Tải bản đầy đủ

TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA TRIẾT GIA ARISTOTLE

LỜI NÓI ĐẦU
Tư tưởng nhà nước pháp quyền là tư tưởng lịch sử được phát triển ngay từ thời
kỳ cổ đại cả ở phương Đông và phương Tây. Ở phương Đông cổ đại có thể nhắc đến
những nhà triết gia với tư tưởng pháp trị đặt nền mống đầu tiên như: Quản Trọng,
Thương Ưởng, Hàn Phi, Lão Tử, Khổng Tử… Ở phương Tây cổ đại với mong
muốn xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng, tinh thần thượng tôn pháp luật phải kể
đến các triết gia như: Solon, Heraclitus, Socrates, Plato, Aristotle… Lập luận của
các triết gia cổ đại là cơ sở cho sự phát triển và hoàn thiện tư tưởng nhà nước pháp
quyền hiện nay. Ngày nay, tư tưởng nhà nước pháp quyền ngày càng phát triển và
rộng khắp hơn trên cả thế giới.
Việt Nam trước yêu cầu đổi mới đất nước rất quan tâm đến việc xây dựng hệ
thống chính trị, kiện toàn bộ máy nhà nước vững mạnh trong sạch, có hiệu quả. Chủ
trương xây dựng nhà nước pháp quyền cũng được biết đến lần đầu tại Hội nghị lần
thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (ngày 29/11/1991), sau đó tiếp
tục được khẳng định trong các văn kiện khác của Đảng và Nhà nước. Gần đây, Hiến
pháp năm 2013 tại khoản 1 Điều 2 tiếp tục khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do
Nhân dân, vì Nhân dân”. Có thể thấy, Việt Nam cũng đã và đang xây dựng và hoàn
thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trong bài tiểu luận này, tác giả đi sâu tìm hiểu và đưa ra những quan điểm, tư
tưởng mang dấu ấn nhà nước pháp quyền của nhà triết gia Aristotle là một trong

những người đặt nền mống cho tư tưởng nhà nước pháp quyền ngày nay. Tác giả sẽ
chỉ rõ những đặc điểm cơ bản về nhà nước pháp quyền từ đó nêu bật những tư
tưởng chính trị tiến bộ, sơ khai của Aristotle chứa đựng tư tưởng pháp quyền tiêu
biểu thời kỳ cổ đại mà thực tiễn hiện nay vẫn thừa nhận. Những kiến thức trong bài
tiểu luận này sẽ là nguồn tài liệu cho việc nghiên cứu, học tập, tham khảo những nội
dung liên quan đến triết học thời kỳ Hy Lạp cổ đại và những tư tưởng nhà nước
pháp quyền.
Tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, dựa trên
chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để nghiên cứu các vấn đề một cách toàn diện và cụ
thể. Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phương pháp so sánh, phân tích, tổng
hợp, phương pháp đánh giá, nhận xét để đảm bảo tính logic những vấn đề được nghiên cứu trong
bài tiểu luận này.

1


CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA ARISTOTLE
1.1.
Sơ lược về cuộc đời của Aristotle
Aristotle (384 – 322 TCN) là một trong những triết gia vĩ đại thời Hy Lạp cổ
đại. Ông sinh tại Stagira, một thị trấn nhỏ phía đông thành phố Salonica, sát biên
giới vương quốc Macedonia. Cha của Aristotle là ngự y của vua Macedonia, vì thế
từ nhỏ ông đã có tất cả các cơ hội để học hỏi, phát triển kiến thức về thiên nhiên,
sinh học qua các tài liệu y học của cha. Mười bảy tuổi, Aristotle đến Athens du học.
Ông theo học tại học viện của Plato (427-347 TCN), tại học viện ông được hướng
dẫn bởi người thầy Plato. Từ một sinh viên thông minh, xuất chúng ông đã trở thành
trợ giáo của Plato tại học viện. Trong suốt 20 năm tại học viện, Aristotle đã nghiên
cứu đủ mọi học thuật như triết học, khoa học tự nhiên, logic học, văn học, sinh vật
học, chính trị học và rất nhiều lĩnh vực khoa học khác. Đó là lý do Aristotle được ví
như nhà bách khoa.
Tuy là môn đệ có thời gian gắn bó với Plato và học viện gần hai thập kỷ, nhưng
giữa thầy Plato và trò Aristotle vẫn có sự bất đồng về một số lý luận triết học. Năm
347 TCN, Plato qua đời, sau khi Plato qua đời vì không phục với người kế nhiệm
làm Viện trưởng của học viện và quê hương Stagira của ông bị quân đội vua Philip
xứ Macedonia tiêu diệt khiến ông mất quê hương, vì vậy Aristotle từ giã Athens
cùng người bạn đồng môn Xenocrates du hành đây đó và để muốn áp dụng tri thức
bản thân học được vào đời sống. Aristotle cùng với Xenocrates đi khắp bán đảo Hy
Lạp nhằm truyền bá học thuật của Plato. Khi đến Troad, ông và Xenocrates cùng hai
người bạn Erastus và Coriscus thành lập một Học viện chính trị tại đô thành Troad
của vị vua độc tài Hermias, học viện thu hút các học sinh từ các miền lân cận theo


học. Aristotle trở thành bạn thân của Hermias và được nhà vua gả cháu gái làm vợ.
Một thời gian sau, Aristotle được vua Philip mời đến Pella thủ đô xứ Macedonia
để dạy học cho hoàng tử Alexander từ lúc ông hoàng này 13 tuổi cho đến khi 19
tuổi. Sau khi Alexander lên làm vua và bắt đầu chinh chiến đã thôn tính hàng trăm
tiểu quốc, thống nhất Hy Lạp.
Năm 335 TCN, Aristotle về Athens mở trường Lyceum và dành hầu hết phần
đời còn lại cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại trường và viết sách. Năm 323 TCN,
Alexander qua đời, nhân cơ hội này Athens tuyên bố chiến tranh với Macedonia
nhằm đòi lại tự do. Aristotle rời Athens sang xứ Chalcis tị nạn và sau đó ông qua
đời tại đây vào năm 322 TCN.
2


