Tải bản đầy đủ

Người Việt tự ngắm mình

1

NGƯỜI VIỆT TỰ NGẮM MÌNH
(Nguyễn Hoàng Đức)

Mục lục
I. Lý do để cuốn sách này có mặt - Nhìn người mà ngẫm đến ta
“Anh em khinh trước, làng nước khinh sau”
Tự xét đoán để khỏi bị xét đoán
Không có quan toà nào lớn hơn ta cả
“Yên Quốc rồi mới yên gia”
Làm việc thì dễ, làm người mới khó

II. Thước để ngắm mình
Thành thật là nội dung thật của mọi hạnh phúc ở đời
Phân biệt minh bạch trật tự, và phán xét là điều kiện tất yếu cho mỗi cá nhân
và xã hội phát triển
Sở trường là con đường phát huy cao nhất, là sở thích đạt tới hạnh phúc lớn
nhất của cá nhân
Ba phần của cơ thể đầu, tim, dạ dày tương ứng với ba cấp độ làm người
Sức khoẻ, trí tuệ, điều độ, khoan dung, và công lý là bốn điều kiện sống tất

yếu của mỗi cá nhân, cũng như xã hội

III. Đào luyện con người
Đạo đức là thói quen về điều thiện
Mặc cảm tự ti
Phản tỉnh căn tính “nô bộc”


2

IV. Nhìn người mà ngẫm đến ta

V. Tự ngắm mình
1. Ngồi xổm
2. Đi đất
3. Mặc quần áo ngủ ra đường
4. Văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền
5. Dở ông dở thằng, làm thầy không nổi làm tớ cũng chẳng xong
6. Ăn đói nằm co còn hơn ăn no vác nặng
7. Ăn nhanh, đi chậm, đái đường, hôn bụi dậm
8. Ăn xó mó niêu
9. Ăn vặt, khôn vặt, dâm vặt, gian vặt
10.Phép vua thua lệ làng
11.Người khôn ăn nói nửa chừng, làm cho kẻ dại nửa mừng nửa lo
12.Cả vú lấp miệng em - Còi to cho vượt
13.Ngậm miệng ăn tiền
14.Tâm khẩu bất đồng: Khiêm tốn vờ - kiêu hãnh lén - Khen vờ - chê giả
15.Được ăn, được nói, được gói mang về
16.Một trăm cái lý không bằng một tý cái tình
17.Gia trưởng độc đoán
18.Ích kỷ, đố kỵ. trâu buộc ghét trâu ăn
19.Nịnh trên, đạp dưới, đá ngang
20.Tính khí thất thường: mai nắng - trưa mưa - chiều nồm
21.Đầu voi đuôi chuột
22.Thể hiện nhiều, thực hiện kém

VI. Tổng quát


3



I. Lý do để cuốn sách này có mặt
Nhìn người mà ngẫm đến ta
Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con
Tản Đà
Đầu thế kỷ XX, thi sĩ Tản Đà là một cây bút thông kim bác cổ, thạo cả Đông học và Tây học,
trong tham chiếu tầm vóc của nhân loại, đã đưa ra nhận xét thẳng thắn trên.
Nghĩ cho sâu, thấy rằng, thi sĩ, học giả Tản Đà là một người rất yêu quê hương giống nòi. Ông là
tác giả của bài thơ “Thề non nước”:
Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi, không về cùng non
...
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nước, hãy còn thề xưa.
...
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề

Vậy mà ông phản tỉnh dân tộc một cách thẳng thắn như vậy, chúng ta không thể nào xem nhẹ.
Tầm vóc trí tuệ một dân tộc đã phát triển chín chắn được đo bằng cái gì? Nhìn sang Ấn Độ thế
kỷ XX, thánh Gandhi còn dậy dân ấn phải có phẩm chất độc lập để sống trong độc lập. Lãnh tụ
Tôn Trung Sơn huấn luyện nhân dân bằng “Chủ Nghĩa Tam Dân” để mở màn bước vào thời đại
mới, hay Dân tộc Nhật Bản còn đang lo củng cố phong trào “Minh trị Duy tân”... Tầm vóc trí tuệ
cao nhất của một dân tộc được đo bằng khả năng luận lý của họ! Chính vì vậy mà qua nhiều đại
hội quan trọng, qua nhiều phương tiện thông tin, chính phủ cùng các cơ quan hữu quan của ta đã
cảnh báo: “công tác lý luận ở ta còn yếu kém”.
Đã sang thiên niên kỷ thứ III, từ hạt nhân mà thi sĩ Tản Đà đã gieo hạt, có lẽ rất cần thiết để
chúng ta nhìn nhận “cái hay - tật xấu” của người Việt bằng con mắt luận lý. Bởi nếu dân tộc,
trước hết là đội ngũ trí thức không nhìn thấy thì dân gian sẽ nhìn thấy bằng cách ám thị và phiếm
chỉ, rồi người bên ngoài cũng không thể đứng ngoài hoàn cảnh - đòi nhận xét chúng ta.


4

Mới đây có một câu chuyện tiếu lâm bàn về tầm vóc chưa thành quý ông của người Việt rằng. ở
quán karaoke kia, có các em mắt xanh mỏ đỏ chuyên nghề “đưa người cửa trước, rước người cửa
sau” tâm sự rằng:
“Có nhiều người đến với chúng em, ô tô có, xe máy có, xích lô có, thương gia có, học giả có,
quan chức có. Mới đầu, ngoài cửa chúng em gọi họ là “các ông”, “các chú”, “các bác”. Khi vào
đến bên trong rồi thì chúng em gọi tất cả bọn họ là “anh”. Nhưng khi xong xuôi, tiễn họ về thì
chúng em coi tất cả bọn họ chỉ là “thằng”
Như vậy trong mắt các em, một bộ phận đàn ông, dù ông hay bác, dù học cao hay học thấp, dù
giầu hay nghèo, dù chức to hay chức nhỏ, vẫn chưa thấy các “quý ông”, mà mới chỉ thấy các
“quý thằng” đem ví ra đổi lấy thú vui da thịt.
Để hiểu thêm điều này, một lần, có một nhạc sĩ sau khi đi thư giãn “giọng hát vàng” cùng “bàn
tay vàng” trong một quán karaoke về tâm sự cùng tôi: Con người nếu không cẩn thận, thì càng
già lại càng thụt lùi thành đứa trẻ con nhiều tuổi. Thử ngẫm mà xem lúc trẻ lao vào học hành,
trong đầu ôm bao nhiêu hoài bão cùng lý tưởng. Về già, khi có cả tiền, cả danh, cả quyền lại chỉ
lo du hí những trò chơi của một thân xác co rút lại, thì có nghèo nàn về tâm hồn không? Ăn
nhiều, uống lắm, suốt ngày có phải chỉ lo thêm cho chiếc dạ dày? “Hát mỏi tay” trên làn da của
các em, có phải cách chỉ bố xung cho thận? Còn lại đời sống của tâm hồn hay trí tuệ thì nằm ở
góc nào?
Nếu không có đời sống của tâm hồn, chỉ có đời sống cho bản năng, thì không chỉ 4.000 năm, mà
có thể đến cả 4 triệu năm, chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi vòng thơ ấu Vì như các nhà triết học
và sinh học đã chắc chắn thừa nhận: Bản năng không bao giờ thay đổi, chỉ có duy trì và bảo tồn.
Duy nhất chỉ có lý trí mới phát triển và tiến bộ.
Lý luận là chặng phát triển cao nhất của trí tuệ. Vậy mà nhìn vào đời sống tri thức cũng như văn
hoá của chúng ta hiện nay, thấy đâu đâu cũng nhan nhản các hội thơ về hưu, hội thơ xã, hội thơ
chị em, hội thơ thanh xuân... Ngay Tết Nguyên tiêu Quý Mùi vừa qua, tại Văn Miếu Hà Nội, đã
diễn ra “Ngày thơ Việt Nam”, hay còn gọi là “lễ hội thơ”. Nhiều tờ báo đã đăng tải ngày lễ buồn
đến vạ vật của thơ, không có khán giả, chỉ có vài nhà thơ không phân biệt cấp quốc gia hay làng
xã, ra ra vào vào, đọc mấy vần thơ tẻ nhạt. Báo “An ninh Thế giới” ra ngày 20/2/2003, viết bài
“Nàng Thơ cũng nhạt, phản ánh rõ ngày hội không đủ sinh khí thở hiu hiu của các nhà thơ xứ ta.
Tại sao, “Kễ thờ” diễn ra ở một nơi trang nghiêm nhất, thậm chí được kéo cả cờ thơ, nghĩa là
được Nhà nước và nhân dân ưu đãi mọi lẽ mọi đàng, mà lại chỉ có niềm vui rặt rẹo đến vậy? Câu
trả lời là:
- Thứ nhất: Lễ hội là sinh hoạt làng xã đến thế kỷ XXI sẽ không mấy thích hợp với các nhà thơ được mệnh danh là ngành chữ nghĩa. Chữ nghĩa thì phải đem giáo hoá, đem sống giữa cuộc đời
bằng những “giáo luật” sáng tác từ não, từ tim một cách nghiêm cẩn. Đằng này, các nhà thơ
không chịu khó leo lên tháp ngà đó (đa số rất thiếu chuẩn bị về học vấn và văn hoá), đành lui
xuống “chơi thơ” theo lối lễ hội làng. Than ôi, lễ hội làng thật, còn diễn trò nọ trò kia cho người
đến xem, như người đời bảo “có tích mới dịch lên trò”. Đằng này các nhà thơ chẳng có thứ
“tích” nào ngoài vài câu văn vần mang nặng cảm tính hoa - lá - cỏ vụn vặt, thì hòng gì diễn lên
trò. Lại chỉ có lối khoe khéo khoe khôn xếp vần vặt vãnh thì làm sao có người đến xem cho nổi?


5

- Thứ hai: Triết gia Hegel cho rằng: Một cuộc họp mặt muốn thành công chí ít phải có một diễn
văn hay. Diễn văn - nghĩa là tính tư tưởng, hoặc tính “Đề tài” phải nổi lên mạnh mẽ và cuốn hút.
Nhưng làm sao nổi? Vào lúc này, độc giả thừa biết, các nhà thơ lổn nhổn được cả nước, cả dân
tộc cưng chiều từ trung ương đến làng xã, không có đủ trình độ đúc kết mấy vần thơ cảm xúc
thành “đề tài”. Vì thế mà tại “lễ thơ”, khi dân tộc đã giành cho các nhà thơ mọi điều kiện ưu đãi
nhất, họ cũng không thể “có bột mà gột lên hồ”.
Nền văn hoá của một dân tộc nếu mới chỉ lấy nền thơ chung làm đỉnh điểm thì chưa thể có nhận
thức trưởng thành. Không chỉ với thơ, nhìn qua kịch bản “Màn ảnh du lịch” ở xứ ta thì thường
thấy. Mở màn ống kính quay núi non hùng vĩ, sông duyên dáng, thành phố cổ kính; rồi sau đó là
các cô gái trẻ đi bộ hoặc thong dong đạp xe cả nhóm... Điều đó nói lên cái gì?
Trong các chương trình giới thiệu của thế giới, mở màn người ta sẽ quay những quang cảnh
thuộc “văn hoá vật thể” tức các công trình kiến trúc: quảng trường, nhà thờ, nhà hát... Sau đó sẽ
quay về các văn hoá “phi vật thể” thuộc giá trị của lịch sử, tinh thần, hay danh nhân.
Vậy mà nếu chúng ta không biết phô mình, thì thành phố dù cổ kính rêu phong đến đâu, rút cục
chẳng có gì trưởng thành để khoe, ngoài vài cô gái chưa có gì nhiều hơn “vốn tự nhiên”.
Khi thi sĩ Tản Đà nhìn ra:
Dân hai nhăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con
thì có cay nghiệt, quá quắt không?
Ngay Trung Quốc là một cường quốc về dân số và lịch sử, vậy mà trong cuốn “Chủ Nghĩa Tam
Dân” của mình, lãnh tụ Tôn Trung Sơn cũng nói. ở Trung Quốc, mới chỉ có các cuộc chiến tranh
liên miên giành đất, giành ngôi báu, và giành đàn bà, mà chưa có các cuộc chiến tranh giành tư
tưởng và tôn giáo.
Đất đai, ghế ngồi, đàn bà mới chỉ là những quyền lợi cho bản năng, chưa thể là những lý do
chứng tỏ sự trưởng thành của những con người chín muồi về tư tưởng.
Thiết nghĩ, cái nhìn của Tôn Trung Sơn rất gần gũi với dân tộc Việt Nam, và như vậy chúng ta
không nên quá ngạc nhiên trước cái nhìn của thi sĩ Tản Đà. Và tôi viết cuốn sách này, mục đích
của nó là mong ngụp lặn về chiều dọc - chiều sâu cỗi rễ của dân tộc, “gạn đục khơi trong” mong
được cùng dân tộc có ngày gầy đây được khải hoàn ca trên quảng trường Tiến bộ - Lương tri Nhân bản, sánh vai cùng những bước chân hàng đầu của toàn nhân loại.


