Tải bản đầy đủ

GIẢI PHÁP TỔ CHỨC, QUẢN LÍ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCSTHPT

SỞ GD&ĐT ......
TRƯỜNG THCS&THPT .........

BÙI VĂN KHOA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

GIẢI PHÁP TỔ CHỨC, QUẢN LÍ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC
Ở TRƯỜNG THCS&THPT

Đà Lạt, tháng 5 năm 2017

MỤC LỤC
Trang
1


ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Thực trạng của vấn đề

2
Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp
3
Phạm vi nghiên cứu
NỘI DUNG
I
Cơ sở lý luận
II
Thực trạng đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS&THPT Tà Nung
1
2
III
1
2

3

1
1
5
5
7
7
8

Thực trạng chung về công tác đổi mới PPDH trong các trường phổ
thông
Thực trạng về công tác đổi mới PPDH ở trường THCS&THPT Tà
Nung
Giải pháp tổ chức, quản lý đổi mới PPDH ở trường THCS&THPT
Tà Nung
Nguyên tắc xây dựng giải pháp
Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường về đổi
mới PPDH
Tổ chức, chỉ đạo thường xuyên các hoạt động thực hành đổi mới
phương pháp dạy học trong năm học

8
9
10


11
12

15

Tăng cường đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn “dựa trên phân tích
4

hoạt động học tập của học sinh” nhằm bồi dưỡng năng lực chuyên môn

19

và nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên
5
6

Kiểm tra, đánh giá các hoạt động đổi mới PPDH
Tăng cường xây dựng hệ điều kiện cho quá trình đổi mới phương

pháp dạy học
IV Kết quả
KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo

24
25
30
34
36

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
1.
2.
3.

KÝ HIỆU VIẾT TẮT
GD&ĐT

VIẾT ĐẦY ĐỦ
Giáo dục và Đào tạo

THPT
GD

Trung học phổ thông
Giáo dục
2


4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.

GV
HS
CSVC
PPDH
CBQL
BGH
BCM
SGK
QTDH
HT
TCM
ĐNGV
LLGVCC
TTB

Giáo viên
Học sinh
Cơ sở vật chất
Phương pháp dạy học
Cán bộ quản lý
Ban giám hiệu
Ban chuyên môn
Sách giáo khoa
Quá trình dạy học
Hiệu trưởng
Tổ chuyên môn
Đội ngũ giáo viên
Lực lượng giáo viên cốt cán
Trang thiết bị

3


ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Thực trạng của vấn đề
Sau hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới và cải cách nền kinh tế
Việt Nam đã phát triển nhanh chóng. Từ một quốc gia kém phát triển trở thành
quốc gia đang phát triển, vị thế đất nước dần được khẳng định và ngày càng
được nâng cao trên chính trường quốc tế. Việt Nam cũng là điểm đến hấp dẫn
cho rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài, bởi: an ninh chính trị được đảm bảo, tỷ lệ
công dân trong độ tuổi lao động rất cao, chi phí nhân công thấp, kinh tế tăng
trưởng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt và đặc biệt là tỷ lệ người dân biết chữ
cao, trình độ giáo dục trung học, cao đẳng và đại học phát triển cao hơn nhiều so
với các nước có thu nhập bình quân đầu người (GDP) tương đương. Trong giai
đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt kể từ
khi nước ta chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại thế
giới (WTO), nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam lại càng trở
nên có ý nghĩa quan trọng quyết định sự thành công trên con đường hội nhập
quốc tế. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “… Phát triển và
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là
một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng
khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và
là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả
và bền vững. Đặc biệt coi trọng phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi,
đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ
khoa học, công nghệ đầu đàn. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa
dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành
nghề. Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao
động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã
hội. Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với

4


các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy
nhân tài; đào tạo nhân lực cho sự phát triển kinh tế tri thức…”
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản và toàn diện
nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ
hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội
ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất
lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,
kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục.
Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng
môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và
xã hội.
Để đạt được mục tiêu này, (Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
đã đề ra) công tác giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan
trọng trong tiến trình xây dựng, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Từ báo cáo chính trị tại Đại
hội IX của Đảng đã xác định: “Giáo dục đào tạo là một trong những động lực
quan trọng, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện
phát huy nguồn nhân lực con người - yếu tố cơ bản để tăng trưởng kinh tế, xã
hội nhanh chóng và bền vững”. Như vậy, nền kinh tế - xã hội tăng trưởng và
phát triển bền vững thì việc giáo dục, đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, có đạo đức tốt, có tri thức vững vàng và kỹ năng lao động thành thạo
là tính tất yếu của nền kinh tế thị trường phát triển. Đồng thời thông qua sự phát
triển chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo nên khả năng chiến thắng cao hơn
trong việc cạnh tranh thị trường lao động quốc tế. Vì thế, để phát huy vai trò to
lớn của giáo dục - đào tạo và quản lý công tác giáo dục, đào tạo có hiệu quả, các
ngành, các cấp phải đổi mới tư duy phát triển giáo dục, đổi mới công tác quản lý
nhằm tạo tiền đề vững chắc cho sự nghiệp giáo dục.