1.2.
Sơ lược sự nghiệp của Aristotle
Sự nghiệp sáng tác của Aristotle trải qua ba thời kỳ chính: thời kỳ Athens lần
thứ nhất hay thời kỳ Hàn lâm viện chịu ảnh hưởng trực tiếp tư tưởng Plato; thời kỳ
viễn du phê phán một số luận điểm của triết học Plato; thời kỳ Athens lần thứ hai
(những năm cuối đời) mở trường phái triết học ở Lyceum.
Aristotle viết khoảng 200 tác phẩm với khoảng hàng nghìn cuốn sách gồm các
bài viết phổ thông, các sách ghi chép và các luận đề. Có thể phân loại di sản của
Aristotle theo ba nhóm:
Nhóm thứ nhất, các khoa học lý thuyết, lấy tri thức làm đối tượng (siêu hình
học, vật lý học, toán học, logic học, thiên văn, khí tượng, thực vật học) với các tác
phẩm như The Categories (Các loại), On Interpretation (Về cách diễn đạt), The
Prior and Posterior Analytics (Các phân tích trước và sau), Meteorology (Khí tượng
học), On the Heavens (Về bầu trời). Aristotle là nhà triết học đầu tiên đã phân tích
phương pháp suy diễn theo luận lý là đúng căn cứ vào các luận đề khác đã được
công nhận. Tiến trình suy diễn luận lý này được đặt trên một hình thức tranh luận
ông gọi là tam đoạn luận và tam đoạn luận đã giữ một vai trò quan trọng trong nền
triết học sau này. Về thiên văn, Aristotle cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ,
được tạo nên từ những chất cụ thể là đất, không khí, lửa, nước. Ngoài ra, ông còn là
nhà sinh vật học đầu tiên của thế giới, ông đã thu thập rất nhiều mẫu động vật và
thực vật, tìm hiểu các đặc tính, các yếu tố liên quan đến đời sống sinh vật.
Nhóm thứ hai, các khoa học thực hành, lấy hành động làm đối tượng (đạo đức
học, chính trị học, kinh tế học) gắn với các tác phẩm Politics (Chính trị học),
Nicomachean Ethics (Đạo đức học), Economics (Kinh tế học). Theo Aristotle Đạo
đức học và Chính trị học đều khảo cứu kiến thức thực tế, là hiểu biết cho phép con
người hành động đúng cách và sống hạnh phúc. Về chính trị, Aristotle khảo sát sự
liên quan giữa lý tưởng, luật pháp, tập quán và tài sản trong các trường hợp thực tế.
Nhóm cuối cùng là các khoa học sáng tạo lấy những gì hữu ích, gây ấn tượng
do con người sáng tạo ra làm đối tượng (nghệ thuật, thi ca, các khoa học ngôn ngữ,
hoạt động kỹ thuật) tiêu biểu với các tác phẩm Rhetoric (Tu từ pháp), Poetics (Thơ
phú). Những tác phẩm này, Aristotle khảo cứu bản chất của bi kịch (bi kịch Oedipus
Rex của Sophocles), ông cho rằng bi kịch đã ảnh hưởng tới khán giả do gợi lên cảm
xúc như sợ hãi, thương xót và cách tẩy sạch những xúc động này được ông gọi là
“carthasis”.

3


Aristotle đã để lại một kho tàng tri thức khổng lồ không chỉ triết học mà còn rất
nhiều ngành khoa học khác nữa. Ảnh hưởng của Aristotle không chỉ giới hạn tại Hy
Lạp mà cả thế giới và còn có giá trị đến hiện nay.
CHƯƠNG 2. TƯ TƯỞNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA ARISTOTLE
2.1.
Khái niệm nhà nước pháp quyền
Hiện chưa có khái niệm đầy đủ, đúng về nhà nước pháp quyền. Tùy vào góc độ
nghiên cứu, nội dung, mục đích khác nhau mà từ đó đưa ra những khái niệm khác
nhau. Có người đưa ra khái niệm nhà nước pháp quyền nhìn từ góc độ thực tiễn, có
người lại tiếp cận dưới góc độ cụ thể, có người lại liệt kê các dấu hiệu đặc trưng:
như quan hệ pháp quyền với dân chủ; kiểm soát đối trọng quyền lực giữa lập pháp,
hành pháp, tư pháp; giữa pháp quyền với quyền con người… Dưới đây là một số
khái niệm về nhà nước pháp quyền.
Theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ nhà nước pháp quyền là cơ chế đảm bảo cho
sự vận hành hợp lý và hiệu quả của hệ thống pháp luật nhằm giúp các cá nhân trong
xã hội có thể hợp tác và theo đuổi những kế hoạch phát triển của mình.
Học thuyết pháp quyền của Đức nhấn mạnh đến nguyên tắc phân chia quyền
lực trong tổ chức bộ máy nhà nước, củng cố cơ chế tiếp cận công lý và bảo đảm
quyền con người.
Trên phương diện thực tiễn, có thể xem nhà nước pháp quyền là phương thức tổ
chức dân chủ của quyền lực nhà nước mà theo đó pháp luật là cơ sở cho việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ của mọi chủ thể khác có trong xã hội.1
Đối với học thuyết đương thời, nhà nước pháp quyền là một nhà nước mà trong
mối quan hệ với công dân của mình, phải phục tùng một chế độ pháp trị. Trong một
quốc gia cụ thể, quyền lực chỉ được sử dụng theo các cách thức được phép bởi trật
tự pháp lý hiện hành, trong khi những người bị trị có cách thức cầu viện tài phán
xét.2
Nhà nước pháp quyền là nhà nước có các tiêu chí sau: Thứ nhất, Luật pháp giữ
vị trí tối cao đối với nhà nước và xã hội. Thứ hai, Nhân dân là chủ thể quyền lực
nhà nước. Thứ ba, Nhà nước đảm bảo thực hiện quyền con người, quyền công dân.
Thứ tư, Có sự phân quyền rõ ràng giữa quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thứ
1 Lê Tuấn Huy,2006, Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng NNPQ Việt Nam, NXB Tổng Hợp
TpHCM, trang 143 -144.
2 Ngô Huy Cương, 2006, Dân chủ và pháp luật dân chủ, NXB Tư Pháp, Hà Nội, trang 54.

