Tải bản đầy đủ

Nâng cao chất lượng bộ môn Vật lý cấp THCS thông qua cán sự bộ môn

MỤC LỤC

NỘI DUNG

TRANG

I. TÓM TẮT ĐỀ TÀI

2

II. GIỚI THIỆU

5

1. Hiện trạng

5

2. Giải pháp thay thế

6


3. Vấn đề nghiên cứu

9

4. Giả thuyết nghiên cứu

9

III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

9

1. Khách thể nghiên cứu

9

2. Thiết kế

10

3. Quy trình nghiên cứu

10

4. Đo lường và thu thập dữ liệu

13

IV. PHÂN TÍCH VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ

14

1. Phân tích dữ liệu

14

2. Bàn luận kết quả

16



V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

18

1. Kết luận

18

2. Khuyến nghị và đề xuất

19

VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO

21

VII. PHỤ LỤC

21

I.

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Vật lý là môn khoa học có rất nhiều ứng dụng trong thực tế cuộc sống hàng
ngày. Học môn Vật lý sẽ giúp cho học sinh giải thích được các hiện tượng xảy ra
xung quanh cuộc sống của các em, giúp các em hiểu được bản chất của sự vật, hiện
tượng một cách khoa học, linh hoạt.


Mục tiêu của môn vật lí ở trường trung học cơ sở là giúp học sinh nắm vững
kiến thức vật lí ở bậc trung học cơ sở, là bước đầu hình thành ở học sinh những kiến
thức phổ thông cơ bản, giúp học sinh có thói quen làm việc khoa học, đồng thời góp
phần hình thành năng lực nhận thức, phẩm chất nhân cách theo đúng mục tiêu giáo
dục ở bậc trung học cơ sở.
Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, ngành giáo dục đang đổi mới phương
pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Tập trung phát triển trí
tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng
khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn
diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học,
năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Do vậy, việc tích
hợp giáo dục thực tiễn đến học sinh trong giờ học là hết sức cần thiết. Ngoài ra dạy
học gắn liền với thực tiễn, với các kiến thức ở nhiều môn học làm cho quá trình dạy
học vật lý trở nên sinh động, hấp dẫn hơn. Đồng thời giúp hình thành ở học sinh
những năng lực rõ ràng và khả năng hoà nhập vào cuộc sống.
Tục ngữ có câu: “ Không thầy đố mày làm nên”, người thầy mang một vai trò
rất quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức và việc tu dưỡng, rèn luyện, hình
thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách cho học sinh. Song bên cạnh đó vẫn có câu:
“ Học thầy không tày học bạn”, tục ngữ không hề hạ thấp vai trò của người thầy mà
có những việc thầy cô không thể trực tiếp chỉ bảo cho học trò thì lúc đó bạn bè –
những người cùng trang lứa với các em sẽ có thể giúp đỡ nhau. Hơn nữa, khi trao đổi
với những bạn bè cùng trang lứa thì tâm lí của các em sẽ được thoải mái, tự tin, tránh
e ngại mà có thể đi sâu vào vấn đề. Những kinh nghiệm học tập sẽ được các bạn trao
đổi với nhau vào những lúc vui chơi hay chính trong lúc học tập, hay trong các câu
chuyện hàng ngày.
Các thầy cô đã vận dụng nhiều phương pháp giảng dạy như phát huy tính tích
cực của học sinh, tạo hứng thú cho giờ học, sử dụng trò chơi trong giảng dạy bộ
môn… Thì việc sử dụng cán sự bộ môn cũng là một phương pháp nhằm nâng cao
chất lượng bộ môn. Vì cán sự bộ môn đã thay thế vai trò của thầy cô trong việc giúp
đỡ, kiểm tra, đôn đốc một cách thường xuyên. Cán sự bộ môn phản hồi lại cho các
thầy cô việc tiếp thu kiến thức, vận dụng kiến thức vào các bài tập cụ thể hay vào các


sự vật, hiện tượng trong cuộc sống của các em. Cán sự bộ môn còn giúp cho các thầy
cô tiết kiệm rất nhiều thời gian để thầy cô có thể nâng cao hay mở rộng kiến thức cho
các em.
Một giáo viên biết sử dụng tốt vai trò và trách nhiệm của cán sự bộ môn của
môn học thì các thầy cô đó đã thực hiện khá tốt việc nâng cao chất lượng bộ môn
những lớp mình phụ trách, vì các thầy cô đã phát huy được nhiều yếu tố. Bản thân
các em được làm cán sự bộ môn là các em đã được nói, được lãnh đạo, được làm
việc, được trao đổi thông tin, được trau dồi khả năng làm việc khoa học, được phản
hồi đến giáo viên một cách thoải mái ( vì các em gần gũi với thầy cô hơn, sẽ không
ngại, không sợ…). Như vậy các thầy cô đã hình thành ở học sinh những năng lực rõ
ràng và khả năng hoà nhập vào cuộc sống.
Từ những phản hồi ngược lại của cán sự bộ môn, giáo viên điều chỉnh cách
dạy phù hợp, đồng thời có phương pháp tác động vào ý thức của từng học sinh. Qua
đó giúp học sinh yêu môn học, thêm hiểu biết về tầm quan trọng của môn học để say
mê tim tòi, hình thành niềm tin vững chắc để các em học tốt hơn các môn học khác.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Vật lý, bản thân tôi đã nghiên
cứu và áp dụng thành công đề tài “Nâng cao chất lượng bộ môn Vật lý cấp
THCS thông qua cán sự bộ môn”.
Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tương đương là hai lớp 9/3 và 9/4 ở
trường THCS Thạnh Mỹ, huyện Đơn Dương. Trong đó, với lớp đối chứng 9/3 tôi dạy
theo trình tự trong Chuẩn Kiến thức – kĩ năng của Bộ Giáo dục và không bầu cán sự
bộ môn cho lớp; còn lớp thực nghiệm 9/4 được giảng dạy với sự trợ giúp của cán sự
bộ môn Vật lý. Cán sự bộ môn sẽ làm các công việc như sau:
-

Cán sự bộ môn sẽ được nhận một cuốn vở và được photo sẵn hoặc kẻ như mẫu
sau:

Tuần: ...

Thứ ..., ngày ... tháng ... năm ....

I. Kiểm tra bài cũ:
1)
2)
II. Kiểm tra bài mới:
III. Báo cáo của tổ trưởng:


Tổ

Không thuộc bài

Không làm bài tập

Chưa xem bài mới

Người báo cáo

1
2
3
4
IV. Ghi chú:
V. Công việc của tiết học tiếp theo:
-

Cán sự bộ môn tiếp thu công việc về nhà và ghi lại cụ thể công việc đó vào tiết
học cuối của buổi học trước ngày có tiết thứ 2 trong tuần hoặc tiết kế tiếp của
tuần học sau.

