Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện công tác tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển chi nhánh ninh bình

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đại diện cho khoảng 90% các doanh nghiệp trong hầu
hết các nước trên thế giới và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh
tế mỗi quốc gia thông qua tạo việc làm, đầu tư và xuất khẩu. Trong cộng đồng doanh
nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và
chủ yếu trong nền kinh tế (chiếm 97,5% số doanh nghiệp cả nước). Theo đó, loại hình
doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho
người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói
giảm nghèo. Hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao
động xã hội, là khu vực góp phần quan trọng đảm bảo an sinh xã hội và tạo việc làm;
đóng góp hơn 40% GDP; 30% thu nộp ngân sách và 30% kim ngạch xuất khẩu. Vì
thế, sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa là một tất yếu khách quan.
Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng sử dụng vốn tín dụng để đáp ứng nhu
cầu thiếu hụt vốn và để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn của mình. Vốn tín dụng ngân
hàng đầu tư cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng, nó chẳng
những thúc đẩy sự phát triển khu vực kinh tế này (đảm bảo cho hoạt động của doanh
nghiệp được liên tục, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần tập trung vốn sản
xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh và hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa) mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, đổi mới

chính sách tiền tệ, hoàn thiện các cơ chế chính sách về tín dụng, thanh toán ngoại
hối... Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam gặp không ít khó khăn để
phát triển hoạt động kinh doanh, đặc biệt là trong việc tiếp cận vốn vay. Nguyên nhân
xuất phát từ chính quy mô, uy tín, trình độ quản lý, vốn, tài sản thế chấp và năng lực
sản xuất kinh doanh của loại hình doanh nghiệp này. Chính vì thế, cửa vay vốn cho
các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có phần hạn chế hơn. Đứng từ giác độ Ngân hàng,
đến hết tháng 5 năm 2017, tăng trưởng tín dụng mới đạt 5,2% so với đầu năm (trong
khi chỉ tiêu cả năm là 12-14%). Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ tiếp
cận vay và vốn vay được còn thấp (32,38%). Khẩn trương tháo gỡ khó khăn tín dụng
cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được xem là điểm gõ nút thắt tín dụng lớn hiện nay và

1


là một định hướng lớn của các Ngân hàng thương mại trong cả nước, trong đó có cả
Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam
Là một trong những chi nhánh lớn của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển
Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Ninh Bình
(BIDV Ninh Bình) thực hiện đầy đủ chức năng của một ngân hàng thương mại theo
các chính sách đầu tư phát triển của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam,
kinh doanh tiền tệ gắn với định hướng phát triển kinh tế đất nước từng thời kỳ. Nằm
trên địa bàn thành phố Ninh Bình, là nơi tập trung một lượng lớn các doanh nghiệp
nhỏ và vừa, hứa hẹn một khu vực khách hàng đầy tiềm năng. Do vậy, chi nhánh Ninh
Bình luôn xác định đây là một phân khúc khách hàng còn rất nhiều tiềm năng, đem
lại lợi ích ngắn hạn cũng như dài hạn cho ngân hàng, việc phát triển thị phần của phân
khúc này được coi là lực đẩy phát triển của Khối khách hàng doanh nghiệp nói riêng
và của toàn hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam nói chung
trong năm 2017. Tuy nhiên, việc mở rộng tín dụng đối với loại khách hàng này chưa
thực sự đạt hiệu quả cao kể về mặt chất lượng và số lượng.
Vì vậy, việc nghiên cứu để tìm ra giải pháp mở rộng và nâng cao chất lượng đối
với các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại chi nhánh Ninh Bình thực sự là vấn đề cần thiết
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại cũng như vấn đề để
Doanh nghiệp và việc tiếp cận vốn vay của các doanh nghiệp luôn được quan tâm và
đã có nhiều bài viết, công trình khoa học được công bố. Đây là nguồn tư liệu quý giá
cho việc nghiên cứu luận văn. Có thể kể đến một số nghiên cứu dưới đây:
Giáo trình Tín dụng ngân hàng do TS Bùi Diệu Anh chủ biên (Nhà xuất bản
Phương Đông 2010), tác giả đã đưa ra những khái niệm cơ bản về hoạt động tín dụng
của Ngân hàng thương mại, làm rõ bản chất của tín dụng, đặc điểm tín dụng, các loại


hình tín dụng, quy trình và nguyên tắc cho vay. Tác giả Vương Liêm với nghiên cứu
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (NXB Giao Thông 2000) đã làm rõ khái niệm về Doanh
nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Nghiên cứu đã đưa ra những giải pháp, đề xuất để phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Vấn đề tăng
khả năng tiếp cận vốn tín dụng để phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng được tác

2


giả đề cập đến, nhưng còn ở mức hạn chế, hơn nữa nghiên cứu được thực hiện năm
2000 nên thông tin không thể áp dụng trong giai đoạn hiện nay.
Luận án “Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các Ngân hàng TMCP
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Võ Đức Toàn (2012). Luận án đã
nêu được những khái niệm cơ bản, chỉ ra những thực trạng, điểm hạn chế, nguyên
nhân và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa của các ngân hàng TMCP nói chung, không hướng đến một ngân
hàng cụ thể nào. Trong khi việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng lại phụ
thuộc khá lớn vào quy mô, chiến lược và định hướng của từng ngân hàng.
Luận văn “ Đẩy mạnh cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại chi nhánh
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Ba Đình” của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh khá gần
với vấn đề mà luận văn đang nghiên cứu. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ quan tâm đến số
lượng mà chưa đề cập đến chất lượng tín dụng. Trong khi, hiện nay nợ xấu của khu
vực doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng dư nợ của nền kinh tế đang ở mức cao (trên
2%).
Luận văn “Tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa”, TS. Trương
Quang Thông (2010), Nghiên cứu thực nghiệm tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
Đề tài này đã nghiên cứu và hệ thống hóa lý thuyết về DNNVV, phân tích tổng quan
về DNNVV tại Việt Nam qua các số liệu thống kê và chính sách của nhà nước đối
với DNNVV, đề tài cũng đã tiến hành khảo sát về tài trợ tín dụng cho các DNNVV,
trên cơ sở đó tác giả đã gợi ý các chính sách đối với DNNVV, đối với ngân hàng và
các cơ quan chính phủ. Vấn đề ở đây là luận văn mới chỉ đề cập đến các ngân hàng
thương mại chung chung, nên đối với từng ngân hàng cụ thể không đưa ra những giải
pháp phù hợp;
Do đó rất cần phải có công trình nghiên cứu sâu về tín dụng và nâng cao chất
lượng tín dụng đối với đối tượng khách hàng này. Việc chọn đề tài “Hoàn thiện công
tác tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát
triển Ninh Bình” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Dựa trên cơ sở khoa học về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tín dụng ngân
hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, luận văn đánh giá được thực trạng