4


năm, Nhà nước có khả năng cao nhất trong việc chống lại xu hướng độc quyền về
quyền lực và xu hướng quan liêu hóa bộ máy quyền lực.3
Tại hội nghị quốc tế họp tại Benin (9/1991) với sự tham gia của 40 nước đã đưa
ra khái niệm chung về nhà nước pháp quyền: “Nhà nước pháp quyền là một chế độ
chính trị mà ở đó nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật và nghĩa vụ của tất
cả, của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, các quy trình, các quy phạm
pháp luật được bảo đảm thực hiện bằng một hệ thống tòa án độc lập. Nhà nước pháp
quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao nhất của con người và bảo đảm cho công
dân có khả năng, điều kiện chống lại sự tùy tiện của pháp luật cũng như các hoạt
động của bộ máy nhà nước. Nhà nước pháp quyền phải bảo đảm cho công dân
không bị đòi hỏi bởi những cái ngoài Hiến pháp và pháp luật quy định. Trong hệ
thống pháp luật thì Hiến pháp giữ vị trí tối cao và nó phải được xây dựng dựa trên
cơ sở bảo đảm quyền tự do và quyền công dân.4
Văn kiện Đại hội VII khẳng định “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công
dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật.5
Tuy có rất nhiều các quan điểm khác nhau về khái niệm nhà nước pháp quyền
nhưng giữa các khái niệm đó có nội hàm chung giống nhau về cơ bản đó là: Nhà
nước pháp quyền là nhà nước thượng tôn pháp luật và bảo đảm dân chủ.
Thượng tôn pháp luật tức là trong hệ thống pháp luật thì Hiến pháp là đạo luật
có giá trị pháp lý cao nhất mà các văn bản quy phạm pháp luật không được trái với
nội dung và tinh thần của Hiến pháp. Không ai, chủ thể nào đứng trên pháp luật.
Mọi chủ thể, trong đó có cả những người nắm trong tay quyền lực nhà nước cũng
phải tuân thủ pháp luật.

3 PGS,TS Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên): Quốc hội Việt Nam trong nhà nước pháp quyền,Nxb Đại học quốc
gia Hà Nội, Hà Nội, 2007, tr.63-67
4 Trần Thị Cúc-Nguyễn Thị Phượng, 2007, Câu hỏi và hướng dẫn trả lời môn Lí luận chung về Nhà nước và
pháp luật, NXB Tư Pháp, trang 116.
5 Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng.

5


Bảo đảm dân chủ được hiểu là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhà
nước phải đảm bảo các quyền cơ bản nhất quyền con người, quyền công dân. Nhà
nước đảm bảo nhân dân làm chủ, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, có cách
thức hợp lý trong việc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước để đảm bảo dân
chủ, công bằng, bình đẳng.
2.2.
Những tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền của Aristotle
Tư tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền trong thời kỳ cổ đại phương Tây cũng
đã phần nào được thể hiện trong những tư tưởng của Aristotle. Tác giả, sẽ đi phân
tích, làm rõ những tư tưởng, quan điểm về chính trị của Aristotle chứa đựng tư
tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền, đặt nền móng cơ bản, đầu tiên của nhà triết
gia đại tài thời kỳ Hy Lạp cổ đại này trên hai khía cạnh thượng tôn pháp luật và đảm
bảo dân chủ.
2.2.1. Những tư tưởng của Aristotle thể hiện
tinh thần thượng tôn pháp luật
Aristotle đã tiến hành so sánh các mô hình nhà nước trong thực tiễn thời kỳ Hy
Lạp cổ đại, chính sự phân tích đó đã thể hiện phần nào tư tưởng pháp quyền của
ông.
Thứ nhất, Xây dựng mô hình nhà nước lý tưởng theo Aristotle – Mô hình Hiến
định.
Aristotle đã lần lượt phân tích về các nhà nước lý tưởng của Socrates, Plato, mô
hình nhà nước của Hippodamus, so sánh mô hình của Sparta, Crete và Carthage để
tìm ra được mô hình nhà nước lý tưởng nhất.
Aristotle phân tích mô hình nhà nước theo quan điểm của Socrates và Plato.
Ông phản đối mô hình nhà nước của Socrates và Plato trong cuốn Cộng hòa và
Pháp luật đó là mô hình mà ở đó mọi công dân đều có chung của cải vật chất và
chung cả vợ và con.
Theo quan điểm của Aristotle, khi công dân sở hữu chung tài sản, họ có sự bình
đẳng hóa về tài sản chính điều này sẽ giúp cho công dân khỏi sự cạnh tranh, gây gỗ
lẫn nhau. Nhưng khi tài sản là của chung thì sẽ không ai bảo quản, giống như “cha
chung không ai khóc”. Khi đó, những nhà quý tộc sẽ bất mãn vì họ xứng đáng được
hưởng nhiều hơn sự bình đẳng về tài sản, chính đây sẽ là nguyên nhân gây ra loạn
lạc và cách mạng. Đặc biệt nếu tài sản đó là đất đai thì sẽ rất khó khăn khi chia chác
hoa lợi vì sẽ có tình trạng kẻ làm nhiều mà hưởng ít hoặc kẻ làm ít mà hưởng nhiều.
Do đó, tài sản nên thuộc sở hữu tư để mỗi người sở hữu tự có trách nhiệm với phần
6


