Tải bản đầy đủ

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý thực tiễn ở quảng ninh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
CHỈ DẪN ĐỊA LÝ: THỰC TIỄN Ở QUẢNG NINH

TRẦN ĐỨC HÙNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. KIỀU THỊ THANH

HÀ NỘI – 2018


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP VÀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN
ĐỊA LÝ ............................................................................................................. 5
1.1. Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp ............................................ 5
1.1.1. Khái niệm và đối tượng quyền sở hữu công nghiệp ........................ 5
1.1.2. Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp ........................................ 8
1.1.3. Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp..................................... 10
1.2. Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý và
các quyền được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý ......................................... 12
1.2.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ........ 12
1.2.2. Các chủ thể liên quan và các quyền được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa
lý ............................................................................................................... 13
1.2.2.1. Về chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý ................................................... 13
1.2.2.2. Về chủ thể thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý................. 14
1.2.2.3. Về các quyền được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý.................... 15
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 18
CHƯƠNG 2: BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI
CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “CHẢ MỰC HẠ LONG” Ở QUẢNG NINH ........... 19
2.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và điều kiện phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh Quảng Ninh ........................................................................... 19
2.1.1. Về điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh................................... 19
2.1.2. Về điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Quảng Ninh ......... 25
2.2. Đăng ký bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long” ở
Quảng Ninh ................................................................................................ 28


2.2.1. Chủ thể đăng ký và quản lý, kiểm soát chất lượng sản phẩm mang
chỉ dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long” .......................................................... 30
2.2.1.1. Chủ thể đăng ký chỉ dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long” .............. 30
2.2.1.2. Công tác quản lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm mang chỉ
dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long” ............................................................ 31
2.2.2. Hoàn thành việc đăng ký chỉ dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long”....... 36
2.2.2.1. Về danh tiếng của sản phẩm “Chả mực Hạ Long” .................. 38
2.2.2.2. Về đặc tính, chất lượng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý “Chả
mực Hạ Long”....................................................................................... 41
2.2.2.3. Về điều kiện địa lý của thành phố Hạ Long ............................ 43
2.2.2.4. Về quy trình chế biến sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý “Chả mực
Hạ Long” ............................................................................................... 44
2.2.2.5. Mối liên hệ giữa điều kiện địa lý và chất lượng đặc thù của sản
phẩm ...................................................................................................... 47


2.2.2.6. Về khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý .................................... 51
Kết luận chương 2 ......................................................................................... 53
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “CHẢ MỰC HẠ LONG” VÀ MỘT SỐ
NHẬN XÉT, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ................................................. 54
3.1. Ý nghĩa của việc đăng ký chỉ dẫn địa lý và thực tiễn bảo hộ chỉ dẫn
địa lý “Chả mực Hạ Long” ở Quảng Ninh .............................................. 54
3.2. Một số nhận xét, kiến nghị nhằm nâng cao khả năng bảo hộ quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long” ở
Quảng Ninh ................................................................................................ 60
Kết luận chương 3 ......................................................................................... 64
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 67


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chỉ dẫn địa lý là một trong số các đối tượng thuộc quyền sở hữu công
nghiệp đã, đang và sẽ tiếp tục là tài sản trí tuệ quý giá đối với một quốc gia
chủ yếu có nền kinh tế nông nghiệp như Việt Nam.
Vì lợi nhuận, vì nhu cầu cạnh tranh, vì sự phát triển, thịnh vượng chung
của nền kinh tế - xã hội mà vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nói
chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý nói riêng trong
những năm gần đây ngày càng trở nên được quan tâm hơn ở Việt Nam.
Nằm trong xu thế này, thời gian gần đây, Nhà nước, các doanh nghiệp,
người tiêu dùng và các chủ thể liên quan khác đã quan tâm hơn tới vấn đề bảo
hộ chỉ dẫn địa lý trong sự nghiệp phát triển kinh tế nói chung. Bảo hộ chỉ dẫn
địa lý đã trở nên quan trọng và trở thành mối quan tâm đáng kể trong các hoạt
động quản lý nhà nước, kinh tế - xã hội và kinh doanh thương mại ở Việt
Nam trong bối cảnh chung đó.
Việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại
thế giới (WTO) từ ngày 11/01/2007 trong thực tế có tác động lớn đến quy
định pháp luật và thực tiễn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công
nghiệp nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý nói
riêng ở Việt Nam. Một trong các hiệp định thương mại đa phương của WTO
được thi hành ở bất kỳ nước thành viên nào, trong đó có Việt Nam, là Hiệp
định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
(Hiệp định TRIPs).
Như kết quả nghiên cứu tác giả Kiều Thị Thanh đã đưa ra trong luận án
tiến sỹ ở Australia của mình, liên quan đến bảo hộ chỉ dẫn địa lý, Hiệp định
này chỉ quy định về bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với sản phẩm, không áp dụng

