Tải bản đầy đủ

NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ÁN LỆ TẠI VIỆT NAM

LỜI NÓI ĐẦU
Trong tiến trình triển khai thi hành Hiến pháp 2013, vấn đề cải cách tư pháp là chủ
trương lớn của Đảng nhằm từng bước xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
XHCN, bảo vệ quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững,
chủ động hội nhập quốc tế.
Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005 đã xác định “Tòa án nhân
dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất
pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”. Chủ đề về án lệ và định
hướng áp dụng nó trong hệ thống pháp luật Việt Nam đã trở thành vấn đề nóng trong
nghị trường của Quốc hội nước ta trong những năm gần đây. Ngày 29/10/2015, tại Hà
Nội, TANDTC đã tiến hành giới thiệu Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng
Thẩm phán TANDTC về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Nghị quyết này
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/12/2015. Đây là một bước quan trọng trong tiến
trình cải cách tư pháp đó là sự thừa nhận án lệ trong hoạt động tư pháp nước ta để từ đó
tiến đến việc áp dụng án lệ vào thực tiễn xét xử.
Nhưng hiện nay, việc áp dụng án lệ vào công tác xét xử ở Việt Nam còn khá mới mẻ
nên sẽ gặp nhiều khó khăn để án lệ thực sự phổ biến trong hệ thống tư pháp nước ta.
Trong bài tiểu luận này, tác giả đưa ra cách nhìn tổng quan nhất về án lệ, sự tương quan
giữa quy định án lệ Việt Nam với thế giới, phân tích những điểm thuận lợi, khó khăn
của việc áp dụng án lệ hiện nay tại Việt Nam qua đó đưa ra những kiến nghị để nâng
cao hiệu quả sử dụng án lệ ở Việt Nam.

Trong bài tiểu luận này, tác giả vận dụng phương pháp nguyên cứu truyền thống là
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, dựa trên chủ
nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu các vấn đề một cách toàn diện
và cụ thể. Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp so sánh,
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp đánh giá, nhận xét để
đảm bảo tính logic những vấn đề được nghiên cứu.

1


CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁN LỆ
1.1. Khái niệm án lệ
Theo từ điển Black’s Law thì án lệ được hiểu như sau: “Án lệ là việc làm luật của tòa
án khi công nhận và áp dụng các quy tắc mới trong quá trình xét xử; vụ việc đã được
giải quyết làm cơ sở để đưa ra phán quyết cho những trường hợp có tình tiết hoặc vấn
đề tương tự sau này”.1
Theo Oran’s Dictionary of the Law thì cho rằng án lệ là “Một quyết định về một vấn đề
mang tính pháp lý, mang tính bắt buộc đối với tòa án cấp dưới trong cùng hệ thống khi
tòa án cấp dưới giải quyết một vấn đề pháp lý với tình tiết tương tự”.
Còn trong tác phẩm Luật So sánh trong một thế giới chuyển đổi (Comparative Law in a
Changing world) của Giáo sư Peter de Cruz - Trường Đại học Staffordshire thì án lệ có
thể được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, án lệ là những nguyên tắc không theo
luật định được đưa ra từ các quyết định tư pháp. Theo nghĩa hẹp, án lệ là việc đưa ra
những nguyên tắc là nền tảng cho những vụ việc xảy ra sau này2.
Tại Việt Nam, theo Điều 1 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP quy định:
“Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án
nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”.
Nhưng nhìn chung án lệ có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, án lệ do tòa án tạo ra trong qua trình xét xử nên nguồn luật án lệ còn được
gọi là luật được hình thành từ vụ việc ("case law”) hay luật do thẩm phán ban hành
("judge-made law”). Trong khi đó, nguồn luật văn bản chủ yếu được tạo ra bằng con
đường Nghị viện ban hành.
Thứ hai, án lệ được hình thành phải mang tính mới. Thật ra, không phải khi tòa án xét
xử bất kỳ vụ việc nào cũng đều tạo ra án lệ. Thông thường, khi có một việc tranh chấp
tại tòa thì các thẩm phán cũng như các luật sư sẽ quan tâm đến hai vấn đề: (i) Vấn đề
sự kiện (question of fact); (ii) Vấn đề pháp lý (question of law). Đối với các vụ việc
đơn thuần chỉ liên quan đến việc xác định chất pháp lý của sự kiện (question of fact) và
1 Black's Law Dictionary, 1979, 5th edition, tr.1059.


2 Peter de Cruz, Comparative Law in a Changing World, Cavendish Publishing Limited 1999, p. 243

2


đã có quy định trong văn bản pháp luật hay tiền lệ trước đó để áp dụng, tòa án không
tạo ra án lệ khi giải quyết các vụ việc này. Rất ít các vụ việc liên quan đến vấn đề pháp
lý (question of law) cần giải quyết bằng pháp luật mà chưa có quy tắc tiền lệ. Khi này
tòa án mới tạo ra án lệ khi giải quyết những vụ việc này.
Thứ ba, kỹ thuật xây dựng và vận hành là dựa vào yếu tố tương tự. Kỹ thuật tư duy đặc
thù của thông luật tạo ra án lệ không phải là diễn dịch cũng không phải là quy nạp mà
là suy luận tương tự ("analogical thinking’), có nghĩa là lấy tính giống nhau làm tiêu
chuẩn hay là cái tương tự. Một quy tắc án lệ gọi là "ratio” được hình thành dựa trên ba
yếu tố: (i) Các tình tiết của vụ việc (facts); (ii) Lý lẽ hay lập luận (reason); (iii) Quyết
định của tòa án (decision). Khi tòa án giải quyết vụ việc đầu tiên chỉ tạo ra hình mẫu
hay phác thảo nên một quy tắc chứ chưa phải là một quy tắc hoàn hảo, một quy tắc hay
nguyên tắc án lệ được hình thành phải trải qua hàng loạt các vụ việc tương tự về sau.
Các thẩm phán sau này khi giải quyết một vụ việc cần phải xác định và đánh giá lý lẽ
tương tự, nếu vụ việc này tương tự thì sẽ áp dụng lý lẽ trong bản án trước để giải quyết
vụ việc hiện tại, nếu không tương tự thì không áp dụng3.
1.2. Nhận diện sự tồn tại của án lệ trong thực tiễn pháp lý tại Việt Nam
“Án lệ” đây không phải là một thuật ngữ hoàn toàn mới trong khoa học pháp lý hay
trong nền tư pháp Việt Nam mà khái niệm này đã được biết đến từ rất sớm cách đây
khoảng 500 năm dưới chế độ phong kiến. Đặc biệt, mới đây ngày 06 tháng 4 năm
2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA quyết
định về việc công bố 6 án lệ. Đây được xem là dấu ngoặc mới, đánh dấu những bước
tiến dài cho hoạt động tư pháp Việt Nam. Để có được sự thừa nhận án lệ như hôm nay
thì án lệ ở nước ta đã trải qua một thời gian khá dài đây được xem như là một lộ trình
xây dựng những cơ sở khoa học pháp lý, cơ sở lý luận, thay đổi nhận thức, định kiến để
chuẩn bị tốt nhất một nền tảng trên chặn đường nghiên cứu, xây dựng, thừa nhận và
phát triển án lệ như ngày nay.
1.2.1. Giai đoạn trước những năm 1945
Ở Việt Nam dưới chế độ phong kiến có thể coi án lệ đã xuất hiện và tồn tại dưới những
dạng các phán quyết, chiếu, sắc dụ, lệnh, lệ của nhà vua nhưng vào thời điểm đó không
3 Đỗ Thanh Trung (2012), “Án lệ: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 4/2012,
tr.64,65