5


Dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học là phương
châm cốt lõi trong việc xây dựng nhà trường trong giai đoạn hiện nay và đã thấm
sâu vào nhận thức của mỗi CBGV, phong trào này đã có chiều sâu trong mỗi nhà
trường; một trong những nội dung được quan tâm nhiều nhất chính là “Dạy và
học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi địa phương,
giúp các em tự tin trong học tập”, thực chất chính là đổi mới phương pháp dạy
và học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học chính là rèn luyện, bồi dưỡng khả năng
tự học, tự chiếm lĩnh tri thức của chính học sinh, công việc phải được chú trọng
qua từng tiết học, qua từng bài học; qua những hoạt động dạy, người giáo viên tổ
chức để học sinh tự tìm ra kiến thức một cách chủ động, tự nhiên, linh hoạt, phát
huy sự sáng tạo, thoải mái trong hoạt động học.
Sự thay đổi cơ bản trong quan hệ giữa người dạy và người học ngày nay là
việc học và người học được xem là lý do tồn tại của việc dạy và người dạy, việc
“dạy có hiệu quả” nhất thiết phải được đánh giá từ việc “học có hiệu quả”. Quan
điểm này thường được gọi là quan niệm về “Giáo dục lấy học sinh làm trung
tâm” hoặc “Giáo dục hướng về người học”. Dạy - học được hiểu là quá trình
tương tác giữa dạy của thầy và học của trò, theo hướng tích cực hóa người học,
người học là chủ thể của quá trình; trong khi đó, người dạy là người hỗ trợ,
hướng dẫn, tạo điều kiện cho người học phát huy nội lực, là tác nhân của quá
trình; đó là quan điểm “Sư phạm tích cực”.
Với sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện nay và cùng với công
cuộc đổi mới đất nước nhất thiết phải đổi mới giáo dục, mà đổi mới giáo dục cốt
lõi là đổi mới phương pháp dạy và học. Để đáp ứng sự đổi mới ấy, nhà quản lý
giáo dục cũng phải đổi mới việc quản lý, trong đó có việc đổi mới quản lý việc
đổi mới phương pháp dạy - học phù hợp với giai đoạn phát triển của giáo dục nói
riêng và xã hôi nói chung.

6


Quá trình đổi mới PPDH trong nhà trường phổ thông nói chung và trường
THCS&THPT Tà Nung nói riêng đã trải qua giai đoạn tương đối dài, đã có nhiều
bài viết, nhiều công trình nghiên cứu ở đủ các cấp độ về vấn đề đổi mới PPDH
và quản lý việc đổi mới PPDH, tuy nhiên việc triển khai áp dụng vào từng môi
trường cụ thể, từng nhà trường còn gặp nhiều khó khăn do những lý do khác
nhau, hiệu quả đạt được cũng còn rất hạn chế, việc đổi mới PPDH còn dừng ở
việc hô hào, phát động phong trào mang tính hình thức, chưa được coi là yếu tố
then chốt để cải thiện chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy học nói
riêng. Do vậy tôi chọn đề tài: “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở trường
THCS&THPT Tà Nung thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng”.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp
Khi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài, mong muốn của tôi nhằm: trước hết định
hướng cho mình việc nghiên cứu những vấn đề về: đổi mới công tác quản lý nhà
trường, trong đó xác định việc đề ra những giải pháp mới nhằm tổ chức, quản lý
việc đổi mới PPDH là một nhiệm vụ cấp bách phải làm ngay để nâng cao chất
lượng giáo dục của nhà trường, sau đó là góp phần vào việc đổi mới công tác
quản lý nhà trường nhằm thúc đẩy chất lượng, hiệu quả của việc đổi mới PPDH,
nâng cao chất lượng dạy học trong trường THCS&THPT, trong đó có trường
THCS&THPT Tà Nung thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.
3. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu
+ Nghiên cứu tập trung vào hoạt động quản lý việc đổi mới PPDH trong
nhà trường phổ thông.
+ Thực trạng và các biện pháp chỉ đạo việc đổi mới PPDH ở trường phổ
thông.
- Về địa bàn nghiên cứu
+ Nghiên cứu thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở trường
THCS&THPT Tà Nung thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.
7


+ Các biện pháp thử nghiệm tại trường THCS&THPT Tà Nung thành phố
Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.

8


NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Theo nghĩa rộng, phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt
động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt
mục đích dạy học.
Theo nghĩa hẹp, phương pháp dạy học là cách thức dạy học cụ thể, các mô
hình hành động. Phương pháp dạy học là những hình thức, cách thức hành động
của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù
hợp với những nội dung và những điều kiện dạy học cụ thể. Phương pháp dạy
học cụ thể quy định những mô hình hành động của giáo viên và học sinh. Người
ta ước tính có tới hàng trăm phương pháp dạy học cụ thể, bao gồm những
phương pháp chung cho nhiều môn và các phương pháp đặc thù bộ môn. Bên
cạnh các phương pháp dạy học truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm
thoại, biểu diễn trực quan, làm mẫu, có thể kể ra một số phương pháp khác như:
phương pháp nghiên cứu trường hợp, phương pháp điều phối, phương pháp đóng
vai, v.v.
Phương pháp dạy học là một phạm trù của khoa học giáo dục. Việc đổi mới
PPDH cần dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn giáo dục. Khoa học giáo
dục là lĩnh vực rất rộng lớn và phức hợp, có nhiều chuyên ngành khác nhau. Vì
vậy, việc đổi mới PPDH cũng được tiếp cận dưới rất nhiều cách khác nhau.
Tùy theo mỗi cách tiếp cận khác nhau có thể có những quan niệm khác nhau
về đổi mới PPDH và có những định hướng, những biện pháp khác nhau trong
việc đổi mới PPDH. Tuy nhiên không có công thức chung duy nhất trong việc
đổi mới PPDH. Trong thực tiễn cần xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể để xác định và
áp dụng những định hướng, biện pháp thích hợp.
Dựa trên khái niệm chung về PPDH, có thể hiểu: Đổi mới phương pháp dạy
học là cải tiến những hình thức và cách thức làm việc kém hiệu quả của GV và
HS, sử dụng những hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất
9