6

1
“Anh em khinh trước, làng nước khinh sau”
Có một nhà tư tưởng nói: “Một dân tộc không biết xấu hổ về mình thì chẳng thể khiến mọi người
tôn trọng”. Điều này thật không thể tranh cãi! Một dân tộc là tầm vóc bao trùm của một quốc gia,
gồm nhiều tộc người, nhiều hạng người, nhiều cá nhân, vậy mà dân tộc đó còn không biết tự soi
lấy mình, thấy cái dở để tránh, thấy cái hay để học, thì làm sao có thể là môi trường sống kiểu
mẫu cho các công dân của nó?
Từ lâu đời, theo gốc Hán tự, người Việt vẫn nói, loại người không biết xấu hổ, chỉ là hạng “Vô
sỉ” - tức không biết sỉ nhục, thì chỉ là hạng “vô lại” - không thành người được, cũng không đáng
kể gặp lại. Người Trung Hoa còn lý giải rằng:
Tri tuệ bất nhục
Tri sĩ bất đãi
Nghĩa là:
Nếu hiểu biết thì sẽ không bị nhục.
Nếu biết cái xấu hổ sẽ không bị ngược đãi.
Từ cổ chí kim, từ Đông chí Tây, từ Ai Cập vòng qua Hy Lạp, đến La Mã, đến vùng Lưỡng Hà,
đến Trung Quốc, rồi vòng qua châu Mỹ của người da đỏ, các dân tộc đều hình thành một lẽ sống
khởi đầu đạo đức rằng: biết thẹn là giường mối đầu tiên của đạo - hạnh. Đơn giản như một thiếu
nữ, nếu không hề biết thẹn về sự hở hang cơ thể của mình, thì làm gì mong với được đến đức
trinh tiết? Một người đàn ông không biết xấu hổ về sự nhút nhát của mình, làm sao có được lòng
dũng cảm? Một người không biết xấu hổ về sự dốt nát của mình, chẳng muốn vươn lên, cố gắng
học hỏi, sao có được ngày trở thành thông tuệ?
Người Việt có câu “Anh em khinh trước làng nước khinh sau”. Điều đó diễn tả, nếu trong nhà,
tức “đơn vị gia đình hạt nhân”, còn chưa xây dựng nổi trật tự sống, quy củ sống, cách ăn, nết ở
gương mẫu, trong nhà còn ẩu đả hỗn loạn, không có chữ Nhân, chẳng có chữ Hiếu, cũng không
với được chữ Đức, khinh nhau như mẻ, cha không từ, con không hiếu, chữ Hiếu không tòng (chữ
Trung - tức những giá trị công lý của quốc gia và nhân loại bị xem thường, không tìm thấy nổi
một kẽ hở để rót ánh sáng vào), gia đình ấy bịt bùng trong bóng tối “giá áo túi cơm” của chính
mình, không hắt ra khỏi cửa bất kỳ tia sáng phẩm chất, danh dự, sự tốt lành, tri thức, vinh quang
nào... làm sao có thể để mọi người tôn trọng được?
*
*

*

“Anh em khinh trước làng nước khinh sau” câu phương ngôn này của dân tộc ắt phải là một lẽ
sống không thể nào chối cãi. Giờ đây, dân số nước ta đang tiến gần đến con số một trăm triệu
(đứng hàng thứ 14 trên 192 nước thế giới), có thể coi như một cường quốc về dân số, nhưng thu


7

nhập bình quân đầu người, nền kinh tế quốc dân, cũng như trình độ văn minh nói chung còn
đang ở tốp cuối.
Vậy “đây là lúc, có lẽ chẳng sớm sủa gì, khi chúng ta nên cùng nhau nhìn lại những “cái sỉ” của
dân tộc, gạt cái xấu, cái bẩn qua một bên, làm cơ thể tự nhiên sạch sẽ và tốt đẹp.
Người Việt có một câu hát mà ai cũng thích, nếu không thích thì cũng không thể nào không chấp
nhận, đó là:
“Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người”.
Tại sao chương I của cuốn sách này lại có đề mục “Lý do để cuốn sách này có mặt”? Vì viết về
quê hương là viết về cùng một lúc chiếc nôi lớn, nôi vừa, nôi bé... nôi nước, nôi thôn, nôi làng,
nôi xóm, nôi lọt lòng từ giữa bầu thai của mẹ, đó là một chiếc nôi ken dầy đặc tầng tầng lớp lớp
nơi chôn nhau cắt rốn của mỗi người, vì vậy dường như ai cũng ái ngại, thậm chí lảng tránh nói
về nó. Giống như một đứa con đi xa về quê, chỉ giành cho chú - bác - cô - gì họ mạc những nụ
cười thân mật, mà rất ngại nói thẳng sợ rằng “sự thật mất lòng”. Nhưng đó mới chỉ là tình cảm
máu mủ ruột rà thông thường, chưa phải là tình cảm của lương tri, mong gia đình, họ mạc, xóm
giềng, quê hương, tổ quốc “lau sạch những tì vết” dù cho phải “thuốc đắng dã tật”, để tác thành
một tầm vóc lớn của tri thức, danh dự và sự hùng cường.
Để làm người có liêm sỉ, chắc hẳn con đường tiên quyết không thể nào khác được, đó là phải biết
tự xét mình. Từ thời cổ đại Hy Lạp trong đền thờ Delphes đã ghi câu phương ngôn “Hãy tự hiểu
mình” (connais toi - toi même). Để dạy người ta hãy nhìn lại chính mình, để phản tỉnh, ngõ hầu
thấy cái sai mà sửa. Tại ấn Độ, Đức Phật Thích Ca cũng đã phát ra phương ngôn “Hãy tự giác
ngộ mình” rồi sau đó mới có thể giác ngộ người khác. Còn người Việt vẫn nói một câu cửa
miệng: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Dăn dạy người ta, bất cứ việc gì, trước hết hãy tự xét
mình - xem có đáng trách không, sau đó hãy xét đến người khác. Vì khi ta xét mình, mở đầu ta
đã thiết lập cái “biết sỉ” về đạo đức của mình, đó cũng là Tự trọng, và là danh dự. Đó là cách tự
làm hùng mạnh chính mình. Muốn người khác trọng ta, trước hết ta phải biết “tự khinh”, gột rửa
mọi cái “đáng khinh” thành cái “đáng trọng”, thì hiển nhiên, người đời sẽ nhìn ta cách tôn trọng.
Đó không phải là Tự ti, mà là Tự trọng. Trái lại, nếu ta tự vênh vênh vác vác nâng mình lên trong
tư thế Tự tôn, không tự gạn lọc những cái thấp hèn của mình, để nó bày ra trước mắt thiên hạ, thì
làm sao tránh nổi con mắt khinh thị của người đời. Kinh Thánh có câu rằng: “Kẻ nào nâng lên sẽ
bị hạ xuống, kẻ nào hạ xuống sẽ được nâng lên”, đó là ý nghĩa của việc Tự hạ - Tự xét mình lại
được nâng lên; trái lại muốn Tự tôn - lờ đi việc xét mình lại bị hạ xuống. Ngắm cái gương của
thiên hạ, gần ta nhất, không đâu đông dân như Trung Quốc, cũng chẳng đâu tự tôn như Trung
Quốc đã từng coi mình là thiên tử, trung tâm của thiên hạ, vậy mà họ cũng đã xét mình qua cuốn
sách “Người Trung Quốc xấu xí”. Chẳng đâu giầu như Nhật Bản (thu nhập đứng thứ nhì thế
giới) vậy mà họ cũng đã xét mình qua cuốn sách “Người Nhật xấu xí”. Bên kia Đại Tây Dương,
một nước Mỹ, kinh tế hùng mạnh, khoa học tiên tiến hàng đầu, vậy mà họ cũng phải can đảm
nhận ra nhiều cái xấu của mình trong cuốn “Người Mỹ xấu xí”. Ngay thủ đô Paris kia, được
mệnh danh là thành phố đẹp nhất thế giới, vậy mà các văn hào của họ, đặc biệt là Victor Hugo đã
đua nhau dè bỉu một “vũng bùn hoa lệ” bên dòng sông Seine ô uế, ẩn nấp đầy rẫy tội lỗi ghê tởm
ở dưới cống ngầm. Tất cả các tác giả của các cuốn sách đó, không phải những nhà vệ sinh lẩm


8

cẩm, đòi “bới bèo ra bọ”, chê bai quê hương, mà.chính là, họ tìm cách lặn sâu vào cái đầm lầy
“biết sỉ” của dân tộc, mong dân tộc trở nên trong lành hơn, mạnh mẽ hơn, và kiêu hãnh hơn.
Tự sỉ là con đường không thoát khỏi để có được lòng Tự trọng. Bởi nếu chúng ta không tự nhìn
thấy mình, thì thiên hạ sẽ “chỉ tận tay day tận trán” những cái xấu của ta. Chúng ta không nên
lầm tưởng như một số cây bút luôn tự tôn phiến diện cho rằng: người phương Tây đang đổ về
nghiên cứu tinh hoa của người phương Đông. Đã là khoa học, thì bất cứ cái gì cũng có thể trở
thành đối tượng để nghiên cứu. Cho dù là phương Tây, phương Đông, một vạt rừng châu Phi,
một sa mạc châu úc, hay một cánh đồng châu á, đến con muỗi, con ruồi, con vi khuẩn cũng đều
trở thành đối tượng để nghiên cứu. Trên thực tế, mới ở thế kỷ XIX và XX thôi, người phương
Tây coi các dân tộc châu á chỉ là thứ man di mọi rợ cần khai hoá. Họ coi thường nắm đấm và khí
tiết của người Trung Hoa đến mức, chỉ có vài chục tay súng trường xông thẳng vào Thiên An
Môn, hạ gục cung đình nhà Thanh, đang cầm quyền một dân tộc đông nhất thế giới, có số tuổi
lão niên già đời hạng nhất lịch sử. Vào mỗi lần quốc khánh, các sử gia Trung Quốc lại ôn lại bài
học cay đắng, hồi đó ngay vườn hoa Bắc Kinh, người phương Tây đặt các biểu ghi: “Cấm chó và
người Trung Hoa”. Thật phỉ báng, họ coi người Trung Hoa chỉ bằng con chó (về việc này, chúng
ta sẽ tham khảo lời của lãnh tụ Tôn Trung Sơn và các văn hào Trung Quốc bàn ở những trang
sau).

2
Tự xét đoán để khỏi bị xét đoán
Không thể nào khác được, như một câu trong Kinh Thánh: “Nếu chúng ta biết xét đoán mình thì
khỏi bị xét đoán” (1). Chúng ta không xét đoán mình, đừng tưởng người khác cũng sẽ bỏ qua
không xét đoán ta, trái lại họ càng xét đoán mạnh hơn bao giờ hết. Đây, chúng ta hãy nghe một
chuyên gia triết học, bàn đến cái vị thế của người Phương Đông. Trong bài tiểu luận “Những kỹ
năng của cơ thể” (Les techniques du corps) được in trong cuốn sách “Con người và thế
giới”.(L‟Home et le Monde), tác giả Mauss viết như sau: “Bạn có thể phân biệt nhân loại ngồi
xổm và nhân loại ngồi ghế. Và theo đó, phân biệt những người có ghế và những người không
ghế và không bệ ngồi. Những người có vị trí và những người không vị trí. Những con người có
bàn và những con người không có bàn” (Vous pouvez distinguer l‟humanité accroupie et
l‟humanité assie. Et, dans celle - ci distinguer les gens à bancs; les gens à sièges et les gens sans
sièges ... il a les gens qui ont des tables et les gens qui n‟en ont pas) (2).
Theo cách nhìn mang tính khoa học rất vững này, tác giả không chỉ phân tích vào chủng tộc, xã
hội, địa lý của người Châu Phi, châu á, mà còn xem xét chi ly đến từng “kỹ thuật” vận động của
cơ thể. Ngồi xổm là cách ngồi của một con ếch, một con cóc, ở đó con người chưa xác định cái
vị thế ít nhất của mình là một chỗ ngồi trên ghế. Người Việt vẫn quở những kẻ sống cùn, chầy
bửa, bất cần rằng “Ngồi bệt rồi còn sợ gì ngã”. Ngồi bệt là ngồi thẳng xuống đất, ngồi lúc nào thì
ngồi, bạ đâu ngồi đấy, muốn đi lúc nào thì phủi đít đứng lên đi, thật thoải mái, tuỳ tiện, và như
vậy là một cơ thể sống bản năng, chưa xác định nổi cho mình một quyền sở hữu vị thế - là một
chiếc ghế nào đó. Ngồi xổm còn tệ hơn, đó là cách nửa ngồi nửa đứng, đến cái mặt đất của chung
cũng không dám tự tin đặt đít ngồi, nhấp nhổm, thấy bất lợi thì đứng phắt dậy, chuồn cho nhanh.
Bởi thế tác giả Mauss còn suy diễn rằng: Ngồi xổm là chưa có chỗ ngồi! Chưa có ghế ngồi thì
chưa phải là ông chủ! Đi xa hơn, không ngồi ghế thì cũng chẳng có bàn, không có bàn là không