3


gọi bằng thuật ngữ “án lệ”4. Trong thời kỳ này, việc ban hành các lệnh, lệ để hướng dẫn
đường lối xét xử khi luật còn thiếu sót, chưa quy định đầy đủ. Cách làm này tương đối
phổ biến và được áp dụng nhiều lần bởi các đời vua khác nhau.
Trong thời kỳ Pháp thuộc có ba bộ luật quan trọng điều chỉnh các quan hệ xã hội đó là
Bộ luật Dân sự Nam kỳ giản yếu năm 1883, Bộ luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ luật dân
sự Trung Kỳ 1936. Tại Điều 4 của Bộ luật dân sự Nam Kỳ giản yếu năm 1883 quy định
“Thẩm phán nào từ chối việc phán xét vì lý do luật không quy định vấn đề hay luật tối
nghĩa hoặc bất túc sẽ bị truy tố vầ tội bất khẳng thụ lý”5.
1.2.2. Giai đoạn 1945 – 1975
Trong giai đoạn này chế độ chính trị ở hai miền Nam và Bắc có sự khác nhau, chính vì
vậy sự tồn tại của án lệ ở hai miền cũng có sự khác biệt, cụ thể:
Ở miền Nam Việt Nam dưới chế độ Sài Gòn trước năm 1975, án lệ cũng được coi là
một nguồn luật trong lĩnh vực dân sự, Bộ Tư pháp đã xuất bản án lệ theo định kỳ ba
tháng. Ấn phẩm đăng tải những trích dẫn về quan điểm hay định hướng xét xử trong
các bản án của Tối cao pháp viện, Tòa hành chính, Tòa thượng thẩm... Những bản án
này là một trong những căn cứ pháp lý để xét xử cho các tranh chấp tương tự về sau.
Hệ thống luật pháp của chế độ Sài Gòn trước đây vốn chịu ảnh hưởng của luật pháp
Châu Âu, nhất là luật pháp của Pháp, đặc biệt là pháp luật dân sự, nên cũng rất quan
tâm việc xây dựng án lệ. Bộ Dân luật do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ban hành theo
Sắc luật số 028 TT/SLU ngày 20/12/1972, đã có quy định liên quan đến yêu cầu áp
dụng án lệ trong xét xử, cụ thể, tại Thiên mở đầu, Điều 8 có ghi: “Thẩm phán nào
không chịu xét xử vì lẽ luật không định hay luật tối nghĩa, thiếu sót, sẽ có thể bị truy tố
về tội bất khẳng thụ lý”; Điều 9 quy định: “Gặp trường hợp không có điều luật nào có
thể dẫn dụng, thẩm phán sẽ quyết định theo tục lệ; nếu không có tục lệ, sẽ theo công
bằng và lẽ phải mà xét xử và phải chú trọng đến ý định của các đương sự”. Theo các
chuyên gia nghiên cứu, pháp luật của chế độ cũ trước đây, sở dĩ có được án lệ là nhờ ở
Tòa Thượng thẩm (Cour d’appel) và Tòa Phá án (Cour de cassation) là những cơ quan
kiểm soát lại các bản án của các Tòa án cấp dưới, qua đó Tòa Phá án bảo đảm một sự
4 Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy (2009), “Vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam”, Tạp chí Luật học, số 5/2009,
tr.39
5 Đỗ Thanh Trung (2008), Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tr.47

4


thống nhất trong việc giải thích và áp dụng pháp luật và lâu dần hệ thống các Tòa án sẽ
hướng theo các án lệ mà Tòa Phá án đưa ra.6
Trong khi đó, ở giai đoạn này miền Bắc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, để thống
nhất việc xử phạt một số loại tội phạm, ngày 19/01/1995 Thủ tướng Chính phủ ban
hành Thông tư số 442/TTG về việc trừng trị một số tội phạm. Tại Thông tư có quy định
“…Tới nay, các Toà án căn cứ vào những văn bản nói trên và chính sách trừng trị của
Chính phủ mà xét xử đem lại kết quả tốt cho việc bảo vệ trật tự, an ninh. Kinh nghiệm
xét xử về một số loại phạm pháp đã được trở thành án lệ.
Tuy nhiên án lệ ấy còn khác nhau giữa các địa phương, đường lối xét xử do đó không
được thống nhất, rõ ràng và có nơi không được đúng. Cần phải thống nhất những án lệ
ấy trong quy định chung sau đây để hướng dẫn các Toà án trừng trị một số tội phạm
thông thường”.
Tiếp sau đó nhiều văn bản quy phạm pháp luật cũng đã quy định việc áp dụng án lệ
trong công tác xét xử. Cụ thể như:
Tại Thông tư số 19-VHH ngày 30/06/1955 của Bộ Tư pháp về việc áp dụng luật lệ có
nêu:
“…Nếu chỉ có luật hình cũ, chưa có sắc lệnh mới, mà xét cần trừng phạt thì cũng
không viện dẫn luật hình cũ, Tòa án sẽ căn cứ vào đường lối truy tố xét xử, vào các yêu
cầu chung và cụ thể đối với từng sự việc, vào án lệ”.
Tại Chỉ thị số 772-TATC ngày 10/07/1959 của Tòa án Nhân dân tối cao về vấn đề đình
chỉ áp dụng luật pháp cũ của đế quốc và phong kiến, có nêu:
“…Để xét xử các vụ án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa đã ban hành từ trước đến giờ (luật, sắc lệnh, nghị định, thông tư…)
đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ, án lệ của các Tòa án, của Tòa án tối
cao”.
Thông tư số 92-TC ngày 11/11/1959 của Bộ Tư pháp và Tòa án Nhân dân tối cao giải
thích và quy định cụ thể về nhiệm vụ và quyền hạn của các TAND phúc thẩm Hà Nội,
Hải Phòng và Vinh, chỉ rõ:
“…TAND phúc thẩm chỉ đạo công việc xét xử của các TAND cấp dưới thông qua án lệ
của mình”.
6 Lê Văn Sua, “Án lệ và vai trò của án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa
http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1867, truy cập ngày 22/06/2015

5

án”,


Ngoài ra, trong thời kì này bên cạnh các văn bản pháp luật chính thức thì trên các tạp
chí chuyên ngành, nhiều tập san, các bài viết khái niệm án lệ cũng được sử dụng nhiều.
Tại Tập san Luật học số 4 năm 1957 ra ngày 15/10/1957 do Hội luật gia Việt Nam xuất
bản có mục Án lệ, trong đó có đề cập đến án lệ để giải quyết vấn đề chồng liên đới trả
nợ cho vợ của tác giả Nguyễn Xuân Dương. Trong mục này, tác giả Nguyễn Xuân
Dương đã chỉ ra đường lối xét xử của TAND thành phố Hà Nội đã xét xử 05 vụ án liên
quan đến việc liên đới trả nợ, mặc dù vợ là người vay tiền nhưng Tòa án vẫn buộc
chồng phải chịu trách nhiệm về việc vợ vay tiền, hai vụ chồng tự ý nhận trả nợ cho vợ
và một vụ bác lời thỉnh cầu của nguyên đơn tách chồng ra khỏi vụ kiện; sau đó tác giả
nêu những nhận xét của mình trên cơ sở căn cứ vào Sắc lệnh 97-SL ngày 22/05/1950
của Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa và Hiến pháp năm 1946, đi
đến kết luận theo quan điểm của tác giả thì: “Theo pháp lý hiện tại, Tòa án chỉ có thể
xử bắt người chồng phải liên đới giả nợ cho người vợ trong những trường hợp món nợ
đó có làm lợi cho gia đình, nếu không phải là trường hợp hai người cùng đứng vay
hoặc cùng kinh doanh. Để nhận định món nợ đã làm lợi cho gia đình thì phải có những
bằng chứng cụ thể rõ rệt. Nếu chỉ dựa trên phán đoán (Vụ bà Nguyễn Thị Sinh kiện bà
Trần Thị Tâm) hoặc dựa trên sự việc chồng cho phép buôn bán hay không ngăn cản
việc buôn bán rồi do đó mà có nợ để nhận định là chưa đủ lẽ”.
Tại Tập san Luật học số 5 năm 1958 ra ngày 15/01/1958 do Hội luật gia Việt Nam xuất
bản có mục Bình luận án lệ: Hứa mua, hứa bán nhà đất ở thành phố của Nguyễn Xuân
Dương. Trong mục này, tác giả Nguyễn Xuân Dương đã nêu tình hình các vụ kiện, đưa
ra hai vụ kiện tác giả cho là điển hình về vấn đề này và chỉ ra đường lối xét xử của
TAND sơ thẩm Hà Nội và TAND phúc thẩm Hà Nội về vụ Ông Hoàng Văn Khác hứa
bán cho ông Nguyễn Đình Nhất nhà số 28 Phố Triệu Việt Vương năm 1956. Sau đó tác
giả nhận xét rằng TAND sơ thẩm Hà Nội đã chiếu Sắc lệnh ngày 10-10-1945 áp dụng
Điều 882 Luật hộ Bắc kỳ cũ xử vụ kiện này là không đúng. TAND phúc thẩm Hà Nội
đã bác của TAND sơ thẩm, xử bắt ông Khác phải bán nhà cho ông Nhất là đúng lẽ
nhưng đã xử bắt bán với giá đã hứa trước, mặc dầu giá nhà trong thành phố đã vọt lên
cao và nhận xét: “Theo ý kiến riêng của chúng tôi sau khi nghiên cứu để rút kinh
nghiệm về một số vụ án về việc hứa mua hứa bán, chúng tôi thấy rằng gặp những vụ
tương tự như vụ ông Nhất kiện ông Khác, nên hòa giải để hai bên có sự tương nhượng

