Tải bản đầy đủ

CHUYÊN ĐỀ: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM TỰ SỰ NGỮ VĂN 11

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................2
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu...................................................................................3
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.............................................................3
4. Nhiệm vụ chuyên đề....................................................................................3
5. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................3
6. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................3
B. PHẦN NỘI DUNG.......................................................................................4
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN......................................................................4
1. Khái niệm phương pháp DHĐV................................................................4
2. Quy trình thực hiện DHĐV.......................................................................5
3. Ưu và nhược điểm của phương pháp dạy học đóng vai............................8
4. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đóng vai......................................9
CHƯƠNG II . CƠ SỞ THỰC TIỄN...............................................................9
1. Đặc điểm kiểu bài dạy tác phẩm tự sự ở trường THPT.............................9
2. Thực trạng dạy và học theo phương pháp DHĐV ..................................10
2.1. Về phía giáo viên....................................................................................10
2.2. Về phía học sinh.....................................................................................11
CHƯƠNG III: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DHĐV VÀO DẠY HỌC TÁC
PHẨM TỰ SỰ................................................................................................11

1. Một số hình thức đóng vai trong dạy học tác phẩm tự sự .......................11
1.1. Đóng vai nhân vật..............................................................................11
1.2. Đóng vai người kể chuyện................................................................14
1.3. Đóng vai “giả định”..........................................................................15
2. Kế hoạch thực hiện phương pháp DHĐV trong dạy học đoạn trích “Hạnh
phúc của một tang gia” (Vũ Trọng Phụng)..................................................18
2.1. Quy trình sử dụng phương pháp DHĐV..............................................18
2.2. Thiết kế thể nghiệm phương pháp DHĐV qua đoạn trích “Hạnh phúc
của một tang gia” ........................................................................................20
C. PHẦN KẾT LUẬN.....................................................................................31
1. Hiệu quả....................................................................................................31
2. Khả năng áp dụng......................................................................................31
3. Khuyến nghị, đề xuất................................................................................32
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................33
1


CHUYÊN ĐỀ: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÓNG VAI TRONG DẠY HỌC
TÁC PHẨM TỰ SỰ - NGỮ VĂN 11
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
- Thực hiện Nghị quyết Trung ương số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013
về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, giáo dục phổ thông trong
phạm vi cả nước đang thực hiện đổi mới toàn bộ, từ: “mục tiêu chủ yếu trang bị
kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh; từ nội dung nặng
tính hàn lâm sang nội dung có tính thực tiễn cao; từ phương pháp truyền thụ một
chiều sang phương pháp dạy học tích cực; từ hình thức dạy học trên lớp là chủ yếu
sang kết hợp đa dạng các hình thức dạy học trong và ngoài lớp, trong và ngoài nhà
trường, trực tiếp và qua mạng; từ hình thức đánh giá tổng kết là chủ yếu sang coi
trọng đánh giá trên lớp và đánh giá quá trình; từ giáo viên đánh giá học sinh là chủ
yếu sang tăng cường việc học sinh tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh”,

- Thực hiện Kế hoạch số 249/KH-SGDDT ngày 06 tháng 02 năm 2018 của Sở
Giáo dục- Đào tạo tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu về việc tổ chức chuyên đề đổi mới
phương pháp dạy học khối Trung học và Giáo dục thường xuyên cấp tỉnh; Kế
hoạch số 05/KH-CUM XMĐĐCĐ về việc tổ chức chuyên đề đởi mới phương
pháp dạy học.
- Xuất phát từ nỗ lực cải tiến phương pháp dạy học hiệu quả hơn, nâng cao vai
trò của người học trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức mới dưới sự hướng dẫn của
giáo viên, truyền cảm hứng học tập cho học sinh, đem đến cho các em niềm yêu


thích, say mê với môn học, … tôi lựa chọn giải pháp dạy học đóng vai (và sau đây
xin được gọi là DHĐV) vào khai thác, áp dụng trong hoạt động dạy học của bản
thân, cụ thể hơn là trong quá trình dạy tác phẩm tự sự - Phần văn học Việt Nam
hiện đại (và sau đây xin được gọi là VHVNHĐ), chương trình Ngữ văn 11 (tập 1)
vì ưu điểm của phương pháp DHĐV có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục nói
chung và phù hợp đặc thù riêng của môn học, bài học.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết về phương pháp DHĐV.
2


- Nghiên cứu vận dụng DHĐV vào dạy học tác phẩm tự sự nhằm hình thành và
phát triển một số năng lực cho học sinh, khơi dậy niềm đam mê đối với môn học,
góp phần nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn ở trường THPT Bưng Riềng.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Việc sử dụng phương pháp DHĐV trong dạy học tác phẩm tự sự - Phần
VHVNHĐ nhằm phát triển một số năng lực cho học sinh khối 11, nâng cao chất
lượng giảng dạy bộ môn, khơi dậy niềm đam mê, hứng thú của học sinh đối với môn
học.
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học Ngữ văn ở trường THPT Bưng Riềng.
4. Nhiệm vụ chuyên đề
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của đề tài: kiến thức lí thuyết về DHĐV.
- Nghiên cứu việc sử dụng DHĐV trong dạy học Ngữ văn nhằm phát triển một
số năng lực cho học sinh.
- Cơ sở thực tiễn: tiến hành cho học sinh trực tiếp tham gia phương pháp
DHĐV trong dạy học đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ ” –
Vũ Trọng Phụng).
5. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu giới hạn trong các tác phẩm tự sự, phần Văn học hiện
đại trong chương trình Ngữ văn - Lớp 11 – tập 1.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu thu thập các nguồn tài liệu có liên quan đến phương pháp
DHĐV.
- Phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu đã thu thập được.
6.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Tìm hiểu việc sử dụng các phương pháp DHĐV trong dạy học Ngữ văn tại
trường THPT Bưng Riềng.