9

thể viết chữ, đó chỉ là hạng người nô bộc, bạ đâu ngồi đấy, chưa có chữ viết, và chưa thể có trí
tuệ, cũng như chưa thể có ý thức về danh dự. Về kỹ thuật con người này, người Việt cũng có một
câu nói dân gian giành cho những gã “Chí phèo”, hãnh tiến mà ngu dốt rằng: “kẻ ngồi xổm trên
dư luận”. Ngồi trên dư luận là kẻ bất cần đến chữ “sỉ”, mặc người nói ra nói vào thế nào thì nói,
nói chan tương đổ mẻ vào danh dự của ta cũng mặc. Nhưng đáng thương thay kẻ đó không dám
ngồi trên dư luận bằng ghế ngồi, mà ngồi xổm như một kẻ thiếu văn hoá và hèn nhát. Ngồi xổm
để còn tiện nhổm đít lên mà chạy.
3
Không có quan toà nào lớn hơn ta cả
Nếu ta mắc lỗi nhỏ, tự ta biết sửa lấy mình thì sẽ không chuốc lấy cái xấu hổ bị người khác vạch
ra. Nếu ta không biết sửa mình từ lầm lỗi nhỏ, để mắc vào tội lỗi sẽ phải chuốc lấy sự phán xét
của người khác. Lúc đó ta trở thành bị cáo, trước con mắt quan toà của người đời. Bởi thế thi hào
Đức Sin-le (Schiller 1759 - 1805) mới khẳng nhận cách con người phải tự phán xét lấy mình để
không bị rơi vào nỗi nhục phải làm bị cáo. Ông nói: “Không có quan toà nào lớn hơn ta cả” (3).
Một cách thẳng thắn hơn, triết gia Nietzsche cho rằng, con người không biết tự nhìn nhận thanh
tẩy làm mới chính mình, sẽ tự huỷ, tự hoại, giống như con rắn không tự lột da thì sẽ chết.
Văn hào Nga Dostoievski thì diễn tả, trong tâm hồn mỗi con người, đều có một bãi chiến trường
đấu tranh giằng co từng gang từng tấc một giữa quỷ và người và chỉ khi nào phần người trong
tâm hồn thắng thì con người mới sống đạo hạnh, trái lại phần quỷ trong tâm hồn thắng thì con
người sẽ nhảy vào vòng tội lỗi để thoả thê dục vọng của mình.
Ông nói: “Nếu nhìn rõ tâm hồn của mọi người thì chẳng ai là người không mắc lỗi”. Bởi vì trong
tâm hồn ai cũng như ai đều nảy sinh những dục vọng, thấy nhà cao thì muốn chiếm, thấy ghế cao
thì muốn tranh, thấy tiền nhiều thì sinh lòng tham, thấy gái đẹp thì muốn tận hưởng từ ngoài vào
trong... Những dục vọng cồn cào mạnh như quỷ dữ vừa thiêu đốt vừa lôi kéo con người; nhưng
sở dĩ người đạo hạnh vẫn sống đạo hạnh, vì lẽ giữa bãi chiến trường của tâm hồn, phần người
của anh ta luôn thắng phần quỷ dữ. Trái lại, những kẻ mắc lỗi là những kẻ đã để cho phần quỷ
chiến thắng phần người. Bởi thế mà, từ cổ chí kim, người ta đều cho rằng, chiến thắng mình là
chiến thắng đầu tiên nhất, quan trọng nhất, sau đó mới có thể nói đến việc chiến thắng cái khác.
Như một nhà tư tưởng nói: “Chính mình chẳng kiềm chế nổi mình mà cứ muốn cài đạp người thì
thật là ngu” (khuyết danh)
Còn Chúa Jê-sus thì tuyên ngôn: “Chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng mình”.
Tại sao phải chiến thắng mình? Các chuyên gia y tế tính rằng, dù hùm beo, hổ báo, rắn rết vừa
mạnh mẽ, vừa chứa nọc độc đến vậy nhưng hàng năm trên thế giới, chỉ có khoảng trăm người
chết vì chúng. Nhưng kinh khủng thay, mỗi năm có cả triệu triệu người chết vì những con vi
trùng bé nhỏ. Tại sao vậy? Vì vi trùng có thể chui sâu vào tận lục phủ ngũ ngũ tạng của con
người, phá huỷ từ trong phá huỷ ra thì cách gì để tránh? Vì thế con người không biết tự gột rửa
mình từ trong tâm hồn cũng vậy, khi đó cả con người từ thể xác đến tâm hồn sẽ biến thành môi
trường “khả nhiễm” để mọi thế lực từ ngọn gió bên ngoài đến vi khuẩn bên trong tấn công làm
suy sụp, tiêu vong. Chúng ta thử hình dung, một con người mạnh khoẻ, nhảy ùm xuống đại
dương tắm, cũng chẳng hề hấn gì; nhưng một người thể trạng yếu ớt chỉ cần mắc vài giọt nước


10

mưa, cũng hoá cảm, rồi lâm trọng bệnh. Nhiều người ra chiến trường, gặp tên bay đạn lạc, vẫn
có thể được cứu chữa bằng cách gắp viên đạn ra, nhưng có thể không cách nào cứu vãn nếu chỉ
bị một chiếc rằm đâm vào chỗ hiểm. Người Trung Hoa nhất khoát chỉ ra rằng: “Thiên tác nghiệt
do khả vị, tự tác nghiệt bất khả hoạt”. Nghĩa là: Trời tác oai tác quái gieo tai ách cho con người
từ lũ lụt đến động đất núi lửa, vẫn có thể tránh được; nhưng khi tự con người gieo những mầm
hoạ cho chính mình sẽ phải trôi vào vực thẳm Nhân - Quả, hái phải những tai họa không thể nào
tránh được.
Trong các môn võ thuật thôi, để luyện tập sức địch muôn người, võ sĩ trước hết phải luyện tập và
vượt qua sự chống đối của chính mình, cũng như sự trì trệ, ngáng trở, cản ngăn của chính trọng
lực mình. Hãy hình dung, ta là kẻ thù sát cách nhất của ta, mà ta không chiến thắng nổi ta, thì
hòng gì đòi chiến thắng người. Và cũng hãy hình dung, ta là kẻ thân thiết nhất với ta, mà ta
không quyến rũ nổi ta tin tưởng rằng ta là người tự trọng, có danh dự cao, có đạo hạnh nhiều, có
kiêu hãnh lắm, thì làm sao thuyết phục nổi người đời rằng: ta là người đáng trọng? Vì thế mà
triết gia Descartes cho rằng: “Tự thắng mình còn hơn thắng vũ trụ”.

4
“Yên Quốc rồi mới yên gia”
Người Pháp cho rằng: Người ta chỉ có thể tựa vào mình bằng cách tốt nhất là biết “chống” lại
chính mình. Như khi chúng ta ngồi một chiếc ghế tựa chẳng hạn, lưng chúng ta không ngã ra
sau, không bị mỏi, là tựa vào chính phần nâng cao của ghế vừa chống - vừa đỡ lấy lưng chúng ta.
Khi muốn chống đỡ một ngôi nhà tranh cho khỏi đổ cũng vậy, người ta thường làm những cây
tre chống vào dui-mè từ bốn phía, những cây chống, chính là những cây vừa đỡ - vừa cho tựa để
chiếc nhà không đổ. Chỉ có điều ngôi nhà là vật vô tri, nó phải cần sự chống - đỡ từ bên ngoài
nó. Còn con người là một thân chủ hữu tri, nó phải biết phòng vệ mình bằng chính sức tự chống
đỡ của mình.
Tự phân tỉnh mình là cách tất yếu xây lên chính con người mình đến vậy, nhưng nhân gian, đặc
biệt trong hoàn cảnh nước ta, chưa thoát khỏi nền sản xuất tiểu nông lạc hậu bao lâu, nên còn thủ
cực rất nhiều tư tưởng tự tôn - ích kỷ, chỉ biết vơ vào theo lối vinh thân - phì gia. Không ít
trường hợp có những học giả cao học nói trên truyền hình rằng: “không thể tin vào một người
nào đó không biết yêu gia đình mình, không biết vì vợ con mình, lại có thể yêu được quốc gia”.
Đây là một câu nói ngô nghê, không hề chứa đựng bất cứ một hạt nhân chân lý nào. Anh ta nói
vậy, sao không chịu nhớ, tổ tiên ta từ xa xưa đã dạy.
Yên quốc rồi mới yên gia
Yên cửa yên nhà rời mới yên thân.
Xưa nay, từ các sắc tộc bán khai thài có “lệ làng”, các quốc gia văn minh thì có luật lệ, đều là
những giá trị công truyền - công lý để dẫn dắt mọi công dân của nó, vì thế triết gia Aristote từ
thời cổ đại đã nói: “Con người là động vật xã hội”, các nhà xã hội học đương thời từ Đông chí
Tây thì coi “Gia đình chỉ là tế bào của xã hội”. Vì vậy, người ta phải quy chiếu ánh sáng từ xã
hội rộng lớn về nhà, để tác thành những công dân ưu tú, sau đó mới là người con có hiếu, người
chồng có nghĩa. Chữ Trung ở trên chữ Hiếu nghĩa là, cái công lý, cái mang tính nhân quần phải


11

lớn hơn các giá trị cá nhân rời rạc. Trái lại, không thể lấy hình ảnh vun vén trong gia đình ra, để
quy chiếu cho tình yêu của quốc gia luôn đòi hỏi đức tận hiến đến vong thân. Để diễn tả chân lý
này, Chúa Jê-sus đã từng dạy các môn đệ rằng: “Kẻ nào không biết từ bỏ thân quyến mình vác
thập giá theo ta, thì chẳng xứng bước vào Nước Trời”. Với nhiều quốc gia thì điều này đã quá rõ
ràng, ngay từ trước công nguyên, khi xây dựng thành phố, cái quan trọng hàng đầu của họ, là xây
dựng quảng trường, để mọi người có thể đến trao đổi đàm đạo hay học biết những gì “Tiếng nói
chung”- cũng là công lý dạy bảo; sau đó xây dựng đấu trường để các chàng trai luyện tập sức
mạnh chiến đấu, đức can trường, lòng dũng cảm dám xả thân cho dân tộc - là đất sống của
chung; sau nữa là kịch trường để mọi người đến rèn luyện tinh thần văn hoá nhân bản - biết sống
sẻ chia, cao thượng với đồng loại. Vậy thì, một dân tộc nếu không học biết lương tri, chỉ nhờ cậy
vào tình cảm ích kỷ nhặt nhạnh từ nhà ra xã hội sẽ chỉ chuốc lấy suy vong. Triết gia Hegel,
người được coi là cha đẻ của môn lịch sử hiện đại đã quả quyết rằng: “Chẳng hạn người ta không
thể nào giúp đỡ được gì với một dân tộc dân chủ bao gồm những người công dân ích kỷ hay
đánh lộn, nhẹ dạ, kiêu căng, không có tin tưởng, cũng không có kiến thức, nói nhảm, khoe
khoang. Một dân tộc như vậy thế nào cũng đi đến chỗ tan rã do chính sự ngu dốt của mình”(4).
Về “lợi riêng - lẽ chung”, người Trung Quốc có một câu truyện trong “Cổ học tinh hoa”, xác
định rõ ràng rằng. Ngày trước có một ông vua dẫn đoàn quân đông đảo sang xâm lược nước láng
giềng. Đoàn quân kéo đến biên giới, trăm họ già, trẻ, gái, trai chạy tán loạn. Nhà vua nhìn thấy
một thiếu phụ đang cuống quýt cùng ba đưa bé. Trước hết thiếu phụ bỏ đứa bé trên tay xuống
cắp lấy hai đứa bé hai bên tay, rồi chạy. Chạy được một quãng, thiếu phụ đứng lại suy nghĩ, rồi
bỏ một đứa bé bên tay xuống, chạy trở lại cắp đứa bé bị bỏ rơi lại đầu tiên, rồi chạy tiếp. Nhà vua
cho bắt thiếu phụ, để hỏi ngọn ngành.
- Tại sao, lúc đầu cô bỏ lại một đứa bé, chạy thục mạng; rồi sau đó bỏ một đứa bé đang bế trên
tay xuống, quay lại đón đứa bé đã bị bỏ rơi?
- Thiếu phụ trả lời: Ba đứa bé, hai đứa là con đẻ của tôi, còn đứa kia là cháu. Lúc đầu, do sợ hãi,
và bản năng làm mẹ tôi, bỏ lại đứa cháu - con của anh tôi, bế lấy hai con mình. Nhưng chạy một
đoạn tôi nghĩ lại, nếu mình cứu con mình chỉ là tình mẹ con trong gia đình. Nhưng nếu cứu cháu
mình, thì sẽ là tình cảm thuộc về nghĩa lớn, thuộc dòng tộc, thuộc quốc gia. Và nếu con mình có
chết, thì chỉ có mình đau khổ. Nếu cháu mình chết, họ hàng, xóm giềng sẽ coi mình là thứ vô
tâm, ích kỷ, không tròn bổn phận với xã tắc.
- Nghe vậy, nhà vua liền quay trở lại nói với những đạo quân. Một phụ nữ bình thường mà còn
biết sống nghĩa lý như thế, thì xã tắc của họ làm sao có thể bị chinh phạt. Nói xong, nhà vua từ
bỏ ý định xâm lược nước láng giềng, dẫn đoàn quân quay về.
Một người phụ nữ của thời còn thắp đuốc, thắp mỡ ngày xưa, mà biết nhận ra lẽ sống “xả kỷ
hiến tha” đến vậy, thử hỏi những con người, những cây bút, dù học cao mà còn quan niệm “vì
cha mẹ, vợ con, gia đình trước, sau mới có thể vì thiên hạ”, thật hẹp hòi, lạc hậu làm sao.