3


chất lượng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại BIDV Ninh Bình
và trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp có ý nghĩa thực tiễn cao nhằm mở rộng và
nâng cao chất lượng tín dụng tại đây.
- Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tín dụng
ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
+ Phân tích và đánh giá thực trạng, chất lượng hoạt động tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại chi nhánh, từ đó rút ra những mặt đã làm được, những hạn chế
và nguyên nhân của nó.
+ Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy
những ưu điểm, góp phần mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển chi nhánh Ninh Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan
đến hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển chi nhánh Ninh Bình,
+ Về thời gian: Đánh giá thực trạng tín dụng và chất lượng tín dụng từ năm 2014
đến năm 2016; Đề xuất định hướng và giải pháp đến 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử.
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Nghiên cứu định tính: Tổng hợp, phân tích, so sánh số liệu liên hoàn
+ Nghiên cứu định lượng: Bảng biểu, hình vẽ, thống kê kinh tế
6. Những đóng góp mới của luận văn
Thứ nhất: Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận có chọn lọc về doanh
nghiệp nhỏ và vừa, dành phần lớn cho nội dung lý luận tổng quan về tín dụng ngân
hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có kết hợp giữa lý luận và thực tiễn
để đánh giá vai trò tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa, từ đó giúp thấy được sự cần thiết phải mở rộng và nâng cao chất lượng tín

4


dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ hai, trên cơ sở nguồn số liệu được cập nhật mới nhất, luận văn đã đi sâu
phân tích đánh giá thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa và hoạt
động tín dụng của BIDV Ninh Bình đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình từ năm 2014 đến nay, phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt
động tín dụng của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển chi nhánh Ninh Bình đối
với doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ đó rút ra những kết luận, những vấn đề hạn chế và
những nguyên nhân khách quan và chủ quan trong quan hệ tín dụng giữa chi nhánh
Ninh Bình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh.
Thứ ba, xuất phát từ những hạn chế, phân tích được những nguyên nhân khách
quan và chủ quan trong quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển
chi nhánh Ninh Bình với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn, cùng với tình
hình kinh tế xã hội của tỉnh từ năm 2014 đến nay, luận văn đã đề xuất các giải pháp
có thể vận dụng được trong thực tiễn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa để tăng khả
năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng, từ đó có thể thực hiện cho vay tín chấp
đối với các doanh nghiệp tư nhân, các công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Luận văn cũng có những khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước và các
tổ chức khác có thể vận dụng nhằm góp phần thiết thực hỗ trợ mở rộng và nâng cao
chất lượng tín dụng của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển chi nhánh Ninh Bình
đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trên cơ cở kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đây, đề tài một
lần nữa khái quát lại những khái niệm cơ bản về tín dụng và tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu thực trạng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại BIDV Ninh Bình trong thời gian 2014-2016, đi sâu vào đánh giá chất lượng tín
dụng đối với phân khúc khách hàng này với hệ thống số liệu đáng tin cậy, cập nhật
và phù hợp với bối cảnh hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của
Ngân hàng thương mại

5


Chương 2: Thực trạng về hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và
vừa tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển chi nhánh Ninh Bình
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác tín dụng nhằm mở rộng và nâng cao
chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần Đầu tư và phát triển chi nhánh Ninh Bình.

6


Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ
VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Khái niệm
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện nay ở các nước trên thế
giới chỉ mang tính chất tương đối và thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế
xã hội của từng nước. Tiêu thức phân loại thường được sử dụng là: vốn, số lao động
thường xuyên, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng, nhưng hai tiêu thức thường sử
dụng nhất là : vốn và lao động. Ở một số nước trên thế giới chỉ dùng một tiêu thức để
xác định DNNVV, nhưng một số nước khác lại dùng nhiều tiêu thức, ngoài ra cũng
có một số nước dùng tiêu thức chung cho tất cả các ngành nghề, nhưng một số khác
lại dùng những tiêu thức riêng cho từng ngành nghề để xác định DNNVV.
Tại Mỹ, một DN được xem là DNNVV khi DN này có số lao động dưới 500
người và tiêu thức này được áp dụng cho tất cả các ngành.
Tại Nhật, DNNVV là DN có vốn dưới 100 triệu Yên, và tùy theo từng ngành
nghề kinh doanh của từng DN mà có mức xác định khác nhau.
Và tại Việt Nam, theo điều 3 của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009
về trợ giúp phát triển DNNVV, theo đó DNNVV được định nghĩa như sau: Doanh
nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp
luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng
nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của
doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên),
cụ thể như sau:
Khái niệm tổng hợp về DNNVV: Là những doanh nghiệp (DN) có quy mô nhỏ
bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành
ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp
nhỏ và doanh nghiệp vừa.

7


Bảng 1.1 Quy mô các loại hình doanh nghiệp
Quy mô
Doanh
nghiệp

Doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp vừa

siêu nhỏ
Tổng nguồn Số lao động

Số lao

Tổng

Số lao

động

nguồn vốn

động

vốn

I. Nông, lâm

10 người

20 tỷ đồng

Từ trên 10

Từ trên 20

Từ trên 200

nghiệp và thủy

trở xuống

trở xuống

người đến

tỷ đồng đến

người đến

200 người

100 tỷ đồng

300 người

Khu vực

sản
II. Công

10 người

20 tỷ đồng

Từ trên 10

Từ trên 20

Từ trên 200

nghiệp và xây

trở xuống

trở xuống

người đến

tỷ đồng đến

người đến

200 người

100 tỷ đồng

300 người

dựng
III. Thương

10 người

10 tỷ đồng

Từ trên 10

Từ trên 10

từ trên 50

mại và dịch vụ

trở xuống

trở xuống

người đến

tỷ đồng đến

người đến

50 người

50 tỷ đồng

100 người

(Nguồn : Điều 3 của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009)
1.1.2 Điểm mạnh, điểm yếu nổi bật của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.1.2.1 Điểm mạnh
- DNNVV nhạy cảm và thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường:
So với các doanh nghiệp lớn, DNNVV với bản chất là hoạt động sản xuất kinh doanh
nhỏ lẻ nên rất năng động, linh hoạt, dễ dàng thay đổi hoàn cảnh, thích ứng nhanh và
tự điều chỉnh tổ chức sản xuất, thay đổi ngành nghề…nhằm ứng phó kịp thời trước
những biến động của thị trường. Mặt khác, vì các DNNVV có vốn đầu tư công nghệ
ban đầu không cao nên dễ dàng thay đổi công nghệ, giúp DN thay đổi lĩnh vực sản
xuất khi lĩnh vực cũ không còn phù hợp nữa.
- Dễ dàng thành lập, thủ tục hành chính đơn giản, thuận tiện: Với vốn đầu
tư ban đầu nhỏ, cơ sở hạ tầng không phức tạp, chủ yếu là lao động phổ thông, thủ tục
hành chính không mấy khó khăn, cùng với sự quan tâm, hỗ trợ, khuyến khích phát
triển của các bộ ngành liên quan…nên DNNVV rất dễ dàng thành lập và tồn tại ở
nhiều địa phương trong nhiều ngành khác nhau tạo nên sự phân tán về mặt địa lý, góp