3


B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Khái niệm phương pháp DHĐV
- Trong quá trình nghiên cứu cơ sở lí luận của chuyên đề, tôi gặp rất nhiều
định nghĩa của nhiều tác giả khác nhau về phương pháp DHĐV, tuy nhiên trong
chuyên đề này, tôi xin đưa ra định nghĩa được lấy từ tài liệu Bồi dưỡng giáo viên
thực hiện chương trình SGK lớp 10 THPT, Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2006 để làm
cơ sở thực nghiệm, đó là: “Đóng vai là tổ chức cho người học thực hành, “làm
thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định”. Trong định nghĩa
này, các tác giả tiếp cận theo hướng nhấn mạnh vai trò của người học qua việc thể
hiện quan điểm, thái độ, hành vi ứng xử trước các tình huống được giao; GV nên
tạo các tình huống “mở” để người học tự sáng tạo kịch bản, lời thoại phù hợp với
nội dung bài học và kỹ năng của mình.
- Từ trước đến nay, nhiều giáo viên vẫn hiểu PP DHĐV là phương pháp dạy
học đóng kịch. Về phương pháp dạy học đóng kịch, tác giả Phan Trọng Ngọ, trong
cuốn “Dạy học và Phương pháp dạy học trong nhà trường – NXB Đại học sư phạm
Hà Nội, 2005” định nghĩa: “Phương pháp đóng kịch trong dạy học là GV cung cấp
kịch bản, học viên hành động theo các vai diễn. Qua đó, họ học được cách suy
nghĩ, thể hiện thái độ và hành động cũng như các kỹ năng ứng xử khác của nhân
vật trong kịch bản”. Tác giả PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh trong cuốn “Giáo dục
học – tập 1” cho rằng: “Đóng kịch là phương pháp dạy học, trong đó, GV tổ chức
quá trình dạy học bằng cách xây dựng kịch bản và thực hiện kịch bản đó nhằm
giúp học sinh hiểu sâu sắc nội dung học tập”. Như vậy, các định nghĩa về phương
pháp dạy học đóng kịch đều nhấn mạnh vai trò của người dạy là người tạo ra kịch
bản, yêu cầu người học diễn lại vai diễn đã soạn sẵn trong đó có chứa đựng nội
dung dạy học mà GV cần truyền đạt. Về mặt giống nhau, ta thấy dạy học đóng
kịch và dạy học đóng vai đều là “diễn” một vai khác mình trong một kịch bản có
sẵn. Còn khác nhau, trong dạy học đóng kịch, GV cho trước kịch bản, HS “diễn”
theo vai diễn có ý đồ của người dạy, còn DHĐV, người học chủ động tạo ra kịch
bản để “diễn” và hơn nữa, trong DHĐV, người học có thể vào rất nhiều “vai” khác
4


nhau, không chỉ sáng tạo vai từ tác phẩm văn học mà có thể vào bất cứ một “vai
diễn giả định” nào trong cuộc sống. Nếu hiểu theo cách hiểu DHĐV là dạy học
đóng kịch thì tôi thấy, thứ nhất thu hẹp ý nghĩa của từ “đóng vai”, thứ hai là GV
vẫn đóng vai trò chủ động trong quá trình dạy học, thứ ba là chưa phát huy được
tính tích cực, chủ động của học sinh, như vậy dạy học đóng kịch là một hình thức
của phương pháp DHĐV.
- Còn xét về khái niệm được nêu trong cuốn tài liệu tập huấn của Bộ giáo
dục và Đào tạo, các tác giả định nghĩa phương pháp DHĐV dưới góc độ thực
hành, “làm thử” và không chỉ “làm thử” diễn xuất mà còn “làm thử” vai nhà biên
kịch, “làm thử” vai đạo diễn, … trong những tình huống “giả định”. Phương pháp
này nhằm giúp các em tập trung suy nghĩ về một vấn đề, xem xét nó trong mối
quan hệ với tác phẩm văn học và bản thân, xem xét các cách ứng xử để lựa chọn
cho mình một cách ứng xử phù hợp – tất nhiên là phù hợp với trình độ hiểu biết,
quan điểm của học sinh đó về tình huống đặt ra. Từ đó, giáo viên có thể nắm được
mức độ hiểu bài và hiểu học sinh của mình để có thể đưa ra những nhận xét, đánh
giá, giáo dục phù hợp.
2. Quy trình thực hiện DHĐV
2.1. Quy trình chung
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận phương pháp DHĐV, tôi nhận thấy có nhiều tác
giả đưa ra quy trình thực hiện phương pháp DHĐV gồm 6 bước, cụ thể:
Bước 1: GV nêu chủ đề, chia nhóm, giao tình huống và yêu cầu đóng vai cho
từng nhóm. Trong đó quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai cho các
nhóm.
Bước 2: Xác định mục tiêu
Bước 3: Các nhóm thảo luận đóng vai
Bước 4: Các nhóm đóng vai
Bước 5: Lớp thảo luận nhận xét
Bước 6: GV kết luận
Quy trình trên mặc dù nhiều bước nhưng công việc thực sự chưa rõ ràng, khó
triển khai, nhất là đối với dạy học tác phẩm tự sự. Vì vậy, tôi đề xuất quy trình
gồm 3 bước: bước 1 là công việc của GV, bước 2 công việc của HS, bước 3 là cả
5


GV và HS cùng thực hiện. Mặc dù khác nhau về các bước nhưng về bản chất các
thao tác không khác nhau là mấy. Nhưng thực hiện quy trình 3 bước, các thao tác
rõ ràng, dễ triển khai hơn. Cụ thể, quy trình thực hiện chung, gồm ba bước:
- Bước 1: Về phía GV:
+ GV chuẩn bị tình huống đóng vai
+ Chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm
+ Quy định rõ thời gian hoàn thành, yêu cầu cần đạt
- Bước 2: Các nhóm tiến hành nhiệm vụ được giao:
+ Thảo luận nhóm: dự kiến kịch bản
+ Phân vai, đạo cụ, hóa trang, sân khấu, …
+ Dự kiến thời gian tiến hành
+ Tiến hành tập luyện theo kịch bản
+ Trình diễn
- Bước 3: Nhận xét, đánh giá:
+ Các nhóm nhận xét, đánh giá lẫn nhau; phản biện – giải trình (nếu có)
+ Giáo viên nhận xét, đánh giá (GV có thể sử dụng hình thức phỏng vấn học
sinh đóng vai); tổng kết lại kiến thức.
Quy trình này có thể đơn giản hơn hoặc nhiều thao tác hơn tùy vào hình thức
đóng vai mà GV lựa chọn.
2.2. Quy trình cụ thể
2.2.1. Đóng vai trực tiếp
Quy trình đóng vai trực tiếp được tiến hành trong cùng một tiết học. Hình thức
đóng vai trong tiết học được tiến hành đan xen với hoạt động lên lớp của GV.
Các bước tiến hành đơn giản, nhanh và gọn hơn:
Bước 1:
- GV nêu tình huống đóng vai
Bước 2:
- HS tiếp nhận và suy nghĩ
- Tiến hành đóng vai trước lớp
Bước 3:
- GV điều khiển quá trình nhận xét, đánh giá của HS trong lớp
6


