Tải bản đầy đủ

Các giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý vốn tập trung của ngân hàng thương mại cổ phần công thương việt nam

-1-

MỤC LỤC


-2-

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN NỘI BỘ CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm Cơ chế quản lý vốn nội bộ của Ngân hàng thương mại
Cơ chế quản lý vốn nội bộ của NHTM là cách thức các Ngân hàng kiểm soát,
điều chuyển các Tài sản Có và Tài sản Nợ của toàn hệ thống các Chi nhánh trực thuộc.
Với đặc thù của các NHTM là có mạng lưới hoạt động trải rộng trên các vùng lãnh
thổ, địa lý khác nhau; các Chi nhánh của Ngân hàng là các chủ thể tiếp xúc trực tiếp
với khách hàng và thực hiện hoạt động như huy động vốn, cấp tín dụng, đầu tư. Tài
sản Nợ và Tài sản có của các Chi nhánh không phải luôn cân bằng, Tài sản Nợ có thể
lớn hơn Tài sản có và ngược lại; đồng thời kỳ hạn của Tài sản Nợ và Tài sản có là khác
nhau nên tạo ra rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất cho các NHTM. Do vậy, việc thực
hiện một Cơ chế quản lý vốn nội bộ là rất cần thiết đối với NHTM để cân đối hiệu quả

các nguồn Tài sản nợ và Tài sản Có trên toàn hệ thống và quản lý các loại rủi ro.
Các mục tiêu chính của Cơ chế quản lý vốn nội bộ của NHTM bao gồm:
- Góp phần quản trị Tài sản Nợ, Tài sản Có và gia tăng giá trị ròng cho Ngân
hàng.
- Đo lường và đề ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất.
- Quản lý, đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các Chi nhánh và
đưa ra chính sách phù hợp để thúc đẩy, gia tăng lợi nhuận cho Ngân hàng.
1.1.2 Phân loại Cơ chế quản lý vốn nội bộ của Ngân hàng thương mại
Hiện nay, có hai cơ chế quản lý vốn phổ biến đó là quản lý vốn theo hình thức
phân tán và cơ chế quản lý vốn theo hình thức tập trung.
- Cơ chế quản lý vốn theo hình thức phân tán: là cơ chế trong đó việc quản lý
vốn giao cho từng Chi nhánh tự quản lý, Chi nhánh tự cân đối vốn và đảm bảo về hiệu
quả sử dụng vốn, khả năng thanh toán. Chỉ phần chênh lệch giữa Tài sản Nợ và Tài
sản Có được điều chuyển về Hội sở chính theo cơ chế vay – gửi với lãi suất áp dụng là
lãi suất điều chuyển vốn. Đồng thời, mỗi Chi nhánh có một bảng Tổng kết tài sản cân
bằng giữa Tài sản Nợ và Tài sản có.


-3-

Ưu điểm của cơ chế quản lý vốn theo hình thức phân tán là tạo sự chủ động trong
cân đối vốn và quản lý rủi ro cho các Chi nhánh, thiết lập đơn giản và không yêu cầu
trình độ công nghệ cao.
Nhược điểm của cơ chế này là không tận dụng được nguồn vốn nội bộ, không
thực hiện luân chuyển vốn giữa các đơn vị trên các địa bàn khác nhau. Việc quản trị rủi
ro thanh khoản và lãi suất cũng gặp nhiều rủi ro do được các Chi nhánh thực hiện và
không quản lý tập trung tại Hội sở. Đồng thời, các chi nhánh ngân hàng có thể cạnh
tranh với nhau để thu hút khách hàng bằng các biện pháp tiêu cực như tăng lãi suất huy
động, giảm lãi suất cho vay,…làm gia tăng chi phí huy động vốn và giảm hiệu quả
kinh doanh của Ngân hàng.
- Cơ chế quản lý vốn theo hình thức tập trung: là cơ chế trong đó Hội sở chính
mua toàn bộ tài sản Nợ của chi nhánh và bán vốn để chi nhánh sử dụng cho tài sản Có
thông qua lãi suất điều chuyển vốn. Thu nhập và chi phí của từng chi nhánh được xác
định thông qua chênh lệch mua bán vốn với Hội sở chính. Mọi rủi ro thanh khoản và
rủi ro lãi suất được tập trung về Hội sở chính và các Chi nhánh không lập các bảng
Tổng kết Tài sản riêng lẻ.
Ưu điểm của cơ chế quản lý vốn tập trung là quản lý tập trung được rủi ro lãi suất
và rủi thanh khoản về Hội sở chính Ngân hàng. Các Ngân hàng quản lý nguồn vốn
thống nhất và mua bán giữa vốn với Chi nhánh mà không can thiệp vào hoạt động
riêng của các Chi nhánh. Kết quả hoạt động kinh doanh của các Chi nhánh được cập