5
Làm việc thì dễ, làm người mới khó


12

Sau sự lẫn lộn về tình cảm của “cá nhân - dân tộc” ấy, không ít người lầm lẫn về mặc cảm tự tôn
dân tộc. Người ta cho rằng, người Việt rất thông minh, bằng cớ là con em của chúng ta đã đoạt
giải cao, huy chương vàng, huy chương bạc trong các kỳ thi toán quốc tế. Đúng, hẳn đó là điều
đáng tự hào. Nhưng như nhiều giáo sư cảnh tỉnh: Cho đến nay, chưa một người trong các thần
đồng đoạt giải quốc tế, từ thầy đến trò, trở thành một nhà toán học lý thuyết. Các thí sinh của ta
mới chỉ là những “con gà chọi” được đào tạo qua các trường chuyên lớp chọn, mang chuông đi
gõ xứ người, khoe khéo khoe khôn, nhưng giải thưởng dường như là mục đích cuối cùng, chứ
không phải là bước khởi đầu để cho thí sinh giật giải vàng bước vào con đường tiến bộ chông gai
vạn dặm. Nhiều người nói, người Việt chúng ta luyện cho mình một đôi cánh vạm vỡ, như học
gạo, nỗ lực, phấn đấu, nhưng đôi cánh đó không được dùng để bay đi, mà sau khi được cấp
chứng chỉ hạng ưu nó chỉ tìm cho mình một chỗ đậu vừa vững - vừa ấm, sao cho chức cao, lộc
hậu, ở nhà to. Điều đó không chỉ đúng với những thí sinh đi thi quốc tế, mà đúng với đa số các
thí sinh dự các kỳ thi mong kiếm được mảnh bằng kiếm sống. Người Trung Hoa có câu: “Làm
việc thì dễ, làm người mới khó”. Đi học trước hết là để nâng cao trí thức, văn hoá, phẩm giá làm
người, chất lượng sống của tâm hồn; nhưng trong đầu chúng ta chủ yếu mới là cách nghĩ: đi học
để làm quan. Đi học để chức cao lộc hậu hơn người. Một ngày tôi được xem chương trình phát
trên VTV3, về cá nhân xuất sắc, có kể chuyện về một thiếu niên vừa đoạt huy chương vàng qua
một kỳ thi toán quốc tế. Trước hết, câu chuyện rất cảm động, và rất đáng trọng. Nhà em nghèo,
bố mẹ tần tảo, nhịn ăn, nhịn mặc, quần quật làm thêm, mong giành tất cả điều kiện cho em ăn
học. Đến cái ngày em đi thi, rồi đăng quang giải vàng, em chạy ngay ra chợ, sắm cho bố một bộ
com-lê, sắm cho mẹ một sợi dây chuyền. Và em đem về, rưng rưng tặng cha - tặng mẹ. Bố mẹ
em rưng rưng đón nhận quà, và cả ba đều như đang dự hưởng niềm vui: từ nay nhà ta hết khổ, đã
đổi đời rồi. Câu chuyện tất nhiên là rất cảm động, tất nhiên là một tấm gương kiểu mẫu cho
muôn nhà noi theo. Nhưng đúng lúc đó trong đầu tôi bỗng dội lên một câu hỏi: Bố mẹ em đã hy
sinh tất cả cho em đạt tới thành công trong kỳ thi quốc tế, nhưng liệu bố mẹ em có dám trường
kỳ hy sinh tiếp tục để em vác huy chương vàng như hành trang đầu tiên dấn bước trong hành
trình cuộc đời? Với gia đình thì chưa rõ. Nhưng với bao gia đình thì dường như không thể, tóm
lại, tất cả mọi người đã “gục ngã” thư giãn, tận hưởng, “thôi đủ lắm rồi” ngay ngưỡng cửa của
vinh quang. Điều đó lý giải tại sao, chúng ta đã có rất nhiều thí sinh thông thái ở đẳng cấp cao
nhất thế giới, vậy mà không có nổi một nhà toán học lý thuyết. Tại sao? Câu trả lời thật là đơn
giản: Chúng ta mới chỉ biết lọt qua cửa khẩu một cách xuất sắc, sau đó vào trong thành tìm một
nơi nghỉ ngơi, chè chén say sưa, tận hưởng vị ngọt cuộc đời, một lần cho tất cả, mà không tiếp
tục hành trình. Nghĩa là, chúng ta mới chỉ có những thí sinh xuất sắc, mà chưa có những kẻ
“hành hương” xuất sắc! Nhiều người lý do lý chấu rằng, vì Việt Nam còn nghèo khổ nên chưa có
đáp ứng đầy đủ những điều kiện đi xa. Nói vậy là không đúng, vì toán học là môn tư duy thuần
khiết, chỉ cần một chiếc bút và những tờ giấy là đủ điều kiện cho việc nghiên cứu, tư duy, tìm tòi
toán học. Nói rộng hơn, mở ra các môn cần phương tiện như âm nhạc chẳng hạn, có nhiều nhạc
công của ta từng du học ở nước ngoài, trong tay đã có sẵn đàn, vậy mà nhiều người thành thật
tâm sự: - Với tôi, âm nhạc giờ đây đơn giản chỉ là hãy đam mê “văn ôn võ luyện” mỗi ngày, để
cho nghề tinh thông hơn; nhưng phải thừa nhận tôi còn quá mải lo chuyện kiếm ăn mỗi ngày,
chuyện gìn giữ tình cảm vợ chồng, vì thế những say mê lý tưởng càng ngày càng khô cạn trong
đầu. Con người, ai chẳng muốn trở thành phi thường, muốn vậy phải đi bằng cách phi thường,
nhưng hầu hết chúng ta vẫn tìm những lối đi bình thường - luôn luôn mở đầu từ “giá áo túi cơm”,
nhìn xa xa vẫn chỉ thấy túi cơm cùng giá áo, thì làm sao mong đợi có thể hái được những vì sao
của khát vọng. Hãy xem, chẳng phải Anh - xtanh (Einstein) chỉ với cây bút chì mới vài tờ giấy
đã phát minh ra “Lý thuyết tương đối” vĩ đại là gì?.


13

Thi hào Goethe có nói: “Một người mà lúc nào cũng chỉ nghĩ đến tiền thì không thể nào làm lý
tưởng của minh đơm hoa kết trái”. Người Việt ta không chỉ lúc nghèo, lúc thiếu ăn mới kêu la về
tiền, mà thậm chí lúc sung túc cũng kêu là về tiền, không biết cách dùng đồng tiền vào việc có
ích hơn. Chẳng hạn có rất nhiều lần chính phủ rót những khoản tiền khá lớn cho các cuộc hội
thảo, nhằm đầu tư cho một công trình nghiên cứu nào đó, nhưng việc đầu tiên người ta làm là
chia số vốn đầu tư đó vào các phong bì rồi phát đều cho mỗi người, từ gần đến xa, từ vòng trong
đến vòng ngoài của công trình. Lĩnh tiền xong ai cũng hỉ hả, và họ lại tiếp tục kêu ca về việc
chưa có đầu tư để phục vụ công trình nghiên cứu. Giả dụ, chính phủ lại rót tiếp cho một khoản
nữa, thì số tiền đó cũng chưa chạy ngay đến công trình, thêm một lần nữa nó lại bị xé lẻ, chạy tản
mát ra các phong bì, chia đều cho các chuyên gia, nhà nghiên cứu, và cán bộ của mọi phòng ban.
Và nếu có n lần rót, thì vẫn có n lần sự chi chác xảy ra. Đó đúng là cách tiểu nông, luôn có cái
nhìn xé lẻ, vụn vặt, chia chác, vơ vào cho quyền lợi cá nhân vị kỷ; đối nghịch hẳn lại với tinh
thần khoa học, cần những cái nhìn tập trung cao độ nhắm đến mục đích lý tưởng.
Cái nhìn vụ lợi tức thì, vội đem hạt giống ra ăn, làm thui chột cả những vụ mùa lớn của tương
lai, không chỉ xảy ra với các thiếu niên chưa kịp bước vào đời, mà đáng tiếc thay xảy ra với cả
những lớp cao học, thạc sĩ nọ, tiến sĩ kia đã dày dạn cả kiến thức lẫn kinh nghiệm trường đời. Đã
qua mấy trục năm, lớp tinh hoa của nước nhà đã đi du học những nước tiên tiến ở khắp địa cầu,
thử hỏi trong cả vạn người đầy ắp kiến thức và sở trường chuyên môn, có mấy người làm công
tác chuyên môn, hay hầu hết đều nhảy sang làm công tác quản lý, giữ ghế này ghế nọ? Nhà triết
học cổ đại Socrate cho rằng: Hạnh phúc lớn nhất của một con người, cũng như tài năng lớn nhất
của con người đó là được sống trong Sở trường để phát huy chính Sở trường đó của mình. Nói dễ
hiểu, thí dụ như cầu thủ Carlos người Brazil đang đầu quân cho đội Réal Madrid kia. Anh ta
thuận chân trái, và trở thành hậu vệ trái hay nhất thế giới. Do đó chân trái cũng đem lại vinh
quang tột đỉnh cho anh, rồi lương được trả cao, rồi anh càng đá càng hăng. Vì đá bóng vừa là
đam mê sở trường của anh, vừa là tất cả sự nghiệp, và là những lợi ích anh thu được cho cuộc
đời mình, cũng như cho đội bóng Réal Madrid, cũng như cho đội tuyển bóng đá Brazil. Người
Trung Hoa có câu: “Một chiếc móng ngựa hỏng có thể mất một viên tướng, mất một viên tướng
có thể mất một trận đánh, mất một trận đánh có thể mất một quốc gia”. Lịch sử loài người đã
từng chứng kiến, cuộc chiến tranh của quân Hy Lạp với thành Tơ-roa ròng rã chín năm trời,
chẳng thu được kết quả gì, nhưng cuối cùng do mất cảnh giác quân Tơ-roa đã ăn phải bả con
ngựa gỗ bỏ lại của quân Hy Lạp. Thế là bao quân hùng tướng mạnh chống cự bấy lâu bỗng chốc
trở tay không kịp với mấy mống người từ bụng ngựa gỗ chui ra. Hay chuyện thiên tài quân sự
Napoléon kia, thất bại trong trận Oa-téc-lô (Waterloo), theo văn hào Victor Hugo vào đúng lúc
đối kỵ linh hùng mạnh nhất xuất hiện vào thời điểm then chốt nhất để quyết định thắng lợi,
nhưng than ôi tất cả đã lao xuống và lấp đầy chiếc khe nằm khuất sau quả đồi. Trận chiến thất
bại chỉ vì đội quân của Napoléon đã sơ xảy thiếu điều tra kỹ lưỡng địa hình. Người Việt nói “sai
một ly đi một dặm”. Giờ đây, chúng ta thử đặt câu hỏi và trả lời chính câu hỏi rằng: Vậy hầu hết
số người cao học - du học - chuyên gia - tiến sĩ của ta đều bỏ sở trường chuyên môn được đào
tạo của mình lao sang săn lòng các ghế quản lý, thì dân tộc có phải chỉ được hưởng tài năng sở
đoán của họ mà thôi?
Thực ra, đây là cái dớp còn lại sau nghìn năm Bắc Thuộc, vẫn cái kiểu “Học nhi ưu tắc sĩ” (học
giỏi làm quan) của lớp học trò lều chõng ngày xưa. Đến đây, có lẽ cũng nên nhắc lại câu nói của
người Trung Hoa “Làm việc thì dễ, làm người mới khó”. Cách làm người của tầng lớp tri thức ở
ta đạt đến cấp độ nào, khi mà mọi giá trị của họ không phải được xây trên sở trường - học hành


14

xôi kinh nấu sử bấy lâu, mà chỉ dựa trên vài miếng võ sở đoản, chen vai thích cánh, xô đẩy lẫn
nhau, khôn vặt, bè phái để leo lên? và hầu hết những người ưu tú đó đá lạc đội hình, lại dùng
chính tài năng lạc địa chỉ vào phục vụ quê hương, thử hỏi quê hơng con Lạc cháu Hồng sẽ được
hưởng sự giàu mạnh, tiên tiến nào? Những câu hỏi này đặt ra có sớm sủa gì không? Và nó được
nhói lên trong óc trong tim của bao nhiêu người? Phải thành thật thú nhận rằng quá nhiều người
dửng dưng với những câu hỏi đại loại như vậy và một cách khá phổ quát, ý kiến của người này
người kia nổi lên cho thấy, trình độ lương tri của giới học thức nước nhà vừa xuống cấp vừa quá
thấp. So với trình độ lương tri ở đầu thế kỷ XX, khi nước nhà đứng trước vận hội độc lập, cách
mạng, bình dân học vụ, tụt hậu hơn nhiều
Có rất nhiều bằng chứng vẫn còn đang phơi sờ sờ trước mặt chúng ta. Giáo dục được xem như
nền tảng cơ bản để đánh giá trình độ văn hoá và tri thức của một quốc gia. Vậy mà nền giáo dục
của ta mới đây còn bầy ra những việc ngớ ngẩn tầy đình. Trước hết là việc cải cách chữ viết,
cũng là cải cách lối viết theo mẫu tự La Tinh sau cả chục năm cải cách, bỗng nhiên các nhà giáo
quay lại nói rằng: Lối viết trước kia chuẩn mực hơn, và tiện lợi hơn. Cả nền giáo dục từ trên
xuống dưới trong nhiều năm đều áp dụng việc cải cách chữ viết cho lớp một, vậy mà đến lúc truy
nguyên, người ta trả lời quấy quá: Không biết ai đã ra quyết định thực hiện việc này. Có đúng
không? Napoléon có nói: “Quá khoan dung với tội lỗi là đồng tình với tội lỗi”. Chẳng qua người
ta sợ đồng đổ cho cốt, cốt lại đổ cho đồng, lòng vả soi mình thấy giống lòng sung, và ngược lại,
thế là thôi đành hoà làng, phanh phui ra làm gì “trạng chết chúa cũng thăng hà”, đành đánh bài lờ
cho qua chuyện. Năm 2002 vừa qua, cả một nước còn ầm ĩ lên việc cải cách sách dạy lớp một và
lớp sáu. Nước ta đâu có quá thiếu người trí thức, cùng những người được đào tạo chuyên môn,
vậy mà ở thế kỷ XXI rồi, còn loay hoay soạn sách dạy lớp một không xong, thử hỏi bao giờ mới
bắt đầu sánh bước cùng năm châu bốn biển? Tại sao vậy? Theo sự trả lời của giáo sư Hồ Ngọc
Đại, đăng trên báo An Ninh thế giới số trong năm, thì người ta đâu chỉ lo soạn sách cho công
việc dạy và học, mà người ta còn lo móc vào đó bao nhiêu “tầu há mồm” đòi làm kinh tế ngay cả
trên những mầm non của tương lai.
Đức Phật có dạy, cái đáng quý nhất của cuộc đời mỗi người là để lại “Pháp thân” của mình. Vậy
thầy giáo là những người đang truyền lại “pháp thân”, những giá trị tinh thần cho hậu thế, thì
phải xem rọng nhất phẩm chất tâm hồn cũng như việc truyền bá phẩm chất kiến thức cho học trò.
Napoléon có nói rằng, mỗi con người chỉ là mỗi con số, chỉ có điều con số đó đứng ở vị trí nào.
Cùng là con số 1, nhưng đứng ở hàng chục tự nhiên đã ở trên 9 người, nhưng đứng ở hàng nghìn
tự nhiên trên 999 người. Napoléon cũng nói: tất cả lính tráng đều phải mơ có ngày làm tướng.
Đó là nghệ thuật của sức mạnh cũng là nghệ thuật của công việc quản lý, giành cho các nhà
chính trị. Nhưng các nhà giáo, các nhà khoa học, các nhà nghệ thuật thì không thể được mong,
hôm nay ta đứng ở hàng đơn vị, ngày mai khi vừa ngủ dậy ta tự nhiên đứng vào hàng vạn. Đơn
giản như một cầu thủ muốn tập tâng bóng trên đầu. Hôm nay anh tâng được 5 quả, không thể
ngày mai có thể bỗng chốc may mắn tâng được 50 quả, mà số lần tăng sẽ tiến bộ dần sau mỗi lần
tập của anh. Một nhạc công cũng vậy, không thể hôm nay còn tập dở một bản nhạc, ngày mai
bỗng đánh một cách thuần thục; trái lại muốn đánh thạo một bản nhạc, người ta phải tập đến cả
ngàn vạn lần. Một người trí thức thì càng phải nhận biết điều này. Qua bao năm học hành để cô
đúc thành phẩm chất của mình, anh không thể có quyền được nghĩ, lúc nào đó mình may mắn sẽ
chen ngang “mười năm phấn đấu không bằng cơ cấu một giờ”, phẩm chất mình tự nhiên tăng vọt
từ hàng đơn vị đến hàng triệu. Bởi thế có rất nhiều trí giả, tác giả vì không theo đuổi “ pháp
thân” bấy lâu của mình, dù đã học rất cao, nhưng vẫn đi giật lùi về toán học sơ cấp, cả đời lo


