Tải bản đầy đủ

Rèn kĩ năng bình luận trong bài văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên; những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ;
những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”(Khổng Tử). Dạy học gắn liền với rèn luyện kĩ
năng, trải nghiệm sáng tạo - “làm”- đang là hướng đi mới của ngành giáo dục
nước nhà. Hoạt động tổ chức dạy học chuyển từ hình thức nghe, nhìn sang tự
trình bày và thực hành. Để HS vận dụng được kiến thức vào thực tiễn, “làm”
một cách hiệu quả, việc rèn kĩ năng cho các em đóng vai trò quan trọng. Vững
kĩ năng là cơ sở để “tôi làm” đúng và là nền móng để “tôi hiểu” một cách
vững chắc. Đối với học sinh giỏi, việc rèn kĩ năng càng quan trọng hơn bởi
điều đó giúp các em biết cách bộc lộ những tố chất, sở trường trong học tập
bộ môn cũng như các hoạt động khác một cách hiệu quả nhất.
1.2. Làm văn là hoạt động mang tính thực hành, có sự kết hợp của
nhiều phân môn trong bộ môn Ngữ văn (Tiếng Việt, Đọc hiểu). Đây cũng là
phân môn khó nhất bởi nó không chỉ đòi hỏi ở người đọc kiến thức về môn
học và về xã hội mà còn thể hiện kĩ năng tạo lập văn bản theo kiểu bài, kĩ
năng vận dụng ngôn ngữ,…Trong các kiểu bài làm văn đã học, văn nghị luận
giúp người đọc trực tiếp thể hiện quan điểm, tư tưởng của bản thân về văn học
và đời sống xã hội bằng một lối diễn đạt, lập luận chặt chẽ, thuyết phục. Trong
các thao tác lập luận được sử dụng trong văn nghị luận, bình luận là một thao
tác quan trọng. Nắm vững thao tác lập luận bình luận, học sinh có cách bày tỏ

chính kiến hợp lí, sáng tạo và thuyết phục.
1.3. Đối với HS tham gia các kì thi HSG môn Ngữ văn, muốn hoàn
thành tốt bài làm, ngoài việc phải được trang bị kĩ về kiến thức văn học và xã
hội, các em cần phải nắm vững kĩ năng làm bài. Trong đó, kĩ năng lập luận
bình luận là một phần vô cùng quan trọng, quyết định độ nông sâu của bài viết
và thể hiện năng khiếu làm văn của học sinh. Trên thực tế chấm bài HSG môn
Ngữ văn trong các kì thi HSG cấp trường và cấp Tỉnh, chúng tôi nhận thấy bài
1


làm của nhiều học sinh giỏi môn Ngữ văn còn yếu kĩ năng lập luận bình luận,
hoặc điểm nhìn bình luận còn giản đơn, quen thuộc và phiến diện.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn đề xuất giải pháp
Rèn kĩ năng bình luận trong bài văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ
văn.
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1.1. Mục tiêu
- Tìm ra giải pháp tối ưu nhất trong việc rèn kĩ năng bình luận trong
làm văn nghị luận cho HS giỏi môn Ngữ văn, nhất là học sinh trong đội tuyển
dự thi HSG các cấp.
- Góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng HS giỏi môn Ngữ văn trong
trường THPT Chuyên Thăng Long, Đà Lạt cũng như Tỉnh nhà.
1.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
- Đề xuất giải pháp rèn kĩ năng lập luận bình luận trong làm văn nghị
luận cho HS giỏi Văn.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng học thuật: kĩ năng bình luận trong bài văn nghị luận. Cần
lưu ý rằng đề tài tập trung nghiên cứu kĩ năng lập luận bình luận trong bài văn
nghị luận chứ không nghiên cứu cách làm một bài văn bình luận.
- Đối tượng thực hành: học sinh giỏi môn Ngữ văn trong các đội tuyển
dự thi HSG cấp Tỉnh và cấp Quốc gia tại trường THPT Chuyên Thăng Long
từ năm học 2015 - 2016 đến năm học 2017 - 2018.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tìm giải pháp rèn luyện kỹ năng bình
luận trong bài văn nghị luận cho học sinh giỏi môn Ngữ văn.
2



- Thời gian nghiên cứu: trong 3 năm học: 2015 – 2016, 2016 – 2017,
2017 - 2018.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp đối chứng
- Phương pháp khảo sát
- Phương pháp phân tích
4. TÍNH MỚI CỦA GIẢI PHÁP
Giải pháp được rút ra trong thực tiễn bồi dưỡng HS Giỏi môn Ngữ văn
của người viết tại trường THPT Chuyên Thăng Long trong nhiều năm liền
nhưng tập trung nhất là 3 năm học trở lại đây, từ năm học 2015- 2016. Giải
pháp mang tính thực hành, ứng dụng nên tránh được tính hàn lâm về lý thuyết.
Nếu lý thuyết được đưa ra thì lý thuyết đó có ý nghĩa nền tảng phục vụ cho
thực hành, là lý thuyết được khái quát và nâng lên từ chính quá trình dạy học,
từ thực tế rèn luyện học sinh giỏi mà chúng tôi đã trải qua.
Tính mới của đề tài thể hiện ở những điểm sau:
- Giải pháp đưa ra phương pháp bồi dưỡng cụ thể, có tính ứng dụng cao
trong việc rèn kĩ năng bình luận cho đối tượng học sinh giỏi môn Ngữ văn;
- Chúng tôi đã đúc rút được những điểm nhìn bình luận phù hợp với đối
tượng HSG môn Ngữ văn – đây là điều chưa được đề cập trong các công
trình, giải pháp nghiên cứu dạy học Làm văn nghị luận từ trước đến nay.
- Với mỗi giải pháp rèn kĩ năng bình luận cho HS, chúng tôi đều đưa ra
ngữ liệu, minh chứng cụ thể để làm sáng rõ vấn đề. Ngữ liệu đa phần là bài
làm của học sinh trong quá trình bồi dưỡng HSG.

NỘI DUNG GIẢI PHÁP
3


I. CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI
1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Văn nghị luận
1.1.1. Khái niệm về văn nghị luận
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (chủ biên), NXB Đại học Quốc gia, 1999), văn nghị luận là thể loại
văn “viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác
nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hóa… Mục đích của văn nghị luận là bàn
bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm
nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất
định… Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận là tính chất luận thuyết – khác với
văn học nghệ thuật, văn chương, nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục
người đọc chủ yếu bằng lập luận, lý lẽ”. Đây là kiểu văn bản giúp người viết
thể hiện những quan điểm, thái độ của bản thân đối với mọi vấn đề trên tất cả
các phương diện. Sự tương tác lẫn nhau giữa các tư tưởng trong quá trình tranh
luận, đánh giá sẽ gợi mở, dẫn dắt con người đến những nhận thức đúng đắn,
đến chân lý. Lối văn này vì thế không những đã giúp con người mở rộng tầm
hiểu biết, nâng cao tri thức, thúc đẩy khả năng hoạt động xã hội của mỗi cá
nhân mà còn là một phương cách hữu hiệu giúp mài sắc tư duy, trau dồi năng
lực trí tuệ.
Đặc điểm của văn nghị luận là hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng tư duy
lôgic; là sự nhận thức logic, lý thuyết về các hiện tượng có ý nghĩa xã hội,
nhân văn và hướng tới mục đích thuyết phục. Phương thức biểu đạt chủ yếu
của văn nghị luận là nghị luận cùng với sự kết hợp với các phương thức khác.
Nhưng vẻ đẹp của một áng văn nghị luận không chỉ thể hiện ở những tư tưởng
đúng đắn, sâu sắc, nó còn thể hiện ở hình thức lập luận phong phú, lý lẽ đanh
thép, giọng điệu thuyết phục cùng sự cuốn hút bởi nhiệt tình và thái độ của mỗi
tác giả trước vấn đề nghị luận. Văn nghị luận không chỉ cần có ý mà phải cần
có lý, vì đích của nghị luận là thuyết phục. Để bài văn đảm bảo tính có lý, cần
4