6


nhau, nếu hòa giải không thành mà xử bắt người hứa bán phải bán như đã hứa thì nên
đồng thời điều chỉnh lại giá cả”.
Tập san Tư pháp (nay là Tạp chí TAND) số 3 năm 1964, trong mục “Thuật ngữ luật
học” có giải thích: “Án lệ là một danh từ cũ đã được dùng từ thời Pháp thuộc. Án lệ là
những quy tắc do các Tòa án trong khi vận dụng pháp luật để xét xử các vụ án cụ thể
đã hình thành dần dần bằng cách hiểu và có thái độ giải quyết giống nhau một số điểm
pháp lý, áp dụng luật một cách giống nhau trong nhiều vụ án”.
Tập san Tư pháp số 1 năm 1965 đã mở mục “Bình luận án lệ”, tòa soạn đã có vài dòng
mở đầu: “Từ số này, Tập san Tư pháp sẽ mở thêm mục “Bình luận án lệ” để…”. Tuy
nhiên, mục này chỉ thực hiện được 5 số, đến số 6 năm 1965 thì chỉ gọi là “Bình luận
án” mà không có sự giải thích nào từ tòa soạn7.
1.2.3. Giai đoạn 1975 – 2005
Nhìn từ góc độ pháp lý, trong giai đoạn này khái niệm án lệ không được sử dụng chính
thức, còn trong các sách báo pháp lý khái niệm án lệ vẫn được bàn luận nhưng chỉ
mang tính chất nghiên cứu học thuật.
Theo Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ
trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Xác định:
“…Khi xét xử, các tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
luật, thực sự dân chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật”.
Căn cứ khoản 1 Điều 19 Luật Tổ chức TAND năm 2002 quy định TANDTC có nhiệm
vụ và quyền hạn “Hướng dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh
nghiệm xét xử của các Tòa án”.
Từ các cơ sở pháp lý trên nhận thấy rằng án lệ trong thời kì này không được đề cập và
áp dụng. Có thể thấy ngay cả Nghị quyết của Bộ Chính trị hay quy định của Luật Tổ
chức TAND năm 2002 cũng không đề cập đến việc sử dụng án lệ trong công tác xét xử
như các thời kì trước đó đã quy định.
1.2.4. Giai đoạn 2005 đến nay

7 Nguyễn Văn Cường, Bài tham luận tại Hội thảo “Án lệ trong hệ thống Thông luật và châu Âu lục địa: Hiến kế
cho việc xây dựng và áp dụng án lệ tại Việt Nam". Tổ chức tại Trường ĐH Luật TP.HCM 24/4/2014.

7


Trong giai đoạn này khái niệm án lệ được đề cập lại, án lệ được nhắc đến, biết đến,
nghiên cứu nhiều hơn, tạo nên những bước tiến mạnh mẽ để được thừa nhận, xây dựng
và phát triển trong nền tư pháp Việt Nam như hiện nay.
Khái niệm án lệ tiếp tục được sử dụng chính thức tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020”, đã xác định:
“…Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ
thương mại quốc tế) và quy tắc các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn
thiện pháp luật”.
Tiếp đó tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, xác định:
“…Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp
dụng pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm”.
Trong giai đoạn này, TANDTC đã tiếp nhận và cho công bố các tập Quyết định Giám
đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về tất cả các lĩnh vực hình sự, dân sự,
hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, hành chính. TANDTC đã công bố một
số các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, một số quyết
định giám đốc thẩm của các tòa chuyên trách TANDTC trên Trang thông tin điện tử
của TANDTC. Bên cạnh đó, TAND các cấp cũng đã tham khảo Quyết định của Hội
đồng Thẩm phán TANDTC, Quyết định của các Tòa chuyên trách và thông qua việc
Tổng kết rút kinh nghiệm, phát hành Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC
đến Tòa án các cấp.
Việc công bố công khai các Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC và việc TAND các cấp đã tham khảo Quyết định của các Tòa chuyên trách,
Quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đây là những biểu hiện cho thấy những
bước chuẩn bị căn bản cho việc triển khai áp dụng án lệ tại Việt Nam.
Ngày 31/10/2012, TANDTC đã ban hành Quyết định số 74/QĐ-TANDTC phê duyệt
Đề án phát triển án lệ của TANDTC. Theo Quyết định 74/QĐ-TANDTC, việc phát
triển án lệ của TANDTC nhằm xác định hai mục tiêu:
Mục tiêu tổng quát:

8


“Việc phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao nhằm nâng cao chất lượng của bản
án, quyết định của ngành Tòa án nói chung, đặc biệt là Quyết định giám đốc thẩm của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa chuyên trách Tòa án nhân
dân tối cao; góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng, thống nhất, từ đó đảm bảo
sự bình đẳng của mọi tổ chức và công dân trước pháp luật”.
Mục tiêu cụ thể:
“Việc phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao giúp ngăn ngừa sự duy ý chí của
Thẩm phán khi áp dụng pháp luật, nâng cao kỹ năng và chất lượng xét xử của Thẩm
phán. Thông qua việc tham khảo, viện dẫn án lệ đã có, Thẩm phán có thể đưa ra phán
quyết một cách có cơ sở hơn, đảm bảo số lượng bản án, quyết định bị Tòa án cấp trên
hủy, sửa sẽ giảm đi.
Quyết định giám đốc thẩm trở thành án lệ sẽ là khuôn mẫu cụ thể, rõ ràng để dễ nhận
biết vấn đề pháp lý được đặt ra của vụ án. Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao
giúp chuẩn hóa việc viết bản án, quyết định của Tòa án. Viện dẫn án lệ trong xét xử trở
thành hoạt động thường xuyên của ngành Tòa án”.
Quyết định này đã khẳng định việc áp dụng án lệ tại Việt Nam là một giải pháp khả thi
nhằm hoàn thiện pháp luật.
Tiếp đến, theo Kết luận số 62-KL/TW ngày 14/05/2013 của Hội nghị lần thứ bảy Ban
chấp hành Trung ương khóa XI về việc tiếp thu ý kiến nhân dân hoàn thiện bản Sửa đổi
Hiến pháp năm 1992 thì: “Án lệ là vấn đề mới, chưa được nghiên cứu kỹ, nên không
quy định trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp; tiếp tục nghiên cứu, nếu thấy phù hợp thì
quy định trong Luật”.
Đây được xem là những bước phát triển mạnh mẽ trên con đường thừa nhận án lệ tại
Việt Nam, những cơ sở trên đã xây dựng những bước đệm cơ bản, cần thiết cho sự
công nhận, sử dụng án lệ tại Việt Nam. Tuy nhiên, những Nghị quyết của Bộ chính trị
hay tiêu biểu là Quyết định 74/QĐ-TANDTC đã đưa ra đề án chi tiết để phát triển án lệ
tại Việt Nam nhưng đây là những văn bản chỉ mang tính chỉ đạo, định hướng chứ vẫn
chưa là văn bản quy phạm pháp luật để có thể ràng buộc, mang tính bắt buộc chung
cho việc sử dụng án lệ, áp dụng án lệ trong quá trình xét xử. Cho nên việc sử dụng án
lệ được coi như là sự khuyến khích, Thẩm phán có thể sử dụng hay không sử dụng án
lệ đều được, chính vì vậy việc sử dụng án lệ chưa thật sự hiệu quả.