- GV nhận xét, đánh giá, tổng kết lại kiến thức.
Quy trình này, người dạy vẫn đảm bảo các khâu lên lớp: khởi động, hình thành
kiến thức, luyện tập, vận dụng, mở rộng. GV lựa chọn hình thức đóng vai trong
hoạt động lên lớp thay vì sử dụng các kiểu câu hỏi khác nhau để triển khai các nội
dung bài học. GV đưa ra một tình huống đóng vai cụ thể, HS vào vai để các em
trình bày nội dung, cách hiểu, cách cảm nhận, … về vấn đề được nêu ra, từ đó, GV
định hướng, tổng kết lại yêu cầu cần đạt. Với cách đóng vai này, GV và HS không
mất nhiều thời gian mà vẫn đảm bảo nội dung bài học, học sinh có hứng thú hơn
cách nêu câu hỏi truyền thống. Đây cũng là một hình thức dạy học “nêu vấn đề”,
có khả năng đem lại những kết quả tích cực cho hoạt động dạy học so với phương
pháp dạy học truyền thống. Tuy nhiên, để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo thì phương pháp này vẫn chưa đáp ứng yêu cầu giải phóng sức sáng tạo của
HS. Một hạn chế nữa của phương pháp này là lời thoại các nhân vật chưa được
trau chuốt do không có nhiều thời gian chuẩn bị, đa số là tái hiện lại lời thoại từ
SGK.
2.2.2. Đóng vai có sự chuẩn bị trước ở nhà
Đây là quy trình bắt đầu từ cuối tiết học trước, hoặc tiết học đầu tiên của bài
học có nhiều tiết lên lớp. Quy trình cơ bản vẫn gồm ba bước như quy trình chung,
sự khác nhau thể hiện ở mức độ công việc của từng bước. Cụ thể:
- Bước 1: Giáo viên:
+ Chuẩn bị tình huống đóng vai
+ Giao nhiệm vụ đóng vai cho các nhóm;
+ Hướng dẫn HS lựa chọn xây dựng kịch bản phù hợp với chủ đề bài học;
+ Tạo mối liên hệ giữa GV và HS để liên lạc, chia sẻ thông tin, “tư vấn” cho
HS khi HS gặp khó khăn;
+ Định lượng thời gian cụ thể, xác định mục tiêu kịch bản, …
- Bước 2: Các nhóm tiến hành nhiệm vụ được giao:
+ HS tìm tòi cùng nhau thảo luận để xây dựng kịch bản.
+ Trao đổi lại với GV về nội dung, cách thức tiến hành kịch bản
+ Phân công công việc của từng thành viên một cách khoa học: trưởng nhóm,
thư ký, vai diễn, chuẩn bị đạo cụ, …
7


+ Tiến hành tập luyện vai diễn theo kịch bản, đảm bảo thời gian quy định.
+ Thể hiện kịch bản và vai diễn trước lớp theo yêu cầu của GV.
- Bước ba: Nhận xét, đánh giá:
+ Các nhóm nhận xét vai diễn của nhau, phản biện- giải trình (nếu có)
+ GV nhận xét, đánh giá quá trình chuẩn bị, nội dung kịch bản, kỹ năng đóng
vai, hiệu quả đóng vai, có thể phỏng vấn (chất vấn) các nhân vật, tổng kết lại nội
dung bài học.
3. Ưu và nhược điểm của phương pháp dạy học đóng vai
3.1. Ưu điểm
- Học sinh được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ
trước một tình huống “giả định” đặt ra trong tác phẩm. Như một hình thức tiêm
vắcxin phòng bệnh, HS sẽ được tập dượt kỹ năng ứng xử trong một môi trường an
toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Phương pháp đóng vai là một trong những hình thức “Trả tác phẩm về cho
học sinh”, đem đến hứng thú học tập, lôi cuốn sự chú ý của các em vào bài học.
Phương pháp này đem đến cho các em mong muốn được thể hiện mình, muốn
sáng tạo và cách các em thể hiện hiểu biết, vận dụng của mình vào tình huống cụ
thể đó sẽ được kiểm chứng qua những nhận xét, đánh giá của các nhóm khác, của
GV để từ đó điều chỉnh hành vi cho phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.
- GV có thể nắm bắt ngay được tác động, hiệu quả giáo dục trong lời nói, hành
động của học sinh qua vai diễn.
- GV có thể quan tâm đối với tất cả các học sinh, nhất là với những HS nhút
nhát, thiếu tự tin. Giúp các em có cơ hội thể hiện bản thân, mạnh dạn, tự tin thể
hiện mình trước tập thể lớp, từ đó giúp các em hòa nhập tích cực khi đứng trước
một tập thể lớn hơn.
3.2. Nhược điểm
- Sử dụng phương pháp DHĐV thường mất nhiều thời gian chuẩn bị kịch bản,
phương tiện vật chất và tài chính cho cả GV và HS.
- Sự thành công của tiết học phụ thuộc nhiều vào khả năng “diễn xuất” của học
sinh. Đối với học sinh rụt rè, nhút nhát thì khả năng thành công không cao.

8


- Thường “kén” học sinh hơn các phương pháp truyền thống vì phương pháp
này đòi hỏi người học chủ động, tích cực và có “khiếu” diễn xuất nữa.
4. Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp đóng vai
- Phương pháp đóng vai không khuyến khích sử dụng trong tất cả các khâu lên
lớp, tất cả nội dung bài học, GV chỉ nên chọn nội dung phù hợp để đóng vai tránh
lặp lại nhàm chán.
- Trong quá trình lên lớp, cần kết hợp nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tích
cực khác để tăng hiệu quả của hoạt động dạy học.
- Tình huống đóng vai phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với lứa tuổi,
trình độ HS và điều kiện, hoàn cảnh lớp học.
- Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép
- Tình huống cần để mở để HS tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp;
không cho trước “kịch bản”, lời thoại.
- Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai
- Trong khi HS thảo luận và chuẩn bị đóng vai, GV nên theo sát quá trình thực
hiện nhiệm vụ của HS, lắng nghe và gợi ý, giúp đỡ HS khi cần thiết
- Nên khích lệ cả những HS nhút nhát cùng tham gia.
- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của hình thức đóng
vai.
CHƯƠNG II . CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Đặc điểm kiểu bài dạy tác phẩm tự sự ở trường THPT
- Tác phẩm tự sự là một thể loại văn học có phương thức trình bày một chuỗi
sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia cuối cùng đi đến một kết thúc, thể hiện
một ý nghĩa. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực đời sống một cách khách quan
bằng cách kể lại sự việc, hiện tượng, con người, …thông qua nhân vật, cốt truyện
bởi một người kể chuyện nào đó. Đây là một thuận lợi rất lớn đối với phương pháp
DHĐV, vì thực chất quá trình đóng vai là hóa thân vào nhân vật, vào người kể
chuyện để thể hiện các sự việc, sự kiện, … nào đó, cuối cùng rút ra ý nghĩa.
- Trong chương trình Ngữ văn THPT, tác phẩm tự sự chiếm một số lượng lớn.
Mỗi một tác phẩm được đưa vào giảng dạy tiêu biểu cho một dòng văn học, tiêu
9


