chuyện “xe không có người đẩy mà chạy”, “đèn không cần ai đốt mà
cháy sáng”... đều bị coi là chuyện hoang đường.
Tinh thần hiếu cổ, quay về thời xưa, đã để lại các vết hằn sâu đậm trong nếp học
của xã hội cũ. Đến nay, vết hằn ấy còn gây nhiều trở ngại cho sự phát triển trí tuệ trên con
đường phát triển. Ngày xưa, các nhà Nho lặp đi lặp lại bốn chữ “ôn cố tri tân” một cách
khoan khoái. Đối với những cái mới, cứ ôn cũ cho kỹ, cho sâu là có thể biết được. Từ
Khổng Tử, Mạnh Tử cho tới các nhà Nho thời sau, người ta cứ “ôn cố đi”, “ôn cố lại”.
Cách học của họ là lặp đi, lặp lại, thuộc lòng như con vẹt, nhớ vanh vách, thuộc lầu lầu,

10


dù không hiểu rõ cũng chẳng sao. Nội dung của bài học, phải qua tụng niệm hàng tháng,
hàng năm, hàng chục năm. Người nào mà không hiểu được là do tư chất học kém.
Ngày nay, lối học vẹt ấy vẫn còn được khuyến khích và áp dụng đối với tuổi trẻ,
đối với quần chúng. Nếu quay về cái càng cổ xưa thì càng tốt, công việc “tập kỳ đại
thành” càng nhiều càng hay. Nếu gộp nhiều, gom nhiều thành quả của cổ nhân thì điều gì
trong hiện tại và tương lai cũng có thể biết đúng đắn, cũng có thể làm thành công. Nhiều
người vẫn tin vào công phu “ôn cố tri tân” cho rằng gộp được cái hay, cái thành, của các
đạo lý, các học thuyết, chắc chắn sẽ đạt được những cái hay cái thành cái hoàn mỹ trên
đời này. Trong thực tế, Nho giáo luôn luôn luẩn quẩn, không thoát ra khỏi những cái
khung “nhất thành bất biến” của xã hội cũ. Học bằng cách “ôn cố” là vừa nhồi nhét cho
kỹ, cho chắc, cho vừa, cho nhiều, cho đủ mọi cái có lợi cho mình do người khác nghĩ ra,
nói ra. Học xong thì dạy người chưa biết. Cách dạy là thuật đúng y nguyên như đã “ôn”.
Cứ thế, thế hệ thầy thuật đúng y nguyên cho thế hệ trò, thế hệ trò học xong trở thành thầy
lại thuật đúng y nguyên cho thế hệ trò kế tiếp theo. Bằng cách “thuật lại” như vậy, sự
phát triển và sáng tạo rất nghèo nàn. Triều đại nối tiếp triều đại, thế hệ nối tiếp thế hệ,
nhưng chỉ có “thêm” hoặc “bớt” chút ít tư tưởng của “thánh hiền”. Ngày nay, tư tưởng
Nho giáo về giáo dục còn để lại hậu quả nhất định trong giáo dục do cách học “ôn cố”
của các nhà Nho đời trước. Chúng ta phải nhìn rõ và xóa bỏ triệt để những cách học tiêu
cực đó.
2.5 Tác động của toàn cầu hóa đến nền giáo dục của Việt Nam
Trong thời đại toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực
của đời sống. Có thể nói, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự bùng nổ tri
thức. Hệ quả là làm cho sản xuất và mọi lĩnh vực đời sống văn hóa, giáo dục sẽ phải đổi
mới nhanh chóng về nhận thức cũng như lối sống của cộng đồng. Để tránh khỏi lạc hậu,
thích ứng kịp thời với sự thay đổi từng ngày, từng giờ của sản xuất cũng như đời sống, cá
nhân và cộng đồng, không thể không trang bị những kiến thức, kỹ năng mới, điều chỉnh
ứng xử phù hợp với những cái mới đang liên tục xuất hiện.
Quá trình toàn cầu hóa yêu cầu nền giáo dục tri thức cao với những đòi hỏi: sự
sáng tạo (sản xuất) ra tri thức diễn ra với tốc độ nhanh, quy mô lớn; việc sử dụng kiến
thức khoa học, công nghệ vào sản xuất trở thành nhu cầu thường nhật của xã hội; việc xử
11