9


Trong tiến trình cải cách tư pháp, triển khai thi hành Hiến pháp 2013, chính từ đây án
lệ được thay một lớp áo mới, quan trọng hơn, mang tính pháp lý cao hơn và có tính áp
dụng cao hơn. Cụ thể:
Trên tinh thần khoản 3 Điều 104 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân tối
cao thực hiện việc tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật
trong xét xử”. Luật Tổ chức TAND năm 2014 ra đời, đã quy định nhiệm vụ của Hội
đồng hẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại điểm c khoản 2 Điều 22: “Lựa chọn quyết
định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển
thành án lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử”.
Ngày 29/10, tại Hà Nội, TANDTC đã tiến hành giới thiệu Nghị quyết 03/2015/NQHĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng
án lệ. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/12/2015. Đây là một bước
quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp, triển khai thi hành Hiến pháp 2013 và Luật
Tổ chức TAND 2014.
Luật Tổ chức TAND năm 2014, Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm
phán TANDTC là văn bản quy phạm pháp luật, từ đây án lệ đã có cơ sở pháp lý để
mang tính ràng buộc chung đối với các Thẩm phán trong quá trình xét xử.
Sau đó, các văn bản Luật mới ra đời như Bộ Luật Dân sự 2015, Bộ Luật Tố tụng dân
sự 2015, Bộ Luật Tố tụng hành chính cũng đã có những quy định về việc xem xét áp
dụng án lệ trong quá trình xét xử. Đặc biệt, mới đây ngày 06 tháng 4 năm 2016, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA quyết định về việc
công bố 6 án lệ đầu tiên. Theo quy định tại Điều 2 của Quyết định số 220/QĐ-CA quy
định các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng 6 án
lệ đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016
trong xét xử kể từ ngày 01/06/2016.
Cho đến thời điểm hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, án lệ đã được công
nhận, được thừa nhận là nguồn pháp luật bổ trợ cho cho hệ thống pháp luật. Đây là một
trong những bước chuyển mình tích cực trong tiến trình cải cách tư pháp của nước ta
hiện nay.
1.3. Án lệ Việt Nam và sự tương quan với án lệ thế giới

10


1.3.1. Án lệ với tư cách là nguồn luật
Án lệ là bản án hoặc quyết định của tòa án, nó tạo lập quy tắc hoặc căn cứ pháp lý đáng
tin cậy cho việc quyết định các vụ việc tương tự trong tương lai. Về mặt lý luận thì án
lệ có những yếu tố có thể làm cho một bản án trở thành căn cứ cho các quyết định sau
này của tòa án là những tình tiết thực tế, sự kiện giống nhau hoặc nếu sự kiện khác
nhau thì những nguyên tắc được áp dụng trong vụ án đầu tiên có thể được áp dụng đối
với nhiều sự kiện khác nhau8.
Trên thế giới hình thành hai trường phái án lệ, đó là “án lệ ràng buộc” và “án lệ thuyết
phục”. Tuy nhiên, việc phân biệt này không phải lúc nào cũng rõ ràng. Án lệ ràng buộc
hoặc bắt buộc chính là luật và được lập ra và phải được tôn trọng và tuân thủ theo. Án
lệ có sức thuyết phục là án lệ có tính phù hợp và có sức ảnh hưởng nhưng không nhất
thiết phải được áp dụng. Đối với các nước thuộc Hệ thống Thông luật như Anh, Mỹ
theo trường phái án lệ ràng buộc, đối với các nước thuộc hệ thống Dân luật như Pháp,
Đức theo trường phái án lệ thuyết phục 9. Điểm nổi bật trong sự khác biệt về án lệ giữa
hệ thống Thông luật và Dân luật là ở chỗ án lệ là nguồn luật chính thức trong hệ thống
pháp luật Thông luật vì thế nó mang tính bắt buộc chung. Ngược lại, trong hệ thống
pháp luật Dân luật án lệ được coi là nguồn luật thứ cấp vì thế án lệ chỉ mang tính
thuyết phục, không mang tính bắt buộc đối với thẩm phán khi họ đưa ra phán quyết.
Tại Quyết định số 74/QĐ-TANDTC có quan điểm chỉ đạo rằng: “Án lệ là Quyết định
giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Quyết định giám
đốc thẩm của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao được Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao thông qua, trở thành án lệ có giá trị tham khảo đối với Thẩm
phán khi giải quyết các vụ việc cụ thể”.
Định hướng phát triển quy định tại Quyết định số 74/QĐ-TANDTC có nêu: “Việc sử
dụng án lệ chỉ coi là thứ yếu, sau văn bản quy phạm pháp luật và không phải là Nghị
quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật, án lệ được ban hành khi chưa có Nghị quyết của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao”
8 Đoàn Thị Ngọc Hải, Lý luận và thực tiễn áp dụng án lệ và kiến nghị đối với việc áp dụng án lệ ở Việt Nam,
http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1968, truy cập ngày 04/06/2016
9 Nguyễn Văn Cường, Bài tham luận tại Hội thảo “Án lệ trong hệ thống Thông luật và châu Âu lục địa: Hiến kế
cho việc xây dựng và áp dụng án lệ tại Việt Nam". Tổ chức tại Trường ĐH Luật TP.HCM 24/4/2014.

11


Theo Luật TTDS 2015, Điều 45 có quy định về nguyên tắc giải quyết vụ việc dân sự
trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng. Tại khoản 3 có quy định: “Tòa án áp
dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ
việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật”.
Từ những quy định trên có thể thấy rằng, án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam chỉ
là nguồn luật thứ cấp bổ trợ cho luật thành văn và các nguồn luật khác. Án lệ tại Việt
Nam có nét tương đồng với án lệ trong hệ thống Dân luật.
1.3.2. Án lệ và thẩm quyền tạo lập án lệ của tòa án
Trong hệ thống Thông luật án lệ đóng vai trò rất quan trọng trong cả lĩnh vực lập pháp
và giải thích pháp luật. Trong lĩnh vực lập pháp án lệ đã giúp các nhà lập pháp giải
quyết tình trạng bất cập trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội là trao quyền cho
thẩm phán làm luật. Thẩm phán phải quyết định là vụ việc đang xem xét chưa có luật
điều chỉnh hoặc luật điều chỉnh chưa đầy đủ để hình thành hay xác định một quy phạm
xử sự mang tính bắt buộc chung. Đây là loại án lệ tạo ra quy phạm pháp luật, nguyên
tắc pháp luật mới, án lệ này gắn với chức năng sáng tạo ra pháp luật của thẩm phán.
Ngoài ra, trong trường hợp mà quy định của văn bản quy phạm pháp luật mơ hồ không
rõ hoặc có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau thì tòa án có thẩm quyền giải thích luật.
Tuy nhiên, tòa án cũng khẳng định ý chí của cơ quan lập pháp khi giải thích pháp luật.
Đối với hệ thống các nước Dân luật án lệ chỉ tồn tại dưới một hình thức duy nhất đó là
án lệ được hình thành bởi quá trình tòa án giải thích văn bản quy phạm pháp luật. Đó là
sự giải thích những quy phạm mang tính nguyên tắc chung, quy phạm có tính nước đôi,
hàm ý rộng, không ý nghĩa, mập mờ hay có sự xung đột với văn bản quy phạm pháp
luật khác.
Hệ thống pháp luật Việt Nam có quy định tương đồng với các nước theo hệ thống Dân
luật về thẩm quyền tạo lập án lệ của tòa án.
Theo khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013 “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
Căn cứ khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP có quy định về tiêu chí lựa
chọn án lệ: “Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu
khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường
lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể”.