biểu cho sự nghiệp sáng tác của một tác giả, là tác phẩm đặc sắc trong nền văn học
nước nhà, cho nên dung lượng dài, nội dung nhiều, kiến thức vừa rộng vừa sâu,
nghệ thuật độc đáo, …
- Thời gian trên lớp dành cho mỗi bài không nhiều. Riêng tại trường THPT
Bưng Riềng có thêm 0,5 tiết tăng cường dành cho môn Ngữ văn lớp 11 nhưng số
lượng tiết dạy cho mỗi tác phẩm tự sự chỉ được 3 tiết/bài. (“Hai đứa trẻ” (3 tiết);
“Hạnh phúc của một tang gia” (3 tiết); “Chữ người tử tù” (3 tiết); “Chí Phèo” (3
tiết)). Do áp lực về thời gian, kiến thức, về hình thức kiểm tra, đánh giá, GV khi
dạy tác phẩm tự sự vẫn chưa mạnh dạn đổi mới phương pháp lên lớp, các hình
thức lên lớp còn đơn điệu nên tiết học còn trầm, học sinh còn mang tâm lí chán
nản, thiếu hứng thú, không thích học môn Ngữ văn. GV dạy có tích hợp kỹ năng
sống qua mỗi bài dạy nhưng do hình thức chưa đổi mới nên phần giáo dục kỹ năng
có phần gượng ép, chưa mang lại hiệu quả cao.
- Là một nội dung quan trọng trong chương trình Ngữ văn lớp 11, tác phẩm tự
sự không chỉ là kiến thức trọng tâm của chương trình học, mà còn là một nội dung
quan trọng thi THPT Quốc gia cho nên để giúp các em hiểu và nhớ lâu thì đổi mới
phương pháp tiếp cận tác phẩm tự sự là điều cần thiết.
2. Thực trạng dạy và học theo phương pháp DHĐV tại trường THPT Bưng
Riềng
2.1. Về phía giáo viên
- Từ trước đến nay, GV đã vận dụng phương pháp DHĐV vào hoạt động dạy
học, hình thức đóng vai chủ yếu mà GV sử dụng là “kịch bản hóa” tác phẩm tự sự;
GV là người cung cấp kịch bản, theo ý đồ của người dạy. HS đóng vai, tái hiện lại
nhân vật trong tác phẩm, từ đó nêu nhận xét về nhân vật đóng vai. Mặc dù đã có
tác động tích cực đến người học, tạo cho HS hứng thú hơn nhưng xét đến cùng,
hình thức đóng vai tái hiện chưa thực sự phát huy hết khả năng của người học. HS
vẫn là đối tượng được truyền đạt kiến thức từ GV, chưa tích cực, chủ động trong
học tập chứ chưa nói đến khả năng sáng tạo; GV thì làm việc quá nhiều nhưng
hiệu quả dạy học chưa cao.
- Mức độ sử dụng chưa phổ biến, đa số GV sử dụng trong các tiết hội giảng, có
người dự giờ nhận xét, đánh giá; sử dụng chưa đồng bộ ở một số GV, ở một số bài
học, lớp học, …và mức độ sử dụng phương pháp DHĐV trong tiết học mới chỉ
10


dừng lại ở việc giúp GV triển khai kiến thức thuận lợi hơn, học sinh hứng thú hơn
trong một số tiết học.
2.2. Về phía học sinh
- Theo xu hướng chọn trường, chọn nghề hiện nay, học sinh trường THPT
Bưng Riềng đa số chọn môn tự nhiên để học. Các em học môn Ngữ văn với mục
tiêu “lấy điểm”, mà chưa thấy được những giá trị bồi đắp tư tưởng, tình cảm cho
mình. Với đặc điểm bài dài, phải đọc nhiều, chép nhiều, học thuộc nhiều, phương
pháp dạy học chưa sáng tạo là một trong những nguyên nhân dẫn đến thái độ học
tập chưa tích cực ở môn Ngữ văn, nhất là đối với các tác phẩm tự sự.
- Đa số HS không đọc tác phẩm, soạn bài một cách đối phó. Thông thường, các
em sử dụng tài liệu, chép lại một cách thụ động, nhiều em còn mượn vở ghi của
anh chị lớp trước hay bạn bè lớp khác đã học rồi chép lại “một công đôi việc” vừa
có soạn bài, vừa để nếu GV có gọi hỏi bài mà nhìn vào đó trả lời.
Tác phẩm tự sự với những đặc trưng cơ bản như: có cốt truyện, có nhân vật,
có người kể chuyện, … là một thuận lợi rất lớn cho phương pháp đóng vai. Dựa
vào những đặc trưng cơ bản đó mà GV đưa ra các hình thức đóng vai phù hợp.
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận của phương pháp DHĐV, qua thực tế giảng dạy tác
phẩm tự sự tại trường THPT Bưng Riềng, tôi xin nêu một số hình thức tổ chức
trong DHĐV như sau.
CHƯƠNG III: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DHĐV VÀO DẠY HỌC TÁC
PHẨM TỰ SỰ
1. Một số hình thức đóng vai trong dạy học tác phẩm tự sự ở trường THPT
1.1. Đóng vai nhân vật
- Đóng vai nhân vật có các hình thức:
1.1.1. Đóng vai tái hiện
- Đây là hình thức tổ chức cho học sinh đóng vai các nhân vật trong tác
phẩm tự sự. Thay vì cho các em đọc tác phẩm, GV có thể phân vai, cho HS có thời
gian chuẩn bị, sau đó tái hiện lại nhân vật trong SGK. Ở hình thức đóng vai này,
HS có thể kết hợp thêm một số lời thoại khác (không khác nhiều với văn bản), kết
hợp ngôn ngữ, điệu bộ, … để trình bày con người, về hoàn cảnh, sự kiện, … bằng
suy nghĩ chủ quan của người trong cuộc. Kiểu đóng vai tái hiện này GV, HS không
11


cần thời gian chuẩn bị nhiều, có thể đóng vai trực tiếp trong giờ học, đặc biệt thuận
lợi trong hoạt động hình thành kiến thức mới. Tuy nhiên, GV không nên sử dụng
kiểu đóng vai tái hiện trong một lượng thời gian quá dài hoặc lượng kiến thức
nhiều vì rất dễ gây nhàm chán. Để tăng hiệu quả của phương pháp đóng vai nhân
vật tái hiện, một nhân vật nhưng có thể cho nhiều nhóm đóng vai theo từng sự việc
(từng nội dung) theo bố cục bài dạy.
- Ví dụ:
+ Đóng vai Chí Phèo, tái hiện các giai đoạn chính trong cuộc đời nhân vật.
GV chia lớp thành 3 nhóm, phân công mỗi nhóm thực hiện một giai đoạn:
Nhóm 1: Trước khi đi tù.
Nhóm 2: Sau khi ra tù
Nhóm 3: Sau khi gặp Thị Nở
+ Đóng vai nhân vật Quản Ngục trình bày suy nghĩ, cảm nhận về nhân vật
Huấn Cao.
GV có thể chia lớp thành 3 nhóm, đóng vai viên Quản Ngục để trình bày
suy nghĩ về nhân vật Huấn Cao theo từng thời điểm:
Nhóm 1: Lúc Huấn Cao chưa đến nhà lao
Nhóm 2: Trước khi cho chữ
Nhóm 3: Cảnh cho chữ
- Ưu điểm của phương pháp này là giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn
vì muốn “diễn” được, học sinh phải đọc kĩ, nắm được các tình tiết, sự kiện và cả
diễn biến tâm lí nhân vật trong SGK, thậm chí, nếu có thời gian, các em còn có thể
học thuộc lời thoại. Thêm vào đó là quá trình sáng tạo kịch bản không mất nhiều
thời gian vì thực chất chỉ là “kịch bản hóa” tác phẩm tự sự.
- Nhược điểm của phương pháp này là không phát huy được tính sáng tạo
của người học vì hầu hết kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa; tiết học đôi khi
nhàm chán, chưa thực sự tạo cho các em một sân khấu mà ở đó các em có thể thể
hiện hết mình.
1.1.2. Đóng vai suy luận
- Đây là hình thức người học đặt mình vào vị trí nhân vật để hình dung thái
độ, phản ứng, hành động, … trước các sự việc, tình huống nào đó. Về bản chất,
12