15

đếm số nguyên, xem ta đang được đứng vào dãy số nào. Vì phải phân thân, vừa theo đuổi pháp
thân - vừa theo đuổi “dãy số nguyên”, nên phải nói thành thật, năng lực phát sinh ý tưởng của
giới học thuật nước nhà còn rất kém cỏi. Không nói ở những hội nghị quốc tế, ngay với những
vấn đề trong nước thôi, moi được một ý tưởng trong miệng các học giả của ta khó như moi được
một viên ngọc quý của một con trai nằm tận đáy biển khơi. Hơn nữa, Học thì đúng ta không chịu
thua người, nhưng Hành thì kém xa, thậm chí tê liệt. Các ngành khoa học của chúng ta thì chẳng
nói làm gì vì hầu hết còn non trẻ, nhưng ngành nhân văn chẳng hạn, nước ta có một nền thơ vào
loại cao tuổi trong các lão niên nhân loại, vậy mà các học giả ngành văn - thơ chỉ bị búng nhẹ
một câu: “Các anh không làm nổi một bài thơ biết gì mà bình”, thế là họ nằm tê liệt bất động đến
cả vài chục năm không dám ngóc đầu dậy. Tại sao người ta không biết người trồng ớt chưa chắc
đã biết ăn ớt. ở các nước có công nghệ sản xuất rượu cao, đều có các chuyên gia nếm nho, chỉ
nếm cho qua họ biết nho vùng nào, có pha không, và định giá trị sản phẩm cho mỗi vụ nho, cho
dù được hái cùng trên một cánh đồng. Tại sao các học giả văn thơ không biết đáp lại “còn các
anh bận làm thơ thì cứ làm đi, các anh chưa có lý trí khách quan để thẩm định thơ, sao cứ mở hết
giải thưởng này đến giải thưởng kia, chấm người này nhất, người kia nhì?” Lời nói giản dị như
vậy, trong ngần ấy năm liệt vị không ra khỏi miệng, vì hai lý do:
- Thứ nhất: Người ta không dám tin vào kiến thức của mình.
- Thứ hai: Người ta lại lo chen vai thích cánh “đếm số nguyên”, nên đành “há miệng mắc quai”.
Văn học, là đại diện cho ngành sáng tạo dẫn lối nhân văn rất quan trọng của ngước nhà (vì khoa
học nước ta còn rất non trẻ), vậy mà nó tập tềnh ấm ớ đến mức, nhà thơ không lo làm thơ để xây
dựng “pháp thân” cứ lo kiếm ghế quản lý để mong “ăn trên ngồi chốc” các sáng tạo của người
khác. Đã xảy ra rất nhiều kiểm mẫu, đại loại như, làm được một bài thơ, thế là mang danh nổi
tiếng cả đời, được xếp chân quản lý, rồi lại được cử đi dạy các cây bút trẻ không chỉ làm thơ, mà
còn viết văn, viết tiểu thuyết nữa. Sự thể còn tiến triển ngây ngô đến mức, có cả ban chấm giải
cho các cuốn sách về dịch thuật, nhưng tất cả các thành viên trong ban, không ai biết ngoại ngữ
cả. Đến khi bị mọi người vặn hỏi về cơ cấu thiếu chính đáng của chuyên môn (chỉ có cái gọi là
chính đáng của những “số ghế”), người ta ung dung thản nhiên trả lời rằng: Chúng tôi không biết
ngoại ngữ. Nhưng chúng tôi biết thưởng thức văn đã dịch ra. Nói thế có khác gì học trò chấm
thầy giáo, bằng cách bảo rằng, em không biết kiến thức của thầy, nhưng nghe thầy giảng em
thích.
Người Trung Hoa có câu: “Triều đình mạc như tước, xã thôn mạc như xỉ”. Nghĩa là “Triều đình
trọng chức tước, xã thôn trọng tuổi thọ”. Người Việt cũng nói “Làm nghề nào ăn nghề ấy” hay
“thợ may ăn vải thợ vẽ ăn hồ”, hiểu theo nghĩa tích cực là ai cũng chỉ có thể làm việc theo chức
năng và hưởng những đặc quyền theo chức năng thôi: nhà nông lấy thu hái sản vật làm trọng,
chăn nuôi lấy gia cầm làm tài sản, đi buôn lấy lãi làm phương châm, theo đuổi sự nghiệp chính
trị lấy sự nâng cấp là đường tiến thân. Nhưng học giả và những cây bút không thể tham nổi danh
tức thời như con hát, cũng không thể tham “ở dưới một người ở trên muôn người như làm chính
trị, mà chỉ có thể lấy tác phẩm, lấy học thuật của mình làm vốn quý. Như cầu thủ Carlos kia lấy
chân trái làm tất cả chuyên môn, sở trường, danh dự, đời sống của mình. ấy vậy mà, các học giả,
cây bút của chúng ta nhiều người lại mắc chứng muốn mang họ “thích” - “Thích đủ thứ”. Bởi
vậy, học vấn láng cháng, chuyên môn làng nhàng, thiếu tự tin trong mọi việc làm. Các cụ nhà ta
đã dạy “Sinh nghề tư nghiệp” Đằng này “Sinh nghề” lại chỉ muốn chơi nghề, đùa nghề, du hí với


16

nghề, nghệ không tinh thì làm sao vinh thân cho được. Bởi theo nghề mà chẳng đạt tới tầm cao
vinh quang nào đáng kể, bởi thế nhiều cây bút đua nhau lao vào con đường quan trường. Xưa
nay đường quan trường là đường hoạn lộ, nghĩa là phải lao tâm khổ tứ, hy sinh cả mạng sống
mình, đằng này nhiều cây bút chỉ muốn leo lên ghế cao bằng những bước chân thung dung
“thưởng hoa vọng nguyệt ” “uống rượu làm thơ”. Vì ghế quan trường thì ít trong khi các cây bút
có mấy đồng thơ làm vốn lại quá nhiều, thế là sinh cảnh bè phái, cấu kết, cánh hẩu, đố kỵ, chen
ngang. Việc hội nhà văn trong nhiều năm không có giải nhất là bằng chứng cao nhất, đầy đủ nhất
cho lòng đố kỵ. Thí dụ, nếu người ta mở cuộc thi hoa hậu Hội Lim, thì dù ở đó không có những
người đẹp xuất sắc, thì chí ít vẫn phải chọn được một cô “ít xấu nhất”để làm hoa hậu. Đằng này.
Hội nhà văn mở cuộc thi, xong kết thúc bằng cách kết luận: Vì chưa có người đạt đến tầm nên
chưa có giải nhất. Tầm nào đây? Tầm Nobel, hay tầm châu á. Nên nhớ đấy là cuộc thi văn học,
của người Việt, ở tầm Việt Nam, do các thành viên giám khảo người Việt mở ra, thì không thể
được phép nghĩ ra trong đầu bất cứ thứ tầm ảo tưởng, “tầm với” nào khác hiện thực của cuộc thi.
Thực ra cách nói người khác chưa đủ tầm là để ám chỉ: mọi người không thể đạt đến giải nhất là
thứ tầm “phi giải thưởng” của ban giám khảo... Về nghề nghiệp, triết gia Descarte cho rằng,
một... cái kèo phải là kèo thì mới có thể lắp vào chiếc cột. Không ai có thể vừa là kèo dính sẵn
vào cột, giả sử có dính sẵn như vậy thì cũng vô ích, vì không thể giúp cho công việc lắp ráp ngôi
nhà. Không một ai có thể đa tài, người ta chỉ có thể có tài cao nhất bằng cách tận dụng chính sở
trường của mình. ấy vậy mà nhiều học giả, nhiều chuyên gia, nhiều cây bút của chúng ta lại
mang họ “thích đủ thứ ”, đem cái sở trường ra đổi lấy những khôn ngoan vặt vãnh, ứng biến che
chắn ganh đua lẫn nhau. Lão Tử nói “Đại trí nhược ngu”, nghĩa là làm kẻ khôn lớn thì phải mắc
những cái ngu nhỏ. Một con tầu lớn thì dứt khoát không thể xoay sở dễ dàng quay ngang quay
dọc như những chiếc thuyền thúng.
Chúng ta hãy tạm chia tay với giới học thuật và văn bút nước nhà, nói chung là những người “đa
tài”, nhưng chưa có tài nào ở cỡ chuyên nghiệp cả (đây là một bằng chứng chắc hơn cả đinh
đóng cột, rất nhiều ngành nghề ở ta không tìm thấy nổi vài mống chuyên nghiệp; đặc biệt giới
văn bút thì chưa có nổi một vài khuôn mặt theo đuổi chuyên môn cách chuyên nghiệp). Giờ
chúng ta hãy bước từ dưới lên cao, từ việc “giải trí”, thể thao của người Việt. Một lần, rảnh rỗi,
tôi rẽ vào một sân tennis ở Hà Nội. Phía bên kia sân là hai chàng tay chơi chuyên nghiệp người
Việt. Bên này là một cậu thiếu niên mới lớn người Đức rất hăm hở, sung mãn, và vô tư, đi kèm
cậu ta là một người đàn ông phiên dịch đã khá cao tuổi, theo để giúp cậu giao tiếp. Đánh được
vài quả, hai cầu thủ cùng bên sân, luôn miệng chê cậu thiếu niên là “tây ngố” “miệng còn hơi
sữa”. Đánh thêm vài quả nữa, vì cậu thiếu niên chạy trên lưới, đánh những trái bóng rất mạnh
mẽ. Vừa đỡ liểng xiểng với nhau một tẹo, hai cầu thủ người Việt đã quay sang lầm bầm chỉ trích
rồi rủa xả lẫn nhau. Chưa được thêm vài trái, cuộc cãi cọ đã căng lên tột độ, và cuộc chơi phải
dừng lại. Cậu thiếu niên Đức chưa kịp ra mồ hôi, cậu hỏi người phiên dịch: “tại sao đang chơi thì
lại dừng lại”. Người phiên dịch chẳng biết trả lời ra sao, vì lý do quá ấm ớ, không đủ tác nhân để
biến thành một lý do - cho dù nhỏ nhất. Cậu thiếu niên rất thất vọng, vì với cậu đơn giản ra sân
để được chơi, nhưng mắc phải cách sống của những con người lạ lùng hiếu thắng đến mức, đến
chơi cũng không xong. Tính hiếu thắng quá độ của người Việt biểu hiện cái gì vậy? Thực ra,
nhìn kỹ đây là những mặc cảm tự ti, vì tự cho mình bị đặt vào nơi quá thấp, nên mang tâm khí
yêng hùng vặt vãnh ra, muốn vênh vác với đời.
Tôi xin kể một câu chuyện hai năm rõ mười, để minh chứng cho luận điểm trên. Hồi tôi làm thuê
cho công ty giầu khí Shell đống ở 21 Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ Chí Minh. Cách vài chủ