1


đối với dịch vụ. Trong khi đó ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Quảng Ninh
nói riêng, không chỉ các sản phẩm mà các dịch vụ cũng có thể có một vai trò
và tầm quan trọng thích ứng gắn với việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý.
Với giá trị và ý nghĩa quan trọng của bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với nền
kinh tế nông nghiệp Việt Nam nói chung và đặc biệt gắn với điều kiện cụ thể
của tỉnh Quảng Ninh quê hương của tác giả nói riêng, tác giả đã chọn đề tài
“Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý: Thực tiễn ở Quảng
Ninh” làm luận văn tốt nghiệp khóa học thạc sỹ của mình.
Quá trình nghiên cứu đề tài cũng mang đến cho tác giả mong muốn đưa
ra được những nhận xét, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo hộ
chỉ dẫn địa lý và một số vấn đề khác có liên quan. Từ đó, đóng góp phần nào
vào việc nâng cao nhận thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước,
của các chủ thể hoạt động kinh doanh thương mại, của người tiêu dùng và của
toàn xã hội liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý nói chung với các vấn đề cụ thể được đề cập đến trong luận văn này gắn
với quê hương Quảng Ninh của tác giả nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhiều đề tài nghiên cứu về bảo hộ chỉ dẫn địa lý nói chung hay với các
nội dung cụ thể đề cập đến từng khía cạnh bảo hộ chỉ dẫn địa lý nói riêng đã
được thực hiện thông qua các khóa luận tốt nghiệp cử nhân và luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ cũng như một số không nhiều đề tài cấp tiến sỹ.
Tuy nhiên, bên cạnh một số vấn đề lý luận mang tính chất định khung
nói chung, thông thường các kết quả nghiên cứu đã công bố trước luận văn
này thường nghiêng về hoặc là nghiên cứu quy định pháp luật về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý nói chung hoặc là kết hợp
nghiên cứu vấn đề chung này với bảo hộ chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam thường
được gắn với hàng nông sản nói riêng. Vì vậy, luận văn này không trùng lắp

2


với bất kỳ kết quả nghiên cứu hay ấn phẩm nào đã được công bố trước đó liên
quan đến bảo hộ chỉ dẫn địa lý khi chính bản thân tác giả đã lựa chọn một đề
tài cơ bản gắn với hoạt động cụ thể trong thực tiễn về bảo hộ chỉ dẫn địa lý
đối với “Chả mực Hạ Long” với ý nghĩa là một “đặc sản địa phương” độc đáo
của tỉnh Quảng Ninh hay chính quê hương của tác giả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phù hợp với đề tài “Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý: Thực tiễn ở Quảng Ninh” gắn với các hoạt động cụ thể trong thực tiễn
bảo hộ hay liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý cho một sản phẩm, một “đặc sản địa phương” có nguồn gốc từ một khu
vực địa lý trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của
luận văn này trước hết là một số quy định chung của pháp luật sở hữu trí tuệ
về quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý, tiếp đó cơ bản được xác
định tương ứng với các vấn đề liên quan đến điều kiện xác lập và thực hiện
quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long” có
nguồn gốc từ thành phố Hạ Long ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
Bên cạnh đó, thực tiễn hoạt động với những thuận lợi và khó khăn, tích
cực và hạn chế, cơ hội và thách thức, v...v của các sản phẩm được bảo hộ gắn
với chỉ dẫn địa lý cụ thể nêu trên là một nội dung chủ yếu khác của luận văn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này được thực hiện cơ bản và chủ yếu trên cơ sở các phương
pháp thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin từ các tài liệu có liên quan gắn
với quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam về bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp nói chung và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
nói riêng áp dụng cho một trường hợp bảo hộ chỉ dẫn địa lý cụ thể là “Chả
mực Hạ Long” cũng như các vấn đề khác có liên quan ở tỉnh Quảng Ninh.

3


5. Kết cấu của luận văn
Luận văn có cấu trúc gồm phần mở đầu, nội dung và kết luận, bên cạnh
mục lục và danh mục các tài liệu tham khảo. Nội dung là phần chính của luận
văn được chia làm ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1 – Một số vấn đề chung về quyền sở hữu công nghiệp và
quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Chương 2 – Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn
địa lý “Chả mực Hạ Long” ở Quảng Ninh
Chương 3 – Thực tiễn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ
dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long” và một số nhận xét, kiến nghị

4


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP VÀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
1.1. Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp
1.1.1. Khái niệm và đối tượng quyền sở hữu công nghiệp
Bên cạnh quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả và quyền
đối với giống cây trồng, quyền sở hữu công nghiệp là một trong các lĩnh vực của
quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật quy định và bảo hộ ở Việt Nam trong một sự
hài hòa nhất định với nội dung của nhiều điều ước quốc tế đa phương và song
phương về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam tham gia hay có tư cách thành viên.
Theo giáo trình luật sở hữu trí tuệ của nhiều cơ sở đào tạo luật,1 nhìn
chung quyền sở hữu công nghiệp có thể được hiểu theo hai nghĩa khách quan
và chủ quan.
Theo nghĩa khách quan thì quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là
pháp luật về sở hữu công nghiệp hay nói cách khác là tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh khi con người sáng tạo ra
sản phẩm trí tuệ và được pháp luật coi là các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Với nghĩa này, quyền sở hữu công nghiệp là quyền sở hữu đối với tài sản vô
hình và như đã được nhắc tới ở trên, trong nhiều trường hợp, quyền sở hữu
công nghiệp còn gắn kết với quy định trong các điều ước quốc tế đa phương
hay song phương mà Việt Nam là thành viên. Có thể phân chia một cách khái