12


Từ các quy định trên có thể thấy rằng, án lệ tại Việt Nam được hình thành bởi quá trình
tòa án giải thích văn bản quy phạm pháp luật chứ tòa án không có thẩm quyền làm luật
bằng việc ban hành án lệ khi vụ việc chưa có luật điều chỉnh hoặc luật điều chỉnh chưa
đầy đủ. Bởi vì, tại Việt Nam tòa án không có chức năng lập pháp mà chức năng này
thuộc về Quốc hội, còn nếu vụ việc có luật điều chỉnh nhưng chưa đầy đủ thì cơ quan
có thẩm quyền giải thích luật sẽ là Ủy ban thường vụ Quốc hội10.
1.3.3. Thứ bậc viện dẫn án lệ khi xét xử
Án lệ của các nước đều có quy định về thứ bậc ưu tiên áp dụng, thông thường án lệ của
tòa án cấp trên sẽ có giá trị bắt buộc các tòa án cấp dưới phải tuân theo. Trong hệ thống
pháp luật nước Anh theo nguyên tắc Stare decisis, án lệ của Tòa án tối cao Vương quốc
Anh (Supreme Court) có giá trị bắt buộc đối với các tòa án cấp dưới. Tòa phúc thẩm
nước Anh (Court of Appeal) có thể tạo ra án lệ nhưng các án lệ này chỉ có giá trị ràng
buộc đối với chính tòa án đó và các tòa án cấp dưới. Trong hệ thống pháp luật liên
bang của Mỹ, các án lệ của Tòa án tối cao liên bang (đặc biệt là các án lệ gắn với việc
giải thích Hiến pháp Mỹ) sẽ có giá trị bắt buộc đối với tất cả các tòa án cấp dưới.
Trong hệ thống pháp luật Cộng hòa liên bang Đức, các án lệ của Tòa án Hiến pháp liên
bang có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các cơ quan nhà nước liên bang cũng như các
tòa án cấp dưới. Những án lệ của Tòa án tư pháp tối cao liên bang Đức luôn được các
tòa án cấp dưới tham khảo, nghiên cứu khi áp dụng pháp luật có liên quan. Đối với hệ
thống tòa án của Cộng hòa Pháp, những án lệ của tòa án tư pháp tối cao được tạo ra
trong quá trình giải thích văn bản quy phạm pháp luật có vai trò quan trọng trong định
hướng áp dụng các lĩnh vực dân sự, thương mại và hình sự cho các tòa án cấp dưới 11.
Thứ bậc viện dẫn án lệ tại Việt Nam cũng giống với quy định của hệ thống pháp luật
Thông luật và Dân luật, án lệ của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sẽ có
giá trị cao nhất có giá trị “ràng buộc” hướng dẫn đối với các tòa án cấp dưới. Quy định
này được thể hiện tại điểm b khoản 4 mục II Quyết định số 74/QĐ-TANDTC.
“Án lệ của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sẽ có giá trị cao nhất và có
tính thuyết phục hơn so với các án lệ của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối
cao. Khi không có án lệ của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì các án lệ
10 Khoản 2, Điều 74 Hiến pháp 2013
11 Đoàn Thị Ngọc Hải, Lý luận và thực tiễn áp dụng án lệ và kiến nghị đối với việc áp dụng án lệ ở Việt Nam,
http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1968, truy cập ngày 05/06/2016

13


của các Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao và các án lệ trong “Tuyển tập án lệ”
phải được viện dẫn”.
Đối với hệ thống pháp luật Việt Nam, theo Điều 3 Luật Tổ chức tòa án nhân dân năm
2014, hệ thống tòa án theo thứ bậc từ cao xuống thấp gồm: Tòa án nhân dân tối cao,
Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố thuộc trung ương, Tòa án
nhân dân quận, huyện, thị xã và hệ thống tòa án quân sự. Đương nhiên, các án lệ được
hình thành bởi các quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sẽ có
giá trị hướng dẫn áp dụng pháp luật cao hơn các án lệ của các tòa án cấp dưới.
1.3.4. Án lệ trong mối quan hệ với văn bản quy phạm pháp luật
Trong hệ thống luật Thông luật như nước Anh, Mỹ, khi Nghị viện đã ban hành luật thì
tòa án phải dựa trên cơ sở của luật cho dù điều luật này bãi bỏ những nguyên tắc pháp
luật đã được thiết lập trong những án lệ trước đó tuy rằng nguồn luật cơ bản và chủ yếu
trong hệ thống này là văn bản quy phạm pháp luật và án lệ. Tuy nhiên, nếu xét về thứ
bậc thì văn bản quy phạm có giá trị pháp lý cao hơn. Những trường hợp có sự mâu
thuẫn hay xung đột giữa văn bản quy phạm và án lệ thì áp dụng văn bản quy phạm
pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật có thể điều chỉnh hoặc bãi bỏ án lệ cho phù hợp
với sự thay đổi của xã hội.
Trong hệ thống pháp luật Dân luật thì điều này hiển nhiên nhận thấy thông qua nội
dung các quyết định xét xử của tòa án đều được tuyên trên cơ sở căn cứ các quy phạm
pháp luật chứ không phải dựa trên căn cứ duy nhất là án lệ. Thực tiễn án lệ ở nước
ngoài cho thấy, mặc dù có viện dẫn đến án lệ nhưng Tòa án Tư pháp tối cao của CHLB
Đức, Tòa án tối cao của Nhật Bản phải đưa ra các quyết định trên cơ sở các điều luật cụ
thể. Án lệ trong hệ thống Dân luật thành văn chỉ là nguồn luật bổ trợ, giải thích làm
tăng tính thuyết phục và rõ ràng trong các quyết định của tòa án.
Tương tự như quy định của Thông luật và Dân luật, án lệ Việt Nam là sự bổ sung cho
sự thiếu hụt của các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật khi chưa có văn bản hướng
dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh. Khi các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những
văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề được án lệ giải quyết trước đó thì
án lệ không được áp dụng nữa mà thẩm phán áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mà
cơ sở hình thành từ những cách ứng xử pháp lý của các vụ án cụ thể trước đó.
Quy định này được thể hiện tại khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP.

14


“Trường hợp do sự thay đổi của Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ mà án lệ không còn phù hợp
thì án lệ đương nhiên bị hủy bỏ”.

15


CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG ÁN LỆ TẠI VIỆT NAM VÀ
NHỮNG ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ÁN LỆ TẠI VIỆT NAM
2.1. Đánh giá khả năng áp dụng án lệ tại Việt Nam
2.1.1. Những thuận lợi cho việc áp dụng án lệ tại Việt Nam
Thứ nhất, hiện nay án lệ tại Việt Nam đã có cơ sở pháp lý làm nền tảng vững chắc cho
việc lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Trong những năm gần đây, dưới sự định
hướng, chỉ đạo từ Nghị quyết số 49-NQ/TW, Quyết định số 74/QĐ-TANDTC đã thúc
đẩy cho sự ra đời các cơ sở có giá trị pháp lý cho việc phát triển án lệ tại Việt Nam đó
là những quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014 và đặc biệt là Nghị quyết
03/2015/NQ-HĐTP. Và mới đây ngày 06 tháng 4 năm 2016, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao đã ban hành Quyết định số 220/QĐ-CA quyết định về việc công bố 6 án lệ đầu
tiên đây là một trong những bước tiến quan trọng tiến trình cải cách tư pháp tại Việt
Nam.
Thứ hai, Việt Nam đã có nền tảng mang tính thực tiễn cho quá trình áp dụng án lệ. Kể
từ năm 2004 cho đến nay, TANDTC đã tiếp nhận và cho công bố các tập Quyết định
Giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, một số quyết định giám đốc thẩm
của các tòa chuyên trách TANDTC, các quyết định này ngày càng được chú trọng đến
chất lượng và quy mô công bố. Bên cạnh đó, TAND các cấp cũng đã tham khảo Quyết
định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Quyết định của các Tòa chuyên trách và
thông qua việc Tổng kết rút kinh nghiệm, phát hành Quyết định của Hội đồng Thẩm
phán TANDTC đến Tòa án các cấp. Đây chính là những biểu hiện cho thấy rằng Việt
Nam cũng đã có hình thức sử dụng án lệ trong thực tiễn xét xử điều này sẽ giúp cho
các thẩm phán có thể nhanh chóng thích nghi hơn trong việc áp dụng án lệ khi xét xử.
Thứ ba, việc sử dụng án lệ sẽ đáp ứng nhu cầu giải quyết được những bất cập của việc
thiếu tính thống nhất áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử. Hiện nay, pháp luật
nước ta còn nhiều lỗ hổng, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, mâu thuẫn, chồng chéo
nhau, văn bản quy phạm pháp luật mang tính chung chung, khái quát nên khó áp dụng
vào đời sống thực tế. Thực tiễn cho thấy văn bản quy phạm pháp luật dù có được xây
dựng kỹ lưỡng, cẩn thận đến đâu cũng không thể dự đoán hết tình huống xảy ra trong
tương lai. Cho nên khi xuất hiện hành vi hay tình huống mới mà pháp luật chưa quy
định thì việc cần phải làm là sửa đổi, bổ sung các quy phạm thành văn để điều chỉnh