thiết phải có lập luận. Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong bài viết “ Vai trò của lập
luận trong văn nghị luận” đã khẳng định: “Luận điểm mới mẻ, độc đáo là hết
sức quan trọng, nhưng để bài văn có sức thuyết phục cao thì riêng luận điểm
chưa đủ. Ở đây còn cần đến vai trò của lập luận. Phải biết lập luận, tức là
phải biết trình bày và triển khai luận điểm; biết nêu vấn đề và giải quyết vấn
đề; biết dùng những lý lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều mình muốn nói, để
người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình. Luận điểm là nội dung còn lập luận
là hình thức diễn đạt nội dung ấy; lập luận là cách nói, là phương pháp thuyết
phục đối tượng…”
1.1.2. Các thao tác lập luận trong bài văn nghị luận
Lập luận là quá trình và cách thức nghị luận trong văn nghị luận.
Những tri thức về lập luận trên phương diện lôgic học và ngôn ngữ học giúp
ta biết cách tổ chức, kết cấu của tư tưởng cũng như cách sử dụng ngôn ngữ để
biểu đạt nhận thức. Lập luận trong văn nghị luận hướng tới việc làm sáng tỏ
tư tưởng, thuyết phục tư tưởng, tác động mạnh mẽ tới người đọc. Theo những
tác giả biên soạn SGK Ngữ văn THPT, “Lập luận là đưa ra các lý lẽ, bằng
chứng nhằm dẫn dắt người nghe (đọc) đến một kết luận nào đó mà người nói
(viết) muốn đạt tới . Để xây dựng lập luận trong văn bản nghị luận, cần xác
định được luận điểm chính, minh bạch; tìm các luận cứ (lý lẽ và bằng chứng)
thuyết phục và vận dụng hợp lý các thao tác lập luận, các kỹ năng lập luận
dùng trong phương thức nghị luận”. Theo các tác giả Nguyễn Quang Ninh,
Nguyễn Thị Ban, Trần Hữu Phong trong “Luyện cách lập luận trong đoạn văn
nghị luận cho học sinh phổ thông”: “Lập luận là đưa ra những lý lẽ, dẫn
chứng một cách đầy đủ, chặt chẽ, nhất quán và đáng tin cậy nhằm dẫn dắt
người đọc, người nghe đến với một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận nào
đấy mà người viết, người nói muốn đạt tới”. Cũng theo các tác giả này, mỗi
lập lập thường bao gồm ba yếu tố: luận cứ lập luận, kết luận, lập luận, cách
thức lập luận… dùng để làm chỗ dựa, làm cơ sở dẫn tới kết luận. Như vậy có
thể thấy kết luận là điều rút ra được sau khi đã giải thích, phân tích và chứng
minh trong quá trình lập luận. Kết luận là cái đích của một lập luận. Đây là
5


điều người viết, người nói muốn người đọc chấp nhận. Cách thức lập luận là
sự phối hợp, tổ chức, liên kết các luận cứ theo những cách thức suy luận nào
đấy để dẫn đến kết luận và làm nổi bật kết luận. Những bài văn nghị luận nổi
tiếng đều là những tác phẩm thành công hàm chứa trong đó những cách lập
luận sắc sảo, mẫu mực. Tính lô-gic, chặt chẽ với những lý lẽ rõ ràng được
triển khai, tổ chức bởi các thao tác lập luận để buộc người nghe không thể
không công nhận tính khách quan của chân lý là đặc điểm của những bài nghị
luận này. Các thao tác lập luận thường sử dụng trong văn nghị luận là giải
thích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ. Bên cạnh các thao tác lập luận,
bài văn nghị luận còn sử dụng các phương pháp lập luận hợp lí để trình bày ý
kiến bản thân một cách thuyết phục. Các phương pháp lập luận thường sử
dụng trong bài văn nghị luận là: quy nạp, diễn dịch, nêu phản đề,…
1.2. Lập luận bình luận trong bài văn nghị luận
Bình luận là bàn bạc, đánh giá về sự đúng - sai, hay - dở, lợi - hại của
các vấn đề đời sống hoặc ý kiến bàn về văn học. Bình luận là đề xuất và
thuyết phục người đọc tán đồng với một nhận xét, đánh giá, bàn luận của
người viết về vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, không phải ý kiến bình luận nào cũng
hay, cũng đúng và có giá trị. Trong làm văn nghị luận, để ý kiến của bản thân
có sức thuyết phục, người bình luận phải có kiến thức về xã hội cũng như văn
học, có lí tưởng xã hội tiến bộ, tư tưởng nhân văn, hiểu biết về cuộc đời,mặt
khác phải biết cách lập luận bình luận. Bình luận không chỉ là một thao tác lập
luận thông thường mà còn góp phần rèn luyện một kĩ năng mà con người hiện
đại rất cần phải có.
2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1. Khảo sát đề thi học sinh Giỏi môn Ngữ văn
Theo PGS.TS Đỗ Ngọc Thống, “điều giáo viên cần thay đổi nhất với
môn Ngữ văn hiện nay vẫn là đổi mới cách kiểm tra, đánh giá”. Đề kiểm tra
đánh giá hướng đến việc rèn năng lực giao tiếp, năng lực văn học, theo đó
chuyển cách đánh giá ghi nhớ máy móc, rập khuôn sang cách đánh giá ưu tiên
6


sáng tạo, tôn trọng ý tưởng mới và cách trình bày độc đáo… Vì thế, dạng câu
hỏi khuyến khích học sinh bày tỏ quan điểm riêng của bản thân ngày càng
được chú trọng trong các đề thi môn Ngữ văn. Điều này thể hiện rõ nét trong
cách ra đề thi HSG môn Ngữ văn trong các năm gần đây. Sau đây là hệ thống
đề thi HSG các cấp trong những năm vừa qua mà chúng tôi khảo sát được:
2.1.1. Đề thi HSG môn Ngữ văn cấp Tỉnh:
Năm học 2015 – 2016
Câu 1 (8 điểm): Suy nghĩ của anh (chị) về quan niệm sau:
“Tuổi trẻ cần có một thói quen đẹp, đó là đọc sách. Có say mê đọc sách
mới có thể trở thành một nhân cách văn hóa trong tương lai”.
Câu 2 (12 điểm):
Bàn về văn học, Standal khẳng định: “Văn học là tấm gương phản
chiếu đời sống xã hội”. Lênin cho rằng: “Nghệ thuật không đòi hỏi người ta
phải thừa nhận các tác phẩm của nó như là hiện thực”.
Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh (chị) hãy bình luận những
ý kiến trên.
Năm học 2016 – 2017
Câu 1 (8,0 điểm):
Một con rùa dõi nhìn bóng chim ưng bay trên bầu trời, lòng vô cùng
ngưỡng mộ. Nó cũng muốn bay lên được như vậy.
Thế là rùa đi tìm chim ưng, dâng thật nhiều lễ vật để mong chim ưng
dạy cho nó cách bay. Nhưng chim ưng bảo rùa không thể bay được. Rùa một
mực không tin, cứ xin xỏ luôn miệng. Bất đắc dĩ, chim ưng mới quắp rùa bay
lên trời, rồi thả nó ra.
Kết cục, rùa rơi xuống tảng đá và chết.
(Hạt giống tâm hồn, tập 14, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2015,
trang 103)
Câu chuyện trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì?
Câu 2 (12,0 điểm):
7


Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh cho rằng: “Văn học là nhịp cầu cho sự giao
lưu, là cánh cửa của sự đối thoại”.
(Lí luận văn học - vấn đề và suy nghĩ, NXB Giáo dục, 1999, trang 140)
Bằng trải nghiệm văn học, anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên.
Năm học 2017 - 2018
Câu 1 (8,0 điểm):
Ralph Waldo Emerson cho rằng: “Cuộc sống có muôn vàn điều bí ẩn
mà chỉ khi trải nghiệm ta mới hiểu hết”.
Baba Ram Dass lại khẳng định: “Càng trong tĩnh lặng, càng nghe thấy
nhiều”.
Anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về hai quan niệm trên.
Câu 2 (12,0 điểm):
Bằng trải nghiệm văn học, anh (chị) hãy bình luận ý kiến sau: “Hình
tượng nghệ thuật vừa là sự phản ánh, nhận thức đời sống, lại vừa là một hiện
tượng kí hiệu giao tiếp”.
(Phương Lựu - Lí luận văn học, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, 2017,
trang 71)
2.1.2. Đề thi HSG môn Ngữ văn cấp Quốc gia
Năm học 2015 – 2016:
Câu 1 (8,0 điểm):
Nếu không sống bằng cái đầu của mình thì có nghĩa là bạn đang sống
bằng cái đầu của người khác.
Ý kiến trên gợi cho bạn những suy nghĩ gì?
Câu 2 (12,0 điểm):
Hình tượng nhân vật được sinh ra từ tâm trí của nhà văn nhưng chỉ
thực sự sống bằng tâm trí của người đọc.
Bằng tri thức và trải nghiệm văn học của mình, bạn hãy bình luận ý
kiến trên.
Năm học 2016 – 2017:
8


Câu 1 (8 điểm):
Ngày xưa, ở một xứ nọ, có một vị vua rất yêu đàn gia súc của mình.
Khi phải chuyển chúng từ vườn thượng uyển ra nuôi ở ngoài đồi núi, ngài cần
một người hoàn toàn tin cậy để trông nom. Cất công đi khắp nơi, cuối cùng,
quan quân tìm được bác nông dân Masaro người được coi là thật như đếm.
Vua truyền cứ cuối tuần, bác phải vào cung bẩm báo trung thực về đàn gia
súc. Mọi việc đều diễn ra tốt đẹp. Sự trung thực của Masaro làm nhà vua rất
hài lòng và cũng khiến ngài nhận ra tư cách thấp kém của nhiều cận thần. Do
đố kị, quan tể tướng đã dèm pha rằng, trên đời làm gì có người thật thà như
thế, và xúc xiểm: lần tới Masaro sẽ nói dối vua. Do tin tưởng Masaro, nhà
vua đặt cược: nếu Masaro nói dối, sẽ bị chém đầu. Còn tể tướng cũng cược
cả mạng sống của mình, nếu Masaro vẫn nói thật.
Để giúp chồng thắng cược, vợ tể tướng đã cải trang thành một phụ nữ
sang trọng, quyến rũ, tìm gặp Masaro ngỏ ý sẵn sàng đổi tất cả trang sức,
vàng ngọc cùng nụ hôn để lấy một con cừu, đồng thời bày cho Masaro cách
nói dối vua sao cho trót lọt. Nhưng Masaro đã kiên quyết từ chối. Thất bại,
bà ta bèn sắm vai một người mẹ đau khổ đang cần sữa bò để cứu đứa con trai
duy nhất khỏi trọng bệnh. Lần này Masaro đã mủi lòng, mà tự ý cho đi con bò
yêu quý của vua. Đem được con bò về cung, vợ chồng tể tướng yên chí mình
thắng cược.
Biết đã phạm trọng tội, Masaro tìm cách nói dối. Nghĩ được cách nào,
bác đều tập theo cho nhập vai. Cuối cùng bác đã chọn được cách ưng ý nhất.
Khi vào chầu, trước mặt đức vua và quần thần, Masaro đã kể ra hết sự thật.
Bác nói rõ ràng con bò ấy cần cho người đàn bà khổ hạnh hơn là cần cho
nhà vua, và sẵn sàng chịu tội. Nghe xong, nhà vua khen ngợi Masaro là người
không sợ quyền uy và muốn trọng thưởng cho bác. Thật bất ngờ, phần thưởng
mà Masaro xin nhà vua lại chính là tha chết cho kẻ thua cược. Hơn thế, bác
còn cám ơn ông ta vì nhờ có tình thế này, bác mới biết chắc chắn mình là
Masaro Thật - Như - Đếm.
(Phỏng theo Masaro Thật – Như – Đếm, truyện cổ tích Italia, bản dịch
của Nguyễn Chí Được, Báo văn nghệ, số 50/10-12-2016)
9


Bài học cuộc sống mà anh chị tâm đắc nhất từ câu chuyện trên?
Câu 2 (12,0 điểm):
Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là sự cất tiếng
bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những
trải nghiệm sâu sắc trong trường đời.
Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.
Năm học 2017 – 2018:
Câu 1. (8,0 điểm)
Suy nghĩ của anh/ chị về quan niệm : Sống là thay đổi.
Câu 2. (12,0 điểm)
Chế Lan Viên trong bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng ? đã
viết: “Hãy biết ơn vị muối của đời cho thơ chất mặn !”
Trong bài Làm thế nào để có tác phẩm tốt ?, Lưu Trọng Lưu cho rằng :
“Sự sống phải được chắt lọc, phải được trau chuốt, phải được nâng lên, phải
được “tập trung” cao độ, nó mới biến thành nghệ thuật, cũng như dâu xanh
phải biến thành kén vàng, gạo trắng phải bốc thành men rượu. Sự thực phải
được sáng tạo, phải nâng cao lên đôi cánh của tư tưởng để lại tác động vào
lòng người còn sâu mạnh hơn cả sự sống”.
Bằng hiểu biết về văn học, anh/ chị hãy bình luận những quan niệm
trên.
2.1.3. Nhận xét chung
Qua khảo sát những đề thi HSG cấp Tỉnh và cấp Quốc gia trong ba năm
học gần đây, chúng tôi nhận thấy phần lớn các đề văn đều sử dụng chủ yếu
kiểu bài bình luận (về vấn đề xã hội hoặc một ý kiến về lí luận văn học), yêu
cầu học sinh sử dụng thao tác lập luận bình luận là thao tác chính trong bài
viết của mình. Đề thi HSG ngày càng theo hướng phát huy năng lực đánh giá,
phản biện của học sinh thì việc rèn luyện kĩ năng lập luận bình luận càng cần
thiết hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, trong dạy học bồi dưỡng HSG môn Ngữ

10


văn, người thầy cần chú ý rèn luyện, nâng cao năng lực bình luận cho học
sinh.