hình thức đóng vai này bao hàm cả cái các em đã biết (trong tác phẩm) và cái chưa
biết (từ tác phẩm, HS sáng tạo cách ứng xử mới). Hình thức đóng vai này có sự
chuẩn bị chu đáo hơn từ kịch bản, lời thoại, hành động, nhân vật, …được xây
dựng, phát triển từ nội dung trong tác phẩm tự sự, kết hợp suy luận, sáng tạo ra
những cách ứng xử mới. Dạng thức “nêu vấn đề” đóng vai của GV thường đặt ra
dưới dạng câu hỏi “nêu vấn đề” như: Nếu em là nhân vật A, em sẽ hành động như
thế nào trong hoàn cảnh đó? Vì sao lại thế? Chẳng hạn như:
+ Nếu em là Liên, có chấp nhận một cuộc sống quẩn quanh, tẻ nhạt, buồn
chán như vậy không? Em sẽ làm gì để có thể thay đổi cuộc sống của mình?
+ Nếu em là Chí Phèo, em sẽ làm gì khi bị Thị Nở từ chối?
- Ưu điểm của phương pháp này là học sinh được đặt vào các tình huống “có
vấn đề”, kích thích sự tìm tòi, giải quyết vấn đề bằng hiểu biết cá nhân. Hình thức
này thường tạo cho học sinh hứng thú bởi luôn phải suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo. GV
có điều kiện để hiểu HS của mình hơn, dễ uốn nắn những kỹ năng xử lý tình
huống, phần nào giúp các em định hình được cảm xúc, hành vi của mình trong
thực tiễn. Đây là hình thức mà GV có thể tích hợp giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng
làm văn nghị luận xã hội về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm.
- Nhược điểm của phương pháp này là: Phải có thời gian cho HS chuẩn bị,
do đó GV rất dễ “cháy giáo án”. Đối với HS trung bình, yếu rất khó để tổ chức
phương pháp đóng vai suy luận này, và nếu có sử dụng thì cũng khó đạt kết quả
như mong muốn vì nó đòi hỏi suy luận hợp lý, sáng tạo.
1.2. Đóng vai người kể chuyện
- Tác phẩm tự sự nào cũng có người kể chuyện. Người kể chuyện xuất hiện
dưới nhiều dạng thức khác nhau. Có khi xưng “tôi” với tư cách tác giả (Lão Hạc –
Nam Cao); có khi xưng “tôi” với tư cách là nhân vật trong truyện (Mẫn và tôi –
Phan Tứ); Thường thấy nhất là giọng trần thuật của một người nào đó không xuất
đầu lộ diện nhưng người đọc vẫn thấy được tư tưởng, tình cảm, thái độ đối với
nhân vật trong truyện. Các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 11 –
Phần văn học hiện đại chủ yếu sử dụng hình thức kể chuyện này. Người kể dấu
mình ở đây chính là tác giả. Do đó, đóng vai người kể chuyện là hình thức cho học
sinh đóng vai tác giả, sáng tạo lời nói, suy nghĩ, hành động của nhân vật theo quan
13


điểm của cá nhân. Hình thức đóng vai này thường định dạng kiểu như: “Nếu em là
tác giả, em sẽ (hãy), …” hoặc “Hóa thân vào tác giả, lí giải vì sao lại để cho nhân
vật hành động như vậy?”
Ví dụ:
+ Nếu em là Nguyễn Tuân, em sẽ cho kết thúc tác phẩm “Chữ người tử tù”
như thế nào? (Lí giải vì sao lại kết thúc như thế)
+ Hóa thân vào nhà văn Thạch Lam, hãy viết tiếp câu chuyện “Hai đứa trẻ”
trong đó, hướng nhân vật của mình tới một cuộc sống tốt đẹp hơn”.
+ Hóa thân vào Nam Cao, lí giải vì sao lại để Thị Nở từ chối Chí Phèo phũ
phàng như vậy?
- Ưu điểm của phương pháp này: Học sinh rất tích cực, chủ động, hứng thú vì
các em được trải nghiệm nhiều hơn, khi vào vai nhà văn, HS sẽ thỏa sức sáng tạo
theo trí tưởng tượng của mình. Đối với hình thức hóa thân này, giờ học không chỉ
sinh động mà không khí lớp học rất vui vẻ, hiệu quả. Đây là một hình thức tổ chức
dạy học không chỉ góp phần tích cực vào củng cố kiến thức mà còn phát huy được
khả năng sáng tạo của người học, vốn sống, vốn hiểu biết của các em sẽ bộc lộ qua
cách các em hóa thân vào nhà văn sáng tạo nghệ thuật, GV nắm bắt tình hình dạy
học thuận lợi hơn.
- Nhược điểm: HS muốn sáng tạo được thì phải nắm được ý nghĩa của sự việc,
hiện tượng, tình huống, …trong SGK, từ đó mới thấy được cái hay, cái hạn chế của
tình huống, sự việc, … để sáng tạo cho phù hợp.
1.3. Đóng vai “giả định”
- Đóng vai “giả định” cũng là một hình thức nhập vai, hóa thân nhưng không
phải thành nhân vật hay nhà văn mà là một nhân vật khác do người dạy hoặc người
học sáng tạo ra từ nội dung bài học.
- Đây là hình thức vận dụng hình thức đóng vai theo chủ đề trong dạy học
mầm non như: đóng vai một thành viên trong gia đình: mẹ - con, bà – cháu, hay
bác sĩ khám bệnh, công an giao thông, người bán hàng, mua hàng, … Trong cuốn
“Giáo dục mầm non” (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội) của nhóm tác giả Phạm Thị
Châu đã chỉ rõ vai trò của hình thức đóng vai này “là loại trò chơi trong đó trẻ
đóng một vai chơi cụ thể để tái tạo lại những ấn tượng, những cảm xúc mà trẻ thu
14