8


phần tạo lập sự phát triển cân bằng và dịch chuyển kinh tế giữa các vùng lãnh thổ.
- Khả năng thu hồi vốn nhanh: Vì vốn đầu tư ban đầu của các DNNVV không
nhiều và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh những mặt hàng thiết
yếu nên sản phẩm nhanh chóng được tiêu thụ, tốc độ quay vòng vốn cao, hiệu quả sử
dụng vốn tốt nên chỉ sau vài năm doanh nghiệp có thể thu hồi lại được vốn đầu tư ban
đầu.
- Thuận lợi trong công tác quản lý: Với quy mô đầu tư nhỏ, các phòng ban
không quá nhiều, nên làm cho khoảng cách giữa người điều hành và nhân viên không
quá lớn, người quản lý có thể nắm bắt tốt suy nghĩ, nguyện vọng của nhân viên, từ đó
dễ dàng áp dụng những phương thức điều hành phù hợp với sự phát triển của DN
cũng như tâm tư nguyện vọng của nhân viên, do vậy có thể phát huy tối đa khả năng
làm việc, sáng tạo của người lao động, nâng cao năng suất lao động. Đồng thời, với
bộ máy quản lý đơn giản nên việc đưa ra quyết định diễn ra nhanh chóng giúp cho
DN nắm bắt nhiều cơ hội đầu tư mới.
1.1.2.2 Điểm yếu
- Thiếu vốn: Quá trình phát triển DNNVV đang trong giai đoạn khởi đầu, do
đó tích lũy vốn còn hạn chế và gặp nhiều khó khăn. Sự thiếu vốn của các DNNVV
diễn ra trên bình diện rộng, bởi vì quy mô vốn tự có của các DN này đều rất nhỏ, hạn
hẹp, không đủ sức tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh có chất lượng và
hiệu quả, đặc biệt là đối với các DN muốn mở rộng quy mô và đổi mới nâng cao thiết
bị công nghệ sản phẩm. Mặt khác, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển
ổn định, khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng còn hạn chế. Đây là khó khăn lớn nhất
mà các DNNVV Việt Nam đang gặp phải cần tháo gỡ.
- Kinh nghiệm quản lý, lao động tay nghề cao còn hạn chế: Khu vực DNNVV
vốn được xem là khu vực thu hút nhiều lao động, góp phần quan trọng trong giải
quyết việc làm, nhất là nước đông dân sống chủ yếu bằng nghề nông, dư thừa lao
động và có thu nhập thấp như nước ta. Tuy nhiên về tri thức, trình độ tay nghề của
lực lượng lao động còn hạn chế. Đây cũng là trở ngại lớn đối với DNNVV khi muốn
phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Thiếu thông tin, chưa nhanh nhạy trong việc tiếp cận thông tin thị trường:
Phần lớn các DNNVV đều thiếu thông tin đặc biệt là thông tin kinh doanh, những

9


nguồn thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, thị trường lao động, thị
trường nguyên vật liệu…Bên cạnh đó những thông tin về môi trường kinh doanh như
hệ thống pháp luật, các văn bản liên quan đến DNNVV, thị trường tiêu thụ sản phẩm
chưa được cập nhật nên dẫn đến hậu quả là bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh.
Khả năng tiếp cận thông tin của các DNNVV ở nước ta hiện rất hạn chế và gặp
nhiều khó khăn do hệ thống thông tin của DN chưa đáp ứng được yêu cầu của sản
xuất kinh doanh, chưa nhanh nhạy kịp thời, chính xác và đầy đủ. Vì ở các DNNVV
không có bộ phận chuyên trách về thu thập và xử lý thông tin do nguồn tài chính hạn
hẹp, do đó trình độ thu nhập xử lý thông tin của các DN còn rất hạn chế.
- Lạc hậu về thiết bị, công nghệ: Việt Nam là một đất nước đi lên từ một nền
kinh tế yếu kém, một nền công nghiệp còn non trẻ. Trình độ công nghệ, trang thiết
bị, máy móc của DNNVV Việt Nam phần lớn sử dụng công nghệ lạc hậu, máy móc
cũ kỹ. Một công nghệ lạc hậu sẽ làm tăng chi phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức
tiêu chuẩn của thế giới, vì thế, với trang thiết bị, máy móc cũ kỹ làm cho năng suất
lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, chi phí đầu vào cao, điều này đã hạn
chế khả năng cạnh tranh của các DNNVV.
- Hạn chế về nhà xưởng, mặt bằng sản xuất kinh doanh và các kết cấu hạ
tầng khác: Điều kiện mặt bằng cho sản xuất kinh doanh của DNNVV nhìn chung
hiện nay đang rất hạn hẹp và gặp nhiều khó khăn trong việc tạo lập và mở rộng mặt
bằng do cơ chế chính sách chưa thích hợp và khả năng tài chính hạn chế của các DN.
Đa số các DN phải thuê mượn lại mặt bằng của các DN nhà nước hoặc phải dùng nhà
ở làm nơi sản xuất kinh doanh, giao dịch, giới thiệu bán hàng. Hệ thống xử lý nước
thải và rác thải của các DNNVV hầu như không có, gây tác hại rất lớn tới môi trường
sống.
Qua các phân tích trên cho thấy DNNVV là một thành phần kinh tế có vai trò
quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Các DNNVV được đánh
giá là hình thức tổ chức kinh doanh thích hợp, có những ưu thế về năng động, linh
hoạt, thích ứng nhanh với yêu cầu của thị trường và có những đóng góp đáng kể vào
tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống người dân. Mặc dù có
nhiều ưu thế và được Chính phủ quan tâm hỗ trợ phát triển nhưng trên thực tế các
DNNVV vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động của mình, đặc biệt là khó khăn về

10


vốn. Các DNNVV rất cần sự hỗ trợ tài chính từ nhiều nguồn trong đó nguồn vốn vay
từ Ngân hàng có vai trò quan trọng hơn hết.
1.1.3 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa với nền kinh tế
Trong cộng đồng DN Việt Nam thì DNNVV là loại hình DN chiếm đa số và
chủ yếu trong nền kinh tế. Theo đó, loại hình DN này đóng vai trò quan trọng nhất là
tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội
cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo…
Số tiền thuế và phí mà các DNNVV tư nhân đã nộp cho nhà nước đã tăng cao
qua các năm. Sự đóng góp đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội và
các chương trình phát triển khác. Do vậy đã tạo tạo ra nhiều cơ hội cho dân cư tham
gia đầu tư, có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm
trong dân cư để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, cụ thể:
- DNNVV có vai trò quan trọng trong việc tạo ra công ăn việc làm cho người
lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo ra sự ổn định cho nền kinh tế:
Giải quyết công ăn việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp là vấn đề mà mọi quốc gia
trên thế giới đều quan tâm. Ở nước ta hàng năm có hơn một triệu người đến tuổi lao
động, tuy nhiên các DN lớn lại không thể đáp ứng công ăn việc làm cho toàn bộ số
lao động trên thị trường. Do đó, sự tồn tại và phát triển của DNNVV có vai trò quan
trọng trong việc tạo ra nhiều việc làm phù hợp với nhiều loại hình lao động, góp phần
giải quyết vấn nạn thất nghiệp và xóa đói giảm nghèo cho nhà nước. Mặt khác, các
DNNVV chủ yếu phục vụ cho thị trường nội địa, hoạt động dựa trên các nguồn nhân
lực sẵn có trong nước, điều này có ý nghĩa quan trọng giúp nâng cao chất lượng cuộc
sống người dân, giảm thiểu gánh nặng cho nhà nước từ những tiêu cực xã hội.
- Đảm bảo tính năng động cho nền kinh tế: Ưu thế của DNNVV là được thành
lập với số vốn nhỏ, khả năng thu hồi vốn nhanh, quản lý đơn giản, linh hoạt và dễ
dàng thích nghi với điều kiện biến đổi của thị trường nên các DNNVV được thành
lập ngày càng nhiều. Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ, tham gia hầu hết các
ngành nghề và lĩnh vực các DNNVV đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các thành phần kinh
tế, phá bỏ thế độc quyền của các DN Nhà nước, làm cho các DN phải cải thiện cách
thức quản lý, cải tiến kỹ thuật công nghệ, …để đương đầu với sự cạnh tranh, từ đó
góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy nền kinh tế theo hướng công nghiệp

