Tải bản đầy đủ

Đề thi thử THPTQG năm 2019 ngữ văn gv phan thế hoài đề 17 có lời giải

Gv Phan Thế Hoài

ĐỀ THI THỬ THPT QG - NĂM 2018 – 2019

ĐỀ SỐ 17

Tên môn: Ngữ Văn 12

I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
Xin bạn bình tâm
Tôi chẳng bao giờ là nhà thơ tên tuổi cả
Danh hiệu đó xin nhường cho người khác
Tôi chỉ mong mình tự do
Để được là mình
Viết điều mình mong ước
Giữa cái thời sống là đeo đuổi
Danh hiệu, bạc tiền, ghế cao, nhà rộng
Tôi chọn tự do
Thi sĩ.
Tự do trước hết là chính mình

Không chiều lụy mình
Ngỏng cổ nghe lời khen tặng
Với tôi Sự ấn thưởng một câu nói bụi bạn bè
Chiếc lá xanh bên đường
Chân mây chiều rạng rỡ
Tự do là tất cả
Những ràng buộc trong sạch
Giữa con người và con người
Con người cùng ngoại vật
Không ngã giá
Thật bình dị
Tự do làm tâm hồn ta lớn lên
Trong chiều kích vũ trụ.
(“Tự do”, Nguyễn Khoa Điềm)
Câu 1. Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nào? Được viết bằng thể thơ gì?
Câu 2. Chỉ ra và phân tích tác dụng nghệ thuật của biện pháp tu từ nổi bật nhất mà tác giả sử dụng
trong văn bản.


Câu 3. Anh/Chị hiểu thế nào về hai câu thơ: “Tự do làm tâm hồn ta lớn lên”/ “Trong chiều kích vũ
trụ”?
Câu 4. Căn cứ vào nội dung văn bản, Anh/Chị hãy giải thích nhan đề “Tự do” theo quan niệm của
Nguyễn Khoa Điềm.
II. LÀM VĂN
Câu 1.
Anh/Chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến được nêu ra trong
văn bản ở phần Đọc hiểu: Tự do trước hết là chính mình.
Câu 2.
Trong bóng tối, Mị đứng im, như không biết mình đang bị trói. Hơi rượu còn nồng nàn. Mị vẫn
nghe thấy tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi. “Em không yêu, quả cao rơi rồi. Em yêu
người hao, em bắt pao nào...”. Mị cùng bước đi. Nhưng chân đau không cựa được. Mị không nghe
tiếng sáo nữa. Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp cào oách. Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ.
Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.
Chó sủa xa xa. Chừng đã khuya. Lúc này, lúc trai đang đến gõ cách làm hiệu, rủ người yêu dỡ
vách ra từng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi. Cả đêm Mị phải trói đứng như thế. Lúc thì khắp
người bị dây trói thít lại, đau nhức. Lúc lại tràn trề tha thiết nhớ. Hơi rượu tỏa. Tiếng sáo. Tiếng
chó xa. Mị lúc mê, lúc tỉnh. Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ. Mi bàng hoàn
tỉnh. Buổi sáng âm âm trong cái nhà gỗ rộng. Vách bên cũng im ắng. Không nghe tiếng lửa réo
trong lò nấu lợn. Không một tiếng động. Không biết bên buồng quanh đấy, các chị vợ anh, vợ chú
của A Sử có còn ở nhà, không biết tất cả những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan đã được đi


chơi hay cũng đang phải trói như Mị. Mị không thể biết. Đời người đàn bà lấy chồng nhà giàu ở
Hồng Ngài, một đời người chỉ biết đi theo đuổi con ngựa của chồng. Mị chợt nhớ lại câu chuyện
người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có người trói oợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi,
khi về nhìn đến, vợ chết rồi. Mi sợ quá, Mị cựa quậy. Xem mình còn sống hay chết. Có tay, đầu, bắp
chân bị dây trói xiết lại, đau dứt từng mảnh thịt.
(Trích “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài)
Cảm nhận sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong đoạn văn trên. Từ đó, liên hệ nhận vật
Liên trong cảnh chờ chuyến tàu đêm (Truyện “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam, Ngữ Văn 11) để bình luận
về vẻ đẹp khát vọng sống của con người.