Xem, ví dụ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,
2009; Lê Đình Nghị & Vũ Thị Hải Yến (đồng chủ biên), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb. Giáo dục Việt
Nam, Hà Nội, 2009; Đại học Huế - Khoa Luật, Giáo trình pháp luật sở hữu trí tuệ, Nxb. Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2012.
1

5


quát các quy phạm pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp theo năm nhóm
sau đây.
Thứ nhất: Nhóm các quy định liên quan đến việc xác định tiêu chuẩn
một kết quả sáng tạo là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp, các loại đối
tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ, tiêu chí để xác định.
Thứ hai: Nhóm các quy định liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục
xác lập kết quả sáng tạo được coi là đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ.
Thứ ba: Nhóm các quy định liên quan đến nội dung quyền của các chủ
thể đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, bao gồm quyền, nghĩa vụ của
chủ sở hữu, tác giả, các chủ thể khác đối với các đối tượng sở hữu công
nghiệp đã được xác lập.
Thứ tư: Nhóm các quy định liên quan đến việc dịch chuyển các đối
tượng sở hữu công nghiệp.
Thứ năm: Nhóm các quy định liên quan đến việc bảo vệ quyền của các
chủ thể đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Như vậy, với cách hiểu nêu trên thì quyền sở hữu công nghiệp không
chỉ bao gồm các quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ mà còn thuộc các lĩnh vực
khác như dân sự với nhiều văn bản pháp luật khác nhau và nhiều ngành luật
có liên quan tạo thành thể thống nhất điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan
đến các đối tượng sở hữu công nghiệp. Ngoài ra, quyền sở hữu công nghiệp
không những được các quy phạm pháp luật của quốc gia điều chỉnh mà chúng
còn được điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà
Việt Nam là thành viên.
Theo nghĩa chủ quan thì quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là quyền
sở hữu của cá nhân, tổ chức đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp. Ở đây,
Điều 4:4 Luật Sở hữu trí tuệ quy định “Quyền sở hữu công nghiệplà quyền
của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí

6


mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh
doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh”. Kết hợp với nội dung trước đó tại Điều 3:2 theo đó Luật Sở hữu
trí tuệ xác định đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu
dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh,
nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý thì quyền chống cạnh tranh không
lành mạnh không được coi là một trong các đối tượng cụ thể của quyền sở
hữu công nghiệp. Tuy nhiên, do chống cạnh tranh không lành mạnh là một
quyền được xem là phát sinh tất yếu trong quá trình chủ thể thực hiện các
quyền của mình đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp, nên quyền chống
cạnh tranh không lành mạnh thường được xác định là một trong những nội
dung cơ bản của quyền sở hữu công nghiệp.
Với nghĩa nêu trên, quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là quyền,
nghĩa vụ của các chủ thể liên quan đến việc sử dụng, chuyển dịch các đối
tượng sở hữu công nghiệp. Các quyền chủ quan này phải phù hợp với pháp
luật nói chung và pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp nói riêng, trong đó
bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản của các chủ thể trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp; quyền ngăn chặn những hành vi xâm phạm hoặc cạnh
tranh không lành mạnh đối với các quyền của những người sáng tạo ra hoặc
người sử dụng hợp pháp các đối tượng đó.
Bên cạnh đó, cũng theo giáo trình luật sở hữu trí tuệ của nhiều cơ sở
đào tạo luật,2 quyền sở hữu công nghiệp còn có thể được hiểu dưới góc độ là
quan hệ pháp luật với đầy đủ các yếu tố chủ thể, khách thể, nội dung. Trong
đóchủ thể của quyền sở hữu công nghiệp là tất cả các cá nhân, tổ chức như tác
giả hay chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc tổ chức, cá nhân
được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp. Khách thể của
2

Xem chú thích số 1 ở trên.

7


quyền sở hữu công nghiệp là các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ được
áp dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh gồm sáng chế, giải pháp
hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại, bí mật kinh doanh. Nội dung của quyền
sở hữu công nghiệp là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của chủ thể các đối
tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật ghi nhận và bảo hộ.
1.1.2. Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
Có thể nhận thấy và phân tích các đặc điểm sau đây của quyền sở hữu
công nghiệp.
Thứ nhất, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp luôn gắn liền với
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ở đây, có thể so sánh, nếu các đối tượng của
quyền tác giả chủ yếu được áp dụng trong các hoạt động văn hóa kiến thức tin
tức giải trí tinh thần thì các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được áp
dụng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại. Vì lý do này, một
trong những điều kiện để được bảo hộ của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là chúng phải có khả năng áp dụng công
nghiệp hay có tính mới thương mại nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị cho đời
sống con người. Tương tự, để được bảo hộ, một trong những nội dung thiết
yếu của nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại là chúng phải chứa đựng
các chỉ dẫn thương mại. Còn đối với bí mật kinh doanh, chủ thể nào nắm giữ
được đối tượng này sẽ có những lợi thế cạnh tranh hơn hẳn so với các chủ thể
khác. Bởi vậy, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với mức độ cạnh
tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt thì việc nắm giữ các đối tượng sở hữu
công nghiệp rất cần thiết đối với các chủ thể kinh doanh.
Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ thông qua thủ tục
đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quyền sở hữu công nghiệp chỉ
được pháp luật bảo hộ một khi chúng đã được cơ quan nhà nước chính thức