-

Thực tế ở trường THCS Thạnh Mỹ giáo viên chủ nhiệm thường yêu cầu các em
vào lớp sớm hơn 30 phút để dò bài hay làm công tác chủ nhiệm lớp. Cán sự bộ
môn cùng với ban cán sự lớp, tổ trưởng, tổ phó và nhờ sự quản lí của giáo viên
chủ nhiệm sẽ kiểm tra bài cũ của toàn lớp (trên giấy), kiểm tra bài tập ở nhà, kiểm
tra việc chuẩn bị bài mới, kẻ bảng biểu...

-

Cán sự bộ môn ghi lại báo cáo vào sổ cán sự bộ môn những ưu điểm và tồn tại
của từng bạn trong lớp rồi đặt trên bàn giáo viên vào đầu tiết học.
Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rõ rệt đến việc nâng cao chất

lượng cho học sinh qua từng bài kiểm tra, qua từng bài học cụ thể. Lớp thực nghiệm
đã có kết quả cao hơn so với lớp đối chứng, đặc biệt là các đối tượng học sinh lười
học, lười làm bài tập, lười xem bài mới đã giảm hẳn, các học sinh giỏi có nhiều thời
gian trao đổi với giáo viên về những bài tập khó, những kiến thức mà các em còn
trừu tượng.
Cụ thể điểm trung bình bài kiểm tra đầu ra của lớp thực nghiệm là 6,9 và điểm
trung bình bài kiểm tra đầu ra của lớp đối chứng là 6,5. Kết quả kiểm chứng t-test có
p < 0,05 điều đó có nghĩa là có sự khác biệt lớn giữa kết quả của lớp thực nghiệm và
lớp đối chứng.

II.

GIỚI THIỆU

1) Hiện trạng:


Việc thay sách giáo khoa đã dẫn đến sự thay đổi về phương pháp dạy học, hầu
như trong ý thức của mình, mỗi người thầy đều cố gắng đổi mới phương pháp dạy
học để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công,
vẫn còn nhiều tồn tại đáng ngại do giáo viên tập trung chú trọng đến việc phát huy
tính tích cực của học sinh, để các em chủ động đến với kiến thức, để các em tự
giác… Không ít thầy cô đã quên đi việc kiểm tra vở ghi chép bài của học sinh, giờ
kiểm tra bài cũ chỉ còn khoảng 5 phút thầy cô chỉ kiểm tra được 1 đến 2 học sinh và
cũng chỉ xem vở ghi chép của 1 - 2 học sinh. Vì thế một số học sinh lười học, lười
làm bài tập, lười xem trước bài mới vẫn diễn ra. Đối với một số em lười biếng thì giả
vờ chép bài nhưng chỉ chép đề mục, một vài kết luận… Khi dạy học theo phương
pháp mới, thầy cô dạy Vật lý phải hướng dẫn học sinh nhiều thí nghiệm, nhiều kiến
thức và hầu hết là để học sinh tự rút ra kết luận, nhưng thực tế trong lớp học có được
bao nhiêu học sinh nhạy bén, làm thành thạo các thí nghiệm, sử dụng tốt dụng cụ thí
nghiệm, xử lí tốt kết quả thí nghiệm… Từ đó học sinh không biết làm thí nghiệm,
tiếp nhận kiến thức một cách thụ động, không hứng thú, hiệu quả giờ học thấp. Đối
với bài tập vận dụng kiến thức vừa học, các giáo viên chỉ yêu cầu các em làm 5 bài
nhưng thường các em lười biếng chỉ làm các bài tập trắc nghiệm bằng các chữ cái A,
B, C, D, cũng không ghi lại câu dẫn hay đáp án đúng đã chọn, dẫn đến kiến thức mới
vừa học các em nắm cũng không chắc…
Đối với bài học mới: Học sinh thường thờ ơ với những vấn đề giáo viên đặt ra
hoặc có chăng cũng chỉ vài ba em khá, giỏi phát biểu ý kiến xây dựng bài học, còn
lại chỉ nghe và chép một cách thụ động. Hơn nữa, với dung lượng kiến thức lớn, khả
năng lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng của học sinh bị hạn chế trong thời gian một
tiết học (45 phút) đã khiến việc dạy học Vật lý chưa đạt được hiệu quả như mong
muốn.
Đối với thí nghiệm mới: Đa số các em chưa sử dụng thành thạo các đồ dùng
thí nghiệm, chưa nhận biết được tên, chưa biết cách sử dụng đặc biệt các em thường
chưa đọc được giới hạn đo và độ chia nhỏ nhất trên dụng cụ, nên các ampe kế hay
vôn kế các em không đọc được giá trị đo được nên không xử lí được kết quả thí
nghiệm. Do các em chưa đọc qua sách giáo khoa nên chưa hình dung mình phải tìm
ra kết luận nào trước, mặc dù cuối tiết học trước giáo viên luôn yêu cầu các em đọc


bài mới cho tiết học sau, có khi giáo viên còn cẩn thận đọc luôn câu hỏi gợi ý để học
sinh chịu khó đọc bài trước ở nhà. .. nhưng thường là các em không đọc bài mới.
Việc phát huy tốt vai trò của cán sự bộ môn như một phép màu, như một “trợ
giảng” thực thụ giúp giáo viên chuẩn bị rất tốt bài học, giúp phát huy tinh thần học
tập của học sinh đặc biệt là các học sinh lười học ( thường dẫn đến là các em học
yếu). Nhưng áp dụng nó như thế nào trong quá trình dạy học là điều mà nhiều giáo
viên còn lúng túng, bởi vì “đó là khâu trọng yếu và khó khăn nhất, cũng là khâu
quyết định bảo đảm sự thành công của việc đổi mới phương pháp dạy học”.
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy Vật lí lớp 9/3 và 9/4, tôi nhận thấy cả hai lớp đều
có hiện trạng như nhau về đối tượng học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu. Học sinh
giỏi, khá tiếp thu bài nhanh hơn học sinh trung bình, yếu nhưng nhìn chung vẫn chưa
đạt so với mục tiêu đề ra.
Trong thực tế sẽ không có học trò sáng tạo nếu không có những người thầy
sáng tạo. Người thầy sáng tạo là người biết sử dụng các giải pháp tích cực trong quá
trình giảng dạy, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, cùng học
sinh kiến tạo tri thức, biết đặt ra các giả thuyết, hướng dẫn học sinh phát hiện những
vấn đề mới trong tiết học, môn học, . . . Nhưng trong quá trình giảng dạy được dự
giờ nhiều đồng nghiệp, tôi nhận thấy một số giáo viên vẫn chưa sử dụng các phương
pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh dẫn đến tình trạng giờ
học buồn tẻ, không gây được hứng thú cho học sinh. Cũng như có những giáo viên
thay trò làm hết các công việc dẫn đến việc các em không ghi nhớ kiến thức được
lâu.
2) Giải pháp thay thế:
Năm học 2017 – 2018 tôi được phân công giảng dạy hai lớp 9/3 và 9/4, là hai
lớp tương đồng nhau về sĩ số học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu. Đối với với 9/3 tôi
không dùng cán sự bộ môn, riêng lớp 9/4 tôi đã lựa chọn một học sinh học lực giỏi,
có tinh thần trách nhiệm làm cán sự bộ môn Vật lý. Trong tiết học đầu tiên của năm
học mới tôi đưa ra các yêu cầu chung đề nghị cán sự bộ môn thực hiện. Đó là:
-

Trước khi đến tiết học tiếp theo phải kiểm tra việc ghi chép bài của ngày hôm
trước xem các bạn đã ghi chép đầy đủ chưa, ghi cẩn thận không, các kết luận cần
phải gạch chân hoặc ghi bằng bút đỏ.