2.2. Thực trạng rèn kĩ năng bình luận trong bồi dưỡng HSG
2.2.1. Xét từ phía giáo viên
Thực tế giảng dạy và bồi dưỡng HSG trong những năm qua giúp chúng
tôi nhận ra rằng "thiên bẩm" và đam mê hết sức quan trọng; song trên thực tế
không có một tài năng thiên bẩm và niềm đam mê văn chương nào tự nó có
thể đi đến thành công. Bởi thế, vai trò người thầy là hết sức cần thiết. Tâm
hồn, tri thức và những gợi mở của người thầy sẽ được cụ thể hoá qua từng
trang viết của học trò. Trong đó việc rèn kĩ năng lập luận bình luận cho học
sinh như một “chiếc chìa khóa vàng” mà người thầy trao cho các em để các
em phát huy khả năng bình giá, phản biện cũng như sở trường và sự sáng tạo
của bản thân, từ đó các em mở được “cánh cửa đối thoại” với người đọc trên
mỗi bài làm văn nghị luận của mình. Tuy nhiên, quá trình bồi dưỡng HSG
môn Ngữ văn còn nặng về trang bị kiến thức nền. Việc chú ý rèn kĩ năng lập
luận bình luận trong bài văn nghị luận cho học sinh chưa được giáo viên chú
trọng một cách đúng mức. Nếu có chú ý đến việc rèn kĩ năng, GV mới chỉ
dừng lại ở việc đánh giá các em vận dụng thao tác bình luận đúng chỗ, đúng
kĩ năng hay không mà chưa chú ý nhiều đến việc các em đã dùng những “kĩ
xảo” nào để thực hiện thao tác lập luận bình luận. Giáo viên chưa hướng dẫn
các em những “điểm nhìn” bình luận có thể phát huy năng khiếu, sở trường và
sự sáng tạo trong làm văn nghị luận. Từ đó, học sinh vận dụng kĩ năng bình
luận một cách máy móc, đơ cứng và nhàm chán. Làm sao để chúng ta vừa dạy
được cho học trò kĩ năng bình luận mà lại giúp học trò sáng tạo trong cách
bình luận? Điều đó, đòi hỏi người dạy cũng phải có giải pháp hiệu quả trong
quá trình rèn kĩ năng bình luận cho học sinh giỏi bộ môn.
11


2.2.2. Xét từ phía học sinh
Học sinh giỏi văn trước hết là học sinh có niềm say mê, yêu thích đối
với văn học và có năng lực sáng tạo trong viết văn. Tuy nhiên, đam mê và khả
năng sáng tạo là những yếu tố “cần” nhưng chưa “đủ” để HS có thể tạo nên
một bài làm văn nghị luận tốt. Bên cạnh niềm đam mê và tài năng “thiên
bẩm”, HSG văn phải nắm chắc các kỹ năng làm bài nghị luận, trong đó một
trong những kĩ quan trọng nhất là kĩ năng lập luận bình luận. Khảo sát bài làm
của HSG, chúng tôi nhận thấy, nhiều HSG chưa nắm vững kĩ năng và chưa có
sự sáng tạo trong bình luận.
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trình bày trên đây,
chúng tôi đề ra giải pháp rèn kĩ năng bình luận trong bài văn nghị luận cho
học sinh giỏi.
II. GIẢI PHÁP RÈN KĨ NĂNG BÌNH LUẬN TRONG BÀI VĂN NGHỊ
LUẬN CHO HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN
1. Trang bị cho HS kĩ năng làm văn nghị luận và thao tác lập luận bình
luận
1.1. Kĩ năng làm văn nghị luận
Văn nghị luận là dùng ý kiến lí lẽ của mình để bàn bạc, để thuyết phục
người khác về một vấn đề nào đó. Để thuyết phục được người đọc (nghe) ý
kiến phải đúng và thái độ phải đúng. Có thể gọi ý kiến là lý còn thái độ là
tình. Có khi ý kiến đúng mà thái độ không đúng thì cũng kém giá trị và tác
dụng. Có ý kiến đúng và thái độ đúng rồi lại phải có cách nghị luận hợp lý
nữa. Cách nghị luận đó được gọi là kĩ năng nghị luận.
- Về chức năng: Văn nghị luận trực tiếp trình bày các luận điểm, thể
hiện tư tưởng về chính trị, triết học, đạo đức, xã hội, hay bày giải quan điểm,
đạo lí ở đời, …
- Về kết cấu: bài văn nghị luận thường gồm ba phần chính dưới dạng
tổng – phân – hợp: Vấn đề nghị luận; nội dung nghị luận; khái quát, bày tỏ
quan điểm tư tưởng.
12


- Về tổ chức lời văn: Văn nghị luận đòi hỏi sự chặt chẽ của lập luận, sự
xác đáng của các luận cứ, sự thuyết phục của luận chứng, …
Với từng kiểu bài văn nghị luận chúng ta sẽ có cách trình bày và triển
khai ý khác nhau. Trong phạm vi giải pháp, chúng tôi chỉ đề cập đến kĩ năng
bình luận.
1.2. Kĩ năng lập luận bình luận
1.2.1. Bình luận với tư cách một thao tác lập luận
Bước 1: Đánh giá vấn đề cần bình luận
- Đứng hẳn về một phía mình cho là đúng để bác bỏ cái sai;
- Kết hợp phần đúng của mỗi phía và loại bỏ phần sai để tìm ra tiếng
nói chung trong sự đánh giá;
- Đưa ra cách đánh giá của riêng mình;
Bước 2: Bàn về vấn đề cần bình luận
- Bàn về thái độ, hành động, cách giải quyết trước vấn đề đang được
xem xét;
- Bàn về những điều rút ra khi liên hệ với thời đại, hoàn cảnh, lứa tuổi,
giới tính,…
- Bàn về những vấn đề sâu xa hơn mà vấn đề được bình luận gợi ra.
1.2.2. Bình luận với tư cách một kiểu bài văn nghị luận
Để xây dựng lập luận trong một bài văn bình luận cần phải có luận
điểm và luận cứ. Muốn có luận điểm, luận cứ thì cần phải nắm phương pháp
và kĩ năng. Luận điểm, luận cứ chỉ đến với những ai chịu khó quan sát, suy
nghĩ, học tập để có được những ý kiến chắc chắn về những hiện tượng hoặc
những vấn đề trong đời sống. Bởi lẽ trong bài văn bình luận, người bình luận
không chỉ cần có kiến thức riêng của mình mà còn phải đánh giá, bàn bạc, đối
thoại với những kiến khác bảo vệ ý kiến của mình
1.2.2.1. Giải thích ý kiến cần bình luận
- Bám sát ý kiến/nhận định mà đề yêu cầu bình luận, tránh suy diễn chủ
quan, tuỳ tiện.
13


- Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh còn ẩn ý hoặc chưa rõ nghĩa.
- Phải đi từ yếu tố nhỏ đến yếu tố lớn: giải thích từ ngữ, hình ảnh trước,
rồi mới khái quát ý nghĩa của toàn bộ ý kiến, nhận định mà đề yêu cầu bình
luận.
- Nếu đề yêu cầu bình luận 2 nhận định, 2 ý kiến hoặc 2 đối tượng thì khi giải
thích phải chỉ rõ sự giống nhau cũng như sự khác nhau giữa hai nhận định,…
1.2.2.2. Cảm nhận, phân tích, làm rõ các đối tượng mà ý kiến/nhận
định đề cập tới
- Bám thật sát ý kiến/nhận định mà đề yêu cầu bình luận.
- Do yêu cầu của đề, thời gian làm bài và dung lượng bài viết nên chỉ
tập trung phân tích/cảm nhận để làm rõ các tính chất/đặc điểm của đối tượng
mà ý kiến/nhận định cần bình luận đề cập tới. Không được sa đà phân
tích/cảm nhận mọi phương diện, khía cạnh của đối tượng hay phân tích/cảm
nhận toàn tác phẩm.
- Sử dụng các thao tác lập luận như phân tích, chứng minh, so sánh…và
vận dụng các kiến thức đã học về tác phẩm/ về đời sống để làm rõ các tính
chất/đặc điểm của đối tượng mà ý kiến/nhận định cần bình luận đề cập tới.
- Việc phân tích, cảm nhận để làm rõ các tính chất/đặc điểm của đối
tượng mà ý kiến/nhận định cần bình luận đề cập tới cần phải chính xác, tinh
tế, sắc sảo, toàn diện và có suy nghĩ, cảm xúc…
1.2.2.3. Bình luận về ý kiến/nhận định mà đề yêu cầu
- Bám thật sát ý kiến/nhận định mà đề yêu cầu bình luận.
- Lời bình luận phải hợp lí, hợp tình; thái độ khiêm nhường, mềm mỏng
nhưng kiên quyết, giàu sức thuyết phục…
- Phát triển, mở rộng, nâng cao vấn đề.
Như vậy, dù bình luận với tư cách một kiểu bài thì thao tác lập luận
chính được sử dụng trong bài văn vẫn là thao tác bình luận. Trên thực tế, bài
văn nghị luận đạt kết quả tốt, thuyết phục người đọc và để lại dư ba không chỉ
bám sát yêu cầu đề, kĩ năng giải quyết vấn đề tốt, diễn đạt có chất văn mà còn
phải tạo ra những điểm nhìn bình luận hợp lí, thuyết phục. Chính vì thế, định
14