lượng dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực của
học sinh.
• Đổi mới PPDH đối với giáo viên là đổi mới việc lập kế hoạch dạy học,
thiết kế bài dạy; đổi mới PPDH trên lớp học; đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập.
• Đổi mới PPDH đối với học sinh là đổi mới phương pháp học tập.
• Đổi mới PPDH cần được tổ chức, lãnh đạo và hỗ trợ từ các cấp quản lý
giáo dục, đặc biệt là các trường phổ thông thông qua những biện pháp thích hợp.
Cốt lõi của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là hướng tới giúp học
sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi
nhớ máy móc.
II. THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC Ở TRƯỜNG
THCS&THPT TÀ NUNG
1.Thực trạng chung về công tác đổi mới PPDH trong các trường phổ
thông
- Giáo viên có xu hướng và thói quen sử dụng phương pháp thuyết trình.
- Việc sử phối hợp dụng linh hoạt các PPDH còn hạn chế, giáo viên ngại
tiến hành, nếu có thì còn mang tính hình thức.
- Bài giảng chưa gắn nội dung lý thuyết vào việc giải quyết những vân đề
thực tiễn.
- Việc ứng dụng: phương tiện dạy học mới, công nghệ thông tin; sử dụng
thiết bị thí nghiệm … còn hời hợt, chưa có tác dụng, hiệu quả thực sự, đôi khi
CNTT còn bị lạm dụng phản tác dụng.
- Việc dạy học tích hợp trong nhà trường, việc giáo viên hướng dẫn học
sinh sử dụng kiến thức liên môn giải quyết các vấn đề thực tiễn chưa được triển
khai bài bản.

10


- Giáo viên còn mang nặng tư tưởng phải giảng hết kiến thức trong SGK,
chưa có biện pháp hướng dẫn HS tự học, tự tìm tòi, tự tổng hợp kiến thức thậm
chí còn phát huy khả năng mở rộng kiến thức…
2. Thực trạng về công tác đổi mới PPDH ở trường THCS&THPT Tà Nung
Trường THCS&THPT Tà Nung cũng không nằm ngoài thực trạng chung
như trên, trong các năm qua trong quá trình chỉ đạo đổi mới PPDH, BGH nhà
trường rút ra được những kết luận sau:
2.1. Thuận lợi
- Phong trào” Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”, phong trào
“Đổi mới PPDH gắn với dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học”
đã được phát động và triển khai nhiều năm quan trong nhà trường và đã mang lại
những kết quả nhất định, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng giáo dục của
nhà trường.
- Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp; được sự quan
tâm Sở GD&ĐT Lâm Đồng và phòng GD&ĐT Đà Lạt. Nhà trường đang được
đầu tư xây dựng và được cung cấp phương tiện thiết bị dạy học, phòng máy tính,
phòng học ngoại ngữ, thư viện đảm bảo phục vụ cho việc dạy và học ngày càng
tốt hơn.
- Tập thể giáo viên đoàn kết, có tinh thần trách nhiệm, hết lòng vì sự nghiệp
giáo dục, vì học sinh thân yêu.
- Đa số là giáo viên trẻ yêu nghề, năng động, được đào tạo cơ bản, dễ dàng
tiếp thu cái mới, có khả năng khai thác và ứng dụng công nghệ thông tin tốt.
- Số giáo viên đạt chuẩn 100%, trong đó trên chuẩn hơn 80% (đối với cấp
THCS), có ý thức học tập nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
có tâm huyết với việc đổi mới PPDH.
- BGH nhà trường thống nhất ý chí: quyết tâm đẩy mạnh đổi mới PPDH nhằm
nâng cao chất lượng dạy và học, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng

11


yêu cầu xã hội trong giai đoạn hiện nay, cải thiện hình ảnh và nâng dần uy tín
nhà trường đối với lãnh đạo và nhân dân khu vực.
2.2. Khó khăn
- Đội ngũ giáo viên nhìn chung đủ về số lượng, nhưng chất lượng không đồng
đều, đa số giáo viên của nhà trường có tuổi nghề còn non trẻ thiếu kinh nghiệm:
thể hiện qua kĩ năng phân tích, lựa chọn kiến thức cơ bản và trọng tâm để thiết
kế bài soạn; các kĩ năng xác định, lựa chọn và sử dụng PPDH đặc trưng của bộ
môn; kĩ năng hướng dẫn phương pháp học tập cho học sinh; kĩ năng kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng đổi mới, nhất là việc hướng
dẫn để học sinh tự đánh giá khả năng học tập và rèn luyện của bản thân.
- Giáo viên có kinh nghiệm, tuổi nghề cao thì lại quen lối tư duy và dạy học
theo thói quen “thầy làm việc nhiều, học sinh ghi chép thụ động” ngại đổi mới
phương pháp, ngại áp dụng những phương pháp, kỹ thuật dạy học mới trình độ
tin học hạn chế nên rất khó cho việc ứng dụng công nghệ thông tin.
- Cuộc sống của giáo viên gặp nhiều khó khăn.
- Nội dung chương trình (Sách giáo khoa và hướng dẫn của sách giáo viên)
còn nặng, một số bài có khối lượng kiến thức nhiều nên giáo viên không có thời
gian hướng dẫn học sinh học tập ở nhà và rất khó trong đổi mới PPDH.
- Phương tiện, thiết bị dạy học và các điều kiện phục vụ cho việc đổi mới
PPDH còn thiếu thốn, chưa có những phòng chức năng; trang thiết bị dạy học
chất lượng chưa đảm bảo, hay hỏng hóc, điều kiện sửa chữa, thay thế khó khăn.
- Cơ sở lý luận về đổi mới PPDH và quả lý việc đổi mới PPDH ở nhà trường
phổ thông chưa có tài liệu thống nhất, chưa khái quát thành những hình mẫu cụ
thể, rất khó để cán bộ quản lý, giáo viên xây dựng được kế hoạch, lộ trình về vấn
đề này một cách tường minh, cụ thể.
III. GIẢI PHÁP TỔ CHỨC, QUẢN LÍ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS&THPT TÀ NUNG
12