lý chuyển giao kiến thức và thông tin diễn ra nhanh chóng, rộng khắp, nhờ vào sự phát
triển vượt bậc của hệ thống công cụ hiện đại, trong đó công nghệ thông tin có vai trò
quyết định. Điều này đòi hỏi ngành giáo dục cần đổi mới về tư duy, hướng cộng đồng về
một xã hội học tập với nền kinh tế tri thức. Đồng thời, cần làm cho những quan niệm về
văn hóa của nhân loại thay đổi, chủ động hội nhập và đối thoại giữa các nền văn hóa, để
có thể sống bao dung với các giá trị văn hóa của cộng đồng khác. Những thành quả của
khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, y học, thể thao… nói chung là những thành
tựu văn hóa của nhân loại, đòi hỏi con người phải học tập suốt đời mới thích nghi với nền
văn hóa hiện đại của thế giới.
Thế nhưng, ở Việt Nam, ở những nước đang phát triển (hay có thể nói là đang
trong quá trình công nghiệp hóa) vẫn có không ít cơ hội do kinh tế tri thức mở ra. Đó là,
một khi đã được cung cấp ra thị trường, tri thức có thể được xem như một loại hàng hóa
công. Khác với loại hàng hóa tư nhân, hàng hóa tri thức mang hai đặc tính then chốt của
hàng hóa công là: tính không loại trừ và tính không tranh giành. Điều đó có nghĩa là việc
tiêu dùng chúng mang tính xã hội, sự tiêu dùng của người này không loại trừ, không
tranh giành với sự tiêu dùng của người khác. Giáo dục được tiêu thụ bởi các cá nhân,
nhưng việc đem lại lợi ích kinh tế thì không chỉ một cá nhân mà toàn xã hội được hưởng.
Thậm chí, càng được nhiều người tiêu dùng thì tri thức càng trở nên giàu có hơn, sức
sáng tạo ra tri thức mới càng mạnh mẽ và rộng khắp hơn. Trên thực tế, với sự hỗ trợ của
công nghệ thông tin hiện đại, những ý tưởng và kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ
bị sao chép rất nhanh, khiến cho tốc độ phổ biến công nghệ gia tăng hết sức mạnh mẽ,
cho dù về mặt bản quyền, việc sáng tạo (sản xuất) ra sản phẩm hàng hóa tri thức là loại
hình sản xuất đặc thù, không phải là sản phẩm của lao động phổ thông, mà là sản phẩm
của cộng đồng những người có khả năng sáng tạo và thường là những người được đào
tạo, có trình độ học vấn cao (5).
Để vượt qua được những thách thức, tận dụng cơ hội này, mỗi con người, mỗi
cộng đồng, quốc gia, dân tộc đều phải tăng cường giáo dục, học tập để nâng cao dân trí,
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự phát triển đất nước, giao lưu hội nhập
khu vực và quốc tế.

12


2.6 Giáo dục và gìn giữ bản sắc trong hội nhập quốc tế
Mở cửa và hội nhập quốc tế là nguyên tắc sống còn để phát triển và tạo nên sự
bình đẳng giữa các quốc gia. Khi nền kinh tế thị trường phát triển thì những thách thức
cho nền văn hóa ở những nước phát triển cũng vô cùng lớn lao. Trong khi cố gắng thúc
đẩy nền kinh tế tăng trưởng, đốt cháy một số giai đoạn phát triển nhờ công nghiệp và
công nghệ mới, họ phải chịu áp lực từ những nước lớn về kinh tế. Và cùng với những áp
lực đó là thay đổi những giá trị trong đời sống văn hóa tinh thần. Sự khủng hoảng có
nguồn gốc từ sự du nhập ồ ạt và khó kiểm soát được của những luồng văn hóa đến từ các
quốc gia trong dòng hội nhập.
Biên giới văn hóa cả nhân loại được xóa bởi những tiến bộ vượt bậc của công
nghệ thông tin. Các dân tộc hiểu nhau hơn, xích lại gần nhau hơn và đặt biệt văn hóa trở
thành tài sản quý báu chung của cả nhân loại. Trong một mức độ nhất định, các nước nhỏ,
kém phát triển có thể nhờ đó mà hiện đại hóa nền văn hóa của dân tộc mình, đi kịp văn
hóa thời đại. Chúng ta vẫn coi đó là những yếu tố tích cực cho một nền văn hóa. Các nền
văn hóa tồn tại và phát triển được nhờ sự tiếp nhận giao lưu, tiếp nhận những yếu tố mới.
Nhưng cũng không ai dám đảm bảo rằng khi tiếp nhận những cái mới, những cái hiện đại
mà tất cả đều tốt, đều là cần thiết. Rõ ràng những cái không tốt trong văn hóa đã nhanh
chóng du nhập, nó như một loại xâm lăng mới làm băng hoại đạo đức, làm phá vỡ những
văn hóa truyền thống. Chúng ta cần hòa nhập quốc tế để phát triển văn minh hiện đại,
nhưng không thể để sự du nhập ấy xóa bỏ nền văn hóa truyền thống, nhất là trong cơ chế
thị trường, coi vật chất hơn tinh thần đang xảy ra hiện nay.
Chính văn hóa mới là lĩnh vực quan trọng hàng đầu mà nhân loại phải luôn quan
tâm bảo vệ. Trong điều kiện toàn cầu hóa, những rủi ro về kinh tế, những vấn nạn mang
tính toàn cầu như lạc hậu, nghèo đói, thất nghiệp… nhân loại đều có thể khắc phục được,
nhưng những rủi ro trong lĩnh vực văn hóa nếu xảy ra thì mãi mãi sẽ trở thành khiếm
khuyết của nhân loại. Chính vì thế, chúng ta cần đặt lại một vấn đề: làm thế nào để giữ
gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở mỗi quốc gia đang phát triển trước những thách
thức của toàn cầu hóa? Ở một quốc gia đang phát triển, điều này được coi như là một yếu
tố quyết định sự sàng lọc được mất. Bởi vì nếu giữ được bản sắc của nền văn hóa dân tộc,
chính là giữ được bản lĩnh dân tộc để chủ động chấp nhận và hòa nhập quốc tế. Lại cần
13