8


cấp văn bằng bảo hộ (trừ bí mật kinh doanh và tên thương mại). Ở đây cũng
có thể so sánh, nếu như đối với quyền tác giả việc đăng ký chỉ mang tính chất
khuyến khích thì việc đăng ký quyền sở hữu công nghiệp là thủ tục bắt buộc
đối với phần lớn các đối tượng sở hữu công nghiệp. Nếu chủ thể sáng tạo
không đăng ký quyền cho đối tượng mình sáng tạo ra thì rất khó được pháp
luật bảo hộ trong trường hợp có người khác chiếm đoạt hoặc đăng ký trước.
Mặt khác, thông qua thủ tục đăng ký, nhà nước còn nhằm mục đích khuyến
khích các hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
Thứ ba, quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo thời hạn ghi trong
văn bằng bảo hộ. Trừ một số ít đối tượng theo đặc tính riêng, các đối tượng sở
hữu công nghiệp thường được bảo hộ trong khoảng thời gian xác định. Các
đối tượng được bảo hộ theo thời hạn trước hết là các đối tượng xác định được
tác giả sáng tạo ra đối tượng đó; còn những đối tượng không xác định tác giả
sáng tạo được bảo hộ không thời hạn hoặc có thời hạn với những điều kiện
nhất định. Như vậy, có thể phân loại các đối tượng sở hữu công nghiệp thành
các đối tượng có xác lập quyền tác giả và các đối tượng không xác lập quyền
tác giả dựa vào quan hệ sáng tạo ra chúng. Đối với đối tượng có xác lập
quyền tác giả, việc quy định thời hạn bảo hộ cẩn phải được xác định là điều
cần thiết. Bởi vì, nếu cứ tiếp tục bảo vệ kết quả sáng tạo đó với thời gian
không hạn định thì chính sự bảo hộ sẽ trở thành rào cản cho sự sáng tạo, cho
tiến bộ xã hội và từ đó sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật về thời hạn bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp có thể chia các đối tượng sở hữu công nghiệp thành ba loại là
loại đối tượng có thời hạn bảo hộ được xác định và không được gia hạn; loại
đối tượng có thời hạn bảo hộ được xác định và có thể được gia hạn; và loại
đối tượng có thời hạn bảo hộ không xác định.

9


Về loại đối tượng có thời hạn bảo hộ được xác định và không được gia
hạn: Loại thời hạn này được áp dụng đối với sáng chế là 20 năm tính từ ngày
nộp đơn hợp lệ; với giải pháp hữu ích là 10 năm cũng tính từ ngày nộp đơn
hợp lệ; với thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn là 10 năm kể từ ngày nộp
đơn hoặc kể từ ngày thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn đó được người có
quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác thương mại tại
bất kỳ nơi nào trên thế giới hoặc 15 năm kể từ ngày tạo ra thiết kế bố trí.
Về loại đối tượng có thời hạn bảo hộ được xác định và có thể được gia
hạn: Loại thời hạn này được áp dụng đối với nhãn hiệu là 10 năm tính từ ngày
nộp đơn hợp lệ, có thể gia hạn liên tiếp nhiều lần mỗi lần 10 năm, cũng như
áp dụng đối với kiểu dáng công nghiệp với thời hạn bảo hộ là 05 năm tính từ
ngày nộp đơn hợp lệ, có thể gia hạn hai lần liên tiếp, mỗi lần 05 năm.
Về loại đối tượng có thời hạn bảo hộ không xác định: Loại thời hạn này
được áp dụng đối với tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh cho đến
khi nào các đối tượng này còn đáp ứng được điều kiện bảo hộ. Như thế, quyền
sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý thuộc về nhóm đối tượng này.
1.1.3. Căn cứ xác lập quyền sở hữu công nghiệp
Gắn với sự phân chia quyền sở hữu trí tuệ thành các lĩnh vực quyền tác
giả và quyền liên quan đến quyền tác giả (gọi tắt là quyền liên quan), quyền
sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng, Điều 6 Luật Sở hữu trí
tuệ quy định về căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ như sau:
“1. Quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể
hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung,
chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công
bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
2. Quyền liên quan phát sinh kể từ khi cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi
hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được

10


mã hoá được định hình hoặc thực hiện mà không gây phương hại đến
quyền tác giả.
3. Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau:
a) Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết
định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ
tục đăng ký quy định tại Luật này hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo
quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên; đối với nhãn hiệu nổi tiếng, quyền sở hữu được xác lập
trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký;
b) Quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên
cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó;
c) Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập
trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện
việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;
d) Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở
hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
4. Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp
Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo
thủ tục đăng ký quy định tại Luật này.”
Nội dung các quy định trên cho thấy, tuy cùng là các đối tượng sở hữu trí
tuệ nói chung hay các đối tượng sở hữu công nghiệp nói riêng nhưng căn cứ
xác lập quyền đối với chúng lại không giống nhau. Ở đây có thể phân biệt đối
tượng quyền sở hữu công nghiệp thành hai nhóm là nhóm đối tượng được xác
lập quyền trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền theo thủ tục đăng ký và nhóm các đối tượng được xác lập quyền
trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Theo cách phân biệt