1. Một số nguyên tắc để xây dựng biện pháp
1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Trong quá trình xây dựng các biện pháp quản lý nói chung và quản lý đổi mới
PPDH nói riêng thì yếu tố đầu tiên cần được đảm bảo đó là nguyên tắc đảm bảo tính
khoa học. Khi xây dựng bất cứ biện pháp nào chúng ta cũng phải dựa trên cơ sở khoa
học. Cơ sở khoa học là dựa trên các nguyên tắc của sự vận động, sự thay đổi về tâm lý,
đối tượng bị quản lý, điều kiện hoàn cảnh, các yếu tố tác động lên quá trình quản lý của
cả chủ thể quản lý lẫn khách thể quản lý. Xây dựng biện pháp quản lý phải dựa trên cơ
sở thông tin, phân tích môi trường, xác định mục tiêu của biện pháp, cách thức tiến
hành, phân công trách nhiệm, triển khai đạt kết quả để đảm bảo tính hiệu quả của biện
pháp.
1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn
Nguyên tắc thứ hai trong quá trình xây dựng biện pháp là biện pháp đó phải mang
tính thực tiễn. Nguyên tắc này đòi hỏi người xây dựng biện pháp quản lý phải liên hệ
thực tế của đơn vị, xem xét môi trường, những yếu tố tác động đến quá trình áp dụng
biện pháp. Xây dựng biện pháp nếu đảm bảo tính thực tiễn thì sẽ tăng khả năng áp
dụng các khoa học quản lý vào công việc, giúp đối tượng của quản lý nhanh chóng
thích ứng với yêu cầu mà nhà quản lý đặt ra, đồng thời tạo cho đối tượng của quản lý
thể hiện được tính sáng tạo, chủ động trong thực hiện mục tiêu của các nhà quản lý đặt
ra trong thực hiện nhiệm vụ. Nguyên tắc thực tiễn chính là đảm bảo cho biện pháp đó
mang tính khả thi cao hơn.
1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ
Nguyên tắc này đòi hỏi nhà quản lý khi xây dựng các biện pháp quản lý phải thực
hiện thống nhất, đồng bộ giữa các biện pháp. Khi tiến hành áp dụng các biện pháp quản
lý đổi mới PPDH sao cho phù hợp với logic khoa học, phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi,
tránh sự chồng chéo, phản tác dụng giữa các biện pháp với nhau, gây khó khăn cho
nhau. Muốn thực hiện tốt nguyên tắc này thì xây dựng biện pháp phải dựa trên cơ sở
khoa học và thực tiễn của quá trình quản lý để đảm bảo tất cả các biện pháp đều đảm
bảo tính khả thi, tăng cường hiệu quả của biện pháp. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ
chính là khả năng nhất quán của biện pháp quản lý.
13


1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Nguyên tắc trong xây dựng biện pháp quản lý là đảm bảo biện pháp đó phải có
tính khả thi áp dụng trong thực tiễn, biện pháp đó phải phù hợp với thực tiễn. Một biện
pháp khả thi được nhà quản lý xây dựng mà không đảm bảo rằng biện pháp đó có thể
thực thi được thì biện pháp đó là không tồn tại trong thực tế, hay còn gọi là “ lý thuyết
suông” như vậy thì bản thân chủ thể quản lý đã vi phạm các nguyên tắc quản lý. Một
biện pháp chỉ có thể đảm bảo tính khả thi khi nó được xây dựng trên cơ sở thực tiễn
của quá trình quản lý.
Trong xây dựng các biện pháp quản lý, nhà quản lý phải đảm bảo bốn nguyên tắc
trên, nếu vi phạm bất cứ nguyên tắc cơ bản nào thì hiệu quả của quản lý sẽ bị ảnh
hưởng nghiêm trọng. Mục tiêu của các biện pháp quản lý là nhằm đạt được mục tiêu
mà nhà quản lý đã đặt ra khi thực hiện nhiệm vụ. Từ những nguyên tắc cơ bản trên tác
giả mạnh dạn đưa ra một số biện pháp quản lý đổi mới PPDH ở trường ở trưởng
THCS&THPT Tà Nung.

2. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường về đổi mới
PPDH
2.1. Làm cho giáo viên nhận thức được việc đổi mới PPDH là điều tất yếu
- Nhằm trang bị những tri thức cần thiết, làm cho mọi giáo viên, mọi bộ
phận trong trường nâng cao nhận thức, thống nhất tư tưởng về đổi mới PPDH;
tạo ra sự kích thích đội ngũ trong lao động sáng tạo thực hiện vận dụng phương
pháp mới nhằm góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh, chú trọng
làm cho giáo viên và cán bộ trong trường nhận thức rõ:
- Tính cấp thiết của đổi mới PPDH: đây là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
giáo dục, là hạt nhân của việc thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, là
điều kiện trực tiếp để nâng cao chất lượng giáo dục; mặt khác coi đây là thách
thức mà đội ngũ cần phải đáp ứng, nhưng cũng là cơ hội phát triển của mỗi giáo
viên và nhà trường.
- Những định hướng cơ bản của đổi mới PPDH hiện nay:
+ Phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh;
14


+ Bồi dưỡng phương pháp tự học;
+ Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
+ Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.
- Những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học tích cực:
+ Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của học sinh;
+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh;
+ Tăng cường tổ chức các hoạt động học tập cá thể, phối hợp với hoạt động
học tập hợp tác;
+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.
1.2. Tập huấn cho giáo viên về một số phương pháp dạy - học theo định
hướng đổi mới, các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
Thông qua sinh hoạt chuyên môn, tổ chức học tập nghiên cứu các tài liệu
lí luận nghiệp vụ. đồng thời tăng cường nghiên cứu, trao đổi, thảo luận trong
nhóm, tổ chuyên môn và vận dụng giải quyết từng vấn đề theo yêu cầu đổi mới
PPDH. tập huấn cho giáo viên trong trường nắm rõ một số phương pháp dạy học
theo định hướng đổi mới. Cụ thể là:
* Phương pháp vấn đáp
Lưu ý: hệ thống các câu hỏi, câu hỏi phải có nội dung chính xác, rõ ràng, sát
với mục đích, yêu cầu của bài học, không làm cho người học có thể hiểu theo
nhiều cách khác nhau.
Câu hỏi phải sát với đối tượng học sinh, nghĩa là trong hệ thống câu hỏi có
nhiều mức độ khác nhau.
Bên cạnh những câu hỏi chính cần chuẩn bị những câu hỏi phụ.
* Phương pháp dạy học Phát hiện và giải quyết vấn đề
Lưu ý 5 tình huống tạo ra vấn đề: Dự đoán nhờ nhận xét hoặc hoạt động
thực tiễn; Lật ngược vấn đề; Xem xét tương tự; Khái quát hóa và khai thác kiến
thức cũ đặt vất đề dẫn đến kiến thức mới.
* Phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ
15