11


hóa, hiện đại hóa.
- DNNVV đóng góp một phần đáng kể vào nguồn thu của ngân sách nhà
nước: Hiện nay, nguồn thu từ các DN nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách
nhà nước, thế nhưng để có được một đồng thu ngân sách từ các DN nhà nước này thì
nhà nước cũng phải trợ cấp cho DN này một đồng (ở đây chưa kể đến hoạt động bảo
toàn vốn). Hơn nữa, việc trợ cấp này là không thể duy trì và hệ quả là nguồn thu từ
các DN nhà nước sẽ khó được bảo đảm. Vì vậy ngân sách nhà nước ngày càng phụ
thuộc vào các nguồn thu khác, trong đó đặc biệt quan trọng là nguồn thu từ thuế của
các DNNVV.
- DNNVV là bộ phận cần thiết cho quá trình liên kết sản xuất của các DN,
tập đoàn lớn: Trong bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, tất cả các nguồn lực kinh tế
không thể tập trung vào các DN lớn, các tập đoàn kinh tế bởi vì các DN này không
thể bao quát được toàn bộ thị trường, sự xuất hiện của các DNNVV đã hỗ trợ đắc lực
cho các DN lớn tiếp cận thị trường, cân đối khả năng cung cầu trong xã hội, là vệ tinh
cung cấp các nguyên liệu đầu vào hay tham gia sản xuất kinh doanh trong chu kỳ hoạt
động của DN lớn, qua đó tạo nên được sự liên kết chặt chẽ giữa các loại hình kinh tế,
nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN nói riêng và của nền kinh tế nói chung.
Như vậy, với vị trí và vai trò của DNNVV đối với quá trình tăng trưởng và phát
triển đất nước, khu vực kinh tế này đã và đang được sự quan tâm đặc biệt của Nhà
nước. Sự cần thiết phải phát triển DNNVV, cũng như đánh giá vị trí, vai trò của
DNNVV trong phát triển sản xuất kinh doanh, phát triển các lĩnh vực ngành nghề
phục vụ cho quốc kế dân sinh đã thể hiện rất rõ trong đường lối chính sách của Đảng
và Nhà nước ta đối với việc phát triển nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành
phần. Việc phát huy vai trò của DNNVV nói riêng hay của khu vực kinh tế tư nhân
nói riêng là rất quan trọng, nó cho phép khai thác tối đa các nguồn lực về vốn, về lao
động…để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu,
góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững.
1.2 Tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng thương
mại
1.2.1 Khái niệm về tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân
hàng thương mại

12


Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín
dụng có một nội dung riêng.
- Xét trên góc độ chuyển dịch quỹ cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang
chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ
người cho vay sang người đi vay.
- Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
có hoàn trả giữa hai chủ thể.
- Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền cho vay và các định chế tài chính cung
cấp cho khách hàng.
Nói tóm lại trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của Ngân hàng thì tín
dụng được hiểu như sau:
Tín dụng ngân hàng là một hình thức phản ánh mối quan hệ vay và trả nợ giữa
một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các nhà sản xuất kinh
doanh. Nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng được thực hiện theo
nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
1.2.2 Đặc điểm của tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng
thương mại
Xuất phát từ đặc điểm của các DNNVV như qui mô vốn và tài sản nhỏ bé; sổ
sách và báo cáo kế toán không rõ ràng, minh bạch; sử dụng công nghệ lạc hậu trong
sản xuất kinh doanh; trình độ tay nghề công nhân viên cũng như trình độ quản lý của
chủ doanh nghiệp còn ở mức thấp …. Do đó, tín dụng giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa
với các ngân hàng thương mại có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, về qui mô tín dụng: Rất thấp nếu tính bình quân trên một doanh nghiệp
nhỏ và vừa.
Thứ hai, về thời hạn tín dụng: Chủ yếu là vay ngắn hạn.
Thứ ba, về đảm bảo tín dụng: Hầu hết các DNNVV phải có tài sản đảm bảo khi
vay vốn các ngân hàng thương mại.
Thứ tư, về mục đích sử dụng của vốn vay: chủ yếu sử dụng bổ sung vốn lưu
động.
Thứ năm, về lãi suất: ít được ưu đãi lãi suất, lãi suất theo sự ấn định của các

13


ngân hàng thương mại do DNNVV chưa có sự tín nhiệm cao từ các ngân hàng thương
mại.
Thứ sáu, về khả năng hoàn trả nợ vay: DNNVV dễ gặp khó khăn trong việc trả
nợ vay khi có sự biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ như: lạm phát, khủng
hoảng kinh tế, tài chính ….
Với đặc điểm của các DNNVV và tín dụng ngân hàng đối với các DNNVV, nên
quan hệ tín dụng giữa DNNVV với các ngân hàng thương mại tiềm ẩn các rủi ro sau
đây:
- Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho ngân hàng không nắm bắt
được các dấu hiệu rủi ro của DNNVV một cách toàn diện và đầy đủ, do đó các
ngân hàng dễ bị mất vốn khi quyết định cho vay.
- Các DNNVV, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ thường kinh doanh dựa vào mối
quan hệ quen biết và manh mún nên ngân hàng khó phát hiện được các rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi đã giải ngân.
- Khả năng tài chính của các DNNVV bị hạn chế, cụ thể là vốn tự có thấp do đó
khi gặp khó khăn thì dễ bị mất tính thanh khoản, dẫn đến việc thu hồi nợ vay của
ngân hàng sẽ gặp khó khăn.
- Việc sử dụng vốn sai mục đích của các DNNVV cũng làm nảy sinh các rủi ro
mất vốn của ngân hàng. Các DNNVV thường sử dụng vốn vay cho mục đích cá nhân
và gia đình.
- Các DNNVV kinh doanh thường phụ thuộc vào một số khách hàng lớn, khi
những khánh hàng này gặp khó khăn thì DNNVV cũng sẽ khó khăn theo, từ đó gặp
rủi ro cho ngân hàng.
- Khả năng quản lý tài chính yếu kém của các DNNVV cũng làm nảy sinh các
rủi ro cho ngân hàng trong việc thu nợ vay đúng hạn.
1.2.3 Các hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của Ngân hàng
thương mại
- Phân loại theo hình thức cấp tín dụng:
+ Cho vay: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao hoặc
cam kết giao cho DNNVV một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong
một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.

