Tải bản đầy đủ

Đề thi thử THPTQG năm 2019 ngữ văn gv phan thế hoài đề 20 có lời giải

Gv Phan Thế Hoài

ĐỀ THI THỬ THPT QG - NĂM 2018 – 2019

ĐỀ SỐ 20

Tên môn: Ngữ Văn 12

I. ĐỌC HIẾU
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
“Đại đa số thanh niên thời trước không ai suy nghĩ, trăn trở gì lắng về cuộc đời, vì ai đã có
phận nấy.
Phận là cái phần mà cuộc sống, xã hội dành cho mỗi người: phận làm trai, phận giàu, phận
nghèo, phận đàn bà, phận làm tôi, ... Con nhà lao động nghèo, nhiều lắm học đến chín, mười tuổi,
đã phải lo làm ăn xong kế nghiệp cha, anh. Con nhà giàu theo học lên cao thì làm quan, kém hơn
thì làm thầy. Sinh ra ở phận nào, theo phận ấy, chỉ số ít là thoát khỏi.
Trái lại, thanh niên ngày nay tuy cái phận mỗi người vẫn còn, song trước mặt mọi người đều
có khả năng mở ra nhiều con đường. Ngày nay sự lựa chọn và cố gắng của bản thân, sự giúp đỡ
của bạn bè đóng vai trò quyết định. Có lựa chọn tất phải có suy nghĩ, trăn trở.
Hết lớp tám, lớp chín, học gì đây? Trung học hay học nghề, hay đi sản xuất? Trai gái gặp nhau
bắt ngập ngừng. Yêu ai đây? Yêu như thế nào? Sức khỏe tăng nhanh, kiến thức tích lũy đã khá,

sống như thế nào đây? Ba câu hỏi ám ảnh: Tình yêu, nghề nghiệp, lối sống. Không thể quy cho số
phận. Cơ hội cũng chia đều sàn sàn cho mọi người.
Thanh niên ngày xưa bước vào đời như người đi xem phim đã biết trước ngôi ở rạp nào, xem
phim gì, ghế số bao nhiêu, cứ thế mà ngồi vào. Ngày nay, chưa biết sẽ xem phim gì, ở rạp nào, ngồi
ghế số mấy, cạnh ai. Cho đến khi ổn định được chỗ ngồi trong xã hội, xác định đúng được vai trò
và vị trí của mình là phải trải qua cả một thời gian dài.
Thời gian sẽ xây dựng cho mình một niềm tin và đạo lí,
Xây dựng lên thì như tàu ra biển rộng, có kim chỉ nam xác định hướng đi, không thì như chiếc
bách giữa dòng, e dè gió dập, hãi hùng sóng cao.
(Theo: Nguyễn Khắc Viện).
Câu 1. Trong đoạn trích trên, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào?
Câu 2. Theo tác giả đoạn trích, vì sao “đại đa số thanh niên thời trước không suy nghĩ trăn trở
nhiều về số phận bản thân”?.
Câu 3. Theo Nguyễn Khắc Viện, vì sao thanh niên thời nay cần phải suy nghĩ trăn trở về số phận?
Câu 4. Bài học có ý nghĩa nhất đối với bản thân Anh/Chị qua đoạn văn bản?
II. LÀM VĂN
Câu 1.
Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến của Nguyễn
Khắc Viện trong phần Đọc hiểu “Ba câu hỏi ám ảnh: Tình yêu, nghề nghiệp, lối sống Không thể
quay cho số phận.”
Câu 2.


Xác hàng thịt: (lắc đầu) Vô ích, cái linh hồn mờ nhạt của ông Trương Ba khốn khổ kia ơi, ông
không tách ra khỏi tôi được đâu, dù tôi chỉ là thân xác.
Hồn Trương Ba: A, mày cũng biết nói kia à? Vô lý, mày không thể biết nói! Mày không có tiếng
nói, mà chỉ là xác thịt âm u, đui mù...
Xác hàng thịt: Có đấy! Xác thịt có tiếng nói đấy! Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn
bị tiếng nói ấy sai khiến. Chính vì âm u, đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả cái linh
hồn cao khiết của ông đấy!
Hồn Trương Ba: Nói láo! Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư
tưởng, không có cảm xúc !
Xác hàng thịt: Có thật thế không?
Hồn Trương Ba: Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có
được: thèm ăn ngon, thèm rượu thịt...
Xác hàng thịt: Tất nhiên, tất nhiên. Sao ông không kể tiếp: khi ông ở bên nhà tôi... khi ông
đứng bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại...Đêm hôm đó, suýt nữa thì...
Hồn Trương Ba: Im đi! Đây là màu chứ, chân tay màu, hơi thở của mày...
Xác hàng thịt: Thì tôi có ghen đâu! Ai lại ghen với chính thân thể mình nhỉ! Tôi chỉ trách là sao
đêm ấy ông lại tự dưng bỏ chạy, hoài của !...Này, nhưng ta nên thành thật với nhau một chút:


chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khẩu đuôi, và đủ các thí thú
vị khác không làm hồn ông lâng lâng cảm xúc sao? Để thỏa mãn tôi, chẳng lẽ ông không tham dự
vào chút đỉnh gì? Nào, hãy thành thật trả lời!
Hồn Trương Ba: Ta... ta... đã bảo mày im đi!
Xác hàng thịt: Rõ là ông không dám trả lời. Giấu ai chứ không thể giấu tớ được! Hai ta đã hòa
với nhau làm một rồi!
Hôn Trương Ba: Không! Ta cần có một đời sống riêng : nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn...
Xác hàng thịt: Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhà tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà
còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!
Hồn Trương Ba: (bịt tai lại) Ta không muốn nghe này nữa!
(Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ)
Cảm nhận bi kịch tha hoá của nhân vật Trương Ba trong đoạn trích trên. Từ đó, liên hệ với bi
kịch bị tha hoa của nhân vật Chí Phèo (truyện “Chí Phèo”, Nam Cao), bình luận quan niệm nghệ
thuật về con người mà các tác giả đã gửi gắm qua tác phẩm.


HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

(http://tailieugiangday.com – Website đề thi – chuyên đề file word có lời giải chi tiết)
Quý thầy cô liên hệ đặt mua word: 03338.222.55
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
- Thao tác lập luận chủ yếu là so sánh.
Câu 2.
- Vì thanh niên thời trước ai đã có phận nấy, sinh ra ở phận nào, theo phận ấy, bước vào đời như
người đi xem phim đã biết trước ngồi ở rạp nào, xem phim gì, ghế số bao nhiêu cứ thế mà ngồi vào.
Câu 3.
- Thanh niên thời nay cần suy nghĩ trăn trở về số phận vì: Tuy cái phận vẫn còn nhưng trước mắt
mọi người đều có khả năng mở ra nhiều con đường, cơ hội được chia đều cho mọi người.
- Ngày nay thanh niên có quyền lựa chọn và cố gắng ngoài ra còn có sự giúp đỡ của bạn bè đóng
vai trò quan trọng đối với sự thành công của mỗi cá nhân.
Câu 4.
- Nêu ra 1 bài học có ý nghĩa nhất đối với bản thân.
- Lí giải hợp lí, thuyết phục.
II. LÀM VĂN
Câu 1. Bài học có ý nghĩa nhất cho bản thân qua đoạn văn bản ở phần Đọc hiểu.
- Câu mở đoạn: nêu vấn đề cần nghị luận: “Ba câu hỏi ám ảnh: Tình yêu, nghề nghiệp, lối sống.
Không thể quy cho số phận”.
- Các cầu phát triển đoạn:
+ Giải thích:
>Ba câu hỏi ám ảnh là ba câu hỏi trăn trở về tình yêu, nghề nghiệp, lối sống luôn lởn vởn,
thường trực trong trí óc, khiến phải suy nghĩ, không yên tâm.
> Không thể quy cho số phận: không thể đổ lỗi cho số phận, định mệnh.
=>Tình yêu có được hạnh phúc hay đau khổ nghề nghiệp có được như ý, thành công hay thất bại,
lối sống có thuận lợi may mắn hay bất hạnh, rủi ro... không phải do sự định trước của số phận theo
một thuyết duy tâm nào đó mà do chính bản thân con người quyết định.
- Phân tích, chứng minh: Quan điểm trên là đúng đắn, khách quan vì:
+ Cả ba vấn đề: tình yêu, nghề nghiệp, lối sống đối với mỗi thanh niên trong hội ngày nay đều do
bản thân mỗi người tự lựa chọn và có quyền được lựa chọn sao cho phù hợp với điều kiện hoàn
cảnh, tâm tư nguyện vọng, năng lực, sở trường của mình.
+ Chính các yếu tố: năng lực, phẩm chất, tính cách, tâm hồn, ý chí, nghị lực của mỗi người sẽ quyết
định không nhỏ tới cuộc sống của chính họ.