Dễ thực hiện (nhưng cũng dễ hình thức) một số học sinh dựa vào nhau
(tránh lối suy nghĩ: đổi mới phương pháp dạy học là phải hoạt động nhóm)
* Phương pháp theo dự án
Dạy học theo dự án được hiểu là một phương pháp hay một hình thức dạy
học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp
giữa lý thuyết và thực tiễn, thực hành. Nhiệm vụ này được người học thực hiện
với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập
kế hoạch, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh đánh giá quá trình và kết
quả thực hiện. Khác với các hình thức dạy học truyền thống, chủ yếu diễn ra
trong lớp học, gắn chặt với sách giáo khoa, với bảng đen và thuyết trình của giáo
viên.
Lưu ý khi sử dụng các phương pháp:
Tránh lạm dụng một phương pháp, vì mỗi phương pháp đều có ưu điểm
và nhược điểm riêng của nó.
Vận dụng linh hoạt các phương pháp, có thể sử dụng nhiều phương pháp
trong dạy học một bài.
Trong quá trình dạy học nên sử dụng một số kỹ thuật dạy học như: Kĩ thuật
đặt câu hỏi, Kĩ thuật khăn trải bàn, Kĩ thuật mảnh ghép, Kĩ thuật tư duy, Kĩ thuật
“KWL”, Kĩ thuật lắng nghe và phản hồi tích cực,…
* Các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
+ Kỹ thuật công não
Kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của
các thành viên trong thảo luận nhóm. Kỹ thuật này dễ thực hiện, không tốn kém,
huy động tối đa trí tuệ tập thể, tạo điều kiện cho tất cả các thành viên tham gia.
Tuy nhiên cần lưu ý: tránh tản mạn, mất thời gian chọn ý kiến thich hợp.
+ Kỹ thuật thảo luận viết
Ý kiến của các thành viên được trình bày ra giấy; kỹ thuật này có các ưu
điểm nhứ kỹ thuật động não tuy nhiên lớp học trật tự hơn.
16


+ Kỹ thuật bể cá
Một nhóm HS thảo luận, còn các HS khác theo dõi và sau đó nhận xét việc
thảo luận của nhóm trên.
+ Kỹ Thuật ổ bi
HS chia thành 2 nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm (ổ bi) thảo luận, tạo
điếu kiện cho thành viên nhóm này có thể trao đổi lần lượt với các thành viên
nhóm khác.
Và một số các kỹ thuật khác như: kỹ thuật khăn trải bàn, ký thuật góc học tập,
kỹ thuật các mảnh ghép, lập sơ đồ tư duy….
3.Tổ chức, chỉ đạo thường xuyên các hoạt động thực hành đổi mới phương
pháp dạy học
3.1. Xác định trọng tâm chỉ đạo
Thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện những hoạt động đổi mới
phù hợp, có thể thực hiện được ngay như sau:
- Đổi mới cách xác định mục tiêu bài học
Việc xác định mục tiêu bài học cần đảm bảo 2 yêu cầu cơ bản:
+ Định lượng được mức độ, chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ học sinh phải
đạt được sau bài học để thực hiện, đồng thời lấy đó làm căn cứ đánh giá kết quả
bài học một cách khách quan, tránh tình trạng đánh giá cảm tính đối với một bài
học;
+ Chú trọng mục tiêu xây dựng phương pháp học tập, đặc biệt là phương
pháp tự học qua mỗi giờ học, bài học.
- Đổi mới cách soạn giáo án trên cơ sở 3 định hướng sau
+ Chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của thầy sang hoạt động của
trò;
+ Giáo án phải thực sự là một bản kế hoạch lên lớp trong đó mọi hoạt động
đều được tính đếm theo một quy trình hợp lý và có sự phối kết hợp rất chặt chẽ
các nguồn lực: người dạy, người học, sách giáo khoa, thiết bị dạy học…;
17


+ Cần dự tính các phương án và cách thức có thể tiến hành để kiểm soát chất
lượng làm việc của học sinh.
- Tăng cường tổ chức cho học sinh hoạt động với hai hình thức, hoặc làm
việc độc lập theo nhịp độ phân hoá cá nhân, hoặc làm việc theo nhóm; sử dụng
triệt để các phiếu hoạt động học tập; tăng cường giao tiếp thầy - trò kết hợp mở
rộng giao tiếp trò - trò.
- Nâng cao chất lượng các câu hỏi trong tiết học và đề kiểm tra, giảm số câu
hỏi tái hiện, tăng tỷ lệ các câu hỏi yêu cầu tư duy tích cực, sáng tạo, chú trọng
nhận xét sửa chữa các câu trả lời cho học sinh.
Những hoạt động đổi mới trên được nhà trường quán triệt đồng bộ đối với tất
cả các giáo viên, ở tất cả các bộ môn. Tinh thần chỉ đạo chung là: trong mỗi tiết
học bình thường, học sinh được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo
luận nhiều hơn và quan trọng hơn là được suy nghĩ nhiều hơn trong quá trình
lĩnh hội nội dung học tập.
3.2. Lập kế hoạch tổ chức các hoạt động
Thực hành đổi mới phương pháp trong từng thời gian: tuần, tháng, học kỳ,
năm học (trên cơ sở kế hoạch chuyên môn của các tổ nhóm chuyên môn và của
nhà trường).
3.3. Tổ chức thực hiện
- Chỉ đạo tổ nhóm chuyên môn chú trọng tất cả các khâu trong quy trình hoạt
động: xác định những yêu cầu đổi mới, bàn bạc, xây dựng thiết kế giáo án mẫu
theo hướng đổi mới, lần lượt cử giáo viên dạy thử nghiệm và tập thể dự giờ, trao
đổi, rút kinh nghiệm, so sánh với bài dạy trước đó để thấy mặt tiến bộ và hạn
chế.
- Chỉ đạo điểm những giờ dạy học sinh phương pháp học tập, chú trọng
hướng dẫn học sinh tự học trên lớp và ở nhà dưới sự hướng dẫn của giáo viên.