hướng những điểm nhìn bình luận cho HSG Văn theo chúng tôi rất quan
trọng. Bởi điểm nhìn bình luận vừa thể hiện kĩ năng bình luận của HS vừa thể
hiện trí tuệ và tâm hồn của các em, tạo nên sự sắc sảo và chiều sâu của bài
văn. Sau đây là một số điểm nhìn bình luận mà người viết đã rút ra từ thực
tiễn bồi dưỡng HSG Văn trong những năm học qua.
2. Hướng dẫn học sinh tạo điểm nhìn bình luận
2.1. Điểm nhìn bình luận và sự cần thiết của việc tạo điểm nhìn bình
luận trong bài văn nghị luận
Theo người viết, điểm nhìn bình luận là vị trí, chỗ đứng để học sinh
xem xét, bình giá vấn đề nghị luận mà đề bài đặt ra. Đó là điểm xuất phát của
sự đánh giá, bình xét của học sinh trong bài văn chứ không phải bản thân cấu
trúc bài văn.
Điểm nhìn bình luận quy chiếu cái nhìn của người viết theo một hệ trục
nhất định mà trên hệ trục đó có sự “đồng thuận” của người đọc (trong hoạt
động đọc – chấm bài văn). Hiểu một cách đơn giản nhất, điểm nhìn chính là
một “mánh khoé” thuộc về kỹ thuật viết văn, một phương tiện để học sinh có
thể tiến đến cái đích tạo nên sức “quyến rũ” của bài viết – sản phẩm do chính
học sinh tạo ra. Nếu không tạo được điểm nhìn bình luận, bài văn của HS sẽ
thiếu tính hệ thống, quan điểm đưa ra không dựa trên một hệ quy chiếu rõ
ràng, bình luận dễ lan man và khó thuyết phục người đọc. Vì thế, việc tạo ra
điểm nhìn bình luận trong làm văn nghị luận rất quan trọng. Mặt khác, trong
làm văn nghị luận, việc học sinh đánh giá vấn đề ở những điểm nhìn khác
nhau sẽ làm cho bài văn có cái nhìn đa chiều, sâu sắc và thuyết phục. Để học
sinh làm được điều đó, hơn ai hết, người thầy phải hướng dẫn, rèn luyện các
em tạo điểm nhìn bình luận trong bài làm của mình. Trong quá trình bồi
dưỡng, người thầy cũng cần phát hiện sở trường bình luận của từng HS bởi
mỗi em có điểm nhìn bình luận theo “gu” riêng của mình.
2.2. Một số điểm nhìn bình luận trong bài văn nghị luận
15


2.2.1. Bình luận bằng điểm nhìn trải nghiệm
Theo từ điển tiếng Việt, trải nghiệm là tiến trình hay là quá trình hoạt
động năng động để thu thập kinh nghiệm. Như vậy trên tiến trình đó có thể
thu thập được những kinh nghiệm tốt hoặc xấu, thu thập được những bình
luận, nhận định, rút tỉa tích cực hay tiêu cực, không rõ ràng, còn tùy theo
nhiều yếu tố khác như môi trường sống và tâm hồn mỗi người. Như vậy,
Đối với HSG Văn, sự trải nghiệm quan trọng và sống động hơn rất
nhiều so với những hiểu biết từ sách vở, từ bài giảng của thầy cô, bởi lẽ đó là
những kiến thức đã được chiêm nghiệm, mài giũa qua đời sống, và biến đổi từ
trang sách sang thực tế trong hành trình sống. Sự trải nghiệm giúp cho HS có
cách đánh giá vấn đề thấu đáo, khách quan chứ không phải là những suy diễn,
phán đoán, quy chụp trong bài viết. Vì thế, giáo viên cần phát huy năng khiếu
bình luận vấn đề của học sinh trên cơ sở vốn kiến thức các em đã rút ra được
từ sự trải nghiệm. Có nhiều loại trải nghiệm song người viết nhận ra hai loại
trải nghiệm cơ bản giúp HS bình luận vấn đề một cách hiệu quả, đó là trải
nghiệm đọc và trải nghiệm sống.
2.2.1.1. Trải nghiệm đọc
Đọc sách, báo là nhu cầu tự nhiên của con người: đọc để giải trí, để
hiểu biết về đời sống, xã hội, đọc để lao động và sống tốt hơn,…Đối với HSG
môn Ngữ văn, việc đọc tích lũy kiến thức rất quan trọng đối với việc viết văn.
Một mặt, đọc để có thêm các kiến thức gián tiếp, do các em không có điều
kiện trực tiếp quan sát, thể nghiệm; mặt khác, trong việc làm văn, đọc và viết
có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Văn nghị luận thuyết phục người khác bằng cái “lí” trong bài viết, cái
“lí” ấy phải xuất phát từ kiến thức mang tính khách quan mà học sinh đúc rút,
tích lũy được trong quá trình đọc sách. Nếu học sinh say mê đọc các tác phẩm
văn học, kiến văn của các em sẽ trở nên phong phú và sâu sắc. Thường xuyên
đọc báo chí và các loại sách về đời sống, về tự nhiên,…, kiến thức xã hội của
học sinh sẽ dày lên theo thời gian. Những trải nghiệm đọc của HS không dừng
lại ở việc HS thu nhận, lĩnh hội kiến thức từ việc đọc mà bao hàm cả kĩ năng
đọc, phương pháp đọc – hiểu đối với các loại văn bản, nhất là văn bản văn
16