- Bàn luận:
+ Một số người đổ lỗi cho số phận, không tự mình trả lời cho ba câu hỏi trên.
+ Tuy nhiên cũng không loại bỏ yếu tố may rủi của khách quan đem lại trong cuốn sống của mỗi
người.
- Câu kết đoạn:
+ Luôn làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh.
+ Sống chân thành, có bản lĩnh, có ý chí, nghị lực; luôn lạc quan và hướng tới những điều tích cực,
tốt đẹp trong cuộc sống.
Câu 2. Cảm nhận bi kịch tha hoá của nhân vật Trương Ba trong đoạn trích. Từ đó, liên hệ với bi
kịch bị tha hoá của nhân vật Chí Phèo, bình luận quan niệm nghệ thuật về con người mà các tác
giả đã gửi gắm qua tác phẩm.
* Mở bài.
- Giới thiệu Lưu Quang Vũ và vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt.”
- Nêu vấn đề cần nghị luận (bi kịch tha hoá của nhân vật Trương Ba; bi kịch bị tha hoá của nhân vật
Chí Phèo (truyện “Chí Phèo”, Nam Cao), quan niệm nghệ thuật về con người mà các tác giả đã gửi
gắm qua tác phẩm.)
* Thân bài.
- Khái quát về vở kịch, vị trí đoạn trích:
+ “Hồn Tương Ba, da hàng thịt” (1981) là một trong những vở kịch đặc sắc nhất của Lưu Quang
Vũ. Từ cốt truyện dân gian, nhà văn xây dựng một vở kịch hiện đại chứa đựng những vấn đề mới
mẻ, có ý nghĩa tư tưởng và giá trị triết lí nhân sinh sâu sắc.
+ Tóm tắt sơ lược vở kịch. Đoạn trích thuộc phần đầu cảnh VII, diễn tả cuộc đối thoại giữa Hồn và
xác.
- Cảm nhận nội dung, nghệ thuật về bị kịch tha hoá của nhân vật Trương Ba:
+ Trước khi diễn ra cuộc đối thoại giữa hồn và xác, nhà viết kịch đã để cho Hồn Trương Ba “ngồi
ôm đầu một hồi lâu rồi vụt đứng dậy” với một lời độc thoại đầy khẩn thiết: - “Không. Không! Tôi
không muốn sống như thế này mãi! Tôi chán cái chỗ ở không phải là của tôi này lắm rồi!”. Hồn
Trương Ba đang sống với tâm trạng vô cùng bức bối, đau khổ thể hiện trong những câu cảm thán
ngắn, dồn dập cùng với ước nguyện khắc khoải. Hồn bức bối bởi không thể nào thoát ra khỏi cái
thân xác mà hồn ghê tởm. Hồn đau khổ bởi mình không còn là mình nữa. Trương Ba bây giờ vụng
về, thô lô, phũ phàng lắm. Hồn Trương Ba cũng càng lúc càng rơi vào trạng thái tuyệt vọng.
+ Trong cuộc đối thoại với xác anh hàng thịt, Hồn Trương Ba ở vào thể yếu, đuối lí Hội xác nói
những điều mà dù muốn hay không muốn Hồn vẫn phải thừa nhận: cái đêm khi ông đứng cạnh vợ
anh hàng thịt với “tay chân run rẩy”, “hơi thở nóng rực”, “cổ nghẹn lại” và “suýt nữa thì...”. Đó
là cảm giác “xao xuyến” trước những nón ăn mà trước đây Hồn cho là “phàm”. Đó là cái lần ông tát
thằng con ông “tóe máu mồm máu mũi”,... Xác anh hàng thịt gợi lại tất cả những sự thật ấy khiến
Hồn càng cảm thấy xấu hổ, cảm thấy mình ti tiện. Xác anh hàng thịt còn cười nhạo vào cái lí lẽ mà
ông đưa ra để ngụy biện: “Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn, ...”.
Trong cuộc đối thoại này, các thắng thế nên rất hể hả tuôn ra những lời thoại dài với chất giọng khi