16


những hành vi này. Nhưng trình tự, thủ tục sửa đổi, bổ sung pháp luật lại mất khá nhiều
thời gian nên việc sử dụng án lệ trong trường hợp này sẽ khắc phục những hạn chế mà
văn bản quy phạm pháp luật đang còn tồn tại. Bởi vì, án lệ tạo điều kiện cho thẩm phán
quyền được ra phán quyết ngay cả khi chưa có luật điều chỉnh vì thế án lệ đáp ứng
ngay những đòi hỏi của thực tiễn, và vì án lệ được đưa ra từ thực tiễn, phụ thuộc vào sự
thay đổi nhanh chóng của xã hội do đó nó điều chỉnh được hầu hết các quan hệ xã hội
phát sinh.
Thứ tư, Việt Nam đang nỗ lực hội nhập nền kinh tế quốc tế, tham gia vào các điều ước
thương mại quốc tế song phương hoặc đa phương và gia nhập WTO. Thực tiễn này đặt
ra yêu cầu là công tác tài phán phải tiếp cận các vụ án có yếu tố nước ngoài. Điều này
tạo được sự tin tưởng của cộng đồng quốc tế như là một điều kiện quan trọng để các
doanh nhân có thể yên tâm về việc lựa chọn tài phán tại Việt Nam thay vì phải đưa vụ
tranh chấp ra các cơ quan tài phán của nước ngoài 12, từ đó tạo niềm tin cho các cá nhân,
tổ chức trong và ngoài nước về tính minh bạch, công khai của hệ thống tòa án. Bên
cạnh đó, hiện nay các nước theo hệ thống Thông luật hay hệ thống Dân luật cho thấy
rằng, việc sử dụng án lệ trong công tác xét xử không còn là vấn đề mới, thực tế án lệ đã
được sử dụng ở hầu hết các nước trên thế giới. Vì thế, Việt Nam áp dụng án lệ trong
quá trình xét xử như hiện nay là hoàn toàn phù hợp với xu thế chung của thế giới.
2.1.2. Những khó khăn cho việc áp dụng án lệ tại Việt Nam
Thứ nhất, Việt Nam là một nước theo hệ thống luật thành văn vì thế Hiến pháp và các
văn bản quy phạm pháp luật là nền tảng để xét xử. Việt Nam, trên cơ sở nguyên tắc
pháp chế xã hội chủ nghĩa nên chủ yếu áp dụng văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy
định khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật…”. Chính những quan điểm của nguyên tắc pháp
chế, thượng tôn pháp luật đã ngự trị trong tư duy của các Thẩm phán trong quá trình
xét xử cho nên một phần nào đó hạn chế và cản trợ việc áp dụng án lệ, phát triển án lệ.
Thứ hai, việc áp dụng án lệ tại Việt Nam hiện nay là khá mới nên sẽ khá bỡ ngỡ cho
các thẩm phán, hội thẩm để áp dụng án lệ trong quá trình xét xử. Mới đây ngày 06
tháng 4 năm 2016, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Quyết định số 220/
QĐ-CA quyết định về việc công bố 6 án lệ đầu tiên, các Tòa án nhân dân và Tòa án
12 Nguyễn Văn Cường, Bài tham luận tại Hội thảo “Án lệ trong hệ thống Thông luật và châu Âu lục địa: Hiến
kế cho việc xây dựng và áp dụng án lệ tại Việt Nam". Tổ chức tại Trường ĐH Luật TP.HCM 24/4/2014.

17


quân sự có trách nhiệm nghiên cứu, áp dụng 6 bản án lệ này trong xét xử kể từ ngày
01/06/2016 nhưng từ trước đến nay các thẩm phán và hội thẩm chưa từng được áp
dụng án lệ trong quá trình xét xử. Cho nên để thẩm phán, hội thẩm có thể nhận định
được vụ việc tương tự, bảo đảm vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau là rất
khó khăn.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, Thẩm phán chưa thực sự ổn định, chuyên nghiệp; trình độ,
năng lực của đội ngũ cán bộ, Thẩm phán tuy đã được nâng lên một mức nhưng chưa
ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ và còn nhiều bất cập, hạn chế.
2.2. Những đề xuất nâng cao hiệu quả sử dụng án lệ tại Việt Nam
2.2.1. Trao quyền giải thích luật, pháp lệnh cho Tòa án nhân dân tối cao
Nên giao cho Tòa án nhân dân tối cao thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh, và ban
hành án lệ. Giải thích luật, pháp lệnh và ban hành án lệ là hai hình thức khắc phục sự
hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật. Hai hoạt động này độc này độc lập với nhau,
trong khi giải thích pháp luật được thực hiện bằng hình thức ban hành văn bản quy
phạm pháp luật. Còn án lệ được thực hiện bằng cách đưa ra những lập luận và giải
thích để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau, quy định chưa rõ
ràng. Việc ban hành án lệ không thay thế hoạt động giải thích pháp luật mà nó hỗ trợ
thêm cho hoạt động này.
Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 74 Hiến pháp năm 2013 có quy định về quyền hạn của
Ủy ban thường vụ Quốc hội trong đó có quyền giải thích luật, pháp lệnh. Nhưng thực
tiễn cho thấy Hội đồng Nhà nước thực hiện duy nhất một lần giải thích pháp luật tại
Công văn số 94/HDDNN7 ngày 30/03/1987 về giải thích việc “Tước danh hiệu quân
nhân” theo Điều 71 Bộ luật Hình sự năm 1985. Còn Ủy ban thường vụ Quốc hội chưa
từng ban hành Nghị quyết nào hướng dẫn áp dụng pháp luật. Trong khi đó, thực tiễn
hoạt động của ngành Tòa án nhân dân cho thấy, TANDTC ban hành Công văn hướng
dẫn áp dụng pháp luật và Kết luận Hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án nhân dân.
Đây là những văn bản có nội dung hướng dẫn hoặc giải đáp từng vấn đề cụ thể để đáp
ứng nhu cầu áp dụng pháp luật, giải quyết kịp thời những vướng mắc, bất cập trong
thực tiễn xét xử. Nhưng theo quy định của pháp luật thì TANDTC không có thẩm
quyền giải thích luật, pháp lệnh, đồng thời, Công văn hướng dẫn không là văn bản quy
phạm pháp luật cho nên các Thẩm phán không được viện dẫn vào bản án mặc dù vẫn