đất đai của mình. Ngoài ra, về mặt tự nhiên, con người sinh ra đã có vị thế hoặc là
cai trị hoặc là bị trị, hoặc là người tự do hoặc là nô lệ. Chính điều đó, đã dẫn đến
một sự dân chủ quá mức, khiến ai cũng được phép trở thành người cai trị, người bị
trị thì có tư duy như người cai trị còn kẻ cai trị thì chậm lại bởi cái ách nặng nề của
kẻ bị trị. Aristotle phân tích việc sở hữu tư hoàn toàn là điều không thể, bởi vì cơ
cấu nhà nước là một cộng đồng mà cộng đồng thì tối thiểu phải có một chỗ chung.
Và giữa công dân không nên có chung mọi thứ hoặc không chung thứ gì mà nên có
chung một số điều nào đó thôi. Từ đó, Aristotle cho rằng mô hình của Socrates và
Plato chưa phải là mô hình lý tưởng, mà nên có công và tư giữa nhà nước và công
dân.
Aristotle tiếp tục phân tích mô hình của Hippodamus. Hippodamus là công dân
xứ Miletus, ông là người đã phát minh ra nghệ thuật quy hoạch thành phố và cũng
là người đã quy hoạch thành phố Piraeus. Nhà nước mà Hippodamus muốn quy
hoạch là một nhà nước có mười ngàn dân và được chia làm ba phần: một phần dành
cho dân thợ, một phần dành cho nông dân và phần còn laị dành cho lực lượng võ
trang để bảo vệ đất nước. Đất đai cũng chia ba phần: một phần là linh điền dùng để
tế tự, công điền dùng để nuôi quân và tư điền là tài sản của nông dân. Pháp luật
cũng chia làm ba loại kiện tụng: ẩu đả, gây thương tích, án mạng và duy trì duy nhất
một tòa án tối cao để tái thẩm những trường hợp mà tòa dưới đã xét xử không đúng.
Hippodamus đặc biệt thưởng cho những người đưa ra các sách lược cho quốc gia và
những sách lược đó phát triển thành luật. Aristotle không đồng tình với cách chia
công dân và cách chia đất đai. Bởi lẽ, mọi người đều được bình đẳng, đều có tiếng
nói trong chính quyền mà không cần phải phân chia như vậy. Nếu chia theo
Hippodamus thì người nông dân không được quyền mang vũ khí, người thợ thì
không được quyền mang vũ khí vừa không được đất đai như vậy họ có khác gì nô
lệ. Còn phần đất dành cho giai cấp quân nhân thì ai sẽ là người canh tác đất đai này
vì nếu quân nhân làm ruộng thì có khác gì nông dân. Còn nếu người nông dân phải
canh tác cả trên phần đất của mình và cả trên phần đất của quân nhân thì khi đó
người nông dân họ phải chịu thêm trọng trách vừa sản xuất đủ dùng cho gia đình
mình và phải vừa canh tác để nuôi quân nhân. Vì vậy, phân chia như vậy quá rối
rắm. Ông đề cao việc ghi chép chi tiết về tình trạng của một vụ xét xử, tức là nếu có
tội thì ghi là có tội, vô tội thì ghi là vô tội, không thể đi đến kết luận cũng phải ghi
là không thể kết luận. Nhưng ông phản đối cách biểu quyết của hội đồng để đi đến
kết luận ai đó có tội hoặc không và với tổ chức phiên tòa tái thẩm như vậy dễ dẫn
7


đến việc độc tài trong phiên tòa, tham nhũng, chạy án. Còn về việc vinh danh những
người có công khám phá ra những điều có lợi cho đất nước là một đề nghị nghe hay
nhưng rỗng tuếch và không thể nào biến thành luật được, luật lệ như vậy sẽ gây xáo
trộn chính trị vì sẽ có những kẻ chỉ điểm tố cáo những người có tư tưởng cải cách là
âm mưu làm loạn. Chính vì vậy, Aristotle cũng không tán thành với mô hình cai trị
của Hippodamus.
Aristotle tiếp tục đi phân tích các mô hình của Sparta, Crete và Carthage và ba
mô hình này đều có chung cơ cấu chính trị nhưng mô hình Carthage là tốt hơn hẳn,
người dân Carthage chưa bao giờ có cuộc nổi loạn nào và chưa từng bị một kẻ bạo
chúa nào cai trị bởi người dân Carthage luôn trung thành với Hiến pháp.
Sparta là thành bang cho phép phụ nữ được sống một cách phóng túng, điều này
đã làm hỏng đi ý định của Hiến pháp, khi Sparta muốn đất nước trở nên mạnh mẽ
và điều độ nên đã áp dụng các luật lệ lên đàn ông nhưng lại quên chú ý đến phụ nữ
để cho họ sống phóng túng nên khi bắt buộc phụ nữ tuân theo luật lệ thì bị họ phản
đối kịch liệt, dữ dội chính như vậy làm cho cơ cấu chính trị lộn xộn. Sparta rất coi
trọng đức tính quân nhân. Ngân khố không còn tiền bạc vì nhà nước phải lo chiến
phí, dân lại không muốn đóng thuế. Chính điều đó làm cho nhà nước nghèo đi và
người dân thêm tham lam từ đó làm cho Sparta ngày càng suy thoái.
Mô hình chính trị của Crete cũng gần giống như Sparta và Aristotle cho rằng
bản Hiến pháp của Sparta là bản sao chép của Crete. Cả Sparta và Crete đều thực
hiện chính sách bữa ăn chung. Crete khuyến khích mối quan hệ đồng giới, đàn ông
hạn chế ở chung với vợ để giảm dân số. Aristotle cho rằng hai mô hình trên có điểm
tiến bộ nhưng chưa phải là mô hình thật sự lý tưởng mà ông đang cố gắng xây
dựng.
Theo Aristotle mô hình của người Carthage được xem là mô hình chính trị tuyệt
hảo. Hiến pháp của Carthage dù được xây dựng trên quyền lợi quý tộc nhưng chính
quyền khá linh động trong từng hoàn cảnh: hoặc dân chủ hoặc tinh hoa. Khi nhà vua
và các trưởng lão cùng nhất trí về một vấn đề nào đó, họ sẽ xem xét việc nên hay
không nên đưa vấn đề đó ra toàn dân bàn thảo khi họ không nhất trí được với nhau,
khi đó nhân dân có quyền bàn thảo và quyết định các vấn đề đó như thường. Tuy
vẫn có nhiều khuyết điểm nhưng mô hình nhà nước Carthage được Aristotle ca ngợi
bởi mô hình này người dân có tinh thần thượng tôn pháp luật, trung thành với Hiến
pháp, việc lựa chọn quan chức dựa trên tài năng, tài sản và thể hiện được tính dân
chủ khi giải quyết những vấn đề cần đến việc trưng cầu ý dân.
8