HƯỚNG DẪN GIẢI CHI TIẾT

(http://tailieugiangday.com – Website đề thi – chuyên đề file word có lời giải chi tiết)
Quý thầy cô liên hệ đặt mua word: 03338.222.55


I. ĐỌC HIỂU
Câu 1.
- Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
- Văn bản được viết bằng thể thơ tự do.

Câu 3.
- Giải thích hai câu thơ: “Tự do làm tâm hồn ta lớn lên”/ “Trong chiều kích vũ trụ”.
+ Hai câu thơ khẳng định ý nghĩa của tự do đối với tâm hồn con người. Khi có được sự tự do thì
con người sẽ vượt thoát mọi giới hạn, phá bỏ những rào cả ràng buộc và sự chật hẹp, nhỏ bé để
vươn tới đời sống tinh thần phong phú, đẹp đẽ, lớn lao hơn. Từ đó sẽ làm chủ được bản thân, làm
chủ cuộc sống, và tầm hồn được nâng lên trong chiều kích rộng lớn, vô biên của vũ trụ.
+ Hai câu thơ không chỉ bày tỏ nhận thức, tình cảm của tác giả, mà còn gợi lên ở mỗi người khao
khát hướng tới cuộc sống tự do.
Câu 4.
- Giải thích nhan đề “Tự do” theo quan niệm của tác giả Nguyễn Khoa Điềm:
+ Nhan đề đã tập trung thể hiện nội dung chính của văn bản cũng như quan điểm, tư tưởng của tác
giả - đó là vấn đề “Tự do”. Trước hết, với người nghệ sĩ, tự do là được chính mình, được sáng tạo
và viết điều mình mong ước; tự do là không bị ràng buộc bởi vật chất, danh lợi, lời khen - chê của
dư luận...Tự do cũng có thể là tất cả những “ràng buộc trong sạch” trong những mối quan hệ vô tư,
tự nhiên, đẹp đẽ và cao thượng....
+ Đây không chỉ là quan niệm của người nghệ sĩ về tự do trong sáng tạo nghệ thuật nói riêng, mà
cũng là một quan niệm, nhận thức về vấn đề tự do cho cuộc sống của con người nói chung.
II. LÀM VĂN
Câu 1. Suy nghĩ về ý kiến được nêu ra trong văn bản ở phần Đọc hiểu: Tự do trước hết là chính
mình.
- Giải thích: Tự do là chính mình.


+ Tự do: là trạng thái không bị giam hãm về thể xác và tinh thần, không bị ép buộc phải làm theo
những điều mình không muốn mà được tự lựa chọn và hành động theo đúng với ý chí, nguyện vọng
của bản thân. Đó là điều mỗi cá nhân và cả nhân loại luôn khao khát hướng đến và đấu tranh để bảo
vệ.
+ Ý kiến đưa ra một cách định nghĩa về tự do: chính là trạng thái con người được sống thực với
chính mình, được làm điều mình muốn, không phải bắt buộc làm theo những điều người khác sai
khiến hay trở thành người khác. Chỉ khi được sống đúng là chính mình, con người mới có sự tự do
đích thực.
- Bàn luận:
+ Ý kiến trên đã khái quát đúng đắn bản chất của sự tự do: chỉ khi được sống đúng là chính mình,
con người mới có sự tự do đích thực. Vì sao lại như vậy?
+ Tự do không phải là điều người khác có thể ban phát cho ta, có thể giảng giải giúp ta hiểu mà chỉ
có bản thân mỗi người mới cảm nhận, mới nhận biết được mình có thực sự được tự do hay không?
+ Được là chính mình đồng nghĩa với việc con người đã dám xóa bỏ tất cả mọi rào cản, khuôn khổ,
ràng buộc vốn dĩ giam hãm bản thân để giải phóng cá nhân, cá tính, bản ngã; để dám sống với
những điều mình ao ước, dám hành động theo những điều mình suy nghĩ, được tự lựa chọn cách
sống mà mình cho là đúng và được quyết định cuộc đời, số phận của mình...
+ Chỉ là chính mình con người mới có sự tự do ở bất cứ đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả khi
bị giam cầm về thể xác. Còn nếu không được là chính mình thì dù có được tự do về thân thể, chúng
ta vẫn bị giam hãm trong cái bóng của người khác, bị “cầm tù” về tinh thần, không bao giờ có được
sự tự do đích thực.
- Bàn luận mở rộng:
+ Tự do là chính mình không đồng nghĩa với việc chúng ta được tùy ý làm theo tất cả những điều
mình muốn, mình nghĩ mà bất chấp các chuẩn mực đạo đức, quy định pháp luật và lợi ích của cộng
đồng. Đó hoàn toàn không phải là thứ tự do cá nhân ích kỉ. Chỉ khi sự tự do của cá nhân thống nhất
với sự tự do của cộng đồng, dân tộc thì sự tự do ấy mới chính đáng, bền vững.
+ Không hẳn cứ sống là chính mình thì con người sẽ mặc nhiên có được sự tự do. Để có tự do,
nhiều khi chúng ta phải hành động phải đấu tranh, dũng cảm chống lại những định kiến hẹp hòi,
những ràng buộc vô lối, những quy định khắc nghiệt để bảo vệ quyền tự do của chính mình.
- Rút ra bài học nhận thức và hành động đúng đắn, phù hợp.
Câu 2. So sánh nhân vật Mị và nhân vật Liên.
* Mở bài.
- Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm:
+ Tô Hoài là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam đương đại. “Vợ chồng A
Phủ” là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của ông, được viết sau chuyến đi thực tế Tây Bắc
năm 1953.
+ Tác phẩm là bức tranh bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của bọn
phong kiến, thực dân và là bài ca về phẩm chất, vẻ đẹp, về sức sống mãnh liệt của người lao động.