18


áp dụng tinh thần hướng dẫn của Công văn để giải quyết vấn đề mà được Công văn
giải thích, hướng dẫn13.
Thực tiễn cho thấy, cơ quan như Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền giải thích
luật, pháp lệnh nhưng trên thực tế, khi gặp những trường hợp mà luật quy định chưa rõ
hoặc chưa điều chỉnh, rất ít khi cơ quan này ra văn bản giải thích còn Tòa án nhân dân
tối cao thật sự cần thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh nhưng lại không được trao
quyền. Nhìn chung, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã có quá trình giải thích pháp luật
trong hoạt động xét xử của ngành Tòa án cho nên sẽ có kinh nghiệm, chuyên môn hơn
và việc giải thích pháp luật sẽ là nền tảng, bổ trợ cho việc ban hành án lệ. Vì vậy, tác
giả cho rằng nên sửa đổi quy định pháp luật theo hướng trao cho Tòa án nhân dân Tối
cao thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh và ban hành án lệ như vậy mới phù hợp với
thực tiễn.
2.2.2. Nâng cao trình độ thẩm phán
Thẩm phán là người có vai trò hết sức quan trọng trong việc sử dụng án lệ, họ là người
trực tiếp xây dựng và sử dụng án lệ. Tuy nhiên, hiện nay trình độ chuyên môn của
Thẩm phán còn hạn chế, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và nhất là
Thẩm phán còn chậm được đổi mới, chưa gắn với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ nhu cầu của sự nghiệp đổi mới chính điều
đó phần nào ảnh hưởng đến chất lượng của bản án, quyết định. Thực trạng xét xử cho
thấy chất lượng bản án, quyết định của Tòa án địa phương ở nước ta còn thấp. Cụ thể
trong năm 2014, tỉ lệ án hình sự bị hủy là 0,6% (nguyên nhân chủ quan 0,36%), đối với
các vụ việc dân sự tỉ lệ bản án, quyết định bị hủy là 0,1% (nguyên nhân chủ quan là
0,9%), tỉ lệ này đối với các vụ án hành chính là 4,64% (nguyên nhân chủ quan là
3,77%). Đặc biệt nguyên nhân chủ quan luôn chiếm tỉ lệ rất cao trong tổng số bản án,
quyết định bị hủy14. Đáng lưu ý, trong một số vụ án hình sự, việc xác định tội danh,
đánh giá chứng cứ, quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt… được thực hiện chưa
chính xác do lỗi chủ quan về năng lực cũng như nhận thức của các thẩm phán. Một số

13 Ngô Cường (2013), “Sự cần thiết ban hành án lệ, thống nhất áp dụng pháp luật trong ngành Tòa án nhân dân”,
Tạp chí Tòa án Nhân dân, số 7/2013, tr.14
14 Tòa án nhân dân tối cao, “Tài liệu Hội nghị triển trai công tác Tòa án nhân dân năm 2015”, Hà Nội, tháng 01
năm 2015, tr.3

19


cán bộ, công chức, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, trình độ năng lực còn yếu,
chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ15.
Tại Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã chỉ rõ,
nguồn của án lệ là bản án của Tòa án các cấp. Do đó, Thẩm phán cần có trách nhiệm
trong việc tự trao dồi, nâng cao kỹ năng bản thân, trình độ, đạo đức nghề nghiệp… Đổi
mới và xây dựng hệ thống chính sách đãi ngộ đói với đội ngũ cán bộ, Thẩm phán (nhất
là chính sách tiền lương, nhà ở và các chế độ, chính sách đặc thù) một cách nhất quán,
công bằng, có lý có tình, thống nhất trong phạm vi toàn ngành và giữa các loại Thẩm
phán thực sự khuyến khích những Thẩm phán có tài, trân trọng những Thẩm phán có
thành tích phù hợp với điều kiện chung của đất nước, của ngành. Bên canh đó, lãnh đạo
Tòa án các tỉnh, thành phố cần hết sức quan tâm, thường xuyên theo dõi, chỉ đạo công
tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị,
ngoại ngữ, tin học, kỹ năng xét xử cho đội ngũ Thẩm phán 16 để nâng cao hơn nữa kỹ
năng cũng như vận dụng các căn cứ pháp lý, phân tích, lập luận để viết những bản án
chuẩn mực, chung tay cùng TANDTC tạo nguồn án lệ.
2.2.3. Sử dụng án lệ trong công tác giảng dạy và đào tạo
Tính tới thời điểm hiện nay, án lệ được bắt đầu áp dụng trong hoạt động xét xử tại Việt
Nam điều đó đòi hỏi chúng ta cũng cần có sự thay đổi trong cách thức giáo dục, giảng
dạy để cho sinh viên làm quen với án lệ ngay từ bậc học cử nhân, được như thế sẽ giúp
cho sinh viên chủ động hơn trong con đường nghề nghiệp sau này của mình.
Anh và Hoa Kỳ là hai quốc gia có án lệ phát triển nhất trên thế giới và án lệ cũng là
nguồn luật không thể thiếu trong hệ thống pháp luật của hai quốc gia này. Vì thế Hoa
Kỳ có phương pháp giáo dục chú trọng thực tiễn, thông qua một hoặc một số sự việc để
đúc kết những vấn đề pháp lý quan trọng để từ đó sinh viên phải có cách lý giải riêng
của mình17. Chính từ những tình huống thực tế sẽ mang tính chân thực gần gũi, đa
dạng, trực quan sẽ mang lại hứng thú và giúp sinh viên nhớ lâu hơn.
15 Thế Kha, “Chủ tịch nước: Không được để xảy ra oan sai và bỏ lọt tội phạm”, http://dantri.com.vn/su-kien/chutich-nuoc-khong-duoc-de-xay-ra-oan-sai-va-bo-lot-toi-pham-1422309465.htm, truy cập ngày 01/06/2016
16 Đỗ Thị Thúy Hà, Một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao,
http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?
p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id=29327003, truy cập ngày 01/06/2016
17 Huỳnh Ngọc Thúy Tiên (2013), Những thách thức đối với việc phát triển án lệ tại Việt Nam, Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân Luật, Trường đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, tr.62

20


Từ mô hình giảng dạy của Hoa Kỳ, Việt Nam có thể vận dụng vào công tác đào tạo,
giảng dạy bằng cách tăng cường đưa các án lệ vào nghiên cứu và giảng dạy cho sinh
viên, đưa các án lệ vào trong giáo trình tài liệu. Phương pháp giảng dạy tình huống này
sẽ giúp sinh viên rèn luyện tư duy pháp lý, thông qua việc tìm hiểu phương pháp lập
luận, tìm ra cách giải quyết vấn đề tối ưu nhất cũng như khả năng chuẩn bị tốt về nội
dung cho việc thực hành tranh tụng18 những kỹ năng cần thết này sẽ phục vụ thiết thực
cho công việc sau này.
2.2.4. Nâng cao nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
Theo khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 có quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét
xử được bảo đảm”. Trên tinh thần triển khai thi hành Hiến pháp, nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử được ghi nhận trong các bộ luật tố tụng mới hiện nay tại Điều 24 BLTTDS
năm 2015, Điều 14 BLTTHC năm 2015, Điều 26 BLTTHS năm 2015.
Trong phiên toà, phần tranh tụng luôn là phần được mong đợi nhưng đáng tiếc là hiện
nay vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập, quá trình tranh tụng vẫn diễn ra đúng thủ tục mà
pháp luật quy định nhưng dường như không mấy hiệu quả. Có những phiên toà, thẩm
phán thiếu trách nhiệm, không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, cẩu thả trong công tác chuẩn
bị phiên tòa, trong phiên tòa cũng như trong viết bản án, đánh giá chứng cứ không đầy
đủ, không chính xác nên xét xử oan người không có tội, vi phạm nghiêm trọng thủ tục
tố tụng hình sự, không áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật hoặc các hướng dẫn
phải áp dụng trong công tác xét xử... Ngược lại, có những trường hợp do đánh giá
chứng cứ không chính xác, nhận thức không đầy đủ về quy định của pháp luật nên lẽ ra
phải kết án đối với bị cáo lại tuyên bị cáo không có tội 19. Thực tế cũng cho thấy nhiều
khi lập luận của luật sư hợp lí và xác đáng nhưng kết luận của toà án cũng không có gì
thay đổi.
Theo Nghị quyết 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã quy định
nguồn của án lệ là bản án của Tòa án các cấp. Vì vậy, để hạn chế tình trạng các phán
quyết của tòa án mang tính chủ quan, cảm tính hoặc một chiều cần mở rộng vai trò của
18 Trần Thăng Long (2012), “Vai trò của án lệ đối với sự phát triển của pháp luật quốc tế và sự cần thiết của việc
sử dụng án lệ vào nghiên cứu và giảng dạy Luật quốc tế ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Khoa học pháp lý , số
4/2012, tr.62
19 Nguyễn Kim Chi – Giảng viên Học viện Tư pháp, “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng
trong phiên tòa hình sự”, http://vietrustlaw.com.vn/home/index.php?
option=com_content&task=view&id=632&Itemid=0, truy cập ngày 04/06/2016