Có thể thấy, qua quá trình phân tích các mô hình nhà nước, Aristotle đã đưa ra
nhận định con người có thể xây dựng cho mình một chế độ tốt nhất. Mô hình Hiến
định theo Aristotle là mô hình lý tưởng hơn cả, một nhà nước kết hợp giữa chế độ
Dân chủ và chế độ Quả đầu. Đó là nhà nước dân chủ trực tiếp, ở đó mọi người dân
đều được tham gia vào chính trị từ nghị luận việc công đến thi hành pháp luật cho
nên các chính sách không hoàn toàn đi theo quyết định của số đông, ở đó mọi người
dân thượng tôn pháp luật, tuân theo và làm theo các tôn chỉ của pháp luật như mô
hình của Carthage.
Để xây dựng được mô hình Hiến định thì nhà nước phải được xây dựng bởi lớp
trung lưu, họ là những người không quá giàu cũng không quá nghèo. Họ sẽ không
bị lòng tham chi phối vì họ không quá nghèo để thèm thuồng, ham muốn, đố kị của
cải vật chất của người giàu hay ham muốn của cải của những người trung lưu như
họ. Nếu một nước đa số là thành phần trung lưu thì là một nước có chế độ chính trị
tốt nhất, ổn định, bình đẳng nhất vì sự quyết định của giai cấp trung lưu sẽ đóng vai
trò then chốt, sẽ ngăn cản được các phần tử cực đoan của giai cấp giàu và nghèo.
Có thể thấy rằng, với việc đi phân tích các mô hình nhà nước thực tế của
Aristotle để tìm ra cho mình một nhà nước lý tưởng nhất – nhà nước Hiến định. Nhà
nước đặt Hiến pháp tối thượng, sự thượng tôn, phục tùng theo pháp luật của mọi
người dân được xem là mô hình lý tưởng hơn cả. Từ đó, nhận thấy được rằng với
mô hình nhà nước Hiến định theo tư tưởng của Aristotle xây dựng, một nhà nước
mà mọi người đều thượng tôn pháp luật đã thể hiện được tư tưởng nhà nước pháp
quyền.
Thứ hai, Chế độ chính trị do hiến pháp đặt ra là cơ cấu tối thượng.
Aristotle đã phân tích các chế độ chính trị khác nhau để thấy rõ các chế độ đúng
đắn và các biến thể sai lầm của các chế độ đó. Để rồi, Aristotle khẳng định cơ cấu
chính trị do hiến pháp đặt ra là cơ cấu tối thượng.
Theo Aristotle chế độ chính trị là cách thức tổ chức quốc gia theo cơ quan cai
trị. Và Aristotle đã chia ra các chế độ chính trị như sau:
Cơ quan cai trị nếu do một người nắm giữ được gọi là chế độ Quân chủ, nếu cơ
quan cai trị là do vài người nắm giữ gọi là Tinh hoa trị, còn đa số người nắm giữ
(gồm các công dân) gọi là chính quyền theo Hiến pháp. Những chính quyền nào
quan tâm đến phúc lợi chung của mọi người là chính quyền được thiết lập đúng đắn
còn những chính quyền nào chỉ lo cho quyền lợi của kẻ cai trị là chính quyền hủ