-

Kiểm tra xem các bạn có đọc bài mới ở nhà hay không thông qua 1 – 2 câu hỏi
ngắn gọn. Ví dụ như bài học mới có thí nghiệm hay không? Có mấy đề mục?
Cụ thể hơn thì đo công của dòng điện bằng dụng cụ gì? Đơn vị của đại lượng
mà bài mới sắp học ...

-

Nếu trong bài mới có bảng biểu để ghi kết quả thí nghiệm phải kẻ trước trong vở
( Như bài 7, 8, 9 – sách giáo khoa vật lí 9…)

-

Kiểm tra việc làm bài tập ở nhà. Vì sau khi học bài xong thầy cô thường yêu cầu
các em phải làm 3 - 5 bài tập hoặc được lựa chọn làm theo sức học của từng em.

-

Cán sự bộ môn giúp thầy cô chia lớp thành các nhóm ngay từ đầu năm học, làm
việc theo nhóm khi có yêu cầu, cử trước nhóm trưởng, thư kí và nên thay đổi theo
từng tiết học.

-

Cán sự bộ môn sẽ là người thay thế giáo viên bộ môn kiểm tra bài cũ thông qua
việc viết câu hỏi lên bảng hay đọc trước lớp trong 30 phút đầu buổi học. Đề nghị
cả lớp viết câu trả lời lên giấy ( kể cả cán sự bộ môn) rồi tiến hành cho tổ trưởng
này chấm chéo tổ kia hoặc tập thể tổ này chấm chéo tổ bạn. Cán sự bộ môn sẽ
chấm xác suất 1 – 2 bài để kiểm tra việc chấm bài của các bạn có khách quan hay
không, có đúng không.

-

Đưa sổ ghi chép của cán sự bộ môn cho các bạn tổ trưởng báo cáo việc ghi chép
bài, làm bài tập, học bài cũ, xem bài mới…

-

Đưa ra hướng giải, giúp các bạn giải bài tập, nhưng không cho bạn mượn vở
chép.

-

Nếu như báo cáo có bạn chưa đọc bài mới, chưa kẻ bảng biểu cho bài học mới,
hay chưa học bài, chưa hoàn thành bài tập… Cán sự bộ môn sẽ yêu cầu các bạn
làm ngay những phần việc chưa làm, hay chuẩn bị dụng cụ thí nghiệm... trong 30
phút đầu giờ.

-

Ví dụ như trước tiết ôn tập chuẩn bị cho kiểm tra 45 phút, tôi soạn sẵn phần ôn
tập gồm những câu hỏi trắc nghiệm và một ít bài tập giao cho cán sự bộ môn, yêu
cầu em cho cả lớp chuẩn bị trước ( học bài hay soạn ra vở bài tập đều được).
Trong 30 phút đầu buổi học có tiết ôn tập của tôi, cán sự bộ môn đã đưa ra một số
câu hỏi yêu cầu cả lớp trả lời trên giấy xem mức độ ôn tập của cả lớp có chu đáo


hay không, đã ôn qua các phần lí thuyết, công thức, dạng bài tập đó hay chưa? …
Khi tôi bước vào tiết ôn tập những phần cơ bản tôi sẽ đi nhanh, tôi sẽ chú trọng
các phần chính, những phần khó, những bài tập có câu hỏi phức tạp, như vậy các
học sinh giỏi ( đa số đều là cán sự lớp) đều thuận lợi hơn vì được tôi ôn tập kĩ,
mở rộng, nâng cao hơn, còn những học sinh lười, yếu thì đã có các bạn giỏi hơn
kèm cặp, thêm phần được tôi giảng lại các em sẽ nhớ bài lâu hơn.
-

Hay như khi dạy bài “ Sự phụ thuộc của điện trở vào vật liệu làm dây dẫn” nếu
học sinh không có sự chuẩn bị ở nhà trước thì việc lập bảng ghi kết quả thí
nghiệm sẽ chiếm nhiều thời gian của giáo viên. Điều dĩ nhiên là giáo viên có yêu
cầu học sinh về chuẩn bị trước, nhưng ở lớp đối chứng tôi tiến hành kiểm tra vở
của 5 học sinh thì chỉ có 3 học sinh chuẩn bị, nếu tiến hành kiểm tra cả lớp thì tôi
sẽ mất nhiều thời gian, sẽ không có đủ thời lượng cho nội dung bài học, rồi còn
phải dừng lại cho học sinh kẻ bảng hoặc sẽ phải làm thay các em... Khi gặp nhiều
trường hợp học sinh không kẻ bảng tâm lí tôi chẳng thể nào thoải mái được.
Nhưng cũng tiết dạy đó ở lớp thực nghiệm, cán sự bộ môn đã thay tôi kiểm tra,

ghi vào báo cáo cho tôi biết có những HS nào đã kẻ sẵn bảng ở nhà, có bao nhiêu HS
khi bị ban cán sự kiểm tra rồi mới kẻ, các em kẻ bảng ở nhà trước là quá thuận tiện
cho tôi, còn những em lên lớp mới kẻ, cũng không sao vì khi tôi vào tiết dạy các em
đã có sẵn bảng để điền kết quả thí nghiệm rồi, tức là các em đã có sự thích thú, tò mò
cho việc tìm hiểu kiến thức mới, tôi không bị mất thời gian nhắc nhở hay điều chỉnh
gì và tôi cũng có tâm lí thoải mái hơn cho việc hướng dẫn học sinh làm thí nghiệm,
truyền tải kiến thức, nhen nhóm niềm yêu thích học Vật lý cho học sinh.
Tôi dựa vào đâu để biết các em học yếu hơn cần tôi giúp ở chỗ nào? Đó là dựa
vào báo cáo của cán sự bộ môn, khi tranh thủ đọc báo cáo của em, hay kiểm tra lại
các tờ giấy em cho cả lớp trả lời, tôi sẽ thấy các em chưa trả lời được ở câu hỏi nào
thì tôi sẽ dạy chậm câu đó, câu nào trả lời tốt thì có thể tôi đi nhanh hoặc bỏ qua.
Như vậy tôi sẽ có rất nhiều thời gian dành cho cả 3 đối tượng học sinh trong lớp. Vậy
là tôi vừa nâng cao được chất lượng bộ môn, vừa phát huy được vai trò của các em
học sinh giỏi trong việc giúp bạn học tập, phát huy được sự tự tin cho các học sinh
yếu, phát huy được vai trò lãnh đạo và trách nhiệm của cán sự bộ môn
3) Vấn đề nghiên cứu:


Việc sử dụng cán sự bộ môn có làm nâng cao chất lượng bộ môn Vật lý cho
học sinh trường THCS Thạnh Mỹ hay không?
4) Giả thuyết nghiên cứu:

Việc sử dụng cán sự bộ môn có nâng cao được chất lượng bộ môn vật lí
của Trường Trung học cơ sở Thạnh Mỹ - Huyện Đơn Dương.
III.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1) Khách thể nghiên cứu:
Trường THCS Thạnh Mỹ là trường học đạt Chuẩn quốc gia đầu tiên ở bậc

Trung học cơ sở của huyện Đơn Dương, có những điều kiện thuận lợi về cơ sở vật
chất, trang thiết bị đầy đủ và đặc biệt tất cả các lớp đều học phụ đạo môn Vật lý 2
tiết/ tuần.
Giáo viên: dạy cả hai lớp thực nghiệm và lớp đối chứng trong cùng một năm học.
Học sinh: là các đối tượng có đặc điểm tương đồng nhau về tỉ lệ học sinh giỏi,
khá, trung bình và cả giới tính, dân tộc (do nhà trường đã chia lớp từ đầu năm).
Bảng 1. Giới tính, học lực và thành phần dân tộc của học sinh:

Nhóm
Thực nghiệm

Đối chứng

Lớp

Tổng
số

Học lực
Nam Nữ

Giỏi Khá

TB

Dân tộc
Yếu Kinh

Tây nguyên

9/4

34

19

15

9

13

9

3

31

3

9/3

34

20

14

8

12

10

4

31

3

2) Thiết kế:
Chọn lớp 9/4 là nhóm thực nghiệm và lớp 9/3 là nhóm đối chứng, tôi kiểm tra
trước tác động hiệu quả thông qua các tiết dạy. Kết quả kiểm tra cho thấy điểm trung
bình của hai nhóm có sự khác nhau, do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm
chứng sự chênh lệch giữa điểm số trung bình của hai nhóm trước khi tác động.
Kết quả: Kiểm chứng để xác định các nhóm tương đương:
Bảng 2:


Điểm trung bình

Đối chứng

Thực nghiệm

6,5

6,6

p=

0,78

p = 0,78 > 0,05 từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhóm thực
nghiệm và đối chứng là không có ý nghĩa, hai nhóm được coi là tương đương.
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương
đương (được mô tả ở bảng 2):
Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu:

Nhóm

Kiểm tra

Tác động

trước tác động

Kiểm tra sau
tác động

Sử dụng cán sự bộ môn trong việc
Thực nghiệm

O1

kiểm tra cả lớp có xem bài mới trước
ở nhà và có làm bài tập theo yêu cầu

O3

của giáo viên.
Đối chứng

O2

Không tác động

O4

Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập.
2) Quy trình nghiên cứu:

- Lớp đối chứng dạy bình thường, giáo viên nhắc nhở chung cả lớp và kiểm tra
xác suất 1 – 2 hoặc 3 học sinh xem các em có thuộc bài cũ, có chuẩn bị gì cho bài
mới, vở bài tập và vở ghi chép trình bày như thế nào ….
- Lớp thực nghiệm ngoài việc dạy kiến thức đạt chuẩn, sử dụng cán sự bộ môn
để nhắc nhở công việc ở nhà trước 1 buổi học. ( Vì thường 2 tiết được xếp cách xa
nhau, có thể tiết 1 vào ngày thứ 3; tiết thứ 2 lại là ngày thứ 6 – do đó học sinh đặc
biệt là các em yếu thường quên), nhờ cán sự bộ môn kiểm tra bài cũ, lồng ghép bài
mới thông qua kiểm tra viết 5 – 10 phút trong 30 phút đầu giờ. Cán sự bộ môn nhờ
toàn bộ cán sự lớp kiểm tra việc ghi chép bài, kẻ bảng, làm bài tập ở nhà…


Tiến hành thực nghiệm:
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường
và theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan. Trong tiết dạy của lớp thực
nghiệm tôi có được những thuận lợi như sau:
-

Biết được cả lớp học bài cũ, ghi chép bài như thế nào, bảng biểu đã kẻ hay chưa,
trong lớp có bao nhiêu học sinh chưa thuộc bài, chưa làm bài tập, bài tập nào các
em làm đối phó…

-

Thông qua sổ ghi chép của cán sự bộ môn tôi còn biết được em nào thường xuyên
không học bài, làm bài đối phó, sau tiết học đó tôi gặp riêng em học sinh thường
vi phạm để trao đổi không ảnh hưởng chung đến giờ học của cả lớp.

-

Cũng thông qua sổ ghi chép của cán sự bộ môn tôi sẽ dò bài những em học thuộc,
nhắc nhở hay trừ điểm thi đua của các em chưa hoàn thành công việc tôi dặn dò
về nhà, tránh được sự nóng nảy, giữ được tâm lí cân bằng cho bài giảng.

-

Thông qua việc kiểm tra sổ ghi chép của cán sự bộ môn tôi sẽ thấy cách đặt câu
hỏi cuả em để điều chỉnh cho cả lớp, hoặc chấm lại bài của một số em được cho
là không thuộc bài để xem các em chấm bài có thiên vị, bao che cho nhau không.

-

Và nhờ sổ ghi chép của cán sự bộ môn, đó là một bằng chứng để giáo viên bộ
môn làm việc với giáo viên chủ nhiệm hay phụ huynh học sinh về việc thường
xuyên vi phạm của các em lười học.

-

Để các công việc trên được khách quan tôi luôn yêu cầu toàn lớp, kể cả cán sự bộ
môn đều phải viết câu trả lời trên giấy và lưu lại khi tôi cần kiểm tra đều phải đưa
ra để làm minh chứng.

-

Cán sự bộ môn chỉ là người xem trước nội dung và đặt ra câu hỏi ở nhà, đọc hoặc
ghi ra bảng phụ khi đã ổn định xong chổ ngồi, phân công kiểm tra chéo theo từng
ngày, tổ này chấm cho tổ kia, câu nào dễ cả lớp đổi chéo bài chấm; hôm nào câu
hỏi khó thì tổ trưởng và tổ phó chấm chéo giữa các tổ...

-

Đôi khi tôi nhìn thấy báo cáo là có em đó em kia chưa thuộc bài nhưng tôi vẫn
tiến hành kiểm tra bài cũ, có những lúc các em đó vẫn được điểm 6,7 vì sau khi bị
bạn kiểm tra không thuộc em đó đã cố gắng dùng thời gian còn lại của 30 phút
đầu giờ hay giờ ra chơi để học lại bài hay làm thêm bài tập, cũng có lúc các em


mượn vở học của bạn chép hoặc nhờ bạn hướng dẫn để làm bài tập. Nhưng dù thế
nào điều mà tôi mong muốn là các em có dành thời gian học cho môn của tôi, vậy
là tôi thành công rồi.
Sau một thời gian áp dụng đề tài tôi thấy học sinh hứng thú học tập hơn, chất
lượng bộ môn cao hơn là vì:
-

Các em học yếu thích vì các em không bị giáo viên nhắc nhở trước lớp và thường
dành phần kiểm tra bài cũ các em này vào những tiết học các em thuộc bài
(thường là các bài dễ thuộc hay hôm đó buổi học ít tiết học bài). Nên các em
thường có điểm kiểm tra miệng khá cao.