phải định hướng cho một nền văn hóa để có phương pháp hữu hiệu giữ gìn, phát triển
những giá trị văn hóa của bản thân mỗi dân tộc
Vì vậy chúng ta phải xác định trong “Xây dựng, văn hóa phải lấy xây dựng phát
triển con người có nhân cách, đạo đức, có lối sống tốt đẹp làm trọng tâm”. Và “Con
người Việt Nam là sự kết tinh của nền văn hóa Việt Nam”. Mục tiêu chung về phát triển
văn hóa được xác định: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn
diện, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và
khoa học, văn hóa thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh
nội sinh quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc tổ quốc vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”… “Văn hóa phải được đặt
ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. “… Chủ động đón nhận cơ hội phát triển, vượt
qua các thách thức để giữ gìn hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc, hạn chế, khắc phục
những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa về văn hóa”

14


KẾT LUẬN
Qua những phân tích trên, chúng ta thấy rằng, tất cả những cái được coi là văn hóa
dù có cụ thể hay trù tượng, dù là hữu hình hay vô hình, điều không phải từ hư không rơi
xuống mà do nỗ lực của con người trong việc tiếp thu, tích lũy, phát triển dần để đáp ứng
được nhu cầu cuộc sống đó cũng chính là giáo dục. Dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, dù
quan niệm theo phương đông hay phương tây, dù truyền thống hay hiện đại điều có nghĩa
là xây dựng văn hóa, đưa văn hóa, đưa nhận thức của con người lên tầm cao mới. Và khi
văn hóa đạt đến một trình độ nhất định sẽ tác động trở lại tạo động lực cho giáo dục phát
triển. Cho nên người làm công tác giáo dục cũng đồng thời là người làm công tác văn hóa
và ngược lại người làm công tác văn hoá đồng thời cũng là người làm giáo dục.

15


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bùi Quang Thắng, Hành trình vào văn hóa học, Nxb Thế Giới, Hà Nội, 2016.
[2] Quế Thị Mai Hương (biên soạn), Văn hóa giáo dục, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội 2016.
[3] Ngô Văn Hà, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và vấn đề về giáo dục đại
học ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, 2017
[4] Bùi Quang Thắng (2018), Tài liệu hướng dẫn học phần Xã hội học văn hóa,
https://sites.google.com/site/buiquangthangvicas/sach-nghien-cuu/bai-1-xa-hoi-hoc-vanhoa, Truy cập ngày 5/5/2018
[5] Bách khoa toàn thư mở (wikipedia), Giáo dục, https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi
%C3%A1o_d%E1%BB%A5c, Truy cập ngày 5/5/2018
[6] Nguyễn Mạnh Dũng, Về khoa học và giáo dục(dưới góc nhìn lịch sử khoa học
và giáo dục), Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Nghiên cứu Giáo dục, Tập 31, Số 1 (2015)
16-72
[7] Nguyễn Hiền Lương, Tư tưởng nho giáo về giáo dục ở Việt Nam, Tạp chí Khoa
học xã hội Việt Nam, số 7(92) - 2015

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×