11


này quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý thuộc về nhóm các đối
tượng thứ nhất và điều này được thể hiện rất rõ trong quá trình đăng ký chỉ
dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long” do UBND thành phố Hạ Long thực hiện, được
trình bày trong Chương 2 của luận văn này.
1.2. Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý và các
quyền được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý
1.2.1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý
Như đã được trình bày ở phần tương ứng bên trên, chỉ dẫn địa lý là một
trong số các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo quy định
của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, bên cạnh sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại và bí
mật kinh doanh. Liên quan đến khái niệm chỉ dẫn địa lý, Điều 4:22 Luật Sở
hữu trí tuệ đưa ra một định nghĩa ngắn gọn, theo đó chỉ dẫn địa lý được hiểu
là “dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương,
vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể.”
Kết hợp khái niệm này với khái niệm quyền sở hữu công nghiệp được
nêu tại Điều 4:4 Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã được trình bày ở phần tương ứng
bên trên, theo đó quyền sở hữu công nghiệp được hiểu là “quyền của tổ chức,
cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp
bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình
sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”, có thể
đưa ra một cách hiểu về quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý theo
nghĩa đây là quyền của tổ chức, cá nhân đối với dấu hiệu dùng để chỉ sản
phẩm có nguồn gốc từ địa vực địa lý cụ thể với tư cách là một trong số các
đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được pháp luật quy định và bảo hộ ở
Việt Nam.

12


1.2.2. Các chủ thể liên quan và các quyền được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa

So với các quy định khác trong việc xác định tư cách chủ sở hữu tài sản
trí tuệ nói chung, các đối tượng sở hữu công nghiệp nói riêng, quy định về tư
cách chủ sở hữu của chỉ dẫn địa lý trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam có
điểm đặc biệt. Trong khi các đối tượng sở hữu trí tuệ hay sở hữu công nghiệp
khác thường là tài sản tư của cá nhân, tổ chức, ví dụ, sáng chế, nhãn hiệu,
kiểu dáng công nghiệp, v...v thì chỉ dẫn địa lý được quy định là tài sản chỉ
thuộc sở hữu nhà nước.3
Xuất phát từ quy định đặc biệt nêu trên, các chủ thể trong quan hệ về
quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam xác định tương
ứng với các quy định khác của pháp luật có thể được phân biệt thành chủ sở
hữu chỉ dẫn địa lý, chủ thể thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý, chủ thể có
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý và chủ thể sử dụng
chỉ dẫn địa lý. Phần tiếp theo sau đây của luận văn xin được trình bày vắn tắt
về chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý và chủ thể thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa
lý do tính chất đặc biệt của hai loại chủ thể này xác định tương ứng theo các
quy định của pháp luật, cũng như xin được trình bày vắn tắt về các quyền
được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý.
1.2.2.1. Về chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý
Theo quy định tại Điều 121:4 Luật Sở hữu trí tuệ, rằng “chủ sở hữu chỉ
dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước”, rằng “Nhà nước trao quyền sử dụng
chỉ dẫn địa lý cho tổ chức, cá nhân tiến hành việc sản xuất sản phẩm mang chỉ
dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường”, và
rằng “Nhà nước trực tiếp thực hiện quyền quản lý chỉ dẫn địa lý hoặc trao
quyền quản lý chỉ dẫn địa lý cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ
Xem Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ, đặc biệt với Khoản 4 quy định về tư cách chủ sở hữu của Nhà nước đối
với mọi chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam.
3

13


chức, cá nhân được trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý”. Kết hợp các nội dung
quy định này với hướng dẫn tại Điều 19 Nghị định 103/2006/NĐ-CP ngày
22/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở
hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp (sau đây gọi là Nghị định 103/2006) có thể
nhấn mạnh chỉ dẫn địa lý của Việt Nam được quy định chỉ thuộc về nhà nước
và nhà nước thực hiện quyền sở hữu của mình đối với chỉ dẫn địa lý thông
qua ba phương thức chủ yếu. Thứ nhất, nhà nước trực tiếp thực hiện quyền
quản lý chỉ dẫn địa lý của mình thông qua các cơ quan quản lý hành chính
như các bộ, cơ quan ngang bộ; ủy ban nhân dân các cấp hay các sở khoa học
và công nghệ. Thứ hai, nhà nước trao quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho tổ
chức, cá nhân tiến hành sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương
tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị trường. Thứ ba, nhà nước cho phép các
tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại
diện cho các tổ chức, cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương
nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý. Các tổ chức, cá
nhân hoặc cơ quan này được cấp văn bằng hay giấy chứng nhận đăng ký chỉ
dẫn địa lý nếu đáp ứng các điều kiện bảo hộ chỉ dẫn địa lý nhưng không trở
thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó.
1.2.2.2. Về chủ thể thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý
Điều 88 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: “Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý
của Việt Nam thuộc về Nhà nước. Nhà nước cho phép tổ chức, cá nhân sản
xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý, tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức,
cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý
thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý. Người thực hiện quyền đăng ký chỉ
dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó.” Như vậy, chủ thể có
quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam là Nhà nước, nhưng Nhà nước lại
cho phép hay trao quyền này cho một số tổ chức, cá nhân liên quan khác thực