9


bại. Aristotle đưa ra quan điểm của mình là nên xây dựng cơ chế chính trị do Hiến
pháp đặt ra.
Tư tưởng của Aristotle cho rằng mục đích của quốc gia là nhắm tới một đời
sống tốt đẹp. Một quốc gia là sự kết hợp của gia đình và làng mạc thành một đời
sống toàn hảo và tự túc, công bằng và hạnh phúc. Từ đó, Aristotle đã tiến hành phân
tích các các cơ chế chính thể để tìm ra một cơ cấu chính trị thật sự có thể đạt được
mục đích của quốc gia.
Theo Aristotle nếu cai trị nhà nước do một người nắm giữ người này thường là
vua của đất nước – mô hình Quân chủ. Khi vua nắm chính quyền, người đứng đầu
đất nước nếu nhà vua là người luôn ra sức tăng cường quyền lực cho mình, thường
chỉ chăm lo quyền lợi của vương thất mà không chăm lo đến đời sống nhân dân,
luật pháp được lập ra theo ý định của vua. Chính điều đó không thể tạo ra sự bình
đẳng cho quốc gia ấy, không thể đem lại hạnh phúc cho công dân. Cho nên ông gọi
đó Bạo chúa là hình thức hủ bại của Quân chủ.
Nếu như cơ quan cai trị do vài người nắm giữ - chế độ Tinh hoa trị, những
người này là những người giàu có, có tài sản nên họ có thế lực để nắm chính quyền,
khi đó nếu họ chỉ lo cho quyền lợi của kẻ giàu và vì chức vụ trong chính quyền là
nơi vinh dự cho nên họ cứ muốn nắm giữ chức vụ này như thế không còn chỗ cho
số người còn lại. Giai cấp nghèo trong xã hội không được coi trọng, họ chỉ xứng với
cuộc đời nô lệ và ra sức phục vụ cho giai cấp giàu có. Chính quyền đó không công
bằng, đó là hình thức hủ bại của cơ chế Tinh hoa trị mà Aristotle gọi là hình thức
Quả đầu.
Còn nếu như để quần chúng đa số nắm giữ chính quyền, nếu số đông là những
người có tài năng và đức độ, khi được tổ chức tốt thì số đông sẽ ưu việt. Nhưng nếu
số đông đó là những người thấp kém về dân trí thì rất dễ dẫn đến tình trạng đối
nghịch và phản loạn, những cuộc đấu tố kinh hoàng, đưa ra những quyết định sai
lầm. Ngoài ra, khi chế độ này chỉ chăm lo cho đời sống, quyền lợi của dân nghèo thì
cũng rất có thể họ sẽ lấy tài sản của người giàu chia cho người nghèo. Và hình thức
hủ bại này Aristotle gọi là dân chủ.
Chính từ những phân tích của mình, Aristotle đã đưa ra chủ trương nên thiết lập
một cơ cấu chính trị do Hiến pháp đặt ra. Thành phần nắm quyền tối thượng không
phải là con người nắm giữ mà là Luật pháp vì con người luôn luôn để tư lợi và tình
cảm xen vào. Luật pháp sẽ tạo nên sự bình đẳng cho mọi người. Và khi quyền lực
tối cao của nhà nước là Hiến pháp và pháp luật, cơ cấu chính quyền nếu do quần
10


chúng, giới giàu có, kẻ tài năng hay thiểu số đứng đầu nhưng làm việc và đưa ra
phán quyết dựa trên Hiến pháp và pháp luật thì quốc gia mới đạt được mục đích là
mang đến sự công bằng, tốt đẹp.
Cụ thể, nếu chế độ Quân chủ có những vị vua họ cai trị đất nước theo luật pháp,
quyền lực nhà vua không được xem là tuyệt đối và được dân chúng thuần phục. Khi
đó, mô hình Quân chủ được xem là mô hình mẫu mực. Nếu mô hình do đa số dân
chúng tự do cai trị hoặc thiểu số người giàu cai trị mà mô hình đó được xây dựng
dựa trên sự bình đẳng bởi luật pháp, người nghèo không được có những lợi thế hơn
người giàu và không bên nào thống trị bên nào mà cả hai bên đều bình đẳng như
nhau. Hiến pháp là tối thượng, chế độ đó được vận hành theo luật pháp, con người
dùng luật pháp để cai trị thì khi đó nhà nước đó sẽ đạt được sự công bằng theo đúng
nghĩa là Aristotle đã đưa ra mà sẽ không rơi vào chế độ hủ bại là Quả đầu hoặc Dân
chủ.
Như vậy, theo Aristotle để có một chính quyền tốt cần có đó là sự tuân phục
luật pháp của công dân và luật pháp phải công chính. Dù nhà nước đó do một cá
nhân, thiểu số hay đa số cai trị nhưng nếu thành phần cai trị đó và mọi công dân đều
thực hiện theo pháp luật, nhà nước có pháp luật công chính, minh bạch thì cơ cấu
chính quyền xây dựng nên mới thực sự vững mạnh, tồn tại lâu bền.
Chính tư tưởng đặt quyền lực tối cao cho Hiến pháp và những người nắm giữ
quyền lực nhà nước cũng tuân thủ và thực hiện theo Hiến pháp và pháp luật, nhằm
đảm bảo xã hội công bằng, dân chủ của Aristotle đã thấy rõ ràng hơn những tư
tưởng xây dựng nhà nước pháp quyền đặt nền mống đầu tiên ngay trong thời kỳ cổ
đại mà đến hôm nay chúng ta vẫn kế thừa.
Thứ ba, Pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp.
Aristotle định nghĩa: “Hiến pháp là cách thức tổ chức cơ cấu chính quyền trong
một nước, cách thức phân bố quyền lực được ấn định, chủ quyền tối thượng được
xác định và mục tiêu tối hậu của quốc gia mà mọi cơ quan và toàn thể dân chúng
nhắm tới”.
Nói cách khác, Hiến pháp là cơ sở trên đó mọi luật pháp của quốc gia được ban
hành.
Hiến pháp do đại hội đồng, cơ quan có quyền lực tối cao có thẩm quyền quyết
định. Các nhà lập pháp phải nỗ lực xây dựng nền móng vững chắc dựa trên những
nguyên tắc tồn vong của nhà nước để từ đó làm ra luật, luật thành văn hay bất thành
văn bao hàm các yếu tố bảo vệ sự tồn tại của nhà nước.
11