thì mỉa mai cười nhạo khi thì lên mặt dạy đời, chỉ, châm chọc. Hồn chỉ buông những lời thoại ngắn
với giọng nhát gừng kèm theo những tiếng than, tiếng kêu.
- Nghệ thuật thể hiện:
+ Tạo ra một tình huống nghệ thuật đặc sắc, giàu tính biểu tượng. Đó là xung đột giữa cái phàm tục
với cái thanh cao, giữa nội dung và hình thức, giữa linh hồn và thể xác. Đây cũng là xung đột dai
dẳng giữa hai mặt tồn tại trong một con người.
+ Xây dựng những nhân vật có tính cách đa diện, phức tạp và sống động qua lời thoại giàu tính cá
thể và hành động kịch logic, có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hành động bên ngoài và hành động
bên trong.
+ Lời thoại 13 lời hồn, 13 lời xác, ngôn ngữ kịch vừa có màu sắc mỉa mai, dí dỏm, vừa mang tính
chất triết lý nghiêm trang, phù hợp với tính cách nhân vật.
Liên hệ với bi kịch bị tha hoá của nhân vật Chí Phèo, bình luận quan niệm nghệ thuật về con
người mà các tác giả đã gửi gắm qua tác phẩm.
- Giải thích: Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ, cách
cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn. Đó là quan niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác
phẩm. Thông qua quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn, ta có thể hình dung đầy đủ tư
tưởng nghệ thuật cũng như dấu ấn sáng tạo của nhà văn ấy.
- Phân tích, chứng minh quan niệm nghệ thuật về con người qua bi kịch bị tha hoá của nhân vật Chí
Phèo và bị kịch tha hoá của Trương Ba:

+ Quan niệm nghệ thuật về con người của Lưu Quang Vũ qua bi kịch tha hoá. nhân vật Trương Ba:
> Vì sực tắc trách của Nam Tào, Bắc Đẩu và sửa sai không đúng của Đế Thích mà Trương Ba
phải sống trong cảnh Hồn này, Xác nọ. Để rồi từ đó, Hồn Trương Ba đã bị xác hàng thịt điều
khiển, lấn át, dụ dỗ, mỉa mai, cười cợt.
> Qua cuộc đối thoại, thực chất là độc thoại nội tâm, nhà biên kịch khẳng định: trong một con
người, thể xác và linh hồn cùng tồn tại. Thể xác và linh hồn có quan hệ hữu cơ với nhau, cả hai
gắn bó với nhau để cùng sống. Thể xác có tính độc lập tương đối của nó, có tiếng nói của nó,


có khả năng tác động vào bì linh hồn, vì nó là nơi trú ngụ của linh hồn. Khi thể xác tiêu tan thì
linh hồn cũng mất. Khi linh hồn “bay đi” thì thể xác cũng trở về cát bụi.
=> Qua bi kịch tha hóa của Trương Ba, tác giả có lời cảnh báo: khi con người phải sống trong
dung tục thì sớm hay muộn những phẩm chất tốt đẹp cũng sẽ bị cái dung tục ngự trị, lấn át và tàn
phá. Vì thế phải đấu tranh để loại bỏ sự dung tục, giả tạo để cuộc sống trở tươi sáng hơn, đẹp đẽ và
nhân văn hơn.
- Bình luận quan niệm nghệ thuật về con người của 2 nhà văn:
+ Con người sẽ đau khổ nếu rơi vào bi kịch bị tha hoá hoặc tha hoá. Tất cả đều do những kẻ thống
trị, có quyền, có chức gây ra;
+ Tuy sống và sáng tác ở hai thời kì lịch sử khác nhau, lựa chọn thể loại khác nhau nhưng cả hai
nhà văn đều có cái nhìn hiện thực về con người và triết lí nhân sinh sâu gắc: hãy cứu con người và
đấu tranh triệt để nhằm chống lại cái ác, cái xấu trong bất cứ hoàn cảnh xã hội nào.
* Kết bài.
- Kết luận về bi kịch của hai nhân vật trong hai tác phẩm.
- Cảm nghĩ của bản thân về vấn đề đã nghị luận.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x