học. Từ những trải nghiệm trong đọc sách báo, học sinh có tri thức và kĩ năng
để bình luận vấn đề. Điều đó giúp cho bài văn của các em chặt chẽ, thuyết
phục.
Minh họa 1:
Đề: Trong tập “Chân dung và đối thoại”, Trần Đăng Khoa ghi lại câu
nói của Xuân Diệu: “Nhà văn tồn tại ở tác phẩm, nếu không có tác phẩm thì
nhà văn ấy coi như đã chết”.
Bằng hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.
Trích đoạn bình luận từ trải nghiệm đọc:
(…) Hội họa cần những mảng màu, bố cục; điêu khắc cần những
đường nét và hình khối; phim ảnh cần những phân đoạn, những góc máy xa
gần,… Và tương tự, tác phẩm là phương tiện để nhà văn thực hiên thiên chức
cao cả của mình, hoàn thành chức năng phản ánh hiện thực cuộc sống của
văn học. Tác phẩm là cái cuối cùng, là cái túi chứa đựng mọi cảm xúc, suy
ngẫm của người nghệ sĩ ngôn từ trước hiện thực đời sống. Không có tác
phẩm sẽ không có cái gọi là nhà văn, khác gì người họa sĩ không có bút, nhà
quay phim hành nghề không có máy quay. Bởi dấu ấn của nhà văn được thể
hiện qua tác phẩm; sự thành bại của một đời nhà văn được thể hiện qua “đứa
con tinh thần” của mình. Tác phẩm chính là yếu tố quan trọng quyết định sự
sống còn của nhà văn trên văn đàn. Khi người nghệ sĩ cho ra đời những tác
phẩm văn học có giá trị thì tác phẩm lúc bấy giờ như một đôi cánh nâng đỡ
tác giả bay lên, vượt qua ranh giới của sự lãng quên, của cái chết mà hướng
tới một sự tồn tại vĩnh hằng. Nói như nhà thơ Đức Heine: “Cuộc đời của nhà
thơ, giá trị của nhà thơ không nên tìm đâu khác mà phải chính trong tác
phẩm của họ”. Người ta trân trọng Hồ Xuân Hương vì những tác phẩm bà để
lại, vì nữ sĩ - nói như Xuân Diệu - là “bà chúa thơ Nôm”, chứ không phải vì lí
do nào khác (…) Cứ mỗi lần đến với văn học trung đại, ta lại thêm một lần
kính yêu Nguyễn Du - người đã bằng kiệt tác “Truyện Kiều” nâng con người
khỏi những ràng buộc khắt khe của lễ giáo phong kiến; thoát ra khỏi sợi dây
vô hình đang ngăn cản con người đến với tình yêu đẹp đẽ. Từ đó những con
người qua bàn tay nâng đỡ của Nguyễn Du đã vượt qua bao đau khổ để làm
17


chói ngời trên trang văn vẻ đẹp của chữ tình, chữ nghĩa, chữ hiếu, chữ nhân;
vẻ đẹp của một trái tim nhân đạo lớn. Người ta coi Nguyễn Du là một tác gia
lớn trong văn học Việt Nam chính vì ông có “Truyện Kiều”, “Văn tế thập loại
chúng sinh” và nhiều bài thơ tuyệt vời khác. Không có “Truyện Kiều” và
những tác phẩm đó, dĩ nhiên vẫn có Nguyễn Du, nhưng không phải Nguyễn
Du - nhà thơ mà Nguyễn Du với tư cách một nhà Nho, một danh sĩ, một vị
quan thời cuối Lê đầu Nguyễn. Tài năng của Nguyễn Du không phải chỉ là
miêu tả tuyệt đẹp cảnh gió trăng mây nước, cũng không chỉ ở chỗ phản ánh
chân thật nỗi đau đứt ruột của con người trong cõi nhân gian mà là yêu
thương, đồng cảm, chia sẻ, trân trọng, nâng đỡ, làm đẹp tấm lòng nàng Kiều,
chàng Kim hay Từ Hải,… Giá trị vĩnh hằng của tác phẩm nghệ thuật chân
chính này có nguồn cội từ những hình tượng được xây dựng nên từ bàn tay
nghệ sĩ và tấm lòng nhân đạo lớn lao của Nguyễn Du. Đó chính là cốt cách,
phẩm chất, hương vị tỏa ngát để “Truyện Kiều” còn nghìn thu vọng mãi, để
tiếng thơ của Nguyễn Du mãi là “tiếng thương còn vang mãi đất trời”.
(Lương Bảo An – Lớp 11 Văn – năm học 2016 – 2017)
2.2.1.2. Trải nghiệm sống
Cuộc sống của con người là hành trình của những trải nghiệm. Người
trải nghiệm nhiều thông thường sẽ có cái nhìn về cuộc sống toàn diện và sâu
sắc. Những người đi nhiều, trải nhiều, gặp nhiều việc sẽ có cái nhìn tổng quát
và bao dung hơn. Đó chính là “phần thưởng” mà trải nghiệm sống mang đến.
Đối với HSG văn, “phần thưởng” đó rất quan trọng bởi nó giúp phần bình
luận trong bài văn nghị luận, nhất là bài nghị luận xã hội của các em trở nên
sâu sắc, thấu tình, đạt lí và dễ gợi sự đồng cảm của người đọc. Trải nghiệm
sống sẽ giúp bài làm của các em vừa đậm “chất văn” vừa đẫm “chất đời”.
Minh họa 2:
Đề: Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận với chủ đề: Nhà là nơi “bão
đứng sau cửa”.
Trích đoạn bình luận theo góc nhìn trải nghiệm sống:
…Nơi bình yên ấy luôn là nơi để con người tạo ra những giấc ngủ an
yên, là bến đỗ cho con sóng lòng cuồn cuộn. Ở đó, ta không chỉ cảm thấy
18


thân thuộc mà còn tiếp thêm cho ta sức mạnh để vượt qua những khó khăn,
thử thách ta gặp trên đường đời. Nó mang đến cho ta niềm tin yêu và hi vọng,
nghị lực và tình thương. Nhớ thời gian rời gia đình lên thành phố để bước
vào môi trường học tập mới, tôi đã bị áp lực về thi cử, điểm số, về các mối
quan hệ bạn bè,…, hơn một lần tôi đã khóc và gọi điện thoại về cho mẹ. Mẹ
động viên, khích lệ tôi một cách nhẹ nhàng và thấu cảm: “Có áp lực con mới
biết cố gắng, mới biết trân quý thành công đến từ học tập”. Câu nói ấy đã
giúp tôi ngẫm lại áp lực mà tôi đang đối diện, tôi ngưng than vãn và bắt đầu
cố gắng. “Nhà” đã ngăn “bão” đời trong những ngày đầu tôi xa mẹ là như
thế …
(Trần Hà Bảo Chi – Lớp 11 Văn, năm học 2016 –
2017)
2.2.2. Bình luận bằng điểm nhìn văn hóa
Bài văn của HSG không chỉ thể hiện năng lực làm văn, kiến văn và hiểu
biết về xã hội của học sinh mà còn thể hiện tâm hồn, chiều sâu văn hóa của
các em. “Soi ngắm” vấn đề từ góc độ văn hóa, học sinh sẽ có cái nhìn đa
chiều và mới mẻ về vấn đề cần nghị luận.
Minh họa 3:
Đề: Điều anh/chị yêu tâm đắc nhất trong bài thơ Đồng dao cho người
lớn (Nguyễn Trọng Tạo).
Đoạn văn bình luận bằng điểm nhìn văn hóa:
Nguyễn Trọng Tạo đã buộc chặt cả hồn thơ vào sợi tơ hồng của văn
học dân gian, của thơ ca dân tộc bấy lâu nay vẫn được các thi nhân gìn giữ.
Là chàng Nguyễn Bính của thế kỉ trước hết mực trung thành với vẻ đẹp chân
quê: “Nói ra sợ mất lòng em/ Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa”. Là
chàng Huy Cận sau những buổi lạc lõng, ngụp lặn trong nỗi buồn vũ trụ, nỗi
sầu nhân thế lại trở về “gốc đa đầu làng” gửi hồn mình vào thể thơ lục bát.
Là Nguyễn Khoa Điềm với những trang thơ viết về Đất Nước mang đậm
phong vị dân gian trong “Mặt đường khát vọng”,…Thời trước là vậy, trong
thời nay, giữa lúc thơ ca đắm trong “gấm vóc” của thể loại, hình ảnh, ta thấy
19