- Nêu vấn đề cần nghị luận: Đoạn trích diễn tả tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tối khi bị
A Sử trói không cho đi chơi xuân. Cũng như Mị, nhân vật Liên trong đêm đợi tàu đã thể hiện khát
vọng sống cao cả của con người.
* Thân bài.
Cảm nhận sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong đêm tối khi bị trói thể hiện qua đoạn trích.
- Sơ lược về cảnh ngộ của Mị trước khi bị trói trong đêm tình mùa xuân:
+ Mị là một cô gái trẻ đẹp, yêu đời, chăm chỉ lao động, nhà nghèo và rất hiếu thảo;
+ Do món nợ truyền kiếp của cha mẹ, Mị phải làm dâu gạt nợ cho thống lí Pá Tra, sống cuộc đời
trâu ngựa khổ đau;
+ Nhưng tận đáy sâu tâm hồn câm lặng ấy vẫn le lói tia lửa sống, chỉ chờ dịp là bùng lên mạnh mẽ.
Dịp ấy đã đến trong 1 đêm tình mùa xuân phơi phới mà tiếng sáo gọi bạn đầu làng đã làm xao động
lòng người phụ nữ trẻ;
+ Khi mùa xuân về, như quy luật vạn vật hồi sinh, sức trẻ trong Mị bừng trỗi dậy. Mị khêu đèn lên
cho bừng sáng căn buồng của mình, lén lấy hũ rượu uống ừng ực từng bát. Mị bồi hồi nghe tiếng
sáo, Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi.
+ Trông thấy Mi, A Sử bước lại, nắm Mị, lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách ca một tháng sợi
đay ra trói Mị đứng vào cột nhà, Tóc Mị xõa xuống, A Sử quấn luôn tóc lên cột làm cho Mị không
cúi, không nghiêng đầu được nữa.
- Diễn tả tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tối khi bị A Sử trói không cho đi chơi xuân:
+ Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói.
+ Hơi rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám
chơi... Mị vùng bước đi. “Như không đang biết mình đang sợ bị trói... Mị nhẫn nghe tiếng sáo đưa
Mị đi theo những cuộc chơi”, quên mọi đau đớn về thể xác, “Mị đã cùng dậy bước đi”. Điều đó
chứng tỏ sức sống tiềm ẩn trong con người Mị mãnh liệt biết nhường nào.
+ Nhưng tay chân đau không cử động được. Khi ấy, Mị mới biết mình đang bị trói, đang ở trong
căn nhà tù ngục này. Lòng Mị đau đớn, thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa.
+ Cả đêm Mị lúc mê lúc tỉnh.
- Bị trói đứng suốt đêm, Mị bàng hoàng tỉnh giấc.
+ Mi thấy thương cho những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan.
+ Mi nhớ đến người đàn bà bị trói đến chết trong nhà thống lí. Mị sợ chết. Chính bóng ma thần chết
ở ngôi nhà thống lí đã làm Mị sợ. Đồng thời, Mị nhận ra một điều chết lúc này là oan uổng. Tiếng
sáo, khát vọng tự do đã làm cho Mị khao khát sống;
+ Mị sợ hãi cựa quậy khi xem mình còn sống không thì sợi dây đay đã siết vào da thịt Mị.
- Nghệ thuật:
+ Bút pháp miêu tả tâm lí sắc sảo, tinh tế.
+Cách dẫn dắt tình tiết khéo léo, tự nhiên.
+ Giọng trần thuật của tác giả hòa vào những độc thoại nội tâm của nhân vật tạo nên ngôn ngữ nửa
trực tiếp đặc sắc.