18


- Tổ chức học tập, nghiên cứu, cải tiến cách thức kiểm tra kết quả học tập của
học sinh theo định hướng đổi mới, sử dụng hợp lý hai hình thức kiểm tra: tự luận
và trắc nghiệm.
- Đổi mới hoạt động của Thư viện nhà trường và Thiết bị dạy học, chú trọng
chỉ đạo việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học, phục vụ có hiệu quả cho quá trình
đổi mới phương pháp dạy học.
- Tổ chức các đợt thao giảng, hội thi giáo viên giỏi các cấp theo tinh thần đổi
mới phương pháp, mời các giáo viên giỏi trong cụm hoặc các chuyên gia về dự
giờ, trao đổi.
- Tổ chức cho giáo viên tham quan, học tập các đơn vị tổ, trường có phong
trào và chất lượng dạy học tốt ở trong và ngoài địa phương.
* Các biện pháp cụ thể:
Trên cơ sở phân tích những mạnh - yếu của một số phương pháp dạy học
truyền thống, dạy học hiện đại nhằm khắc phục những thiếu sót trong giảng dạy,
nâng cao chất lượng dạy, khích lệ học sinh học tập tích cực, cần chú trọng:
3.3.1. Dạy cho học sinh cách học
Trên cơ sở đổi mới việc dạy thì việc học cũng phải đổi mới: Học là tự tìm ra
kiến thức dưới sự hướng dẫn của thầy, biết đối thoại, biết ứng xử, biết cách giải
quyết vấn đề, biết cách sống, biết tự đánh giá và điều chỉnh.
Xây dựng tập thể lớp học, chỉ đạo tốt công tác chủ nhiệm trong việc tuyển
chọn đội ngũ cán bộ lớp, giúp đỡ và tạo điều kiện tối đa cho đội ngũ này làm
việc; giáo viên chủ nhiệm phải giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đối tượng như
quản lý lớp, chịu trách nhiệm bộ môn, phong trào của lớp và từ đó giáo viên chủ
nhiệm kiểm tra, uốn nắn cho các em nhằm tổ chức và quản lý tốt hoạt động học
gồm có học ở trường, ở nhà.
Để tạo điều kiện tốt cho việc học, giáo viên chủ nhiệm lớp phải quy định
những dụng cụ tối thiểu phục vụ cho học tập của học sinh; đối với học sinh có
hoàn cảnh khó khăn thì xin sự giúp đỡ của tập thể lớp, hoặc xin sự hỗ trợ của
19


Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh,
nhà trường.
Phối hợp và quản lý tốt việc học, lãnh đạo trường thường xuyên quan tâm
nhắc nhở giáo viên thông qua việc lập kế hoạch, qua các cuộc họp để họ làm tốt
việc hướng dẫn tự học cho học sinh; Đoàn trường nêu gương học tập tốt trong
các buổi chào cờ; đồng thời thông báo cho gia đình những hiện tượng lười học,
hoặc có chiều hướng sa sút để cha mẹ học sinh phối hợp giáo dục học sinh.
3.3.2. Đổi mới các hình thức tổ chức hình thức dạy học
Đổi mới tính chất và nội dung hoạt động của giáo viên và học sinh, chuyển
từ dạy truyền thống một chiều, học thụ động, chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối
phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng hình thành
năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên.
Đổi mới hình thức tương tác xã hội trong dạy học, chuyển từ dạy học đồng
loạt cả lớp đối diện với giáo viên, học tập đơn phương sang tổ chức dạy học theo
các hình thức tương tác: học cá nhân, học theo nhóm…
Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học sinh chủ động,
hứng thú, tránh nhàm chán, đơn điệu, từ đó có thể khắc phục điểm yếu, phát huy
điểm mạnh của các hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
Làm cho việc học gắn với môi trường thực tế, gắn với kinh nghiệm sống của
cá nhân học sinh, tạo điều kiện tổ chức học tập với hình thức điều tra, nghiên
cứu trong thực tiễn cuộc sống.
Bồi dưỡng năng lực tổ chức dạy học theo nhiều hình thức đa dạng, khuyến
khích và tạo điều kiện thuận lợi (cả tinh thần và vật chất) cho giáo viên và học
sinh để tổ chức một cách hiệu quả các họat động dạy học.
Học sinh phải được khuyến khích đề xuất ý kiến và cùng với thầy cô giải
quyết đề xuất của mình. Giáo viên nên động viên khích lệ học sinh phấn đấu
vươn lên trong học tập và rèn luyện, đặc biệt là khích lệ học sinh yếu kém.