nhận được từ một môi trường xã hội của người lớn nhờ sự tham gia tích cực của trí
tưởng tượng”. Từ hình thức trò chơi đóng vai theo chủ đề trong giáo dục mầm non,
kết hợp với những hiểu biết của học sinh về xã hội, về tác phẩm tự sự, người dạy
có thể tạo ra các vai diễn “giả định” hoặc gợi ý để học sinh sáng tạo ra các vai diễn
“giả định” trong một tình huống “giả định” – để học sinh tự tiếp cận nội dung tác
phẩm tự sự. Hình thức này tiệm cận gần hơn với định nghĩa DHĐV của Bộ Giáo
dục và Đào tạo “Đóng vai là tổ chức cho người học thực hành, “làm thử” một số
cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định”.
- Ví dụ:
Khi dạy tác phẩm “Chữ người tử tù”, GV đưa ra một tình huống “giả định”:
“PHIÊN TÒA ĐẶC BIỆT” – Xét xử Huấn Cao có tội hay không có tội? (Khi Huấn
Cao bị giải đến nhà ngục để chờ ngày thi hành án, có nhiều đơn khiếu nại về bản
án tử hình của Huấn Cao là không đúng người, đúng tội. Quản Ngục phải tiến
hành phiên tòa xét xử lại: Huấn Cao có tội hay không có tội? Mặc dù có sự khác
nhau về quy trình xử lý giữa xã hội phong kiến với thời hiện đại, nhưng GV để cho
HS dùng hình thức phiên tòa hiện đại để HS tiếp cận thuận lợi hơn)
Dự kiến các nhân vật giả định:
Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa; Hội thẩm nhân dân
(Quản Ngục sẽ là người tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tiến hành nghiên cứu hồ
sơ, tiến hành xét xử, tiến hành tố tụng và biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền
của Hội đồng xét xử)
Thư ký phiên tòa
(Thầy thơ lại)
Kiểm sát viên
(Đọc cáo trạng, hỏi và đưa ra chứng cứ, luận tội và tranh luận với những người
tham gia tố tụng tại phiên tòa)
Bị cáo/ bị hại
(Huấn Cao và một người đại diện cho xã hội phong kiến)
Luật sư bào chữa cho bị cáo/bị hại
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo/ bị hại

15


HS dựa vào các gợi ý về “tình huống giả định”, các “vai giả định”, GV giao
nhiệm vụ cho các nhóm về nhà chuẩn bị kịch bản, tư vấn HS nội dung, tiến hành
chỉnh sửa và tập luyện, đúng thời gian quy định trình bày “PHIÊN TÒA ĐẶC
BIỆT”, kết quả phải đưa ra được một kết luận hợp lý, hợp tình.
- Với tình huống này, GV có thể sử dụng khi dạy tác phẩm “Chí Phèo” của
Nam Cao. Ở tác phẩm này, GV có thể chọn dạy một trong hai tình huống:
+ Xét xử kẻ đã đẩy Chí Phèo vào con đường tha hóa.
+ Xét xử vụ án mạng xảy ra tại làng Vũ Đại, khiến hai người thiệt mạng: Chí
Phèo và Bá Kiến, …
Ở tác phẩm “Chí Phèo”, GV nên chọn hình thức phiên tòa lưu động – xét xử
tại làng Vũ Đại, nơi có sự chứng kiến của dân làng và dân làng cũng là một vai
diễn.
- Khi dạy đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (Vũ Trọng Phụng): GV
đưa ra “tình huống giả định”: Tổ chức chương trình giới thiệu sản phẩm mới:
“MÁY PHÁT HIỆN NÓI DỐI”. HS sẽ tự lựa chọn hình thức đóng vai phù hợp
(trò chơi, diễn kịch, …) kết quả dùng chiếc máy “MÁY PHÁT HIỆN NÓI DỐI”,
bóc trần mâu thuẫn trào phúng: thật – giả; bên ngoài – bên trong, … của những
người trong tang gia.
- Đặc điểm của phương pháp đóng vai “giả định” là kiểu đóng vai ứng dụng.
Đây là hình thức đóng vai hoàn toàn sáng tạo của học sinh, trong đó người học tạo
ra kịch bản, không chỉ dựa vào tác phẩm tự sự mà còn dựa vào những tình huống
đã gặp, những con người đã gặp, những hành vi đã thấy, … trong cuộc sống tương
đồng với tác phẩm văn học, để từ đó sáng tạo kịch bản “giả định”, những vai diễn
“giả định” để chủ động tiếp cận nội dung bài học, rút ra bài học ứng xử cho bản
thân khi gặp những tình huống tương tự.
- Ưu điểm của hình thức đóng vai “giả định” này: Tổng hợp được ưu điểm của
nhiều hình thức đóng vai khác nhau, có thể phát huy cùng một lúc ưu điểm của
phương pháp đóng vai tái hiện (ghi nhớ kiến thức), đóng vai suy luận (từ cái đã
biết sáng tạo cái chưa biết) và đóng vai ứng dụng (sáng tạo cái mới trong tình
huống mới); phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phát
hiện được những khả năng tiềm ẩn ở mỗi học sinh, đưa tác phẩm văn học gắn liền
16


hơn với cuộc sống, giúp các em hiểu được học văn không chỉ để “lấy điểm” mà
quan trọng hơn là “học làm người” qua việc tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành
vi , …trong cuộc sống. Với hình thức đóng vai này, GV có thể hình thành cho học
sinh rất nhiều năng lực: Năng lực giao tiếp; Năng lực sáng tạo; Năng lực hợp tác
và đảm nhận trách nhiệm.; Năng lực tự quản lý thời gian; Rèn luyện và phát triển
năng lực giải quyết vấn đề.; Hình thành và phát triển năng lực tự học; Năng lực
cảm thụ văn học; Năng lực trình diễn, hóa thân, …không chỉ phù hợp với quan
điểm đổi mới phương pháp dạy học mà còn phù hợp với xu hướng “Trả tác phẩm
về cho học sinh”, đem đến sân chơi bổ ích cho HS qua hình thức “chơi mà học,
học mà chơi”, …
+ Có người nói: nếu giao quyền cho học sinh hết thì GV làm gì?
+ Thực ra, HS càng chủ động, sáng tạo thì vai trò của GV càng quan trọng.
Không chủ động truyền đạt kiến thức cho HS theo cách dạy truyền thống, không
cầm tay chỉ việc, … nhưng GV chính là người chủ động trong mọi hoạt động của
HS, từ việc đặt các em vào “tình huống có vấn đề”, đến định hướng mục tiêu hành
động cho học sinh; đến “chuyên gia” – cố vấn; đến người đồng hành cùng HS trên
con đường đi tìm chân lí.
- Nhược điểm của phương pháp này là “kén” HS – có nghĩa là không phải mọi
đối tượng HS đều có thể tham gia và đáp ứng yêu cầu sáng tạo của phương pháp.
Đối tượng HS trung bình, yếu rất khó để áp dụng. Thêm nữa, GV sử dụng phương
pháp này không khéo thường có kết quả ngược, vì để cho HS sáng tạo mà không
theo sát các em thì rất dễ xa đề, lạc đề, … và như vậy, lại tạo thêm nhiều áp lực
cho GV trong quá trình nhận xét và tổng kết lại nội dung bài học; phương pháp
này đòi hỏi GV và HS mất nhiều thời gian chuẩn bị và tài chính hơn cách dạy
truyền thống nhưng bù lại, những bài học các em thu nhận được thì không phải
bao nhiêu tiền cũng mua được.
Trên đây là một số hình thức DHĐV mà GV có thể sử dụng trong quá trình dạy
học tác phẩm tự sự ở trường THPT. GV khi sử dụng phương pháp DHĐV, tùy vào
từng tác phẩm cụ thể, tùy vào đặc điểm học sinh từng lớp, từng trường, tùy vào
lượng thời gian, điều kiện cụ thể mà lựa chọn hình thức đóng vai cho phù hợp.
Không nên sử dụng một hình thức đóng vai cho nhiều tác phẩm cùng một lúc,
17