21


luật sư bào chữa ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, tạo điều kiện cho bị
cáo, người tham gia tố tụng khác tranh tụng bình đẳng tại phiên tòa, tại phiên tòa, thẩm
phán giữ vững vai trò trung lập, tìm ra sự thật của vụ án nhưng không phải với vai trò
chủ động thẩm vấn, buộc tội mà sẽ để các bên tự buộc tội và gỡ tội. Tòa án có thể hỏi
thêm về bất cứ vấn đề gì chưa rõ qua quá trình tranh luận, nhưng không nên tích cực
chủ động tham gia vào quá trình buộc tội hay gỡ tội, mỗi thẩm phán khi đưa ra phán
quyết cần độc lập đưa ra lý lẽ của mình.
2.2.5. Cần có bình luận kèm theo án lệ
Ở các nước theo hệ thống Dân luật thì việc bình luận án trên tạp chí, báo chuyên ngành
khá là phổ biến. Việc bình luận án sẽ giúp cho các thẩm phán, luật sư, những người sử
dụng án lệ có thể dễ dàng tiếp cận, hiểu rõ hơn những tình tiết sự kiện trong án lệ từ đó
có thể dễ dàng nhận định vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau để áp dụng án
lệ hiệu quả nhất.
Ở Pháp các án lệ của Tòa Hành chính Tối cao thường xuyên xuất hiện trên các báo và
tạp chí chuyên ngành. Hầu hết phần bình luận với các quan điểm khoa học có nội dung
rộng hơn nội dung bản án do tòa công bố. Tương tự, nhiều quyết định quan trọng của
tòa án khác cũng được các chuyên gia viết bài bình luận trên báo. Các bài bình luận
mang tính học thuật nhưng nếu có quan điểm của quan chức nhà nước, thẩm phán thì
sức thu hút đối với người đọc cao hơn.
Ở CHLB Đức, các tạp chí, báo chuyên ngành thường xuyên tổ chức lấy ý kiến bình
luận án lệ của tòa. Ở nước này, chỉ có Tòa án Hiến pháp Liên bang mới được công bố ý
kiến khác nhau của các thẩm phán trong HĐXX. Việc bình luận có ý đối ngược lại ý
kiến của Tòa án Hiếp pháp rất thu hút người đọc. Ngoài ra, nhiều lĩnh vực pháp luật
khác cũng được tạp chí, báo chuyên ngành tổ chức nghiên cứu, so sánh như so sánh
pháp luật về hợp đồng ở Đức với các nước Anh, Pháp. Một điểm đáng chú ý là các luật
gia, thẩm phán rất cởi mở, nhiệt tình trong việc tìm hiểu, giải đáp pháp lý cũng như
bình luận án20.
Từ 6 án lệ đầu tiên đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua
ngày 06/4/2016 có thể thấy rằng các án lệ có phần “Khái quát nội dung án lệ” và “Nội
20 Án lệ: Công bố kết hợp bình luận, http://www.luatsurieng.com/tin-tuc-phap-luat/464-%C3%A1n-l%E1%BB
%87-c%C3%B4ng-b%E1%BB%91-k%E1%BA%BFt-h%E1%BB%A3p-b%C3%ACnh-lu%E1%BA
%ADn.html, truy cập ngày 05/06/2016

22


dung án lệ” đây là phần quan trọng mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
lập luận để làm rõ những tình tiết mà đã được lựa chọn phát triển thành án lệ. Nhưng
phần lập luận này của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao còn khá ít, chưa
thật sự chi tiết. Vì vậy, để án lệ thật sự dễ hiểu, dễ tiếp cận thì kèm theo án lệ nên công
khai cả những bình luận khoa học chuyên sâu, có chất lượng. Những bình luận này
nhằm làm rõ hơn các vấn đề pháp lý quanh nội dung vụ việc để tăng tính hướng dẫn
thống nhất của án lệ. Các bình luận không được làm sai lệch giá trị và tính đúng đắn
của án lệ đã được chọn lựa, công bố. Tòa án nhân dân tối cao nên giao cho một bộ
phận trực thuộc cập nhật án lệ, đồng thời chủ động tổ chức các hoạt động bình luận án
lệ bằng việc mời các chuyên gia pháp lý, các thẩm phán có uy tín, kinh nghiệm tham
gia hội thảo. Khuyến khích các cán bộ tố tụng, luật sư, nhà nghiên cứu, các tạp chí
chuyên ngành pháp lý lựa chọn án lệ để bình luận. Tài liệu bình luận phải cập nhật
thành ấn phẩm riêng kèm theo bản án, được công bố định kỳ theo từng quý. Với những
họat động bình luận án lệ được đề xuất trên sẽ góp phần làm rõ những tình tiết của án
lệ để giúp việc nhận định những tình tiết tương tự trong những điều kiện hoàn cảnh
khác nhau thêm dễ dàng giúp việc áp dụng án lệ được chính xác nhất.

23


KẾT LUẬN
Trên cơ sở tìm tòi, suy nghĩ, tham khảo các tài liệu, bài tiểu luận đã trình bày những
vấn đề lý luận và thực tiễn đối với việc áp dung án lệ tại Việt Nam. Từ những phân
tích, lập luận trên tác giả đã làm rõ ra những khó khăn, thuận lợi trong việc áp dụng án
lệ hiện nay để từ đó đưa ra những đề xuất cho việc sử dụng án lệ được hiệu quả nhất
trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay. Tác giả mong rằng trong thời gian tới án lệ
sẽ phổ biến, phát triển để khắc phục những hạn chế mà hệ thống pháp luật đang tồn tại
hiện nay, phần nào hoàn thiện hệ thống tư pháp nước nhà.

24


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp 2013;
2. Bộ luật Dân sự năm 2015;
3. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015,
4. Bộ luật Tố tụng hành chính 2015;
5. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
6. Luật Tổ chức Tòa án Nhân dân 2014;
7. Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020;
8. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020;
9. Quyết định số 74/QĐ-TANDTC của Tòa án Nhân dân tối cao ngày 31/10/2012 về
việc phê duyệt đề án phát triển án lệ của Tòa án Nhân dân tối cao;
10. Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 về quy trình lựa chọn, công bố
và áp dụng án lệ;
11. Quyết định số 220/ QĐ-CA ngày 06/04/2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quyết định về việc công bố án lệ;
12. Đỗ Thanh Trung (2012), “Án lệ: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Khoa
học pháp lý, Số 4/2012, tr.64,65;
13. Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy (2009), “Vấn đề áp dụng án lệ ở Việt Nam”,
Tạp chí Luật học, số 5/2009, tr.39;
14. Đỗ Thanh Trung (2008), Án lệ và vấn đề thừa nhận án lệ ở Việt Nam hiện nay,
Luận văn thạc sĩ luật học, Trường đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh, tr.47;
15. Lê Văn Sua, “Án lệ và vai trò của án lệ trong hoạt động xét xử của Tòa án”,
http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1867, truy cập
ngày 22/06/2015;
16. Nguyễn Văn Cường, Bài tham luận tại Hội thảo “Án lệ trong hệ thống Thông luật
và châu Âu lục địa: Hiến kế cho việc xây dựng và áp dụng án lệ tại Việt Nam". Tổ chức
tại Trường ĐH Luật TP.HCM 24/4/2014;

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×