14


Các hình thức thường thấy trong hoạt động cho vay của ngân hàng đối với
DNNVV bao gồm:
 Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay phục vụ những khách hàng
là DNNVV có nhu cầu không thường xuyên, phát sinh từng lần riêng lẻ. Mỗi khoản
vay được lưu trữ thành các hồ sơ độc lập với sự kiểm soát tách biệt từng hồ sơ.
 Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay theo đó ngân hàng kí một hợp
đồng hạn mức tín dụng với DNNVV trong đó quy định những điều kiện cho vay cơ
bản như số tiền hạn mức, doanh số cho vay, lãi suất, thời gian cho vay tối đa cho từng
lần giải ngân, thời gian duy trì hạn mức... DNNVV chỉ cần trình phương án sử dụng
tiền vay, cung cấp các chứng từ chứng minh phù hợp để đề nghị được ngân hàng giải
ngân.
 Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay theo đó ngân hàng cho phép người
vay chi vượt quá số dư tài khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định và trong một khoảng thời gian nhất định (hạn mức thấu chi).
 Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Các
tổ chức này có thể nhận vài khâu của hoạt động cho vay từ ngân hàng hoặc đứng ra
bảo lãnh cho các thành viên vay vốn. Hình thức cho vay này thường áp dụng với
những món vay nhỏ, người vay phân tán hoặc cách xa ngân hàng.
+ Chiết khấu: Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy
đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi
đến hạn thanh toán
+ Bảo lãnh ngân hàng: Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó
ngân hàng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài
chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ nghĩa vụ đã cam kết; Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng theo
thỏa thuận.
+ Bao thanh toán: Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho
bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi
các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung
ứng dịch vụ theo theo hợp đồng mua, bán bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

15


- Phân theo thời gian cấp tín dụng :
+ Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn tối đa là 01 (một) năm
+ Tín dụng trung hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn từ 01 (một) năm đến 05
(năm) năm.
+ Tín dụng dài hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn trên 05 (năm) năm.
- Phân loại theo tính chất bảo đảm của các khoản cho vay :
+ Tín dụng có bảo đảm: Là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều
có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu
và bảo lãnh.
+ Tín dụng không có bảo đảm: Là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát
ra không cần tài sản thế chấp.
1.2.4 Vai trò của tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong cơ chế cạnh tranh hiện nay, khi mà tất cả các loại hình doanh nghiệp đang
phát huy hiệu quả kinh doanh ở mức cao nhất thì các DNNVV lại càng phải nỗ lực
hơn để đáp ứng những yêu cầu mới, sản phẩm cần tốt hơn, đa dạng hơn, thiết bị cần
hiện đại hơn, máy móc, công nghệ cần tiên tiến hơn và tất yếu vốn phải cần nhiều
hơn. Như vậy, suy cho cùng thì vốn vẫn là điều kiện tiên quyết, quyết định sự thành
công hay thất bại của doanh nghiệp. Tuy nhiên, các DNNVV lại không đủ vốn để đáp
ứng những yêu cầu mới đó, nên tín dụng ngân hàng là kênh huy động vốn ngày càng
có vai trò quan trọng hơn, cần thiết hơn đối với các DNNVV, vai trò đó được thể hiện
trên một số mặt sau:
1.2.4.1 Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và
vừa phát triển, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, bất cứ ai cũng muốn đồng vốn của mình
sinh lời. Những người có vốn tạm thời nhàn rỗi sẵn sàng cho vay số tiền đó để kiếm
lãi, còn những nhà doanh nghiệp cũng vì mục đích sinh lợi của vốn mà cần vay thêm
tiền để mở rộng sản xuất. Với tư cách là trung gian dẫn vốn, ngân hàng đã giải quyết
mâu thuẫn đó. Với hoạt động đi vay để cho vay, ngân hàng đã tạo cơ hội cho các chủ
DNNVV muốn mở rộng sản xuất kinh doanh hay thực hiện một dự án kinh doanh có
thể vay vốn để thực hiện. Tín dụng ngân hàng tác động điều tiết sự di chuyển vốn đầu
tư làm bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV, tín

16


dụng ngân hàng luôn chuyển hướng đầu tư vào những doanh nghiệp có tỷ suất lợi
nhuận cao, hạn chế hoặc không đầu tư vào những DNNVV có tỷ suất lợi nhuận thấp.
Qua đó tín dụng ngân hàng làm thay đổi quan hệ về cung - cầu hàng hoá và thay đổi
cơ cấu ngành nghề kinh tế.
1.2.4.2 Tín dụng ngân hàng góp phần tăng nguồn vốn, nâng cao khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Một trong những quy luật khách quan của cơ chế thị trường là cạnh tranh và
quy luật này ngày càng quan trọng, quyết định rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của
các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Tuy nhiên do những đặc điểm,
tính chất của mình, DNNVV gặp không ít những khó khăn trong việc phát triển tạo
thị phần, tạo niềm tin, tạo hình ảnh trong khi vị thế của các doanh nghiệp lớn trong
và ngoài nước đã ổn định và có chỗ đứng trên thị trường, vì vậy xu hướng hiện nay
của các DNNVV là tìm cách liên doanh, liên kết nhằm bổ sung và hoàn thiện những
hạn chế của mình, đặc biệt là hạn chế về vốn.
Mặc dù vậy, để đầu tư phát triển lớn, liên doanh, liên kết thôi chưa đủ vì vốn tự
có thường hạn hẹp, khả năng tích tụ thấp cần mất nhiều năm mới có thể có được đủ
vốn nhưng khi đó cơ hội làm ăn có thể không còn nữa. Do đó các DNNVV thường
xuyên tìm cách huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế, trong đó chủ yếu là nguồn
tín dụng ngân hàng. Khi vốn được giải ngân, sức mạnh tài chính của DNNVV tăng
lên thì các DNNVV cũng có cơ hội thực hiện được mục đích của mình, mở rộng phát
triển sản xuất kinh doanh, chiếm lĩnh thị trường, tạo thế cạnh tranh.
1.2.4.3 Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp
cận cận nguồn vốn từ nước ngoài.
Bên cạnh việc kích thích các tổ chức kinh tế và cá nhân trong nước thực hiện
tiết kiệm, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng còn
thu hút nguồn vốn nước ngoài dưới nhiều hình thức như trực tiếp vay bằng tiền, bảo
lãnh cho các DNNVV mua thiết bị trả chậm, sử dụng hạn mức L/C…. Như vậy quan
hệ quốc tế của các DNNVV đã được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho các
DNNVV, đặc biệt là các DNNVV hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Thông qua nguồn vốn vay này, DNNVV xác lập một cơ cấu vốn tối ưu đảm bảo
kết hợp hiệu quả giữa nguồn đi vay với nguồn vốn tự có để sản xuất những sản phẩm