một chàng trai đội khăn xếp, nhô cao lên giữa Tao đàn thơ hậu hiện đại,
chẳng ai khác đó chính là Nguyễn Trọng Tạo. Tìm đến “Đồng dao cho người
lớn” của ông, những người yêu thích thơ ca dân gian phải gật gù mà ngợi ca
đây chính là hồn thơ mình đang tìm kiếm trong buổi hiện đại với những cây
bút tươi mới, giải phóng bản thể tối đa … Ngay từ nhan đề bài thơ, chất dân
gian đã tràn căng trong câu chữ - “đồng dao”. Đồng dao vốn là thể thơ dân
gian, gắn liền với tuổi thơ mỗi đứa trẻ như bầu trời chiều của làng quê
nhuốm màu xám khịt của khói bếp. Mỗi đêm hè, khi cái thanh mát, dịu nhẹ
của ánh trăng phủ kín những con đường mòn nhỏ nhắn ở làng quê, những bài
đồng dao trong trẻo lại vang lên: “Ông trăng tròn tròn/ Như chiếc mâm con,
…”.Văn chương nghệ thuật là bầu trời cho những sáng tạo bay cao. Đồng
dao vốn chỉ dành cho trẻ thơ vậy mà Nguyễn Trọng Tạo đã dùng nó để gửi
gắm những tư tưởng, tình cảm, những luật của cuộc đời dành cho người lớn những người đã trải qua sương khói cuộc đời….
(Mai Thị Hằng – HS ĐTQG, năm học 2017 – 2018)
2.2.3. Bình luận bằng điểm nhìn khách quan và chủ quan
Điểm nhìn cho biết anh quan sát thế giới từ đâu, đánh giá của anh dựa
trên cơ sở nào. Điểm nhìn có thể là của một ai đó, ngoài anh, hoặc cái nhìn đó
là của chính bản thân anh. Không có điểm nhìn nào là tối ưu cho mọi bài văn,
vì thế khi sử dụng phải linh hoạt. Thông thường, đứng ở góc độ chủ thể, điểm
nhìn chia ra hai loại: điểm nhìn chủ quan (cá nhân) và điểm nhìn khách quan.
Dưới đây là phân tích về điểm nhìn khách quan và điểm nhìn cá nhân được sử
dụng khi viết đoạn bình luận.
2.2.3.1. Điểm nhìn khách quan
Minh họa 4: Trích đoạn bình luận ở điểm nhìn khách quan: Bình luận
về tầm quan trọng của việc cần phải đúng giờ, người viết đã làm rõ vấn đề
bằng cách mượn điểm nhìn của Napoleon và kể câu chuyện về tác phong làm
việc của ông:

20


Một người luôn làm việc đúng giờ thì trong sự nghiệp nhất định sẽ
thành công. Napoleon nói, sở dĩ ông ta có thể đánh bại quân đội nước Áo,
chính là vì những người lính nước Áo không hiểu được giá trị của thời gian
“năm phút”, “mỗi lần sai một phút” tức là đã để cho “bất hạnh” một kẽ hở.
Trong công việc, cái quý nhất là đúng giờ vì người đúng giờ không
lãng phí thời gian của mình, cũng không lãng phí thời gian của người khác.
Napoleon có lần mời tướng sĩ của ông ta ăn cơm, vì các vị tướng không đến
đúng giờ nên chỉ có một mình ông ngồi ăn. Đến khi các tướng sĩ lục tục kéo
đến thì Napoleon rời bàn ăn, nói: “Thưa các vị! Giờ ăn đã hết rồi, bây giờ
chúng ta phải làm việc ngay tức khắc”.
(Chuyên đề văn nghị luận xã hội, Nguyễn Văn Quốc, Nguyễn Thị
Quỳnh Nga)
Như vậy, điểm nhìn khách quan thường được sử dụng khi học sinh trình
bày hiểu biết, tri thức đã thu nhận được. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng điểm nhìn
khách quan thì bài văn sẽ kém hấp dẫn, vì thế, trong bài văn nghị luận, HSG
văn cần dùng điểm nhìn chủ quan để bình luận vấn đề.
2.2.3.2. Điểm nhìn chủ quan
Khi bình luận ở điểm nhìn chủ quan, bài viết thể hiện cái tôi trong cảm
nhận, phân tích, lí giải đời sống và văn học của học sinh, đây là điều cần có ở
bài văn nghị luận của học sinh giỏi Văn. Hơn ai hết, người viết phải bộc lộ
chính suy nghĩ, sự bàn bạc, đánh giá của mình về vấn đề trong bài viết. Điểm
nhìn từ bên trong giúp người viết bộc lộ được phẩm chất văn hóa và sự trải
nghiệm cũng như tâm hồn và trí tuệ của bản thân. Điều này thể hiện năng lực
của một học sinh giỏi trong học tập bộ môn.
Dưới đây là một đoạn văn bình luận được viết từ điểm nhìn chủ quan
của học sinh. Dấu hiệu để nhận diện điểm nhìn mang tính cá nhân ở đoạn này
thể hiện qua đại từ nhân xưng “tôi”.
Minh họa 5:
Đề: Điều anh/chị tâm đắc nhất trong bài thơ Đồng dao cho người lớn
(Nguyễn Trọng Tạo).
21


Trích đoạn bình luận ở điểm nhìn chủ quan:
Đồng dao ư? Tôi đã bỏ lơi, cất và khóa những “ông trẳng ông trăng”,
tiếng “xúc xắc xúc xẻ” ấy hàng ngàn ngày đêm ở một miền nào đó nơi kí ức
ấu thơ, dại khờ. “Gặp” Nguyễn Trọng Tạo qua bài thơ Đồng dao cho người
lớn tôi cứ ngỡ gặp lại được chúng bạn thuở nào bấu vai, dắt díu nhau í ới,
ngân nga những vần điệu xưa cũ. Ấy thế mà chưa lên đến tầng mây nào tôi đã
bị quẳng ngược về lại với cuộc đời thực tại, cõi thế gian chật hẹp mà lắm
nghịch lí này. Nhà thơ cứ như chú bé chăn trâu, đeo lên lưng cuộc đời, ngả
nghiêng mà hát về thế thái. Những niềm riêng nỗi chung về lẽ sống lan trong
gió mà phả vào mặt bao người. Tưởng trẻ nít mà hóa “tay” già đời, ngỡ bông
đùa mà nào phải chuyện chơi. Miệng í ới là nhịp điệu dân tộc, nâng trên tay
ngọ nguậy những con chữ chấp chới chực vỗ cánh bay lên, lại đặt thân lên
“tấn trò đời”, bước những bước đĩnh đạc và khoan thai mà reo lên triết lí về
nhân sinh:
có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
……
có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
Quy luật sống – chết, lẽ xảo trá dối gian, Nguyễn Trọng Tạo cất lời như
một nhà hiền triết. Chẳng lẽo đẽo theo sau cuộc đời, chẳng nhìn xuống hay
ngó lên, anh ở đây, hiện thực ở đó mà nhìn vào nhau, không e dè, không né
tránh. Rồi bằng niềm tin yêu cuộc sống, sự hiểu thấu các lẽ đời, nhà thơ đã
mang màu xanh từ giữa đống bùn lầy chết chóc về, “phả” lên thơ sinh khí
của đời:
mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt cả ngàn năm trôi
Nhà thơ trộn cả niềm vui, nỗi buồn trong đất trời mà thương, nhớ,
khóc, cười. Vẫn còn đọng đâu đây cái chớp mắt của đời người, cái lộng gió
hồn mình và cả cái say hoài ngàn năm của Nguyễn Trọng Tạo.
(Võ Phạm Ngọc Bích – HS ĐTQG, năm học 2017 – 2018)
22