-

Giáo viên chủ nhiệm cũng kết hợp phụ giúp tôi kiểm tra học sinh đầu buổi học,
biết được học sinh lớp mình học môn Vật lý như thế nào.

-

Bản thân tôi cũng có tâm lí thoải mái vì khi nhìn vào sổ ghi chép của cán sự bộ
môn tôi sẽ chọn những em thuộc bài để kiểm tra miệng. Sau 2 – 3 lần vẫn thấy
những học sinh đó không thuộc bài thì tôi phải xem lại cách dạy của mình, hoặc
sẽ tìm hiểu về học sinh đó để có cách giải quyết hợp lí hơn mà không bị tâm lí ức
chế.

-

Cán sự bộ môn kiểm tra được toàn lớp, bản thân tôi lại không bị mất nhiều thời
gian để kiểm tra.

-

Các học sinh giỏi khác cũng sẽ thấy thoải mái hơn vì mình được học, được thể
hiện tài năng, được giúp đỡ cho bạn, được mở rộng kiến thức và được nâng cao.

-

Tôi có nhiều thời gian để dạy hơn vì đã có sự kiểm tra toàn lớp, nếu nghi ngờ tôi
có thể kiểm tra lại thông qua các tờ giấy các em làm bài, hoặc tôi đến trường sớm
hơn một chút, giám sát việc kiểm tra bài của 1 -2 lớp nào đó mà mình trực tiếp
giảng dạy. Như thế tôi lại càng tin tưởng hơn cán sự bộ môn của mình, tôi vừa
giúp tôi kiểm tra việc học tập bộ môn Vật lý của các em, tôi cũng giúp được giáo
viên chủ nhiệm quản lớp 1 – 2 buổi...

-

Tôi căn cứ vào báo cáo, người báo cáo cho tôi thông tin phải làm tổ trưởng rồi
đến cán sự bộ môn. Việc kiểm tra tốn nhiều thời gian nhưng lại không ảnh hưởng
đến tiết dạy của tôi vì các em thực hiện vào 30 phút đầu giờ. Nếu trên báo cáo ghi
là học bài, làm bài tập và xem bài mới đầy đủ. Nhưng khi tôi dò bài mà em học


sinh đó chưa làm bài tập ở nhà đủ, tôi sẽ gọi người báo cáo lên đề nghị em kiểm
tra lại vở và trả lời trước lớp bạn của em có vi phạm nội dung tôi dặn dò hay
không... Tôi sẽ khiển trách tổ đó, đề nghị với cán sự bộ môn sẽ phải kiểm tra lại
tổ đó 1 - 2 tuần sau đó để chấn chỉnh cách làm việc của em tổ trưởng đó. Đồng
thời nếu nhận thấy năng lực của em học sinh đó thấp tôi sẽ báo với giáo viên chủ
nhiệm để cùng kết hợp tìm em khác để thay thế...
-

Như vậy ngoài việc tôi đào tạo được một cán sự bộ môn giỏi, tôi lại còn giúp cho
bốn em tổ trưởng lãnh đạo tốt tổ của mình thông qua việc kiểm tra nội dung công
việc về nhà có khoa học hay không, có sát sao không, có đúng thực chất hay
không.
4) Đo lường và thu thập dữ liệu:
Đo lường:
Đo độ tin cậy của dữ liệu:
-

Bài kiểm tra trước tác động là bài kiểm tra hiệu quả của tiết dạy (kiểm tra 15
phút). Qua thống kê cho thấy hai lớp có sự tương đương về học lực.

-

Bài kiểm tra sau tác động cũng là bài kiểm tra hiệu quả tiết dạy nhưng thiết
kế theo kế hoạch bài học riêng nhằm kiểm tra kiến thức và chất lượng học
tập của học sinh.

-

Dạng đề trắc nghiệm kết hợp với tự luận

-

Tiến hành kiểm tra và chấm bài ( Đề và kết quả ở phần phụ lục).
Đo độ giá trị của dữ liệu:
Có nhận xét của tổ chuyên môn về đề kiểm tra và đáp án trước và sau tác

động.
Thu thập dữ liệu:
- Tổ chức cho nhóm thực nghiệm khảo sát, tìm hiểu về đề tài.
- Tìm hiểu thực tế học sinh.
- Tìm một số tư liệu phục vụ cho đề tài.
- Tiến hành viết đề tài nghiên cứu


IV. PHÂN TÍCH VÀ BÀN VỀ KẾT QUẢ
1) Phân tích dữ liệu:
Khi dạy - học Vật lý theo kiểu giáo viên ra nội dung công việc về nhà rồi tự giáo
viên kiểm tra học sinh thực hiện công việc theo yêu cầu của giáo viên như thế nào?
Thực ra với cách dạy theo phương pháp mới, giáo viên không có nhiều thời gian để
kiểm tra học sinh về bài cũ, thường chỉ kiểm tra 1 - 2 HS/ tiết dẫn tới việc nhiều học
sinh không học bài. Do chỉ kiểm tra 1 – 2 học sinh nên giáo viên cũng chỉ kiểm tra
vở ghi chép hay bài tập của những em đó, dẫn đến việc các em không dành thời gian
cho môn học, hầu như các em không xem bài mới, nên việc truyền tải của giáo viên
đến với một số em cũng chưa hiểu gì vì vậy nên các em tiếp thu kiến thức rất chậm.
Các em rất ngại, thậm chí nhiều em không hiểu bài, không hứng thú, không khí lớp
học rất trầm, rời rạc nên hiệu quả, chất lượng thấp.
Từ năm học 2013 – 2014 đến nay, đặc biệt năm học 2016 – 2017 và năm học
2017 – 2018 tôi vận dụng cán sự bộ môn vào việc dạy - học Vật lý, đạt được một số
kết quả: Giờ học thoải mái, học sinh tự tin, hiểu bài, vận dụng nhanh và điều quan
trọng hơn là các em thực sự hứng thú khi học.

Bảng 4: So sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động:
Đối chứng

Thực nghiệm

Điểm trung bình (ĐTB)

6,7

8,3

Độ lệch chuẩn

1,98

2,14

Giá trị P của T-Test

0,002

Chênh lệch giá trị TB chuẩn (SMD)

0, 81

Như trên đã chứng minh, kết quả hai nhóm trước tác động là tương đương. Sau
tác động kiểm chứng chênh lệch điểm trung bình bằng T-Test cho kết quả p = 0,002
cho thấy sự chênh lệch giữa điểm trung bình nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
rất có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao hơn
điểm trung bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả tác động.


Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn: SMD =

8,3  6, 7
�0,81 .
1,98

Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của việc áp dụng cán sự bộ môn vào dạy
học Vật lý nhằm nâng cao chất lượng học tập có tác dụng lớn.
Vấn đề nghiên cứu: Sử dụng cán sự bộ môn tốt là một giải pháp tích cực như một
trợ giảng thực thụ của người giáo viên vào việc dạy học Vật lý có nâng được chất
lượng học tập của học sinh không ? Có nâng cao được hiệu quả tiết học hay không?
Điều đó đã được kiểm chứng.

Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động của nhóm
thực nghiệm và nhóm đối chứng.

2) Bàn luận kết quả:
Cơ sở để lựa chọn các đối tượng học sinh để nghiên cứu cho đề tài là :
-

Cùng học một chương trình như nhau (35 tuần).

-

Điều kiện học tập như nhau.

-

Ý thức học tập giống nhau.

-

Trình độ như nhau.


Nghiên cứu đã đạt được mục tiêu đặt ra :
Học sinh bước đầu đã có sự thay đổi về cách học, luôn sợ thua bạn bè, sợ
GVBM và GVCN biết mình không học bài nên thường xuyên thực hiện tốt nội dung
giáo viên yêu cầu làm ở nhà.
Học sinh thích trao đổi, thảo luận, đề xuất thắc mắc, bài viết trên giấy trình
bày rõ ràng, trôi chảy hơn, theo dõi và nhận xét câu trả lời của bạn một cách chính
xác, vì chính các em đã tự chấm bài cho mình hay cho bạn mình…
Do các em đều đã đọc bài mới trước ở nhà nên các thí nghiệm diễn ra cũng
nhanh hơn, không tốn thời gian kẻ bảng biểu nên với những đồ dùng thí nghiệm hay
bị hỏng hóc giáo viên cũng kịp thời gian để điều chỉnh. Do có sự tò mò khi đọc bài ở
nhà nên các em cũng rất háo hức thí nghiệm để tìm câu trả lời cho mình. Dưới sự dẫn
dắt của giáo viên, học sinh tự tìm ra chân lí, nên nhanh chóng ghi nhớ và nhớ bền
vững các kiến thức, kĩ năng mà các em đã thu nhận được qua từng tiết học.
Học sinh đã có ý thức tự học, tự nghiên cứu để bổ trợ, nâng cao kiến thức như
chuẩn bị tài liệu, soạn bài, làm bài tập… nên lên lớp học tập chủ động, tích cực hơn
rất nhiều. Quá trình tự học này còn diễn ra ngay trong tiết học có thầy hướng dẫn.
Khi đã chuẩn bị tốt, học sinh tự tin hơn, nên hoạt động nhiều hơn.
Về phía giáo viên, việc áp dụng có « trợ giảng » cũng có nhiều thời gian dành
cho việc dạy hơn là kiểm tra đã tạo hứng thú cho học sinh. Học sinh học một cách
tích cực, tự giác nên giáo viên càng vững tin hơn, mạnh dạn sáng tạo và áp dụng linh
hoạt, đa dạng các phương pháp dạy học tích cực. Giáo viên thêm yêu nghề, yêu mến
học trò, giảng dạy thêm nhiệt tình. Mối quan hệ thầy - trò trở nên thân thiện, uy tín
người thầy ngày càng được nâng cao.
Việc học sinh tự giác học tập ở nhà cũng như trên lớp, khiến cho thời gian
chuẩn bị và trả lời câu hỏi nhanh hơn, nội dung câu hỏi chính xác hơn, tránh được
những sự im lặng nặng nề trên lớp. Đó là những thuận lợi cho thầy, giảm bớt việc
thuyết trình, tăng cường vai trò chủ động học tập của học sinh, có thêm thời gian khai
thác kiến thức, làm bài tập, tránh được rủi ro “cháy giáo án”.
Kết quả giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là
8,3; của nhóm đối chứng là 6,7. Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm là 0,78; Điều đó


cho thấy điểm giá trị trung bình của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự khác biệt
rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD = 0, 81. Điều
này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Phép kiểm chứng T-Test giá trị trung bình sau tác động của hai lớp là
p=0,002. Kết quả này khẳng định sự chênh lệch giá trị trung bình của hai nhóm
không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động.
Qua kết quả thu nhận được trong quá trình ứng dụng, tôi nhận thấy rằng việc
sử dụng cán sự bộ môn đã giúp nâng cao được chất lượng học tập bộ môn lên rõ rệt.

V. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1) Kết luận:
Nâng cao chất lượng bộ môn Vật lý nói riêng và nâng cao chất lượng của tất
cả các bộ môn bằng việc áp dụng các giải pháp tích cực có tầm quan trọng đặc biệt,
là khâu quyết định, bảo đảm thành công của việc đổi mới phương pháp dạy học, bảo
đảm thực hiện thành công việc nâng cao chất lượng dạy học nhằm thực hiện tốt cuộc
vận động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và chống bệnh thành tích trong giáo
dục”. Đồng thời nó đáp ứng nguyện vọng của học sinh mong muốn có những giờ học
hứng thú, xua tan không khí im lặng. Học sinh thực sự trở thành chủ thể lĩnh hội tri
thức, tránh sự độc tôn thuyết giảng của người thầy.
Nâng cao chất lượng học tập bằng việc học thực chất, người giáo viên đã tự
khẳng định tài năng, sự tinh thông nghề nghiệp, nghệ thuật sư phạm của mình trong
con mắt đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh.
Đề tài này cụ thể hóa việc xây dựng một cán sự bộ môn, một học sinh có tài
lãnh đạo, có khả năng hòa nhập cuộc sống, có trách nhiệm với bản thân, với thầy cô
– bạn bè. Cán sự bộ môn đó chắc chắn sẽ là người có ích cho địa phương cho đất
nước. Việc xây dựng được một công dân có trách nhiệm là mục đích giáo dục của
bản thân tôi và cả những ai quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học trong
tình hình hiện nay.


Đề tài này cho thấy, môn Vật lý nói riêng và các bộ môn khác nói chung có
thể vận dụng nhiều phương pháp dạy học, kể cả những phương pháp xưa nay thường
được xem là chỉ dành cho các môn khoa học xã hội.
Đặc biệt các giải pháp này cũng giúp nhiều cho giáo viên chủ nhiệm trong
việc quản lí và điều hành lớp chủ nhiệm. Chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng nhiều
giải pháp để giờ dạy sinh động, hấp dẫn, dễ hiểu, nhẹ nhàng đối với học sinh và đối
với cả chính người dạy.
Tính mới của đề tài này không chỉ áp dụng cho riêng môn Vật lý mà là có thể
áp dụng cho tất cả các môn, kể cả cho người làm công tác chủ nhiệm. Đề tài này
không những xây dựng một cán sự bộ môn năng động, tích cực mà còn rèn được
nhiều học sinh tích cực, tự giác, sáng tạo trong việc tìm hiểu kiến thức của nhiều
môn học
Để áp dụng các giải pháp nêu trên đạt kết quả, người giáo viên phải thật chủ
động, sáng tạo trong việc tổ chức, giúp đỡ cán sự bộ môn của mình vững chắc về
kiến thức, năng động, linh hoạt trong cách kiểm tra, trung thực trong báo cáo, có
trách nhiệm với nhiệm vụ được giao.
Việc kết hợp các giải pháp tích cực nêu trên vào giảng dạy Vật lý là cần thiết,
nhưng phải kết hợp linh hoạt giữa tình cảm của giáo viên, khánh quan trong kiểm tra
đánh giá, sát sao với học sinh để thông cảm, chia sẻ với các em khi nhiều môn công
việc về nhà chiếm cả giấc ngủ của các em, tạo sự hứng thú cho học sinh các lớp mình
đang giảng dạy, nhằm phát huy tốt tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong học tập của
học sinh.
2) Khuyến nghị và đề xuất:
Để việc giảng dạy đạt hiệu quả ngày càng cao tôi xin đề xuất một số vấn đề sau:

Đối với nhà trường: Lựa chọn những giáo viên nhiệt tình,
có uy tín vào làm công tác chủ nhiệm lớp để quản giờ giấc học tập của các em để
tránh việc các em ham chơi rồi đối phó với việc học tập. Đầu tư kinh phí thích đáng
cho hoạt động chuyên môn, tổ chức các chuyên đề cấp trường, cấp liên trường có
chất lượng để các giáo viên có điều kiện trao đổi, học hỏi kinh nghiệm chuyên môn;


mua sắm nhiều đồ dùng dạy học. Nhà trường cần hỗ trợ về cơ sở vật chất, thiết bị
dạy học hiện đại để giúp giáo viên đổi mới phương pháp dạy học.

Đối với giáo viên:
- Cần có sự yêu nghề, sự nhiệt tình và tâm huyết với học sinh.
- Có sự phối kết hợp tốt với giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh.
- Lựa chọn một cán sự bộ môn có trách nhiệm, trung thực, nhiệt tình, có cách học
tốt và có thêm năng lực lãnh đạo.
- Không ngừng tự học, tự bồi dưỡng kiến thức và năng lực chuyên môn bằng nhiều
con đường khác nhau.
- Đầu tư thời gian cho việc soạn giảng, kiểm tra đánh giá học sinh, đổi mới phương
pháp giảng dạy.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi rút ra được trong suốt quá trình dạy
học theo tinh thần đổi mới. Việc tìm ra và áp dụng các giải pháp tích cực vào dạy học
để xây dựng nâng cao được chất lượng học tập của học sinh một cách hiệu quả là
một điều hết sức khó khăn. Vì vậy, khó tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong sự góp ý
của đồng nghiệp, của hội đồng khoa học các cấp để đề tài của tôi hoàn thiện hơn và
để sự nghiệp giáo dục ngày càng khởi sắc. /.


VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng – Bộ giáo dục và đào tạo, dự án Việt –
Bỉ.
2) Tài liệu tập huấn : Kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định hướng
phát triển năng lực học sinh trong trường THCS – Bộ giáo dục và đào tạo.
3) Tài liệu dạy - học Vật Lí lớp 9 theo chuẩn kiến thức kĩ năng – Phạm Ngọc Tiến
4) Tương tác hoạt động thầy – trò trên lớp học – Đặng Thành Hưng
5) Người lãnh đạo và tập thể - Tài liệu nước ngoài
6) Sách giáo khoa, sách giáo viên Vật Lí 9
7) Mạng Internet: http://flash.violet.vn ; thuvientailieu.bachkim.com.
8) Tài liệu giảng dạy: Hướng dẫn thực hiện theo Chuẩn Kiến thức – kĩ năng
môn Vật Lí – bậc THCS.

VII. PHỤ LỤC
1) Ghi chép của cán sự bộ môn:
( có minh chứng kèm theo)


2) Đề và đáp án trước tác động:
Trường THCS Thạnh Mỹ

KIỂM TRA 15 PHÚT

Lớp: 9/ ….

Môn: VẬT LÝ

Tên:……………………

Ngày … tháng … năm 2017
ĐỀ 1

Điểm

Nhận xét

Duyệt đề

A. TRẮC NGHIỆM: Chọn câu trả lời đúng rồi điền vào khung dưới đây.
Câu 1

Câu 2

Câu 3

Câu 4

Câu 5

Câu 1. Một bóng đèn khi thắp sáng có điện trở 15  và cường độ dòng điện chạy
qua dây tóc bóng đèn là 0,3 A. Hiêụ điện thế giữa hai đầu dây tóc bóng đèn khi đó là
bao nhiêu?
A. U = 5 V

B. U = 15,3 V

C. U = 4,5 V

D. Một giá trị khác

Câu 2. Trong đoạn mạch nối tiếp, công thức nào là sai?
A. I = I1 = I2 = … = In

B. I + I1 + I2 + … + In

B. U = U1+ U2 + …+ Un

C. R = R1+ R2 + …+ Rn

Câu 3. Điện trở R1= 10  chịu được cường độ dòng điện tối đa là 1,5 A. Điện trở
R2= 20 chịu được cường độ dòng điện tối đa là 2 A. Có thể mắc song song hai điện
trở trên vào hai điểm có hiệu điện thế tối đa là bao nhiêu?


A. 15 V.

B. 10 V.

C. 25 V.

D.30 V

Câu 4. Cho điện trở R1= 15, hiệu điện thế đặt vào hai đầu điện trở là 30 V. Cường
độ dòng điện chạy qua điện trở có giá trị:
A. 0,002 A

B. 0,2 A

C. 2 A

D. 20 A

Câu 5. Hai điện trở R1 = 5 Ω , R2 = 15 Ω mắc song song với nhau. Cường độ dòng
điện chạy qua mạch là 0,2 A, hiệu điện thế đặt vào hai đầu đoạn mạch là:
A. 0,75 V

B. 1,5 V

C. 1,25 V

D. 2,75 V

B. TỰ LUẬN:
Cho mạch điện gồm hai điện trở mắc nối tiếp R1 = 15 Ω , R2 = 30 Ω. Cường độ
dòng điện chạy qua mạch là 2 A.
1. Tính điện trở tương đương của mạch?
2. Tính hiệu điện thế hai đầu đoạn mạch và hai đầu điện trở R1?
3. Nếu mắc hai điện trở trên song song với nhau, giữ nguyên hiệu điện thế ban
đầu.
a) Cường độ dòng điện chạy qua mạch là bao nhiêu?
b) Thay R2 bằng một điện trở RX thì điện trở tương đương của mạch giảm 5 Ω.
Tính điện trở Rx?
Trường THCS Thạnh Mỹ

KIỂM TRA 15 PHÚT

Lớp: 9/ ….