17


có giá thành thấp hơn, nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng hàng hoá và được thị
trường chấp nhận. Có như vậy thì DNNVV mới đạt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
trong hoạt động kinh doanh của mình.
1.2.4.4 Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực hình thành đồng bộ hệ thống thị
trường các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Các DNNVV có vốn lưu động thấp so với nhu cầu vốn cần thiết của doanh
nghiệp. Nguồn vốn để mua vật tư hàng hoá dự trữ cho sản xuất kinh doanh (kể cả
trong nước và ngoài nước) chủ yếu được bù đắp bằng vốn tín dụng ngân hàng. Mặt
khác tín dụng ngân hàng cũng tác động mạnh mẽ vào việc tiêu thụ sản phẩm cho các
doanh nghiệp thông qua việc mở rộng tín dụng tiêu dùng; cho vay hoặc bảo lãnh để
các tổ chức kinh tế, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực lưu thông mua bán hàng hoá.
Tuy nhiên, ngân hàng chỉ tập trung cho vay những đối tượng hàng hoá có chất lượng
cao, có sức cạnh tranh tốt, qua đó thúc đẩy việc xác lập cơ cấu kinh tế mới theo hướng
hiện đại.
1.2.4.5 Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tín dụng ngân hàng với cơ chế hoạt động cơ bản là “đi vay để cho vay”; “vay
có hoàn trả theo thời hạn quy định cả vốn gốc và có lãi”; nếu quá hạn phải chịu lãi
suất cao, đã thúc đẩy các DNNVV nâng cao hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vốn.
Để có tiền cho các DNNVV vay, ngân hàng phải tiến hành huy động vốn và có
quy định thời hạn trả vốn rõ ràng, như vậy ngân hàng cũng phải cân đối giữa nguồn
huy động và nguồn cho vay sao cho phù hợp, đảm bảo tính thanh khoản cho ngân
hàng. Vì vậy, khi ký kết hợp đồng tín dụng, ngân hàng đã cân nhắc nguồn có khả
năng giải ngân, và thời hạn cần thiết để thu hồi vốn. Cho nên đến thời hạn trả nợ, dù
DNNVV làm ăn có lãi hay không cũng phải thực hiện nhiệm vụ trả nợ của mình. Do
đó bắt buộc hoạt động kinh doanh của DNNVV phải sinh lời.
Thêm vào đó, khi cho vay ngân hàng thường xuyên kiểm tra tình hình kinh
doanh cũng như tình hình tài chính của DNNVV và họ chỉ cho vay những DNNVV
có kết quả kinh doanh tốt, tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, đảm bảo có khả
năng trả nợ cho ngân hàng. Yếu tố này thúc đẩy các DNNVV cần quan tâm hơn nữa
đến hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng vòng quay vốn tạo

18


điều kiện nâng cao khả năng tối đa hoá lợi nhuận của các DNNVV.
Mặt khác, thông qua cho vay, vốn tín dụng được cung cấp kịp thời tạo điều kiện
cho sản xuất kinh doanh và nâng cao trách nhiệm sử dụng vốn của các DNNVV. Việc
quản lý vốn thông qua quá trình hạch toán kinh tế góp phần củng cố chế độ hạch toán
kinh tế trong các DNNVV thêm vững chắc.
Khi quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và DNNVV được thiết lập thì cũng là lúc
họ cùng bước trên một con đường. Vốn đã đưa vào kinh doanh thì cả ngân hàng và
DNNVV đều muốn nó quay lại với một lượng giá trị lớn hơn khi bỏ ra nên họ cùng
nhau hợp tác để đồng vốn có lãi. Do đó, trước, trong và sau khi giải ngân, ngân hàng
luôn quan tâm đến hoạt động kinh doanh của DNNVV để có thể góp ý, tham gia trên
những lĩnh vực mà ngân hàng biết, cũng bởi ngân hàng có quan hệ với rất nhiều các
chủ thể kinh tế khác, vậy nên thông tin mà họ nắm bắt được cũng rất nhanh, chính
xác giúp DNNVV chủ động trước thời cơ cũng như thách thức, từ đó tìm ra các biện
pháp tốt nhất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
1.2.4.6 Góp phần nâng cao trình độ công nghệ khoa học, chất lượng và mẫu mã
sản phẩm
Với đặc điểm nguồn vốn thấp, các DNNVV khó đầu tư được công nghệ sản xuất
tiên tiến, hiện đại để cải thiện chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Vì vậy, nguồn vốn
huy động từ ngân hàng có thể coi là nguồn quan trọng để DNNVV thực hiện được
nhu cầu này.
1.2.4.7 Góp phần nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp và trình
độ tay nghề người lao động
Việc nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp và trình độ tay nghề
người lao động sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của doanh nghiệp và tăng năng
suất lao động. Mặc dù hiểu được điều này nhưng các DNNVV đặc biệt là các doanh
nghiệp nhỏ không muốn chi tiền để đào tạo, tất cả nguồn vốn doanh nghiệp đều tập
trung cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Do vậy, nếu doanh nghiệp có thể
tiếp cận được nguồn tín dụng từ ngân hàng sẽ làm tăng nguồn vốn hoạt động cho
doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong công tác đào tạo của mình.
Qua một vài khía cạnh nêu trên, ta thấy được vai trò to lớn của tín dụng ngân
hàng đối với các DNNVV, và sẽ là quan trọng hơn đối với các DNNV hoạt động ở

19


vùng nông thôn, những địa phương còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc mở rộng và
nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNNVV là thực sự cần thiết để hoàn thiện một
nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế đang phát triển như nước ta hiện nay.
1.3 Mở rộng và chất lượng tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm về mở rộng tín dụng và chất lượng tín dụng
- Mở rộng
Mở rộng tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ và
vừa là việc các ngân hàng thương mại cải thiện, đổi mới cách thức và tăng cường cấp
tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ
và vừa ngày càng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn cho vay của ngân hàng thương mại, từ
đó ngân hàng thương mại tăng được doanh số cho vay, tăng thu nhập và nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng thương mại.
- Chất lượng tín dụng
Nếu như quan điểm về tăng trưởng tín dụng được hầu hết các nhà quản lý ngân hàng
đều thống nhất ở một số nội dung chính được định nghĩa dưới đây: “Tăng trưởng tín dụng
thông thường được hiểu là sự gia tăng đơn thuần về mặt khối lượng tín dụng trong một thời
kỳ nhất định. Mức tăng trưởng tín dụng có thể đuợc thể hiện bằng nhịp độ gia tăng tổng dư
nợ tín dụng năm sau so với năm trước”, thì khái niệm chất lượng tín dụng lại là một phạm
trù rộng và gây ra nhiều tranh cãi. Nhưng tựu chung lại các quan điểm do đó đều bao gồm
một số nội dung sau: tín dụng ngân hàng cũng là một sản phẩm và chất lượng của một sản
phẩm (dịch vụ) thì lại được biểu hiện ở mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và
lợi ích về mặt tài chính cho người cung cấp. tuy nhiên, khi chất lượng tín dụng được gắn với
chủ thể cụ thể như ngân hàng thì nó được hiểu là sự dáp ứng những nhu cầu của khách hàng,
phù hợp với nhu cầu của quá trình phát triển kinh tế xã hội và trên cơ sở dó đảm bảo sự tồn
tại và phát triển không ngừng cho ngân hàng.
Như vậy, chất lượng tín dụng không đơn thuần tạo ra lợi ích cho nhà cung cấp, cho
người sử dụng sản phẩm, dịch vụ mà nó còn góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và
phát triển đất nước, giải quyết các vấn đề xã hội.
Ðối với khách hàng: Chất lượng tín dụng là sự thoả mãn những nhu cầu chi tiêu hợp
lý với lãi suất và kỳ hạn hợp lý; thủ tục đơn giản, thuận lợi nhanh chóng đảm bảo thu hút