17

nhật, công ty lại bỏ một khoản tiền không nhỏ ra thuê hẳn sân vận động Thống Nhất cho mấy
nhân viên cả Tây cả Ta, ra sân đấu cùng một đội bóng nhân viên của một công ty nào đó. Tại
cuộc thi đấu “người nhà” ấy, ông giám đốc bao giờ cũng ra xem, còn ông phó giám đốc thì bắt
buộc phải là người lo chu tất mọi việc từ thuê sân đến thi đấu, lẫn hậu cần . Trận đầu tiên khai
mạc vào lúc giải lao giữa trận, ông phó giám đốc ra tận sân hỏi mọi người: “Sao tôi thấy quá ít
những nhân viên Việt Nam làm việc cho công ty tham dự đội bóng? Các anh nên nhớ công ty bỏ
một khoản tiền lớn để các anh vui chơi ngày chủ nhật, nên hãy để người trong công ty càng tham
dự nhiều các tốt”.
Sự thể thế này, vì mấy nhân viên phụ trách việc chăm lo giải trí là những tài xế lái xe cho công
ty, trong công việc và trong sinh hoạt họ rất mặc cảm, cho là ta ít tài cán nhất, bởi thế họ nuôi ý
chí kiêu hãnh “trả đũa, phục thù” trong thể thao. Thế là, họ đi mời thêm mấy người quen biết,
hay họ hàng đến công ty, đá chí chết, mong thắng trận để nổi đình nổi đám. Than ôi! đội bóng gá
vúi là nhân viên của công ty vui chơi ngày chủ nhật máu ăn thua thì đạt giải nước non gì? Và cho
dù ông phó giám đốc đã nói thế, mỗi lần đá bóng, chứng nào tật ấy, họ vẫn mời người bên ngoài
vào đã hộ công ty. Chỉ có điều, nhân viên Tây, thì họ không dám thay, còn nhân viên phía Việt
Nam, cho anh nào vào sân thì được, để anh nào vào đội dự bị thì cứ cắn bồ hòn làm ngọt. Ông
phó giám đốc nhắc vài lượt không được, ông đành chịu, tiền công ty do ông bỏ ra nhưng không
được thấy người trong công ty chơi bóng. Nhưng ông tế nhị không dám can thiệp quá sâu vào
việc giải trí của người Việt. Sợ đụng phải vấn đề quốc tịch. Vậy đấy, câu chuyện chứng tỏ, ngay
cả khi được làm chủ một quỹ thời gian giải trí, nhưng do mắc mặc cảm hiếu thắng thấp kém, mà
nhiều người đã đổi vị thế “ông chủ: vui vầy” lấy vai “đầy tớ hãnh diện hão”.
Những câu chuyện trên không quá lạ lẫm xa xôi gì với cách sống của người Việt. Từ chuyện bé
đến chuyện to, chẳng hạn mới đây khi mở màn giải bóng đã chuyên nghiệp 2003, đang trận đấu,
trọng tài buộc phải rút hai thẻ đỏ, đuổi cùng lúc hai cầu thủ thuộc cùng một đội. Bởi lẽ, khi chơi
bóng không ăn ý với nhau, hai cầu thủ này lầu bầu chửi nhau, rồi lao vào choảng nhau, khiến
trọng tài đành phải tuớc quyền thi đấu cả hai. Thật là chuyện hi hữu trên đời. Trên thế giới, chỉ
có hai thẻ đỏ giành cho hai đội giao đấu, chứ mấy khi lại có thẻ đỏ phạt hai người cùng đội “giao
đấu” nhau? Chuyện hi hữu trong thể thao của chúng ta không phải là hiếm. Chẳng hạn có cả
cảnh cầu thủ đuổi đánh trọng tài, rồi khán giả ngoài sân cũng lao vào săn đuổi trọng tài, đòi đánh
đòi hỗ trợ... Thể thao mới chỉ là cơ chế hạ tầng của một nền văn hoá, vậy mà, nếu chúng ta
không biết soi mình thì sẽ trở thành ngớ ngẩn bất ngờ. Hãy nghe, chính ông huấn luyện viên
trưởng đội tuyển quốc gia là người nước ngoài, trong một buổi phỏng vấn trên truyền hình đã
phát biểu một cách đầy tế nhị như sau: “trước hết, muốn trở thành những đội bóng hùng mạnh
các cầu thủ Việt Nam, phải học biết tư duy chiến lược ” Tư duy chiến lược là gì? Theo ông huấn
luyện viên, thì khi có bóng các cầu thủ Việt Nam cần phải biết đưa bóng về hướng nào? Thật là
hóm hỉnh đến chết đứng mất thôi! Là cầu thủ bóng đá, ai chẳng biết khi có bóng thì phải tìm
cách đưa bóng đến khung thành của đối phương. Chuyện hiển nhiên vậy với nhiều cầu thủ xứ ta
cũng không hiển nhiên, bởi lẽ, họ còn phải đá ngang, đá tắt, đá vòng, đã vèo cho các vụ mua bán
cá độ. Vì thế mà có nhiều đường bóng rất ấm ớ, nửa nạc nửa mỡ, không hiểu cầu thủ trên sân
thuộc đội nào, đá bóng về phía khung thành bên này, hay về bên phía kia. Khi một trận đấu, tính
mục đích của thể thao đã không còn, trở nên nhạt nhẽo vô vị, thì liệu đã đến lúc nghĩ rằng: Nếu
không khéo ngay cả “trò chơi” ở cấp quốc gia, chúng ta cũng chơi không xong?


18

Chuyện ngược đời ở ta thì có rất nhiều. Theo điều tra của thành phố Hà Nội năm 2001 thì thấy:
Bình quân cứ 8 người tốt nghiệp đại học, mới có hai người học nghề. Đây là tình trạng mà trong
dân gian vẫn nói “thầy nhiều hơn thợ”, và ai cũng muốn làm thầy, chẳng ai muốn làm thợ. Tình
trạng đó dẫn đến các kiểu sính chữ dởm, học dởm, đỗ đạt dởm. Và điều đó được bộc lộ tức thì
qua “Cuộc thi tuyển chọn việc làm” ở hội chợ Giảng Võ năm 2002. Nhiều chuyên gia, khi tiếp
xúc với nhiều sinh viên tốt nghiệp ra trường đã bảo rằng: các em thiếu tự tin đến mức, hầu như
không có được chủ kiến trong bất cứ việc gì, và mọi việc từ nhỏ đến lớn cảm giác phải cầm tận
tay các em dẫn vào công việc. Có quá nhiều sinh viên, sau khi tốt nghiệp xong, ao ước được làm
công việc của công nhân cũng không xong. Chẳng hạn, tôi có bước vào một xưởng in nhỏ, người
thợ chỉ làm công việc đứng máy in thôi, anh cho biết anh đã qua đào tạo công nhân kỹ thuật tại
nước ngoài bốn năm. Như vậy chí ít anh phải thạo ngoại ngữ, và phải thông thuộc mình. Nghề
của anh trông đơn giản vậy mà khó đến mức, anh học xong về nước tham gia sản xuất cả chục
năm, mà tay nghề còn chưa vượt qua bậc bốn. Anh cho biết, trong xưởng ở tổ nào cũng có công
nhân kỹ thuật đã qua đào tạo ở nước ngoài. Anh rút bao thuốc lá địa phương rẻ tiền mời tôi, với
điệu bộ rất tự tin, theo kiểu “tôi là công nhân, thu nhập của tôi ở mức ấy thôi, và tôi mỗi anh
thuốc tôi vẫn dùng”. Chỉ một điệu bộ nhỏ như vậy đã bắt tôi hiểu rằng khi người ta có công việc
thật, làm thật, thì người ta sống lành mạnh, thành thật. Trái với anh công nhân kia, có rất nhiều
sinh viên của tra ra trường không có công ăn việc làm, dần dần bị lối sống vờ vịt lôi kéo, xô đẩy,
làm thoái hoá không dám sống thật với mình. Chào không ra chào, cám ơn không ra cám ơn, xin
lỗi không ra xin lỗi, tuổi đã suýt xoát ba mươi, mà vẫn thường xuyên diễn tuồng “ngậm miệng ăn
tiền”, hay “ấp úng như ngậm hột thị”. Đây, tôi không phải muốn dè bỉu các bạn trẻ, mà trong trào
lưu chung của thế giới đang cảnh tỉnh về nạn “mù chữ mới” hay “vô văn hoá” mới, chúng ta
cũng phải nên ngắm lại mình. Hiện nay, các SOS chính thức theo các cuộc điều tra xã hội, nước
ta có hàng trăm trường đại học, nhưng chủ yếu “mới chỉ xoay quanh” môn ngoại ngữ và môn vi
tính, mong xin một chân làm đánh máy văn phòng cho các công ty liên doanh. Như vậy thấy nổi
cộm rõ một điều, cái sở học của chúng ta mới chỉ ở mức dồn sự chú mục vào chân làm “tớ” cho
người. Trả lời trên truyền hình, một nữ chuyên gia nước ngoài (tôi không nhớ tên) nói thẳng
rằng: Tôi thấy nước các bạn đang cần rất nhiều nghề, chẳng hạn có nhiều xe máy thì cần các thợ
máy để sửa chữa, rồi thực phẩm đóng gói, rồi ngành dệt may, rồi cán bộ ngành luật... thế nhưng
tôi chỉ thấy mọi người lao vào ngành vi tính và siêu vi tính, như thể đó là sự cần thiết duy nhất
của cuộc sống.
Người Việt không những còn lạc hậu, mà còn làm nhiều việc ngược đời đến mức lạc điệu. Chính
người Việt đã tự trào cách dân gian rằng: “Ăn nhanh, đi chậm, đái đường, hôn bụi rậm”. Đái là
cái xấu lại có thể đứng vô tư bên đường mà đái. Thậm chí còn có chuyện vui rằng, bà kia đang
làm cái việc ấy, thấy xe buýt đi qua, sợ lỡ xe, nên vừa “tè” vừa vẫy xe dừng lại. Còn hôn là tình
cảm cao quý người ta trao nhau, lại cứ phải kéo nhau vào chỗ kín, chỗ tối mới dám hôn. Những
việc ngược đời đó mới chỉ là sinh hoạt của mỗi cá nhân, chưa ảnh hưởng gì lớn đến quyền lợi
cộng đồng. Nhưng cái nết ngược đời đó thành cố tật lan ra xã hội thì thiệt hại không biết bao
nhiêu mà kể. Chẳng hạn, ở rất nhiều nơi, nhiều lần, người ta cứ làm đường xong, lại đào đường
đặt cống, rồi đào đường đặt ống nước, đặt dây điện, rồi dây điện thoại, mỗi lần đào là một lần
làm lại đường. Khi được hỏi, một anh công nhân đào đường trả lời, chúng tôi phải bới việc ra mà
đào, vì càng đào thì mới càng rút được tiền quỹ đầu tư, vả lại nếu không còn chỗ để đào thì
chúng tôi phải bán xới lên rừng sao? Vì thế, muốn ở thành phố, muốn có việc làm, muốn được
trả tiền, thì phải bới chỗ ra mà đào. Một anh cai đầu tư có lần còn tâm sự, giả dụ chiếc cột điện
hỏng nằm kia, tôi sẽ tìm cách xin kinh phí để khênh nó qua chỗ khác, ít ngày sau tôi sẽ tìm cách


19

xin kinh phí để khênh nó về chỗ cũ. Đấy vẫn chỉ là cách nói biểu tượng nhẹ nhàng thôi, còn trên
thực tế theo điều tra mới đây của nhà nước được phát trên truyền hình, năm 2002, thì nạn thất
thoát đến 60% vốn đầu tư xảy ra với nhiều công trình từ xây dựng cơ bản đến sản xuất, kinh
doanh kể từ Bắc chí Nam. Chẳng hạn như công trình cầu chui Văn Thánh ở thành phố Hồ Chí
Minh, giá trị xây lắp được đầu tư là 3,5 tỷ đồng, nhưng nó đã vòng vèo chạy khỏi chiếc cầu thực
2 tỷ đồng, nên mới làm xong đã long lở gây tai họa cho nhân dân.
Làm đường rồi lại đào đường. Việc như vậy có “dại” không? Dại à, mỗi lần làm lại đường là một
lần xin được kinh phí mới, rồi khi đào lại xin thêm được khoản nữa, và không thể đào lên rồi lại
không phải làm như trước. Với mấy kẻ hám lợi vặt thì đó là khôn. Nhưng với tài sản của dân tộc
thì đó vừa là thiệt hại vừa là dại dột. Dại dột vẫn chưa đáng lo, cái lo ở đây là người ta biết dại
mà vẫn làm, cố tình dại dột là một băng hoại ghê gớm về đạo đức. Đây cũng là cách “gà què ăn
quẩn cối xay”, “Ăn xó mó niêu” của những anh hùng xó bếp. Việc này lây lan một cách tai hại từ
tầm vi mô đến tầm vĩ mô. Theo thông báo chính thức, thì hiện nay ở nhiều tỉnh và thành phố,
người ta xây dựng các khu sản xuất và dân cư theo kiểu, thượng tầng đã xây xong nhưng hạ tầng
cơ bản như hệ thống điện, nước, cống ngầm, cả đường giao thông đi vào vẫn chưa có. Đó có phải
là bằng cớ to đùng về quy trình ngược của phần lớn người Việt chúng ta. ở các nước, dù xây
dựng bất cứ khu nào, người ta đều phải xây dựng đường xá trước, rồi đến các công trình đặt
ngầm dưới đất, sau đó mới đến các công trình đặt nổi ở bên trên. Nhưng ở ta sao cứ làm ngược
lại? Câu trả lời là chỉ vì vụ lợi. Tôi xin kể một câu chuyện thật đơn giản. Xóm tôi ở, đường thấp
hơn sân - vườn của các nhà nên cứ mỗi khi mưa là lầy lội, nhão nhoét bùn đất rất lâu, kể cả khi
trời đã tạnh, cả xóm bàn nhau sẽ đắp cao đường. Và một chủ nhật, già trẻ, trai gái “ra quân” kéo
xe cải tiến chở đất đá về đắp đường.
Và xe vừa vào đến đầu ngõ, thì các hộ ở đầu ngõ liền ra lệnh cho đổ đất đá xuống. Thế là tất cả
ùn tắc, bùng nhùng ngay đầu lối xóm nhỏ bé. Nhiều người hỏi tại sao không đổ cuốn chiếu từ
trong ra như vậy vừa không tắc, vừa nhanh, vừa tiện. Nhưng bà ở đầu ngõ trả lời rằng: đổ từ
trong ra, nhỡ ra đến nhà tôi không còn đất đá thì ngõ nhà tôi bị thiệt à. Thế là ai cũng sợ thiệt, xe
đi từ ngoài vào đến ngõ nhà nào thì nhà ấy lại hô hào đổ xuống. Rút cục các xe càng đi sâu vào
trong càng phải leo lên tầng đất đá xe trước vừa đổ. Công việc tiến hành chẳng mấy chốc thì dã
đám. Mọi người thất vọng không phải chỉ vì mệt mỏi vô lý, cứ phải khênh xe chèo qua đất đá và
người, dồn tắc lại, mà cái chính là thất vọng về lòng ích kỷ, mới tối qua họp xóm thôi, mọi người
vừa nhất trí đắp cao con đường của xóm, thì sáng nay ngay tức thì người ta đã đua nhau trình
diễn lòng ích kỷ. Cả xóm đắp một con đường nhỏ, nếu đắp cuốn chiếu từ trong ra ngoài thì chỉ
hơn một giờ là xong; đằng này người ta lại làm từ ngoài vào trong khiến cả buổi sáng phải vật vã
trong lùng nhùng vô lý. Sự ích kỷ đó đã bịt mắt trí khôn dù bé nhất của con người, thấy cái đáng
làm rất nhỏ mà không làm được. Và sự ích kỷ vô lý đến mức, chỉ một giờ sau người ta sẽ đắp
đường qua ngõ nhà mình, nhưng cũng không thể nào chờ nổi.
Trong rất nhiều công trình của chúng ta, sự ích kỷ, tính toán vụ lợi bộ phận và vụn vặt đã hoành
hành gặm nhấm rất nhiều tài sản của chúng ta. Không phải chui vào túi nhau và ném ra ngoài bãi
rác. Chẳng hạn, như nhiều người quen biết tôi, nhận căn hộ mới. Các căn hộ có rất nhiều cửa sổ
và cửa ra vào đến mức vô lý, vì lẽ người thiết kế ra chúng muốn rút thêm tiền công thợ nề trát
khung cửa, và thợ mộc đóng khung gỗ. Có rất nhiều công trình từ căn hộ đến những ngôi nhà
lớn, khi nhận nhà chỉ là nhận một thứ “làm đại khái”, sau đó chủ nhân của nó lại phải phá đi làm
lại nhiều bộ phận vừa vô lý vừa qua loa của ngôi nhà. Người Việt nói “Một lần chẳng tốn bốn lần