14


hiện như được quy định tại Điều 88 Luật Sở hữu trí tuệ vừa nêu. Theo đó, các
tổ chức, cá nhân này bao gồm tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ
dẫn địa lý; tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức, cá nhân sản xuất sản
phẩm mang chỉ dẫn địa lý; cơ quan quản lý hành chính nơi có chỉ dẫn địa lý.
Trong thực tế, xây dựng và hoàn thiện hồ sơ đăng ký chỉ dẫn địa lý đáp
ứng các điều kiện bảo hộ là một công việc không dễ dàng thường chỉ hoàn
thiện hay thực hiện được sau những chi phí đáng kể về cả về thời gian, công
sức, tiền của hay tài chính. Vì vậy, hầu hết các chỉ dẫn địa lý Việt Nam đều
do cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý nộp đơn đăng
ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý đó. Đăng ký chỉ
dẫn địa lý “Chả mực Hạ Long” thuộc một trong số các trường hợp này với
chủ thể đăng ký và quản lý chỉ dẫn địa lý này chính là UBND thành phố Hạ
Long với các nội dung chi tiết hay có liên quan được trình bày ở các mục tiếp
theo của luận văn này.
1.2.2.3. Về các quyền được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý
Phù hợp với quy định tại các Điều 121, 123, 124 và 125:1 Luật Sở hữu
trí tuệ, có thể tóm tắt các quyền được bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý ở Việt
Nam cơ bản bao gồm quyền quản lý, sử dụng chỉ dẫn địa lý; quyền cho phép
người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý; và quyền ngăn cấm người khác sử dụng
chỉ dẫn địa lý.
Thứ nhất là quyền quản lý, sử dụng chỉ dẫn địa lý
Sử dụng chỉ dẫn địa lý là đưa chỉ dẫn địa lý vào khai thác trong hoạt
động sản xuất hay kinh doanh thương mại nhằm thu được lợi ích kinh tế. Với
tư cách là chủ sở hữu của mọi chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, một trong những nội
dung quyền sở hữu đối với chỉ dẫn địa lý được Nhà nước thực hiện là trao
quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý cho các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất sản
phẩm mang chỉ dẫn địa lý tại địa phương tương ứng và đưa sản phẩm đó ra thị

15


trường. Các hành vi được luật quy định là hành vi sử dụng chỉ dẫn địa lý bao
gồm: hành vi gắn chỉ dẫn địa lý được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa,
phương tiện kinh doanh, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; hành
vi lưu thông, chào bán, quảng cáo nhằm để bán, tang trữ để bán hàng hóa có
mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ; nhập khẩu hàng hóa có mang chỉ dẫn địa lý
được bảo hộ.
Thứ hai là quyền cho phép người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý
Cho phép người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý phù hợp với quy định về
việc xác định tư cách chủ sở hữu của tất cả chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam đều
thuộc về Nhà nước như vậy phải là quyền thuộc về Nhà nước và các tổ chức
được Nhà nước trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý. Đây cũng chính là cách
thức thực hiện quyền này ở Việt Nam trong thực tế theo đó các tổ chức, cá
nhân sản xuất sản phẩm theo các tiêu chuẩn về tính chất, chất lượng đặc thù
của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý hoàn toàn có thể được cơ quan quản lý
hành chính nhà nước như các Ủy ban nhân dân hay các Sở Khoa học - Công
nghệ tương ứng ra quyết định cho phép sử dụng chỉ dẫn địa lý.
Thứ ba là quyền ngăn cấm người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý
Theo nguyên tắc chung, trong thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp, chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp có độc quyền sử dụng đối
tượng sở hữu công nghiệp đó trong hoạt động sản xuất hay kinh doanh thương
mại nhằm thu được lợi ích từ việc sử dụng hay bảo hộ đối tượng đó, đồng
nghĩa với việc chủ sở hữu có quyền ngăn cấm bất kỳ ai sử dụng đối tượng sở
hữu công nghiệp đó mà không có sự đồng ý hay cho phép của mình. Đối với
chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam, phù hợp với quy định pháp luật như đã được phân
tích hay trích dẫn ở các nội dung tương ứng bên trên, tất yếu cả chủ sở hữu
chỉ dẫn địa lý và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc tổ chức được
trao quyền quản lý chỉ dẫn địa lý về nguyên tắc đều được quy định có quyền

16


ngăn cấm người khác không được phép mà lại sử dụng chỉ dẫn địa lý. Cũng
theo nguyên tắc đó, khi phát hiện bất cứ hành vi nào như vậy, cả chủ sở hữu chỉ
dẫn địa lý và tổ chức, cá nhân được trao quyền sử dụng hoặc tổ chức được trao
quyền quản lý chỉ dẫn địa lý đều có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phù hợp với quy định
của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung, bảo hộ quyền sở hữu
công nghiệp và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý nói riêng.