Xác định đoạn văn trên sử dụng điểm nhìn cá nhân không chỉ dựa vào
đại từ “tôi” mà còn dựa vào chính nội dung đoạn văn. Nội dung viết là những
chia sẻ rất thực của học sinh về cảm xúc, suy nghĩ của bản thân khi tiếp nhận
bài thơ Đồng dao cho người lớn của Nguyễn Trọng Tạo.
2.2.4. Bình luận bằng liên tưởng, tưởng tượng
SGK Ngữ văn 10 nâng cao, tập 1 giải thích về liên tưởng như sau: Liên
tưởng là hoạt động tâm lí của con người: từ việc này mà nghĩ đến việc kia, từ
người này mà liên hê đến người nọ. Sở dĩ có liên tưởng là do trong thực tế,
các sự vật, hiện tượng tồn tại không tách rời mà có quan hệ với nhau. Trong
làm văn nghị luận, liên tưởng giúp người viết làm nổi bật thực chất một hiện
tượng đời sống hay giá trị của một bài thơ, áng văn xuôi,….Sự liên tưởng
giúp người viết bình giá vấn đề một cách linh hoạt, câu văn giàu hình ảnh và ý
tưởng. Có nhiều cách liên tưởng: liên tưởng tương cận, liên tưởng tương
đồng, liên tưởng đối sánh, liên tưởng nhân quả,…
Nếu liên tưởng giúp học sinh từ sự việc này nghĩ đến sự việc khác thì
tưởng tượng “là hoạt động tâm lí nhằm tái tạo, biến đổi các biểu tượng trong
trí nhớ và sáng tạo ra hình tượng mới” (SGK Ngữ văn 10 nâng cao, tập 1,
trang 180). Thông qua tưởng tượng, học sinh liên kết các cảm xúc, suy nghĩ
lại với nhau, tạo sự bất ngờ trong lập luận.
Liên tưởng và tưởng tượng trong bình luận chắp cánh cho tư duy người
viết thoát khỏi sự lệ thuộc, máy móc trong bình giá, bài văn nghị luận vì thế
có khả năng mở ra những chiều sâu của tầm nhìn, tạo nên ý tưởng mới và
chân xác trong đánh giá, bàn bạc.
Minh họa 6:
Đề: Điều gì làm nên sức sống của thi ca?
Trích đoạn bình luận ở góc nhìn liên tưởng:
Sóng bắt đầu từ gió. Thế còn thơ, thơ bắt đầu từ đâu? Thơ bắt đầu từ
nơi mà cảm xúc cuộn tràn, khi trong tim ngân vang những điệu rung khoan
23


nhặt của niềm vui và nỗi buồn của thi nhân trước bao cảnh đời. Nhưng nguồn
cảm xúc ấy từ đâu mà tới, thì cũng như gió vậy: không biết nơi bắt đầu. Chỉ
biết một điều, sóng “dữ dội và dịu êm” trước gió trời và thơ cũng chỉ kết tinh
trong khoảnh khắc cảm xúc ùa về.(…). Viết thơ là một sự giải phóng cảm xúc:
cảm xúc cá nhân, cảm xúc của hiện tại, cảm xúc đang căng tràn, đọng lại
trong lòng người như giọt mực treo trên đầu ngọn bút, chỉ chờ chạm vào giấy
trắng mà vỡ òa, lan rộng, thấm sâu. Đó là cách mà văn chương ở lại với cuộc
đời, là cách để thi ca chống lại mọi quy luật của sự băng hoại, là cách để
những câu thơ ra đời cách đây hàng ngàn năm vẫn còn song hành với thời
đại chúng ta và những câu thơ của ngày hôm nay sẽ còn ở lại mãi với mai
hậu. Thơ là lời bộc bạch của một tấm chân tình. Nếu không phải như thế, nếu
không phải là cái rương đong đầy tình cảm, cất giữ tiếng lòng để con người
đời sau nâng niu trân quý thì văn chương sẽ ngủ yên dưới lớp thời gian. Từ
đây ta nhận ra một điều: sức sống của tác phẩm thơ ca nằm ở bản chất trữ
tình, ở huyết tâm mà thi sĩ đã gửi gắm vào tác phẩm.
(Nguyễn Thị Phương Thảo – HS ĐTQG, năm học 2017 – 2018)
2.2.5. Bình luận bằng việc kết hợp với các thao tác lập luận khác
Tuy nhiên, để làm sáng tỏ một vấn đề nào đó, HS thực chất cần vận
dụng nhiều thao tác nghị luận khác nhau, không cứng nhắc chỉ có một thao tác
nào đó, thậm chí đó là thao tác đề bài yêu cầu sử dụng. Dĩ nhiên, sẽ tùy theo
nội dung nghị luận mà sử dụng một số thao tác nghị luận chủ đạo. Chúng ta
đều biết: ý thuộc về nội dung nghị luận. Việc kết hợp bình luận với các thao
tác lập luận khác sẽ giúp cho người viết bày tỏ quan điểm một cách linh hoạt,
khéo léo, đồng thời, lời văn trở nên hình ảnh, uyển chuyển. Chính điều đó làm
cho bài văn nghị luận giàu sức thuyết phục.
Một số thao tác kết hợp hiệu quả với thao tác bình luận trong bài văn
nghị luận như: phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ.
Minh họa 7:

24


Đề: Có ý kiến cho rằng: Truyện Kiều (Nguyễn Du) là “nguồn ánh sáng
có thể xuyên thấu mọi thứ”.
Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến trên.
Đoạn văn bình luận kết hợp với thao tác phân tích và chứng minh:
(…) Trong xã hội Truyện Kiều, quyền sống, quyền nhân sinh bị tước
đoạt. Hạnh phúc trở nên xa xỉ, không thể với lấy. Nàng Kiều đã vượt qua
khỏi mọi ngăn cấm của giáo điều, song chính xã hội tàn bạo ấy dã đoạt đi
hạnh phúc ngay khi nàng vừa chạm tay lấy. Rồi năm lần bảy lượt, cuộc đời
trớ trêu trao cho nàng cuộc sống êm đềm ngắn ngủi, như trời đẹp trước khi
bão tố, cuộc đời nàng lại lâm vào bể khổ triền miên. “Chữ tài liền với chữ tai
một vần”, Nguyễn Du đã dự cảm một điều chẳng lành như thế. Truyện Kiều
tố cáo mọi thế lực đen tối trong xã hội phong kiến. Hơn hết đó lại là chế độ
quan lại mục nát. Nững kẻ được cho là cha mẹ dân có kẻ chịu trách nhiệm
cầm cân nảy mực nhưng chính lại là thử phạm gây ra biết bao gian khổ đến
nỗi sinh li tử biệt cho người dân vô tội.(…) Không chỉ lên tiếng tố cáo, Truyện
Kiều còn là bài ca về tình yêu tự do và ước mơ công lý.
Truyện Kiều là bài ca về tình yêu tự do, trong sáng, chung thủy dưới
chế độ phong kiến. Nhà thơ đã vượt lên những quy tắc lễ giáo về quyền định
đoạt của cha mẹ, sự cách biệt nam nữ để nâng niu một mối tình đẹp đẽ, chân
thành:
“ Cửa ngoài vội rủ rèm che/ Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”
Thúy Kiều đã chọn con đường chủ động đi tìm hạnh phúc, chọn con
đường làm chủ số phận, chủ động tìm đến tình yêu của chính mình. Có lẽ, đó
chính là lý do để nàng bất chấp mọi rào cản phong kiến, mọi miệng lưỡi, dị
nghị của người đời để “xăm xăm” vượt màn đêm, đến bên chàng Kim thực
hiện nghi thức thề nguyền. Nguyễn Du đã vẽ nên một mối tình đẹp đẽ, xuất
phát từ hai trái tim chân thành. Với một mối tình như thế và một ngòi bút như
thế, Nguyễn Du đã khiến người đọc khắc cốt ghi tâm, đã đem đến cho người
cảm thụ văn học một bài ca không nhịp lỗi về tình yêu tự do và khát khao

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×