20

chẳng xong”. Thực ra một lần đã quá tốn cho những thứ vừa phi lý và đại khái, sau đó chúng ta
phải tốn kém bốn lần để loại bỏ những thứ đó vào bãi rác, tiền đổ xuống sông, xuống biển. Đúng
là “cái dại làm hại cái khôn”.

II. Thước để ngắm mình
Người việt có câu “Muốn tròn thì phải có khuôn, muốn vuông thì phải có thước”
Đề tài cuốn sách của tôi là “Người Việt tự ngắm mình”. Chúng ta ngắm mình không phải bằng
cách chỉ ra hết tật xấu này đến tật xấu kia, những tật xấu mà trước hết có tôi, gia đình tôi, họ
hàng tôi tham dự vào đó, mà chúng ta phải soi cái nét hay cùng tật xấu của mình qua một chiếc
gương. Vậy thì, tiếp theo đây tôi xin trình bày chiếc gương có tính công truyền để đi tới công lý
của mọi người. Bởi lẽ, nếu đòi lấy chiếc gương của mình soi cho người khác thì thật nực cười,
cũng như các nhà mỹ học nói: “Mỗi người một sở thích”, người ta không thể lây sở thích của
mình như thích uống chè chê sở thích của người uống cà phê là kém. Chiếc gương để chúng ta
soi mình phải là chiếc gương của công lý. Muốn tiến đến Công lý thì trước hết phải đưa ra Công
truyền bàn bạc. Vì vậy tự thân tôi mong muốn sẽ đưa ra những sở cứ xác đáng nhất, và sự xác
đáng đó xin đưa ra vừa chia xẻ vừa tranh biện với mọi người, ngõ hầu chúng ta sẽ cùng tìm ra
tiếng nói của công truyền. Xương sống của tấm gương tôi đưa ra sẽ dựa trên cuộc tiến bộ mà
nhân loại theo đuổi hơn 2000 năm nay. Đó là cuộc tiến bộ về Cộng hoà. Cho đến nay, từ nước
giầu đến nước nghèo, nước đã phát triển đến nước đang phát triển, từ cuộc giải phóng nô lệ, đến
cuộc giải phóng thuộc địa, đến cuộc giải phóng phụ nữ, tất cả đều đã và đang đi theo mô hình
Cộng hoà của triết gia Platon (Cộng hoà diễn nghĩa đen thuần tuý là Cộng tồn - Hoà đồng chung
sống và lãnh đạo không phân biệt người mạnh người yếu, người giầu người nghèo, người sang
người hèn, người chủ người tớ, người nam người nữ. Mô hình này được thể hiện qua cơ chế Nhà
nước là Quốc hội - Dân chủ Nghị Viện ). Và mô hình Cộng hoà này được Platon viết kỹ trong
cuốn “Cộng hoà” (La République) (5).
Đây là một trong cuốn sách lớn nhất của Platon ghi lại các cuộc đối thoại của thầy mình là
Socrate - được coi là người chính thức mở màn triết học cổ đại. Tầm vóc của cuốn sách lớn và
ảnh hưởng đến hậu thế đến mức, triết gia lớn của thế kỷ XX Alfred North Whitehead (1861 1947) một lần đã nói: “Mọi người được sinh ra hoặc là môn đồ của Platon hoặc là môn đồ của
Aristote” (6) (Aristote lại là học trò của Platon).
1
Thành thật là nội dung thật của mọi hạnh phúc ở đời
Trong những điều dạy của Đức Phật có dạy một lời cốt tử rằng: “Sự ngu dốt lớn nhất của con
người là dối trá ”. Liệu có ai trong chúng ta nghi ngờ điều hiển nhiên này? Không, vẫn còn quá


21

nhiều, vì nhiều kẻ vụ lợi thấy ăn gian nói dối nhiều khi kiếm được lợi hơn là sống ngay thẳng,
nên điều hiển nhiên trên chưa chắc đã vào tai.
Để khẳng định sự thật này, một nhà tư tưởng đã quả quyết: “Không thật thì chưa nói đến thành
cái gì vĩ đại, mà từ cái nhỏ nhất cũng không thành được”. Chúng ta thử ngẫm coi, liệu một đầu
bếp giỏi, có nấu nổi một món bít tết ngon mà không có thịt bò thật? Hay một bát canh cá ngon
mà không có cá thật phải dùng cá rởm hay cá ôi? Ngay như một mớ rau héo liệu có thành món
rau luộc ngon được không?
Triết gia Socrate đặt nền móng hết sức căn bản mạch lạc cho sự thật. Ông nói: “Con người cần
sự thật như là thân xác phải ăn các thức ăn thật; nếu không, ăn phải thức ăn rởm, thức ăn xấu sẽ
bị tháo chảy, hay suy sụp cơ thể. Tinh thần cũng vậy, nếu nó ăn phải những lọc lừa dối trá gian
manh, sẽ bị băng hoại suy đồi”.
Thân xác phải ăn thức ăn thật nếu không sẽ gầy còm đau ốm, thì rõ rồi. Nhưng còn tinh thần,
nhiều người cãi lại Socrate rằng: Họ thấy có rất nhiều kẻ xấu gian manh, lọc lừa, vậy mà chúng
sống rất giàu có, sung túc, thậm chí còn giữ địa vị rất lớn nữa. Socrate bác lại với 3 lý do chính.
- Thứ nhất: Đó không phải những kẻ hạnh phúc, vì họ đã co giảm ý nghĩa toàn bộ đời sống cả
tinh thần lẫn vật chất của con người vào chỉ trong vật chất. Ăn ngon, mặc đẹp, ở nhà to đó chỉ là
hạnh phúc nhỏ bé của một “giá áo túi cơm”.
- Thứ hai: Tinh thần không tôn trọng sự thật sẽ không yên ổn, nó sẽ khắc khoải, dằn vặt, tự hành
hạ. Một người có thể đổi sự tan rã của tinh thần lấy sự no đủ của thể xác, là cách dại dột chứ
không phải hạnh phúc.
- Thứ ba: Tinh thần ngay thật sẽ đồng bản tính với thánh thần. Vì thánh thần tài giỏi hơn con
người cả muôn triệu lần, giầu hơn con người đến mức chẳng bao giờ phải ngó mắt nhìn dục vọng
tài sản, nên không bao giờ cần nói dối, đánh lừa con người. Và người ngay thật sẽ được thánh
thần nâng đỡ.
Trong thần thoại Hy Lạp, có những thánh thần luôn trợ giúp những người ngay thẳng, và rượt
đuổi những kẻ phạm tội, khiến cho chúng vật vã thất điên bát đảo, ăn không ngon ngủ không
yên, rút cục phải tìm đến những “vòng móng ngựa”. Cùng một cách nghĩ như thế, người Việt nói
“Có đức mặc sức mà ăn”.
Socrate còn thiết lập, thành thật là đức chuyên môn căn bản của mỗi người. Chẳng hạn, như
người chăn cừu kia, anh ta tử tế lương thiện, chăm chút cho những con cừu như những sinh linh
nhỏ bé. Thế là đàn cừu của anh tăng trưởng mỗi ngày một nhiều. Đến lúc anh trở nên giầu có,
không phải vì lúc nào cũng nghĩ đến cách giết thịt cừu bán lấy tiền, mà trước hết là do tay nghề
chăn nuôi tận tình chu đáo của mình. Cũng vậy, nghề của ông bác sĩ là chữa trị cùng tử tế yêu
thương. Do vậy mà bệnh nhân tìm đến ông mỗi ngày một nhiều. Ông trở nên giầu có, không phải
bằng cách cứ nhìn thấy bệnh nhân là nghĩ ngay đến cách moi tiền, và nếu ông làm thế tay nghề
của ông sẽ rất kém, không thể trở thành một bác sĩ vừa giỏi chuyên môn vừa giầu nhân ái; trái lại
mở đầu ông luôn nhìn bệnh nhân bằng một đôi mắt thương xót, ái ngại, cần chữa trị. Chính vậy


22

mà nhiều người mới tìm đến với ông, người ta móc túi trả ông rất hậu để đền cho lòng nhân hậu
cùng sự sốt sắng của ông.
Một thuyền trưởng giỏi cũng vậy, anh ta danh giá, giàu có, vì mắt luôn theo dõi các con sóng của
đại dương, thông thuộc địa hình và giờ thuỷ triều. Vì thế, chủ nhân những con tầu lớn tranh nhau
mời anh làm thuyền trưởng. Anh mới trở nên giầu có. Chứ anh không thể giầu có bằng cách mới
bước vào nghề, mắt không chịu dõi nhìn biển cả, mà chỉ đau đáu nhìn về phía két sắt của những
nhà băng?
Một chiến bình giỏi cũng vậy, nghề của anh là dũng cảm, vì chiến đấu dũng cảm có ngày anh
được lên tướng. Chứ anh không lên tướng bằng cách: suốt ngày ngồi mơ mộng đến cương vị chỉ
huy cả vạn người.
Về sự chân thật là điều kiện tất yếu để có hạnh phúc, triết gia Hegel đã khẳng định thế này: Một
cái cột dựng nghiêng nó sẽ đổ, vì vậy khi dựng cột những người thợ đều phải dựng cho đến khi
nào chiếc cột đứng thẳng lên. Như vậy nếu coi hạnh phúc là toà lâu đài, thì lâu đài đó không thể
đứng vững trên những chiếc cột được dựng nghiêng ngả.
Không có sự ngay thẳng, tất cả sẽ sụp đổ. Vì thế triết gia Platon mới bảo: “Không có điều thiện
tất cả điều khác là vô ích” (Sans la possession du biên, toute autre chose est inutile) (7). Chúng ta
thử ngẫm xem, không có điều thiện tức là con người ăn ở với con người chẳng ra gì, cắn xé, giết
chóc lẫn nhau, thân không còn thì nhà to cửa rộng, phẩm vật quý báu, tiện nghi tiện lợi, của cải
sang trọng có để cho ai và để làm gì? Người đẹp, lạc thú, hạnh phúc ở đâu khi chiếc giường chỉ
là nơi hành hạ, thậm chí hạ độc thủ lẫn nhau? Vì vậy, theo Rousseau, điều kiện đầu tiên để con
người được hạnh phúc - là phải biết sống tốt cùng nhau. Bởi vì nếu không biết chung sống tốt
lành với nhau, xã hội loài người chỉ còn là chiến địa cắn xé, tranh giành, thủ tiêu lẫn nhau. Ông
nói: “Ôi! trước tiên chúng ta hãy tốt, rồi sau đó chúng ta sẽ hạnh phúc” (8).
Từ xưa đến nay bằng kinh nghiệm sống của mình, người Việt cũng nhận thức, sự ngay thật là
giường mối đầu tiên của mọi sự tốt lành. Người Việt nói: “Ăn ngay nói thật mọi tật đều lành”.
Và dứt khoát xác định khôn ngoan mấy cũng không thể bằng thật thà: “Thật thà là cha quỉ quái”,
hay “Khôn ngoan chẳng lọ thật thà”. Cách quan niệm của người Việt phần nào cũng giống cách
nghĩ của Socrate, khi cho rằng: dối trá chỉ là hạng ma quỷ không thể nào sánh với sức mạnh của
thần thánh “thật thà”.
Còn cách sống bỏ qua, phẩm chất sự thật của tâm hồn, đổi lấy dầy áo, đầy cơm cho thân xác
cũng là một ảo tưởng không thể. Xưa nay người Trung Hoa vẫn quan niệm, vật không thể tách
rời tâm và ngược lại: “Vật nhờ tâm mà thông, tâm nhờ vật mà hiện”. Theo các nhà vật lý cơ học
lượng tử hiện đại thì: ngay trong thế giới hoạt động của mỗi nguyên tử nhỏ bé bằng một phần tỉ
đầu kim, thì chúng vận động, cấu kết tán rồi tụ như luôn có tinh thần tự thân dẫn dắt. Giản dị như
người ta đun sôi một ấm nước thôi, các nguyên tử sẽ rời bỏ cấu trúc của thứ nước lạnh, đan kết
thành những chùm cấu trúc mới (9). Thân xác luôn là trụ sở của tâm hồn, và tương tác trực tiếp
qua lại với tâm hồn như hình với bóng. Như vậy, thật ảo tưởng khi nghĩ rằng, tâm hồn có thể bất
cần đến “thức ăn sự thật” để thoả mãn trong một thân xác nuốt đầy phẩm vật, tiện nghi. Vì thế
triết gia Aristote cho rằng: “Người hạnh phúc phải là một tinh thần thông thái sống trong một cơ
thể lành mạnh”.