+ Ngôn ngữ kể truyện tinh tế, mang đậm màu sắc miền núi.
Liên hệ nhận mật Liên trong cảnh cho chuyến tàu đêm để bình luận về vẻ đẹp khát vọng sống
của con người.
- Thạch Lam là cây bút viết truyện ngắn xuất sắc. Truyện của ông thường không có cốt truyện như
một bài thơ đượm buồn. Tác phẩm “Hai đứa trẻ” in trong tập “Nắng trong vườn” (1938). Truyện đã
miêu tả diễn biến nội tâm của hai đứa trẻ trước chiều muộn về đêm. Qua cảm xúc, tâm trạng của
Liên và An, tác giả đã thể hiện được bức tranh nơi phố huyện nghèo, niềm hy vọng mỏng manh mơ
hồ của những con người nơi phố huyện. Trong đó, nhân vật Liên khi đợi tàu về đêm đã thể hiện
được khát vọng sống của con người.
+ Tương tự như Mị, nhân vật Liên là một cô bé sống trong đói khổ nhưng vẫn có một tâm hồn
hướng tới cuộc sống tươi đẹp hơn.
+ Nếu như tâm hồn Mị theo tiếng sáo gọi bạn tình thì tâm hồn của Liên cũng luôn khao khát, hướng
về ánh sáng. Trong màn đêm, Liên luôn tìm một ánh sáng từ một nơi xa. Liên cố thức đợi chuyến
tàu không phải để bán hàng mà là để được nhìn thấy một cuộc sống náo động, một nguồn sáng rực
rỡ của con tàu như mang đến một cuộc sống khác, một thế giới khác.
- Bình luận về vẻ đẹp khát vọng sống của con người:
+ Hai nhân vật Liên và Mị đã khiến cho người đọc cảm nhận được vẻ đẹp khát vọng sống của con
người.Tâm hồn của họ luôn hướng về ánh sáng, về âm thanh cuộc sống cũng chính là niềm khao
khát được sống, được yêu thương và hạnh phúc. Họ đều hi vọng thoát khỏi hiện thực tối tăm.
Nhưng cuối cùng, cuộc Liên vẫn mãi chìm trong “bóng tối”, còn Mị đã được đổi đời nhờ có tinh
thần đấu tranh từ tự phát đến tự giác;
+ Qua khát vọng sống của hai nhân vật, ta thấy được tấm lòng nhân đạo của nhà văn Thạch Lam và
Tô Hoài. Các nhà văn có cùng niềm cảm thông với nỗi khổ của những người phụ nữ bất hạnh dưới
chế độ thực dân phong kiến; ca nghi tâm hồn của người dân, đặc biệt ca ngợi khát vọng sống cao
đẹp của họ. Đó cũng chính là niềm tin vào con người của các tác giả văn xuôi hiện đại Việt Nam.
* Kết bài.
- Kết luận về nội dung, nghệ thuật nhân vật Mị qua đoạn trích.
- Cảm nghĩ của bản thân về khát vọng sống của nhân vật Mị và Liên



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x