Để ban hành ra pháp luật chân chính Aristotle đòi hỏi nhà lập pháp và nhà lãnh
đạo phải có sự nhận thức chính trị sâu sắc, phải tìm hiểu, biết được mô hình chính
trị nào là tốt nhất trên thực tế và mỗi cơ cấu chính trị nào thì phù hợp với điều kiện
của từng nước nào để xây dựng pháp luật phù hợp. Và khi đất nước có sự thay đổi
về chế độ, những khó khăn về chính trị, sự biến đổi về tự nhiên thì pháp luật có thể
vẫn lường trước và có biện pháp chữa trị những khiếm khuyến đó. Chính sự nhận
thức chính trị sâu sắc như vậy sẽ giúp những nhà lập pháp biết được hệ thống pháp
luật nào là tốt nhất và phù hợp nhất cho loại hiến pháp nào, bởi vì luật pháp phải
phụ thuộc vào Hiến pháp chứ không phải đi ngược lại.
Theo Aristotle, Hiến pháp phải ấn định cơ cấu chính trị của một nước và xác
định những cơ cấu cai trị, cũng như cứu cánh của mỗi cộng đồng chính trị. Luật
pháp là những quy định nhà chức trách dùng để điều hành nhà nước và để ngăn
ngừa những kẻ vi phạm cho nên luật pháp không nên bị nhầm lẫn với những nguyên
tắc của Hiến pháp. Cần phải biết được sự khác biệt giữa những mô hình Hiến pháp,
có bao nhiêu sự khác biệt giữa các loại mô hình chính quyền để có thể thực hiện
việc lập pháp cho phù hợp.
Đây là đặc trưng cơ bản để xây dựng hệ thống pháp luật trong nhà nước pháp
quyền hiện nay. Có thể thấy rằng những tư tưởng, quan điểm pháp quyền này đã
được Aristotle hình thành, xây dựng từ rất sớm và chính từ đó thế giới có một nhà
chính trị gia Aristotle đại tài, những tư tưởng của ông là bàn đạp vững chắc cho
những nhà triết gia sau này phát triển hoàn thiện hơn nhà nước pháp quyền.
2.2.2. Những tư tưởng của Aristotle thể hiện
tinh thần dân chủ
Thứ nhất, tư tưởng bình đẳng về quyền con người, quyền công dân.
Theo Aristotle mục đích tối hậu của quốc gia là nhắm tới một đời sống tốt đẹp.
Aristotle cho rằng một quốc gia không chỉ đơn thuần là một xã hội, được thành lập
nhằm ngăn ngừa tội phạm và nhằm mục đích giao thương. Đó là điều kiện cần thiết
nhưng chỉ có những yếu tố trên thì chưa đủ tạo thành một quốc gia. Mà một quốc
gia là sự kết hợp của gia đình và làng mạc thành một đời sống toàn hảo và tự túc,
một đời sống hạnh phúc và đức hạnh.
Aristotle đi phân tích về sự bình đẳng trong chế độ Dân chủ. Những người theo
chế độ Dân chủ cho rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng vì thế mọi người đều có
quyền ngang nhau và điều đó thể hiện sự công bằng. Những người theo chế độ Quả
đầu thì lại có quan điểm ngược lại nếu mọi người giàu nghèo khác nhau thì theo
12


công lý họ cũng có những quyền khác nhau, những người đóng góp cho nhà nước
một đồng không thể có ngang quyền với những người đóng góp một trăm đồng.
Theo Aristotle cả hai lập luận trên đều sai lầm và ông đã đưa ra nhận định:
“Mọi người như một quy luật, đều là những quan tòa không ngay thẳng khi phán
đoán những gì có liên quan đến quyền lợi riêng tư của mình”. Vì thế, đối với một
phía nếu con người không bình đẳng về phương diện tài sản chẳng hạn thì họ bị coi
là bất bình đẳng về mọi phương diện, còn đối với phía bên còn lại, nếu người ta
được coi như bình đẳng về một phương diện như sinh ra là người tự do thì họ được
coi như bình đẳng về mọi phương diện.
Aristotle bác bỏ lập luận xây dựng quốc gia dựa trên giai cấp xã hội theo chế độ
Quả đầu đó là sự không ngang quyền nhau dựa trên tài sản. Mà cần chú trọng đến
việc xây dựng một quốc gia mà cá nhân quốc gia đó có cuộc đời tốt đẹp, đáng sống.
Họ sẽ có quyền bình đẳng với nhau về các quyền cơ bản, quyền tự nhiên của con
người nhưng những người tài năng, có hành động cống hiến nhiều cho quốc gia thì
được thưởng và có vinh dự nhiều hơn. Và việc ưu ái dành cho họ là dựa trên tài
năng và công đóng góp.
Có thể thấy rằng, Aristotle đã có những tư tưởng công bằng, bình đẳng về các
quyền tự nhiên mà không phụ thuộc vào các tài sản của cá nhân đó. Và những ưu ái
mà nhà nước ban cho họ chỉ là những phần thưởng dành cho những người có tài
năng và đóng góp cho quốc gia để xây dựng một quốc gia hạnh phúc.
Bên cạnh đó, về khía cạnh quyền công dân Aristotle cũng có một số quan điểm
riêng. Theo Aristotle một nhà nước dân chủ phải thể hiện được là sự tự do, đấy là
đặc tính của sự dân chủ. Tự do theo Aritotle sẽ bao gồm: tự do về chính trị và tự do
về dân sự.
Tự do về chính trị là tất cả mọi người theo thứ tự đều là người cai trị và bị trị
mọi người đều có thể tham chính thông qua vào các chức vụ trong chính quyền. Sự
công bằng trong dân chủ là việc áp dụng sự bình đẳng theo đa số chứ không phải
theo tỉ lệ. Cho nên ý kiến đa số phải là ý kiến tối thượng và phải được mọi người
chấp nhận.
Tự do về dân sự là mọi người có quyền sống theo ý thích của mình, nhà nước
không có quyền xâm hại, ép buộc. Nếu không sống theo ý thích của mình thì đó là
dấu hiệu của một người nô lệ như vậy sẽ không tự do.