23

Không có sự thật thì không thành gì! Vì làm có nước giả, đất giả, thịt giả và rau giả? Còn tâm
hồn khi không có sự thật sẽ thành cái gì, chúng ta hãy nghe Bêlinxki quả quyết: “Khi một người
chỉ chuyên tâm dối trá thì nó mất hết trí thông minh và tài năng”.
2
Phân biệt minh bạch trật tự, và phán xét là điều kiện tất yếu cho mỗi cá nhân và xã hội
phát triển
Tất yếu một cá nhân không có hệ thần kinh “trật tự” sẽ là kẻ điên. Người việt diễn tả tình trạng
đó qua từ “chập mạch”, giống một hệ thống dây điện chạy chằng chịt không theo hàng lối minh
bạch nữa, chập vào nhau, gây nổ điện, phá huỷ, tê liệt hoàn toàn. Hoặc người Việt vẫn gọi đó là
loại hâm hấp, không ra sôi, không ra lạnh. Đó là tình trạng không minh định của một tâm hồn.
Một cá nhân không có ngăn nắp trật tự trong hệ thần kinh sẽ điên điên - khùng khùng, dở ông dở thằng. Xã hội cũng giống thế, để đánh giá trình độ văn minh của nó, người ta đều nhìn nhận
đến trình độ trật tự của nó.
Phân biệt, minh bạch, trật tự và phán xét là chuỗi rèn luyện tất yếu của tâm hồn, do triết gia
Socrate và Platon vạch ra.
Đó cũng là nguyên lý xuất hiện một cách tự nhiên. Chẳng hạn trong các nhà trẻ, người ta thường
cho các bé chơi các khối hình vuông, tam giác, tròn. Khi chơi các bé sẽ phát hiện ra, cái vuông
thì đứng, cái tam giác thì nghiêng, cái tròn thì lăn. Và xếp cái vuông lên cái vuông thì dễ, xếp cái
tam giác lên tam giác thì khó, xếp cái tròn lên cái tròn thì không thể. Sau khi nhận biết hình thù
và chức năng của các khối hình, các bé có thể phân biệt được chúng, sau đó xếp đặt theo trật tự.
Và hiển nhiên sự phán xét sẽ đi kèm theo đó, nếu các bé thấy ai định xếp hình tròn lên một hình
tròn.
Như vậy, một quy trình “nhân quả” đã nảy sinh tất yếu trong đầu mọi người: Biết phân biệt, thì
tự nhiên Sắp đặt, sắp đặt hiển nhiên là theo trật tự (không thế này thì thế khác), và khi đã có “hệ
thống” của trật tự thì tự nhiên chính hệ thống đó sẽ loại bỏ ra những gì không ăn nhập vào nó đó là phán xét.
Trái với quy trình trên có một sự thật, đối nghịch rằng: Không biết phán xét, thì cũng có nghĩa
không có khả năng minh định, phân biệt sự vật. Đó là thứ ấm ớ, “ăn không nên đọ nói không lên
lời”, nôm - na lẫn lộn thành ra mánh qué.
Socrate cho rằng: Lý trí là đời sống tiến bộ tất yếu của con người, vì chỉ có động vật và trẻ con là
hoạt động không có lý trí. Ông cũng cho rằng khả năng tất yếu của bộ não con người phải được
thể hiện bằng cách biết đưa ra “ý tưởng”và nhận xét. Đặc biệt là với người có học, cho đến khi
nào người đó chưa đưa ra ý tưởng của mình thì những kiến thức anh ta có được chỉ là thứ vật liệu
xếp kho ngủ im lìm một cách vô ích. Người đó giống như một cái cây đã hút không khí, ánh
nắng của trời, nước, chất mầu của đất, vậy mà chẳng hề đơm hoa kết trái nổi. Cho dù chỉ là một
ý tưởng. Nói cách ngắn gọn: đó là những người mới Học mà chưa Hành. Hay theo cách nói của
người Việt: Học đổ cơm xuống sông, xuống biển.


24

Tình trạng thui trái nhận thức, hay vô ích của những “ngăn kéo chữ” không chỉ xảy ra đại trà ở
Việt Nam, mà ngay ở Trung Quốc một dân tộc lớn nhất thế giới, có nền văn hiến lâu đời, mà mới
đây nhà văn hàng đầu của họ Vương Sóc cũng đã lột tả rằng: “Im lặng không những không phải
đức tính tốt đẹp, trái lại là một thứ vô liêm sỉ khôn khéo, một sách lược sinh tồn. Mặc dù là nhà
học vấn to đến mấy, một khi đã yêu quý bộ lông của mình, thì sẽ mất lương tri”. Ông còn chỉ ra
rằng, Trung Quốc từ cổ chí kim thiếu lý luận không phải vì do thiếu trình độ, mà là do thiếu
thành thật. Vì sách lược sinh tồn người ta ẩn nấp bằng cách “ngậm miệng ăn tiền”, nên không
dám nêu ra chính kiến của mình. Bởi vậy mà nền lý luận không thể phát triển được (10).
3
Sở trường là con đường phát huy cao nhất, là sở thích đạt tới hạnh phúc lớn nhất của cá
nhân. Mọi cá nhân với mọi sở trường được phát huy sẽ là con đường phát triển tốt nhất cho mọi
dân tộc
Sở trường nói một cách khoa học, là khả năng thiên bẩm mà trời phú cho mỗi người. Bởi thế khi
người đó được làm việc bằng sở trường của mình, thì thành công sẽ đạt được mức cao nhất có
thể, và người khác không có sở trường giống người đó sẽ không có khả năng cạnh tranh cùng
anh ta, vì thế trong lĩnh vực của mình (phạm vi nhỏ và lớn), anh ta leo lên ngôi vị cao nhất, khi
đó anh ta sẽ gặt hái phần thưởng lớn nhất cho cuộc sống của mình. Thêm nữa, khi anh ta dùng sở
trường của mình vào các trò vui chơi giải trí, thì sở trường đó cũng giúp anh đạt được những
trạng thái phấn khích cao nhất. Anh ta sẽ cảm thấy hạnh phúc nhất.
Thí dụ, một người được thiên phú sở trường “đánh cờ”. Anh ngồi chơi, tập chơi cờ từ giờ này
qua giờ kia không chán. Rồi đến ngày anh trở thành kiện tướng cờ, rồi nhà vô địch. Như vậy
cùng lúc sở trường đã đem đến cho anh sở thích cao nhất, thành công cao nhất.
Thí dụ khác, một người có hai bàn tay giỏi âm nhạc. Chơi đàn đã trở thành sở thích lớn nhất của
anh, cũng như con đường say mê nhất để tiến đến tài năng. Rồi anh trở thành cây đàn cự phách
nhất.
Một thí dụ ngược chiều, một người chỉ thạo đôi chân, giỏi đá bóng, vậy mà bạn bè cứ bắt ép anh
phải chơi bóng chuyền, anh khiên cưỡng chơi, vì vậy niềm vui của anh không thể nào hết cỡ,
cũng không thể nào đạt tới vinh quang trong trò chơi, vì chơi trái sở trường làm sao mà giỏi.
Và Socrate cho rằng, đã là sở trường, thì không ai cùng lúc có nhiều sở trường. Giống như tạo
hoá cho con chó chiếc mũi thính, nhưng lại cho con cú đôi mắt tinh, và cho con dơi đôi tai tài
tình. Con người cũng vậy, người có sở trường bóng đá, người có sở trường bóng bàn, người giỏi
âm nhạc, người hay điêu khắc... Vì thế một xã hội chỉ phát triển hùng cường khi mọi cá nhân
được phát huy hết cỡ sở trường của mình. Điều này vừa tạo ra sức phát triển của xã hội, vừa triệt
tiêu những xung đột cạnh tranh sinh tồn, bởi lẽ, mỗi người đều phát huy sở trường riêng rẽ của
mình, không ai có thể lấy sở trường về tay của mình ganh đua với sở trường của người khác về
chân. Người thợ thủ công có đôi tay khéo chẳng có lý do gì cạnh tranh với người giỏi chơi cờ.
Từ dây soi chiếu vào châu Á, thấy rằng sự cạnh tranh sinh tồn ở Trung Quốc, cũng như Việt
Nam, trước đây là rất gay gắt. Vì các sở trường không được phát huy mà mọi sở trường đều biến


25

thành sở trường “đếm ghế” duy nhất của con đường quan lộ. Văn hào, nhà văn hóa lớn Trung
Quốc. Lỗ Tấn cho rằng, sự cạnh tranh trên đường độc đạo “xếp ghế” duy nhất ấy không chỉ xảy
ra trên hiện thực, mà còn cắm sâu vào tiềm thức của người Trung Quốc đến mức chỉ có làm quan
mới là hạnh phúc. Lỗ Tấn miêu tả. Nền văn học Trung Quốc, muốn cho một người đàn ông lấy
vợ, thì trước hết phải đẩy người đó lên kinh đô thi cử, đỗ trạng, rồi mới vinh quy cuới vợ. Một
loạt các tập phim trong bộ phim “Bao Thanh Thiên”chiếu trên truyền hình, đều diễn tả kiểu mẫu
mà Lỗ Tấn chỉ ra. Theo đó, trong thời gian quá lâu, cả nghìn, rồi hơn nghìn năm, trong tâm cảm
của người Trung Quốc chỉ nổi lên một điều: Chỉ có làm quan mới là phẩm chất xứng đáng của
hạnh phúc, mới có quyền sánh ngôi cùng người đẹp.
Người Việt bị Trung Quốc đô hộ nghìn năm Bắc Thuộc, cũng đã nhiễm nặng căn tính này. Trong
câu “mắt thợ võ quan” chẳng hạn, người ta quan niệm chỉ có quan mới có vợ đẹp. Tư duy này
không chỉ có ông quan và vợ quan được hưởng, mà đã kéo theo một dãy một bè những thê thiếp,
nàng hầy con sen, thằng ở, kẻ đánh thuê đòi chen chân vào cửa quan để đòi được sống dưới ô
che: “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Cuộc cạnh tranh gay gắt ở cửa làm quan làm thui
chột các sở trường và tạo ra sức ép vô cùng quyết liệt, và căng thẳng giả tạo cho xã hội. Đó là
một nguyên nhân lý giải tại sao, hiện giờ có 8 người theo đại học, mới có 2 người học nghề
(trong khi đó tỷ lệ ở các nước tiên tiến là 1 người trình độ kỹ sư thì có 9 công nhân, tỷ lệ 10%)
Vậy tỷ lệ ở ta đang là, muốn làm thầy 80%, làm thợ (tớ) chỉ có 20%.
Thực trạng trên, điều ý nghĩa hơn không chỉ nằm ở sự chênh lệch vô lý của con số, mà là ở chỗ,
chúng ta hãy nhắc lại câu nói của người Trung Quốc “Làm việc thì dễ làm người mới khó” cách
sống phát huy sở trường của mọi người là tạo ra phẩm chất sống của mỗi cá nhân và dân tộc
hùng mạnh về mọi phía, trái lại cách đua chen ở trên người do cậy vào sự sắp đặt xã hội, chỉ tạo
ra một chuỗi số sơ cứng - chỉ có quyền hành sống mà không có tài năng sống
4
Ba phần của cơ thể đầu, tim, dạ dày tương ứng với ba cấp độ làm người
Socrate và Platon cho rằng, con người gồm ba phần chính, ba phần ấy có liên quan trực tiếp khá
khác biệt với chức năng của cơ thể.
Một đầu: Sự thông thái, khát vọng, lý tưởng và tham vọng.
Hai, Tim: Danh dự, ý chí, tình yêu.
Ba, Dạ dày: Lợi ích, dục vọng, tiền tài, nhu cầu cần thiết.
Tương ứng với ba phần của cơ thể, xã hội loài người cũng chia ra ba cấp làm người chính sau:
Một: Những người hướng về lối sống của não bộ, lo toan đời sống kiến thức, khát vọng cái cao
xa, và ham muốn những gì kỳ vĩ.
Hai: Những người có con tim mạnh mẽ, thì ý chí cao, khát vọng danh dự, và mong có được tình
yêu bằng cách hy sinh bản thân mình (tình yêu chỉ có được bằng con đường xả kỷ).


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×