17


Kết luận chương 1
Thông qua việc tìm hiểu một số vấn đề chung về quyền sở hữu công
nghiệp và quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý, luận văn có một
số kết luận sau đây:
1. Phù hợp với quy định của Luật Sở hữu trí tuệ tại Điều 4:4 rằng
“Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế,
kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên
thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở
hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”; tại Điều 3:2 rằng “Đối
tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,
thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên
thương mại và chỉ dẫn địa lý; và tại Điều 4:22 rằng “Chỉ dẫn địa lý là dấu
hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh
thổ hay quốc gia cụ thể”, có thể nêu một cách hiểu về quyền sở hữu công
nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý theo nghĩa đây là quyền của tổ chức, cá nhân đối
với dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ địa vực địa lý cụ thể với
tư cách là một trong số các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được pháp
luật quy định và bảo hộ ở Việt Nam.
2. Khác với các đối tượng sở hữu trí tuệ hay sở hữu công nghiệp khác
thường là tài sản tư của cá nhân, tổ chức, chỉ dẫn địa lý được quy định là tài
sản chỉ thuộc sở hữu nhà nước với chủ thể trong quan hệ này được phân biệt
thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý, chủ thể thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa
lý, chủ thể có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý và chủ
thể sử dụng chỉ dẫn địa lý và phạm vi các quyền được bảo hộ đối với chỉ dẫn
địa lý cơ bản bao gồm quyền quản lý, sử dụng chỉ dẫn địa lý; quyền cho phép
người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý; và quyền ngăn cấm người khác sử dụng
chỉ dẫn địa lý.

18


CHƯƠNG 2
BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ “CHẢ MỰC HẠ LONG”
Ở QUẢNG NINH
2.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Quảng Ninh
2.1.1. Về điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông BắcViệt Nam được
ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì trong tỉnh có cả biển, đảo, đồng bằng, trung
du, đồi núi, biên giới. Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa
thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ.
Đây là tỉnh có sản lượng khai thác than đá chính của Việt Nam đồng thời có
Vịnh Hạ Long là di sản, là kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Với điều kiện tự
nhiên như vậy, Quảng Ninh rất phù hợp phát triển kinh tế du lịch gắn với
nhiều địa danh du lịch nổi tiếng kèm theo các đặc sản địa phương cũng nổi
tiếng như chả mực Hạ Long đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý từ năm 2013.
Ngày 31/12/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2622/QĐTTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Quảng Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Theo đó, Quảng Ninh
phấn đấu trở thành tỉnh dịch vụ công nghiệp hiện đại, trung tâm du lịch quốc
tế, là một trong những đầu tàu kinh tế của miền Bắc và cả nước với hệ thống
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ, hiện đại,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đảm bảo giữ
gìn và bảo vệ môi trường bền vững, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo
tồn và phát huy di sản - kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và những
khác biệt, đặc sắc của Vịnh Bái Tử Long, phấn đấu trở thành khu vực phòng

19


thủ vững chắc về quốc phòng, an ninh và phòng tuyến hợp tác, cạnh tranh
kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.4
Các mục tiêu phấn đấu trên đặc biệt liên quan đến mục tiêu phát triển
du lịch với những ưu đãi thiên nhiên ban tặng cho Quảng Ninh gắn liền với
Vịnh Hạ Long và các cảnh quan du lịch khác là lý do quan trọng nhất để tỉnh
Quảng Ninh đề nghị với Trung ương và đã được Thủ tướng Chính phủ chấp
thuận cho phép thành lập Sở Du lịch. Quyết định này thực sự rất phù hợp với
định hướng chuyển đổi mô hình kinh tế từ “nâu” sang “xanh” được Quảng
Ninh theo đuổi. Vì vậy, Sở Du lịch Quảng Ninh đã được thành lập ngày
9/5/2016 trên cơ sở tách ra từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch mà không tăng
tổng biên chế nhà nước.5
Ngay sau khi thành lập Sở Du lịch, Quảng Ninh đã tập trung xây dựng
chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc
biệt trình độ ngoại ngữ; phối hợp với các cơ quan chức năng để làm tốt nhiệm
vụ quản lý nhà nước; tạo điều kiện tối đa cho các nhà đầu tư triển khai nhanh
nhất các dự án; đặc biệt là cải thiện môi trường kinh doanh du lịch, nâng cao ý
thức cho người dân, doanh nghiệp tham gia làm du lịch; đảm bảo an toàn
tuyệt đối cho du khách khi đến tham quan tại địa phương. Như thế, Quảng
Ninh là địa phương duy nhất trong cả nước thành lập Sở Du lịch và kiện toàn
Sở Văn hóa Thể thao Du lịch thành Sở Văn hóa và Thể thao với ý nghĩa
chúng đều là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh với vai trò, chức
năng chính là thực hiện việc tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về
du lịch ở địa phươngvà về văn hóa, gia đình, thể dục và thể thao và quảng cáo
(trừ quảng cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và
Xem thêm: “Quyết định phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020,
tầm nhìn đến năm 2030”, Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh - UBND tỉnh Quảng Ninh (ngày
05/04/2016), www.quangninh.gov.vn.
5
Xem thêm: “Quảng Ninh công bố quyết định thành lập Sở Du lịch”, Báo Quảng Ninh online ngày
09/05/2016, http://baoquangninh.com.vn/du-lich/201605/quang-ninh-cong-bo-quyet-dinh-thanh-lap-so-dulich-2305053/.
4