20


được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ các quy tắc, quy trình về tín dụng.
 Đối với ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng biểu hiện ở mức độ an toàn vốn
cho vay, việc thu hồi nợ đúng hạn (gốc và lãi), khả năng tăng trưởng tín dụng và hiệu quả
vốn đầu tư.
Theo nghĩa hẹp thì chất lượng tín dụng ngân hàng thương mại được thể hiện
qua tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, nếu tỷ lệ này càng cao có nghĩa là chất lượng tín
dụng thay đổi theo chiều hướng không tốt và ngược lại.
 Đối với nền kinh tế - xã hội: Khoản tín dụng có chất lượng nghĩa là nó phải hỗ
trợ tốt cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết
công ăn, việc làm, khai thác và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực tiềm ẩn của đất nước,
thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá việc mở rộng và chất lượng tín dụng đối với doanh
nghiệp nhỏ và vừa
- Chỉ tiêu đánh giá việc mở rộng tín dụng
Việc mở rộng tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhỏ
và vừa phải đảm bảo được hai mặt sau:
- Mặt định tính: Đó là ngân hàng thương mại phải nâng cao được chất lượng và
hiệu quả của các khoản cho vay đối với DNNVV để làm đảm bảo được mặt này thì
ngân hàng cần phải giảm được nợ xấu, nợ xấu đồng thời tăng thu nhập, lợi nhuận từ
hoạt động cho vay.
- Mặt định lượng: Đó là sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp
vay vốn, tăng dư nợ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, tăng doanh số cho vay đối
với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Một số chỉ tiêu phản ảnh qui mô tín dụng đối với DNNVV:
- Tốc độ tăng dư nợ tín dụng đối với DNNVV:
Tốc độ tăng trưởng dư nợ
cho vay DNNVV

= 100 X

DN1 – DN0
DN0

Trong đó: DN1 : Dư nợ cho vay DNNVV năm hiện tại
DN0: Dư nợ cho vay DNNVV năm liền kề trước đó
Tốc độ tăng trưởng dư nợ phản ánh sự tăng trưởng về mặt quy mô dư nợ. Tốc
độ tăng trưởng dư nợ càng cao, thể hiện quy mô dư nợ của Ngân hàng càng được mở

21


rộng. Đây cũng là một trong những tiêu chí phản ánh hiệu quả của các chính sách mà
Ngân hàng đã thực hiện để mở rộng cho vay DNNVV, từ đó có hướng điều chỉnh cơ
cầu dư nợ cho phù hợp với xu thế chung và theo định hướng của Ngân hàng
- Tỷ trọng dư nợ cho vay đối với DNNVV/ Tổng dư nợ:
Tỷ trọng dư nợ tín dụng đối với DNNVV/Tổng dư nợ
=

𝐷ư 𝑛ợ 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔 đố𝑖 𝑣ớ𝑖 𝐷𝑁𝑁𝑉𝑉
× 100
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔

Chỉ tiêu này cho biết dư nợ tín dụng đối với DNNVV chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng dư nợ tín dụng. So sánh chỉ tiêu này của các thời kỳ khác nhau sẽ cho
ta thấy sự thay đổi kết cấu tín dụng đối với DNNVV. Nếu chỉ tiêu này tăng, ngân
hàng mở rộng về mặt tín dụng đối với DNNVV. Nếu tỉ trọng này giảm, ngân hàng
thu hẹp cơ cấu tín dụng DNNVV. Tuy nhiên ngân hàng vẫn mở rộng tín dụng với
DNNVV nếu như mức tăng dư nợ tín dụng lớn hơn 0.
- Mở rộng khách hàng DNNVV: Chỉ tiêu này cho biết thay đổi trong số lượng
khách hàng DNNVV sử dụng dịch vụ tín dụng của ngân hàng
- Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Ðể thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng tín dụng của mình, các ngân
hàng không những chỉ dựa vào các chỉ tiêu định tính mà cần phải xây dựng một hệ
thống các chỉ tiêu định lượng. Trên cơ sở đó, ngân hàng mới có thể có cơ sở tin cậy
để phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của ngân hàng mình, qua đó tìm
ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng tín dụng cho phù hợp với yêu cầu
của khách hàng, của xã hội đối với sản phẩm tín dụng.
- Nhóm chỉ tiêu định tính: Để đánh giá chất lượng tín dụng, đứng trên giác độ
Ngân hàng chúng ta phải xem xét cả những tiêu chí về định lượng và định tính. Về
mặt định tính, các tiêu chí được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
+ Chất lượng tín dụng được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầu
của khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an
toàn, kỳ hạn và phương thức thanh toán phù hợp với chu kỳ kinh doanh của khách
hàng.
+ Ngoài ra chất lượng tín dụng còn được xem xét thông qua kết quả của hoạt
động cho vay đó: mức độ thu hồi nợ, những lợi ích gì mà ngân hàng đạt được.

22


- Nhóm chỉ tiêu định lượng
+ Chỉ tiêu thu lãi tín dụng: Chỉ tiêu này phản ánh nguồn thu từ cho vay của các ngân
hàng thương mại, là nguồn để chia lãi cổ phần và bổ sung vốn hoạt động.
+ Doanh số thu nợ: Được tính bằng cách cộng dồn các khoản thu nợ trong một
niên độ kế toán, chỉ tiêu này phản ánh lượng vốn mà ngân hàng đã cho khách hàng
vay và đã được hoàn trả trong một thời kỳ.
+ Ðối với từng khách hàng cụ thể còn có thêm chỉ tiêu dư nợ dối với loại khách
hàng đó trên tổng dư nợ. trên cơ sở của chỉ tiêu này, ngân hàng sẽ diều chỉnh cho phù
hợp với chính sách của ngân hàng qua từng thời kỳ. đối với các khách hàng thuộc
khu vực kinh tế tư nhân thì tỷ lệ này là dư nợ dối với khu vực kinh tế tu nhân trên
tổng dư nợ.
- Chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng đối với DNNVV:
𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑙ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡ℎ𝑢 đượ𝑐 𝑡ừ ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔 đố𝑖 𝑣ớ𝑖 𝐷𝑁𝑁𝑉𝑉
=