13


Tư tưởng bình đẳng về quyền con người, sự tự do về chính trị và dân sự của
Aristotle thật sự là những tư tưởng tiến bộ đã thể hiện được tư tưởng pháp quyền,
dân chủ.
Thứ hai, Tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước.
Trong thời kỳ cổ đại, Aristotle là người đầu tiên đề cập tới việc phân chia quyền
lực trong các nhà nước.
Ông cho rằng để đảm bảo sự công bằng trong dân chúng, để có những đạo luật
công bằng thì nhà nước phải được tổ chức liên quan đến ba ngành của chính quyền
là lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Nhà nước theo chế độ Dân chủ các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được
thể hiện:
Cơ quan lập pháp: Đại hội đồng là cơ quan đại diện về phương diện lập pháp.
Đại hội đồng sẽ có thẩm quyền tối cao quyết định mọi vấn đề quan trọng của quốc
gia như chiến tranh, hòa bình và là cơ quan có thẩm quyền ban hành các đạo luật.
Cơ quan hành pháp: bao gồm các cơ quan để chăm lo từng việc cụ thể trong nhà
nước như cơ quản lý thị trường, quản lý đất đai, cơ quan ngân khố nhà nước, quân
đội, thanh tra... Viên chức chính quyền phải từ dân và do dân bầu ra. Mọi người sẽ
tuần tự lãnh nhiệm vụ cai trị và bị trị, sự bổ nhiệm vào tất cả mọi chức vụ, ngoại trừ
những chức vụ đòi hỏi kinh nghiệm và khả năng đặc biệt phải được tiến hành qua
bốc thăm, tài sản không được đặt thành tiêu chuẩn để ứng cử hay bầu cử. Không ai
được giữ cùng một chức vụ hai lần hay nhiều hơn, ngoại trừ trường hợp đặc biệt của
những chức vụ trong quân đội. Nhiệm kỳ của tất cả mọi chức vụ được ấn định trong
một thời gian ngắn mà thôi. Người đứng đầu hành pháp sẽ không có thẩm quyền tối
cao nào về những vấn đề của quốc gia, còn nếu có thì chỉ trên một số ít vấn dề mà
thôi.
Cơ quan tư pháp: tất cả công dân hay quan tòa có khả năng được công dân bầu
ra sẽ xét xử tất cả mọi sự tranh tụng hoặc các trường hợp tranh chấp về những vấn
đề liên quan đến Hiến pháp hay những khế ước liên quan đến tư nhân.
Quan chức không được cai trị suốt đời, nếu một số quan chức được Hiến pháp
cổ đại cho cai trị suốt đời thì phải tước bớt quyền lực của những chức vụ đó và thay
đổi cách lựa chọn qua bốc thăm thay vì qua lá phiếu. Tất cả mọi người đều được
bình đẳng trong việc cai trị chính quyền, có nghĩa là người giàu không nên có nhiều
quyền hạn hơn người nghèo và không thể là người cai trị duy nhất mà quyền lực
phải được chia sẻ đồng đều cho tất cả giai cấp. Những người làm việc trong tòa án,
14


ủy ban, quốc hội, những người phục vụ cho chính quyền phải được trả lương.
Những quy định như vậy sẽ hạn chế đi quyền lực tập trung vào một người, tránh sự
lạm dụng quyền lực.
Tuy Aristotle là người đặt nền móng đầu tiên về việc phân chia quyền lực nhà
nước, hạn chế tập quyền nhưng những tư tưởng ấy mới chỉ dừng lại ở việc mô tả,
phân chia bộ máy nhà nước, chức năng của từng cơ quan mà chưa đi sâu chỉ ra mối
liên hệ giữa các cơ quan nhà nước cũng như việc phân chia quyền lực nhà nước, sự
kiểm soát, đối trọng của các cơ quan này như thế nào. Nhưng với những tư tưởng cơ
bản về việc phân định ba cơ quan quyền lực nhà nước của Aristotle cũng là bằng
chứng thể hiện sự tiến bộ và chính từ đó đã xây dựng cơ sở cho sự phát triển của tư
tưởng phân chia, kiểm soát, đối trọng quyền lực chính quyền hiện nay.

15


KẾT LUẬN
Trên cơ sở tìm tòi, suy nghĩ, tham khảo các tài liệu, bài tiểu luận đã trình bày
những tư tưởng về nhà nước pháp quyền của nhà triết gia vĩ đại Aristotle thời kỳ cổ
đại Hy Lạp. Những tư tưởng của ông có thể còn sơ khai, chưa tỉ mỉ và hoàn hảo
nhưng chính từ những nền tảng cơ bản đó đã xây dựng chính quyền nhà nước và tư
tưởng pháp quyền ngày nay. Cũng như đánh giá của C.Mác- Ph.Ăngghen “ Không
có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện
đại”, vì thế những đóng góp của Aristotle là nguồn tài liệu cực kỳ quý báu cho nền
chính trị hiện nay. Tác giả mong rằng đây sẽ là nguồn tài liệu bổ ích cho việc
nguyên cứu, học tập khi tìm hiểu về lịch sử tư tưởng nhà nước pháp quyền, lịch sử
triết học thời kỳ cổ đại.

16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến pháp 2013;
2. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại
3.
4.
5.

8.

biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng;
Aristotle (Nông Duy Trường dịch), 2018, Chính trị luận, Nhà xuất bản Thế giới;
Lê Tuấn Huy,2006, Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng NNPQ Việt
Nam, NXB Tổng Hợp TpHCM, tr. 143 -144;
Nguyễn Đăng Dung (2014), “Nhà nước pháp quyền là tinh thần pháp luật hay là
đúng quy trình”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, Tập 30, Số 1/2014, tr.5461;
6. Ngô Huy Cương, 2006, Dân chủ và pháp luật dân chủ, NXB Tư Pháp, Hà Nội,
tr. 54;
7. Trần Thị Cúc-Nguyễn Thị Phượng, 2007, Câu hỏi và hướng dẫn trả lời môn Lí
luận chung về Nhà nước và pháp luật, NXB Tư Pháp, trang 116;
Nguyễn Xuân Tùng, “Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
dưới ánh sáng Đại hội Đảng lần thứ XI, http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghiencuu-trao-doi.aspx?ItemID=1412, truy cập ngày 04/04/2011.

9.

17


MỤC LỤC

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×