không dùng một phương pháp DHĐV trong tất cả nội dung bài học sẽ gây nhàm
chán, thậm chí, HS làm việc nhiều quá sẽ nảy sinh tâm lí “sợ môn văn”, mà nên
kết hợp luân phiên các phương pháp DHĐV qua từng tác phẩm, chỉ nên chọn nội
dung phù hợp nhất để đóng vai, như vậy hiệu quả của phương pháp DHĐV mới
phát huy được.
2. Kế hoạch thực hiện phương pháp DHĐV trong dạy học đoạn trích “Hạnh
phúc của một tang gia” (Vũ Trọng Phụng).
2.1. Quy trình sử dụng phương pháp DHĐV
Bước 1:
- GV chuẩn bị tình huống đóng vai: Dùng “MÁY PHÁT HIỆN NÓI DỐI” làm
rõ bức chân dung trào phúng của các nhân vật trong tang gia.
- Chia nhóm, giao nhiệm cụ cho từng nhóm:
NHÓM 1: Niềm hạnh phúc của những thành viên trong tang gia. (Nhóm 1 sẽ là
nhóm thực hiện phương pháp đóng vai)
NHÓM 2: Niềm hạnh phúc của những người ngoài tang gia; Tìm hiểu các nhân
vật trong tang gia để tiến hành phản biện nhóm 1.
NHÓM 3: Cảnh đưa đám và cảnh hạ huyệt; Tìm hiểu các nhân vật trong tang gia
để tiến hành phản biện nhóm 1.
- Lập địa chỉ liên lạc giữa GV và HS để trao đổi thông tin, “cố vấn” cho HS
khi cần thiết.
- Thời gian chuẩn bị: hai tuần;
- Thời gian báo cáo: nhóm 1 không quá 20 phút; nhóm 2,3 không quá 10
phút mỗi nhóm.
BẢNG HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
Yêu cầu cần

NHÓM 1: Phải thể hiện được mâu thuẫn trào phúng giữa biểu

đạt

hiện bên ngoài và bản chất bên trong của từng thành viên trong
gia đình; thấy được nguyên nhân vì sao lại có sự mâu thuẫn đó.
NHÓM 2: Phải thể hiện được mâu thuẫn trào phúng giữa biểu
hiện bên ngoài và bên trong các nhân vật ngoài tang gia; thấy
được sự xuống cấp đạo đức không chỉ trong gia đình mà là toàn
xã hội; đồng thời tìm hiểu thêm các nhân vật trong tang gia để
18


tiến hành phản biện, chất vấn nhóm 1.
NHÓM 3: Phải thể hiện được bức tranh cảnh đưa đám, cảnh hạ
huyệt để thấy được bức tranh toàn cảnh của xã hội đương thời;
đồng thời tìm hiểu thêm các nhân vật trong tang gia để tiến hành
Một vài

phản biện, chất vấn nhóm 1.
- Các nhóm tự chọn hình thức thể hiện: báo cáo thuyết trình dưới

hướng dẫn

dạng: thiết kế powerpoint; bản đồ tư duy; tranh ảnh; báo cáo dưới

chung
Hướng dẫn

dạng đề tài nghiên cứu nhỏ; đóng kịch, ….
- Riêng nhóm 1 sử dụng phương pháp đóng vai
- Viết kịch bản: phải khai thác “Máy phát hiện nói dối”, mượn

học sinh đóng máy để phát hiện mâu thuẫn thật – giả trong mỗi nhân vật.
vai

- Khai thác các vai diễn dựa vào biểu hiện, lời nói, hành động, …

(Nhóm 1)

của nhân vật trong tác phẩm, trên cơ sở đó sáng tạo biểu hiện, thái
độ, hành động, lời nói của nhân vật trong vở kịch cho phù hợp,
tránh xa đề, lạc đề.
- Giúp cho các bạn nhóm khác sau khi xem xong vở kịch nắm
được biểu hiện, bản chất, ý nghĩa của từng nhân vật trong tang
gia.
- Kết thúc vở kịch phải truyền được thông điệp mang tính giáo
dục đạo đức cho các nhóm khác.
- Vở kịch sáng tạo, nhưng sự sáng tạo đó phải phù hợp với văn
hóa trong nhà trường; trào phúng nhưng lịch sự, văn minh.

Bước 2: Các nhóm tiến hành nhiệm vụ được giao
- Thảo luận xây dựng kịch bản
- Phân công nhiệm vụ của từng thành viên một cách khoa học: trưởng nhóm,
thư ký, vai diễn, chuẩn bị đạo cụ, , …
-Tiến hành tập luyện vai diễn theo kịch bản, đảm bảo thời gian quy định.
- Thể hiện kịch bản và vai diễn trước lớp đúng theo yêu cầu của GV.
- Lưu ý: Riêng nhóm 2 và nhóm 3 có thể sử dụng phương pháp khác, hình thức
báo cáo sản phẩm khác, không dùng máy phát hiện nói dối vì đặc điểm kiến thức
không phù hợp để sử dụng.
19


Bước 3: Nhận xét, đánh giá
- Các nhóm nhận xét vai diễn của nhau, phản biện- giải trình (nếu có); tiến
hành cho điểm đánh giá theo phiếu đánh giá GV đã chuẩn bị.
- GV nhận xét, đánh giá quá trình chuẩn bị, kỹ năng đóng vai, hiệu quả đóng
vai, có thể phỏng vấn (chất vấn) các vai diễn, tổng kết lại nội dung bài học.
2.2. Thiết kế thể nghiệm phương pháp DHĐV qua đoạn trích “Hạnh phúc
của một tang gia” – Tiết 47
2.2.1. Kế hoạch dạy học đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”
(Trích “Số đỏ” - Vũ Trọng Phụng)
Tiết 1

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA
Nội dung:

(PPCT:46) - Tìm hiểu tác giả, tác phẩm
- Tìm hiểu nhan đề và tình huống truyện
Giao nhiệm vụ
Tiết 2

Nội dung:

(PPCT:47) - Niềm hạnh phúc của những người trong tang gia (Thực nghiệm
phương pháp DHĐV)
Tiết 3

- Niềm hạnh phúc của những người ngoài tang gia
Nội dung:

(PPCT:48) - Cảnh đưa tang và hạ huyệt
- Nghệ thuật trào phúng

2.2.2. Thiết kế thể nghiệm phương pháp DHĐV đoạn trích “Hạnh phúc
của một tang gia” – Tiết 47
Tiết 47 :

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA
(Trích “Số đỏ”– Vũ Trọng Phụng)