𝐿ã𝑖 𝑡ừ 𝑡í𝑛 𝑑ụ𝑛𝑔 đố𝑖 𝑣ớ𝑖 𝐷𝑁𝑁𝑉𝑉
× 100
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑙ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡ℎ𝑢 đượ𝑐 𝑐ủ𝑎 𝑛𝑔â𝑛 ℎà𝑛𝑔

Chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng đối với DNNVV càng
cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng tốt.
- Chỉ tiêu về nợ xấu
Theo quy định của NHNN Việt Nam, nợ xấu được định nghĩa” là các khoản nợ
quá hạn từ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5”
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của ngân hàng thương
mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý hay cuối năm.
𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑛ợ 𝑞𝑢𝑎 ℎạ𝑛 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 =

𝐷ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝑞𝑢á ℎạ𝑛 𝑐𝑢ố𝑖 𝑘ỳ
𝑥 100
𝐷ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝑐𝑢ố𝑖 𝑘ỳ

Nợ xấu có khả năng thu hồi là những khoản nợ mà chủ thể vay vẫn có thể trả
được cho ngân hàng. Khoản quá hạn này là do sự khó khăn tạm thời về mặt tài chính
hoặc do trong quá trình ký kết hợp đồng tín dụng chưa xem xét một cách cụ thể về
chu kỳ vận động của đồng vốn đầu tư, thu nợ khi khách hàng chưa kết thúc chu kỳ
kinh doanh.
Nợ xấu không có khả năng thu hồi là những khoản vay nợ mà khách hàng vay
khó có khả năng trả duợc nợ cho ngân hàng, ngân hàng có nguy cơ mất vốn và lãi

23


cho vay là rất lớn. Nguyên nhân của những khoản vay này có thể do khách hàng vay
cố tình lừa đảo hoặc do khách hàng lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính trầm
trọng, phá sản.
Chỉ tiêu nợ xấu là một chỉ tiêu cực kỳ quan trọng để do lường chất lượng nghiệp
vụ tín dụng. Một ngân hàng được xem là một ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt
khi tỷ lệ nợ xấu của nó nhỏ hơn hoặc bằng 3% và tỷ lệ nợ xấu khó đòi trên tổng nợ
xấu là nhỏ là ngược lại với một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ lớn hơn
5% và tỷ lệ nợ xấu quá đòi trên tổng nợ xấu cao.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu này để dánh giá thì không phải lúc nào cũng
mang lại hiệu quả cao và chính xác do tỷ lệ này bị tác động rất lớn của các hoạt động
cho vay đảo nợ, không chuyển nợ xấu theo đúng quy định.
- Chỉ tiêu về nợ xấu:
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ các khoản nợ đối với DNNVV được xếp vào các nhóm nợ
dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (nhóm 4) và nợ có khả năng mất vốn (nhóm
5) so với tổng dư nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 theo quy định tại điều 10 và điều 11
Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam quy định cụ
thể phương pháp phân loại nợ theo định lượng và định tính mà các TCTD phải áp
dụng.
Tỷ lệ

Nợ thuộc nhóm 3,4,5

=

nợ xấu

Tổng dư nợ

Nợ xấu thông thường là nợ khó có khả năng thu hồi do DNNVV đã hoạt động
kinh doanh không còn hiệu quả, khả năng phục hồi là rất kém và ảnh hưởng nhiều
đến kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng . Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì chất
lượng tín dụng của Ngân hàng càng kém và ngược lại.
Bên cạnh đó, Ngân hàng còn thường xuyên đánh giá tốc độ tăng trưởng của tỷ
lệ nợ xấu để đánh giả được khả năng quản lý của mình.Từ đó đưa ra được các định
hướng phát triển phù hợp.
Tốc độ tăng trưởng
tỷ lệ nợ xấu

= 100 X

TLNX1– TLNX0

Trong đó : TLNX1 : Tỷ lệ nợ xấu năm nay
TLNX0 : Tỷ lệ nợ xấu năm trước

24

TLNX0


Tốc độ tăng trưởng nợ xấu âm thể hiện chất lượng tín dụng được cải thiện hơn
năm trước hoặc khả năng thu hồi nợ xấu được nâng cao.
- Chỉ tiêu về nợ có đảm bảo
Tài sản đảm bảo là nguồn thu nợ cuối cùng của ngân hàng đối với khách hàng
vay, khi khách hàng này lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, làm ăn thua lỗ,
phá sản. Bởi vậy, nếu một tỷ lệ lớn các khoản nợ xấu là có tài sản đảm bảo và tài sản
đảm bảo có đủ giấy tờ hợp lệ thì khả nang thu hồi vốn sẽ cao hơn, nghĩa là khoản cho
vay sẽ an toàn hơn và chất lượng tín dụng của ngân hàng đó sẽ cao hơn. Chỉ tiêu này
được xác định dựa trên tỷ lệ nợ có tài sản đảm bảo nghĩa là bằng dư nợ xấu có tài sản
đảm bảo trên tổng dư nợ xấu.
Để phản ánh chính xác hơn khả năng thu hồi nợ từ tài sản đảm bảo, ngân hàng
sẽ phải tiến hành phân loại tài sản đảm bảo theo một số tiêu thức: có đầy đủ hay không
có giấy tờ pháp lý, khả năng thanh lý của tài sản. Tuy nhiên, chỉ tiêu trên mới chỉ
phản ánh khả nang chứ chưa phải là số vốn thực tế thu hồi được từ tài sản đảm bảo.
Do vậy, ngân hàng nên sử dụng đồng thời chỉ tiêu này với chỉ tiêu tỷ lệ thanh toán nợ
từ tài sản đảm bảo được đo bằng số tiền thực tế thu được từ khai thác tài sản đảm bảo
chia cho tổng dư nợ xấu của các khoản vay có tài sản đảm bảo.
1.3.3 Tính tất yếu của việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa
Cùng với quá trình tồn tại và phát triển của ngân hàng, cùng với những đóng góp
to lớn của khoa học- công nghệ và kỹ thuật trong công tác phát triển sản phẩm mới của
ngân hàng, tín dụng vẫn khẳng định được vai trò to lớn của nó đối với bản thân ngân
hàng, với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước: Tín dụng ngân hàng vẫn đóng góp
60 – 80% vào tổng tài sản có và tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. tín dụng ngân
hàng vẫn là một điều kiện không thể thiếu để dảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền
vững của ngân hàng, tuy ở mỗi ngân hàng, ở mỗi thời kỳ khác nhau thì mức độ tập trung
vào nghiệp vụ này có khác nhau.
Tuy nhiên, tín dụng ngân hàng chỉ có thể phát huy được vai trò to lớn của nó
khi nó được hiểu là khoản tín dụng có chất lượng mà thôi, trường hợp ngược lại nó
sẽ tạo ra những tổn thất rất lớn cho ngân hàng và cho toàn xã hội.
Nếu đứng trên góc độ ngân hàng, thì nâng cao chất lượng tín dụng sẽ đem lại

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×