20


Ngoài những thiết bị có trong nhà trường, động viên giáo viên sưu tầm tài
liệu, sách báo, tra cứu trên mạng thông tin Internet để có những dữ liệu điện tử
nhằm đổi mới phương pháp dạy học.
3.3.3. Đổi mới hình thức đánh giá hoạt động sư phạm của nhà giáo
Đánh giá không chỉ để xếp loại mà là nâng cao chất lượng, khích lệ theo
hướng phát triển, hướng vào người học, lấy kết quả học tập làm thước đo.
Đa dạng các hình thức đánh giá hoạt động sư phạm nhà giáo như: Thông qua
dự giờ thường xuyên, dự giờ đột xuất; thông qua tổ chức các chuyên đề hay hội
thảo chuyên môn.
3.3.4. Đổi mới chế độ, chính sách đối với giáo viên
Tăng cường kinh phí tổ chức chuyên đề, hội thảo, phong trào thi giáo viên
dạy giỏi các cấp, qua đó tuyển chọn cán bộ nguồn cho nhà trường.
Làm tốt công tác thi đua khen thưởng, thăm hỏi nhà giáo khi cần thiết, nhất
là lúc khó khăn và dịp tết.
Đảm bảo thực hiện đúng, đủ chế độ tiền lương và chế độ khác cho giáo viên.
4. Tăng cường đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn “dựa trên phân tích hoạt
động học tập của học sinh” nhằm bồi dưỡng năng lực chuyên môn và nghiệp vụ
sư phạm cho giáo viên
4.1. Mục tiêu của biện pháp
- Giúp giáo viên tìm các giải pháp trong quá trình dạy học nhằm nâng cao kết
quả học của học sinh. Bồi dưỡng cho giáo viên để có thể đáp ứng được nhiệm vụ.
- Quan tâm tới tất cả học sinh trong lớp, đặc biệt chú ý tới những học sinh còn
yếu hay ít tham gia vào các hoạt động học tập, thực hành, không “bỏ rơi” bất cứ học
sinh nào...
- Tạo cơ hội cho giáo viên phát triển năng lực chuyên môn, phát huy tính sáng
tạo của mình. Thông qua việc dạy và dự giờ minh họa mỗi giáo viên tự rút ra bài học
kinh nghiệm để vận dụng vào các giờ dạy của mình. Qua đó nâng cao chất lượng GD
của nhà trường.
4.2. Nội dung của biện pháp
21


- Thứ nhất: Tăng cường nâng cao nhận thức về PPDH cho cán bộ giáo viên nhân
viên.
Mọi hoạt động của con người đạt tới năng suất cao là do con người ý thức được
việc mình làm, dồn hết tâm trí vào việc đó đồng thời sẵn sàng chịu trách nhiệm về nó.
Muốn làm tốt công việc của GD là đào tạo nhân lực cho đất nước và nó là một trong ba
nhiệm vụ cơ bản của giáo dục: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân
tài. Nếu thiếu một trong ba nhiệm vụ này thì không thể phát triển KT-XH thực hiện
CNH-HĐH đất nước. Nên việc tăng cường nâng cao nhận thức về GDNPT cho cán bộ,
giáo viên, nhân viên là việc rất cần thiết.
- Thứ hai: Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên cũng là bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng,
thái độ đối với công tác GD.
- Kiến thức về tâm lý học: Tâm lý học lứa tuổi, tâm lý học lao động, tâm lý học
xã hội, tâm lý học giao tiếp, tâm lý học ứng xử, tâm lý học quản lý...
- Kiến thức về phương pháp GD: Phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm
thoại, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp tổ chức trò chơi, phương pháp đóng
vai diễn kịch...
- Kiến thức về tư vấn chọn nghề, hướng nghiệp cho học sinh và khả năng phù
hợp với nghề chỉ dừng lại ở mức độ chuẩn đoán những phẩm chất nghề nghiệp cần
thiết hiện có của học sinh, đánh giá được năng lực trí tuệ, khả năng sức khỏe đối chiếu
với yêu cầu nghề nghiệp và nhu cầu lao động của địa phương để làm sáng tỏ mức độ
sẵn sàng về tâm lý và thực tiễn của học sinh đối với nghề mà các em lựa chọn cũng
như kích thích các em tự giáo dục, tự rèn luyện và phát triển phẩm chất cần thiết của
bản thân.
+ Về kỹ năng: Để làm tốt nhiệm vụ GD giáo viên cần rèn luyện các kỹ năng
sau: Kỹ năng giao tiếp với học sinh, với CMHS; kỹ năng phối hợp với các lực lượng
tham gia GD; kỹ năng tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo về GDNPT; kỹ năng thực
hành; kỹ năng truy cập Internet; kỹ năng hướng dẫn, tư vấn cho học; kỹ năng thích ứng
với môi trường và điều kiện làm việc mới…
+ Về thái độ:
22


Luôn luôn quan tâm tới GD cho học sinh dưới mọi hình thức, trong mọi hoạt
động sư phạm mình phụ trách.
Tích cực tham gia việc tuyên truyền cho mọi người hiểu rõ nhiệm vụ của GD,
sẵn sàng giúp học sinh lựa chọn ngành nghề phù hợp.
- Thứ ba: Bồi dưỡng tay nghề, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nhà giáo.
Mỗi giáo viên phải là “Tấm gương sáng cho học sinh noi theo”. Do vậy người
giáo viên cần phải bồi dưỡng về năng lực nghề, phẩm chất chính trị và đạo đức nhà
giáo. Phẩm chất cao quý nhất của giáo viên là phải biết yêu nghề, yêu học trò của mình
và “tất cả vì học sinh thân yêu".
Quản lý bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giáo viên gồm các nội dung sau: Tăng cường
nâng cao nhận thức cho CB, GV, NV về GD; quản lý bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ; quản lý bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nhà giáo.
Nhà sư phạm H. Jackson đã nói: “Có những thứ không thể đọc được bằng mắt
mà phải đọc từ trái tim”. Bằng trái tim yêu thương của mình người giáo viên sẽ hiểu
được ý nghĩa, nguyện vọng của học sinh để từ đó có sự định hướng nghề nghiệp cho
học sinh.
4.3. Cách thức thực hiện biện pháp
Quản lý sinh hoạt tổ chuyên môn dựa trên "phân tích hoạt động học tập của học
sinh” cần thực hiện theo các bước sau:
* Bước 1: Chuẩn bị bài dạy minh họa
Giáo viên dạy minh hoạt chủ động chuẩn bị nội dung, không lệ thuộc một cách
máy móc vào quy trình, các bước dạy trong sách giáo khoa hay sách giáo viên. Giáo
viên có thể thay đổi mục tiêu bài học, thay đổi nội dung, điều chỉnh thời lượng, lựa
chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học, đồ dùng dạy học cho phù hợp với đối tượng học
sinh.
Các hoạt động học tập vẫn đảm bảo đạt được mục tiêu của bài học nhưng tạo cơ
hội cho tất cả học sinh được tham gia vào quá trình học tập từ đó cải thiện được kết quả
học tập của học sinh.
Giáo viên chuẩn bị bài dạy trao đổi ý tưởng, nội dung, phương pháp của mình
với đồng nghiệp trong tổ chuyên môn để nâng cao chất lượng tiết dạy minh họa. Sau
23