20


quảng cáo tích hợp trên các sản phẩm dịch vụ bưu chính, viễn thông, công
nghệ thông tin) trên địa bàn theo quy định của pháp luật.6
Theo các số liệu được công bố chính thức bởi UBND tỉnh Quảng Ninh,7
Quảng Ninh là tỉnh có tọa độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và
từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc. Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 195
km; bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 102 km. Điểm cực bắc là dãy núi cao
thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu. Điểm cực nam ở đảo Hạ
Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn. Điểm cực tây là sông Vàng Chua ở
xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, huyện Đông Triều. Điểm cực đông trên đất
liền là mũi Gót ở đông bắc xã Trà Cổ, thị xã Móng Cái.
Bên cạnh đó, Quảng Ninh cũng là tỉnh có biên giới quốc gia và hải
phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Trên đất liền, phía bắc
tỉnh là các huyện Bình Liêu, Hải Hà và thị xã Móng Cái giáp với huyện
Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng thuộc tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc với
132,8 km chiều dài đường biên giới. Phía đông tỉnh Quảng Ninh là vịnh Bắc
Bộ; phía tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Dương; phía nam giáp
Hải Phòng với bờ biển trên địa phận tỉnh Quảng Ninh dài tới 250 km và diện
tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh tính đến ngày 01/10/1998 là 611.081,3 ha.
Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha; đất chuyên dùng 36.513 ha; đất ở
6.815,9 ha; đất chưa sử dụng 268.158,3 ha.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh vùng núi được chia làm hai miền vùng
núi miền Đông và vùng núi miền Tây. Vùng núi miền Đông trải dài từ Tiên
Yên qua Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà đến Móng Cái. Đây là vùng nối tiếp của
vùng núi Thập Vạn Đại Sơn từ Trung Quốc, hướng chủ đạo là đông bắc - tây
nam với hai dãy núi chính là dãy Quảng Nam Châu (1.507 mét) và Cao Xiêm
Xem chú thích số 5 đã dẫn.
Xem thêm: Cổng Thông tin điện tử tỉnh Quảng Ninh, “Địa hình” (ngày 07/08/2008),
www.quangninh.gov.vn.
6
7

21


(1.330 mét) chiếm phần lớn diện tích tự nhiên các huyện Bình Liêu, Hải Hà,
Đầm Hà, dãy Ngàn Chi (1.166 mét) ở phía bắc huyện Tiên Yên. Vùng núi
miền Tây kéo dài từ Tiên Yên qua Ba Chẽ, Hoành Bồ, phía bắc thị xã Uông
Bí và thấp dần xuống ở phía bắc huyện Đông Triều. Vùng núi này là những
dãy nối tiếp hơi uốn cong nên thường được gọi là cánh cung núi Đông Triều
với đỉnh Yên Tử (1.068 mét) trên đất Uông Bí và đỉnh Am Váp (1.094 mét)
trên đất Hoành Bồ.
Ở tỉnh Quảng Ninh vùng trung du và đồng bằng ven biển gồm những
dải đồi thấp bị phong hoá và xâm thực tạo nên những cánh đồng từ các chân
núi thấp dần xuống các triền sông và bờ biển. Đó là vùng Đông Triều, Uông
Bí, bắc Yên Hưng, nam Tiên Yên, Đầm Hà, Hải Hà và một phần Móng Cái.
Ở các cửa sông, các vùng bồi lắng phù sa tạo nên những cánh đồng và bãi
triều thấp. Đó là vùng nam Uông Bí, nam Yên Hưng (đảo Hà Nam), đông
Yên Hưng, Đồng Rui (Tiên Yên), nam Đầm Hà, đông nam Hải Hà, nam
Móng Cái. Tuy có diện tích hẹp và bị chia cắt nhưng vùng trung du và đồng
bằng ven biển rất thuận tiện cho nông nghiệp và giao thông nên chúng đang là
những vùng dân cư trù phú của tỉnh Quảng Ninh.
Cùng với các điều kiện trên, Quảng Ninh cũng có một vùng địa hình
biển và hải đảo vô cùng độc đáo với hơn hai nghìn hòn đảo lớn nhỏ chiếm
hơn 2/3 số đảo của cả nước (2078/ 2779) trải dài theo đường ven biển hơn
250 km chia thành nhiều lớp. Ở đây có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu,
đảo Bản Sen, lại có những đảo chỉ như một hòn non bộ. Quảng Ninh có hai
huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô. Trên vịnh Hạ
Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst
bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là
những hang động kỳ thú. Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những
bãi bồi phù sa còn có những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển. Có nơi tạo

22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×