20


I. MỤC TIÊU.
1. Kiến thức:
- Thấy được bộ mặt thật của xã hội tư sản thành thị lố lăng, kệch cỡm qua những
bức chân dung trào phúng trong tang gia.
- Thái độ phê phán mạnh mẽ xã hội đương thời khoác áo văn minh, Âu hóa thực
chất giả dối, vô cảm, và nỗi xót xa kín đáo của nhà văn trước sự băng hoại đạo đức
của con người.
- Phần nào hiểu hơn về bút pháp trào phúng của đoạn trích: tạo dựng mâu thuẫn,
cách nói ngược nghĩa, xây dựng chân dung trào phúng sắc sảo, giọng điệu châm
biếm, …
2.Kỹ năng:
- Rèn luyện kỹ năng đọc – hiểu văn bản tự sự viết theo bút pháp trào phúng.
- Rèn luyện kỹ năng diễn xuất, bày tỏ thái độ, nêu ý kiến, quan điểm, ….
- Phát triển kỹ năng làm việc nhóm
- Rèn luyện phẩm chất tự tin, chủ động, sáng tạo cho học sinh.
3. Thái độ:
- Giúp các em yêu thích môn học, có hứng thú với các hoạt động trải nghiệm ở
bộ môn Ngữ văn.
- Có tình cảm, thái độ sống tích cực, lành mạnh, sống có đạo đức, có tình, có
nghĩa,..
- Góp phần điều chỉnh thái độ, cách ứng xử của người học đối với người thân,
phê phán lối sống thực dụng, vì tiền, ….
4. Năng lực:
- Năng lực giao tiếp
- Năng lực sáng tạo
- Năng lực hợp tác và đảm nhận trách nhiệm.
- Năng lực tự quản lý thời gian.
- Rèn luyện và phát triển năng lực giải quyết vấn đề.
- Hình thành và phát triển năng lực tự học.
- Năng lực cảm thụ văn học
- Năng lực trình diễn, hóa thân, …
21


II. PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
1. Phương pháp dạy học
- Phương pháp trực quan
- phương pháp vấn đáp
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp đóng vai
- Phương pháp thuyết trình
2. Phương tiện dạy học
- Các đoạn phim và hình ảnh đám tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp
- Máy tính, máy chiếu, màn hình, loa, …
- Máy phát hiện nói dối; máy chụp hình
- Bảng phụ; giấy Rôky
- Phông nền
III. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:
Hoạt động 1: Khởi động
- Cho học sinh xem đoạn video về đám tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
- Trong quá trình đó, HS dùng bảng phụ ghi lại những từ diễn tả trạng thái cảm
xúc của con người nói chung khi chứng kiến sự ra đi của một con người, đặc biệt
là người thân, người có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời của họ?
1. Mục tiêu.
- Tạo tâm thế cho học sinh trước khi vào bài
- Làm bộc lộ những hiểu biết sẵn có của học sinh, giúp học sinh huy động
những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của bản thân có liên quan đến bài học mới,
kích thích sự tò mò, mong muốn tìm hiểu bài học mới.
2. Nội dung
- Học sinh quan sát video sau đó rút ra các trạng thái cảm xúc thường thấy trong
tang gia.
3. Phương pháp
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề
4. Kĩ thuật tổ chức
22


Hoạt động của GV
- GV chiếu video

Hoạt động của HS
- HS quan sát

- GV đặt câu hỏi HS trả lời:

- HS ghi lại các từ diễn tả cảm

? Em hãy ghi lại những từ diễn tả trạng thái cảm xúc
xúc xúc của con người nói chung khi chứng
kiến sự ra đi của một con người, đặc biệt là
người thân, người có ý nghĩa
quan trọng đối với cuộc đời?
- GV chuyển ý vào bài mới.
5. Dự kiến sản phẩm
- HS phát hiện một số trạng thái: Đau buồn, đau đớn, đau xót, đau khổ; nghẹn
ngào, thương tiếc, bàng hoàng, ...
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới
1. Mục tiêu
- Học sinh thể hiện được kịch bản đã chuẩn bị trước
- Đóng vai các nhân vật trong kịch bản, thể hiện nội dung được giao qua kịch bản
đã chuẩn bị.
- Các nhóm nắm được chân dung trào phúng của những nhân vật trong tang gia.
2. Nội dung
- Nhóm 1 trình diễn vở kịch đã chuẩn bị
- Các nhóm còn lại nhận xét, phản biện (nếu có)
- Giáo viên nhận xét, đánh giá, tổng kết lại nội dung tiết học
3. Phương pháp
- Phương pháp đóng vai
- Phương pháp đàm thoại nêu vấn đề
- Phương pháp trực quan
- Phương pháp hoạt động nhóm
4. Kĩ thuật tổ chức
Hoạt động của GV
- GV dẫn dắt vào bài

Hoạt động của HS

- GV DH học sinh biểu diễn kịch - Nhóm 1 biểu diễn
bản

- Các nhóm còn lại theo dõi, điền nội dung vào
23


phiếu học tập sau:
- Theo dõi nhóm 1 biểu diễn;
nhóm 2,3 điền vào phiếu học tập.

Niềm

vui

chung
Nhân vật
Bên ngoài
Cố Hồng
Văn Minh
Tú Tân
Tuyết
Bà cố Hồng

Văn

Bên trong

Minh
Ông Phán
- Sau khi vở kịch kết thúc, đại diện nhóm 1
điều khiển quá trình phản biện; trả lời các câu
hỏi của các nhóm và nhận xét phiếu học tập
của nhóm 2,3.
- Các nhóm 2,3 tiến hành đánh giá, cho điểm
sản phẩm nhóm 1:
PHIẾU ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG
NHÓM 1
Nội dung đánh
Xuất

giá

sắc

Mức độ
Tốt Khá

Đạt
yêu
cầu

Tham gia
Ý tưởng
Nội dung
Hiệu quả
Đánh giá cá
nhân
TT
Vai
diễn

24


- GV dựa vào phiếu đánh giá nhận
xét sản phẩm của nhóm 1.

- HS phát hiện các đặc điểm chung của nhân

- Nhận xét việc theo dõi, kết quả vật: vẻ bên ngoài - bên trong, mục đích, bản
hoạt động, phần phản biện của chất.
nhóm 2,3.
- GV tổng kết lại nội dung bài học
từ các nhóm.
- Dùng phương pháp đàm thoại
nêu vấn đề để mở rộng, nâng cao
bài học. Dự kiến câu hỏi:
? Như vậy, mỗi nhân vật là một
bức chân dung biếm họa sắc sảo,
nhưng qua ngòi bút của nhà văn,
họ đều có chung những điểm nào?
? Nhà văn đã sử dụng thành công
những nghệ thuật nào để khắc họa
bức chân dung đó.
- GV dựa vào các câu trả lời của
HS, kết hợp thao tác bình giảng
và tổng kết kiến thức bài học.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×