đó giáo viên phát triển đề cương để hoàn thành bài dạy minh họa. Các thành viên khác
trong tổ có nhiệm vụ lên kế hoạch chi tiết cho việc quan sát và thảo luận khi tiến hành
bài học nghiên cứu.
*Bước 2: Dự giờ
- Sau khi hoàn thành giáo án của bài học nghiên cứu chi tiết, giáo viên sẽ dạy
minh họa và nghiên cứu bài giảng minh họa ở một lớp học cụ thể, tất cả giáo viên
trong tổ tiến hành dự giờ và ghi chép đầy đủ thu thập dữ kiện về bài học.
- Cách bố trí dự giờ, phương tiện dự giờ:
+ Giáo viên ngồi dự giờ ở vị trí thuận lợi nhất để có thể quan sát, ghi chép,
quay phim, vẽ sơ đồ ngồi của học sinh một cách dễ dàng nhất (có thể đứng hai bên,
phía trước, phía sau lớp).
+ Phương tiện: Giáo viên dự giờ ghi lại diễn biến các hoạt động học tập của
học sinh bằng hình thức ghi chép hoặc chụp ảnh.
- Giáo viên dự giờ phải đảm bảo nguyên tắc:
+ Đặt trọng tâm quan sát vào các biểu hiện tâm lí, thái độ, hành vi trong các
tình huống, hoạt động cụ thể của học sinh.
+ Kết hợp sử dụng các kĩ thuật: nghe, nhìn, suy nghĩ, ghi chép, quay phim,
chụp ảnh để có dữ liệu phân tích nhằm trả lời các câu hỏi: HS học như thế nào? HS
gặp những khó khăn gì? Vì sao? Cần thay đổi như thế nào để học sinh học tốt hơn?
* Bước 3: Thảo luận về giờ dạy minh họa
Giáo viên dạy minh họa chia sẻ về mục tiêu bài học, những ý tưởng mới,
những thay đổi, điều chỉnh về nội dung, phương pháp, những cảm nhận của mình qua
giờ học, những điều hài lòng và chưa hài lòng trong quá trình dạy minh họa.
Người dự nhận xét, góp ý về giờ học theo tinh thần trao đổi, chia sẻ, lắng nghe
mang tính xây dựng. Các ý kiến tập trung vào phân tích các hoạt động học của học
sinh: HS như thế nào? Cùng suy nghĩ tìm ra nguyên nhân vì sao HS chưa tích cực
tham gia vào hoạt động học, chưa đạt kết quả… và đưa ra biện pháp thay đổi cách
dạy nhằm đạt được mục tiêu của bài học, tạo cơ hội học tập cho mọi học sinh, không
có HS bị “bỏ quên” trong quá trình học tập.
Nếu giờ học chưa đạt kết quả như mong muốn thì cần coi đó là bài học để mỗi
24


GV tự rút kinh nghiệm.
Cuối buổi thảo luận, người chủ trì tóm tắt lại vấn đề thảo luận và gợi ý các vấn
đề cần suy ngẫm để hoạt động của học sinh tốt hơn. Những người tham gia tự suy
nghĩ rút kinh nghiệm. Không đánh giá xếp loại giờ học. Không đánh giá giáo viên.
4.4. Điều kiện thực hiện biện pháp
Đối với Hiệu trưởng trường trung học phổ thông
- Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn chi tiết, chú
trọng đến công tác sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn theo các nội dung trên, đảm bảo
mỗi học kỳ trung bình có 4 đợt sinh hoạt chuyên môn theo “dựa trên phân tích hoạt
động học tập của học sinh” phê duyệt kế hoạch tổ chuyên môn.
- Thường xuyên kiểm tra, giám sát và điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch tổ
chuyên môn. Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng mỗi người dự và chỉ đạo sinh hoạt tổ
chuyên môn ở từng tổ, chịu trách nhiệm về chỉ đạo của mình.
- Thực hiện đánh giá và xếp loại kết quả bồi dưỡng thường xuyên giáo viên
theo kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên đã được Sở GD&ĐT hướng dẫn.
Đối với phó Hiệu trưởng trường trung học phổ thông
- Chỉ đạo việc sắp xếp, bố trí thời khóa biểu cho giáo viên dạy minh họa, sinh
hoạt tổ chuyên môn, dự giờ và rút kinh nghiệm.
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn theo sự phân
công của Hiệu trưởng, dự giờ và chỉ đạo công tác tại tổ chuyên môn.
- Chỉ đạo các bộ phận phục vụ chuẩn bị: Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tài
liệu tham khảo,...phục vụ cho việc giảng dạy bài học nghiên cứu và sinh hoạt chuyên
môn theo hướng phân tích hoạt động học tập của học sinh.
- Chỉ đạo phối hợp với các tổ chức trong nhà trường tích cực hưởng ứng,
thường xuyên đôn đốc, chuẩn bị các hoạt động phục vụ cho công tác sinh hoạt tổ
chuyên môn.
- Kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch của tổ chuyên môn theo sự phân
công của Hiệu trưởng, dự và chỉ đạo công tác sinh hoạt tổ chuyên môn.
Đối với Tổ trưởng chuyên môn
- Xây dựng kế hoạch tổ chuyên môn, đặc biệt chú trọng đến các nội dung nêu
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×