Môn: VẬT LÝ

Tên:……………………

Ngày … tháng … năm 2017
ĐỀ 2

Điểm

Nhận xét

Duyệt đề

A. TRẮC NGHIỆM: Chọn câu trả lời đúng rồi điền vào khung dưới đây.
Câu 1

Câu 2

Câu 3

Câu 4

Câu 5

Câu 1. Cho điện trở R1= 15, hiệu điện thế đặt vào hai đầu điện trở là 30 V. Cường
độ dòng điện chạy qua điện trở có giá trị:
A. 0,002 A

B. 0,2 A

C. 2 A

D. 20 A


Câu 2. Điện trở R1= 10 chịu được cường độ dòng điện tối đa là 1,5 A. Điện trở R2=
20 chịu được cường độ dòng điện tối đa là 2 A. Có thể mắc song song hai điện trở
trên vào hai điểm có hiệu điện thế tối đa là bao nhiêu?
A. 10 V

B. 15 V

C. 25 V

D. 30 V

Câu 3. Một bóng đèn khi thắp sáng có điện trở 15  và cường độ dòng điện chạy
qua dây tóc bóng đèn là 0,3 A . Hiêụ điện thế giữa hai đầu dây tóc bóng đèn khi đó là
bao nhiêu?
A. U = 5 V

B. U = 15,3 V

C. U = 4,5 V

D. Một giá trị khác

Câu 4. Hai điện trở R1 = 5 Ω , R2 = 15 Ω mắc song song với nhau. Cường độ dòng
điện chạy qua mạch là 0,2 A, hiệu điện thế đặt vào hai đầu đoạn mạch là:

B. 1,5 V

A. 2,75 V

C. 1,25 V

D. 0,75 V

Câu 5. Trong đoạn mạch nối tiếp, công thức nào là sai?
A. I = I1 = I2 = … = In

B. U = U1+ U2 + …+ Un

C. I + I1 + I2 + … + In

D. R = R1+ R2 + …+ Rn

B. TỰ LUẬN:
Cho mạch điện gồm hai điện trở mắc nối tiếp R1 = 15 Ω , R2 = 30 Ω. Cường độ
dòng điện chạy qua mạch là 2 A.
1) Tính điện trở tương đương của mạch?
2) Tính hiệu điện thế hai đầu đoạn mạch và hai đầu điện trở R1?
3) Nếu mắc hai điện trở trên song song với nhau, giữ nguyên hiệu điện thế ban
đầu.
a) Cường độ dòng điện chạy qua mạch là bao nhiêu?
b) Thay R2 bằng một điện trở RX thì điện trở tương đương của mạch giảm 5 Ω.
Tính điện trở Rx?
ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM
I/ TRẮC NGHIỆM:
ĐỀ 1:
Câu 1
C

Câu 2
B

Câu 3
A

Câu 4
C

Câu 5
A

Câu 2

Câu 3

Câu 4

Câu 5

ĐỀ 2:
Câu 1


C

B

C

D

C

II/ TỰ LUẬN:
1.

Điện trở tương đương của đoạn mạch là: Rtđ = R1 +R 2 = 45  ( 1, 0 đ)

2.

Hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch
U = I. Rtđ = 2 .45 = 90 V

( 1, 0 đ)

Hiệu điện thế giữa hai đầu điện trở R1 là:
U1 = I. R1= 2.15 = 30 V
3.

( 1, 0đ)

Nếu mắc hai điện trở song song vào hiệu điện thế trên thì
a) Điện trở tương đương của mạch mới là:
Rtđ =

R1.R2
15.30

 10 (  ) ( 0,5 đ)
R1  R2 15  30

Cường độ dòng điện qua mạch là: I = 9 A ( 0,5 đ)
b) Điện trở tương đương của mạch mới:
Rtđ = 10 – 5 = 5 

( 0, 5 đ)

Giá trị điện trở Rx là: 7,5  ( 0, 5 đ)

3) Đề và đáp án sau tác động:
Trường THCS Thạnh Mỹ
Lớp: 9/………
Tên: …………………..
………………………
Điểm

KIỂM TRA 15 PHÚT
Môn: Vật Lý
Ngày …./01/2018
Đề 1
Nhận xét

Duyệt đề

I/ Trắc nghiệm: ( 5 đ) Chọn đáp án đúng nhất rồi điền vào khung dưới đây:
Câu 1
1)

Câu 2

Câu 3

Câu 4

Câu 5

Khi truyền tải điện năng đi xa, hao phí là đáng kể khi điện năng được
chuyển hóa thành :
A. Hóa năng.
C. Năng lượng ánh sáng
B. Nhiệt năng
D. Năng lượng từ trường
2)
Trên cùng một đường dây tải đi cùng một công suất điện P khi dùng
hiệu điện thế 500kV thì công suất hao phí là P1 ; Khi dùng hiệu điện thế 10000
V thì công suất hao phí là P2.Tỉ số P2 /P1 là:


A. 25
B. 250

C. 2500
D. 25000
3)
Một máy biến thế dùng trong nhà cần hạ hiệu điện thế từ 220 V xuống
còn 15 V, cuộn sơ cấp có 3800 vòng. Vậy cuộn thứ cấp có:
A. 500 vòng
C. 259 vòng
B.800 vòng
D. 200 vòng
4)
Dòng điện cảm ứng xuất hiện khi số đường sức từ xuyên qua mạch
điện:
A. không đổi
C. lúc tăng lúc giảm.
B. luôn giảm
D. luôn tăng
5)
Dòng điện cảm ứng là dòng điện:
A. ở xe máy
C.
ở đèn pin
B. ở bóng đèn trong đinamô xe đạp
D.
ở xe đồ chơi trẻ em
II/ Tự luận( 5 đ)
Người ta muốn tải một công suất điện 105W từ nhà máy đến nơi tiêu thụ bằng
đường dây có tổng điện trở là 10  . Hiệu điện thế giữa hai đầu dây dẫn là
103V.
1) Tính công suất hao phí trên đường dây tải điện tỏa nhiệt
2) Để tăng hiệu điện thế hai đầu dây lên đến 2.10 5 V thì công suất hao phí do
tỏa nhiệt là bao nhiêu?
3) Để tăng hiệu điện thế như trên người ta phải dùng máy biến thế đặt ở hai
đầu đường dây. Cho biết số vòng dây của cuộn thứ cấp là 20 000 vòng.
Hãy tính số vòng dây cuộn sơ cấp của máy biến thế này?
Trường THCS Thạnh Mỹ
Lớp: 9/………
Tên: …………………..
………………………
Điểm

KIỂM TRA 15 PHÚT
Môn: Vật Lý
Ngày …./01/2018
Đề 2
Nhận xét

Duyệt đề

I/ Trắc nghiệm: ( 5 đ) Chọn đáp án đúng nhất rồi điền vào khung dưới đây:
Câu 1

Câu 2

Câu 3

Câu 4

Câu 5

1) Dòng điện cảm ứng là dòng điện:
A.ở xe máy
C.ở đèn pin
B.ở bóng đèn trong đinamô xe đạp
D.ở xe đồ chơi trẻ em
2) Trên cùng một đường dây tải đi cùng một công suất điện P khi dùng hiệu điện
thế 500kV thì công suất hao phí là P1 ; Khi dùng hiệu điện thế 10000 V thì
công suất hao phí là P2.Tỉ số P2 /P1 là:
A. 25
C. 2500
B. 250
D. 25000


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×