nhập hàng ngày thông qua hệ thống báo cáo FTP giúp đánh giá và quản lý hoạt động
kinh doanh của các Chi nhánh một cách hiệu quả.
Nhược điểm của cơ chế quản lý vốn tập trung là chi phí áp dụng cao. Các Ngân
hàng có mạng lưới rộng nên khi muốn áp dụng cơ chế này phải đầu tư rất nhiều chi phí
cho phát triển công nghệ cũng như đào tạo nghiệp vụ cho các cán bộ quản lý vốn.
Đồng thời, cơ chế này còn có nhược điểm là hạn chế nghiệp vụ ở các Chi nhánh do các
Chi nhánh sẽ trở thành các đơn vị kinh doanh tiếp xúc với khách hàng và không thực
hiện việc cân đối vốn, quản trị rủi ro. Việc này sẽ làm hạn chế trình độ chuyên môn
cũng như kinh nghiệm của các cán bộ tác nghiệp ở các Chi nhánh.


-4-

Trong phần tiếp theo của Khóa luận, tôi xin trình bày cụ thể hơn về lý thuyết của
Cơ chế quản lý vốn tập trung - một cơ chế quản lý vốn hiện đại được hầu hết các các
NHTM và các tập đoàn tài chính trên thế giới đểu áp dụng.
1.2 CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI:
1.2.1 Khái niệm Cơ chế Quản lý vốn tập trung:
Cơ chế quản lý vốn tập trung, còn gọi là cơ chế FTP (Fund Transfer Pricing), là
cơ chế trong đó Trung tâm quản lý vốn đặt tại Hội sở chính của ngân hàng mua toàn
bộ tài sản Nợ của Chi nhánh và bán vốn để Chi nhánh sử dụng cho tài sản Có. Mọi
nguồn vốn của Chi nhánh huy động đều được chuyển về quỹ vốn trung tâm và nhận
được thu nhập vốn, mọi khoản sử dụng vốn đều được lấy từ quỹ vốn trung tâm và phải
trả chi phí vốn. Các Chi nhánh tập trung vào hoạt động kinh doanh với khách hàng và
không phải cân đối vốn và quản trị rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Trong cơ chế
quản lý vốn tập trung, thu nhập và chi phí của từng chi nhánh được xác định thông qua
chênh lệch giữa lãi suất mua bán vốn với Hội sở chính.
Mục đích thực hiện Cơ chế Quản lý vốn tập trung:
- Nâng cao hiệu quả công tác cân đối, điều hành vốn nội bộ của Ngân hàng để
bảo đảm các giới hạn an toàn và hoàn thành các mục tiêu, kế hoạch kinh doanh.
- Tách biệt rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản khỏi hoạt động kinh doanh của các
Chi nhánh và tập trung việc quản lý các rủi ro này tại Hội sở chính Ngân hàng.
- Phân bổ chi phí, thu nhập vốn một cách khách quan, công bằng để đánh giá
mức độ đóng góp của các Chi nhánh vào lợi nhuận chung của toàn hệ thống, đồng thời
phát huy được lợi thế kinh doanh của Chi nhánh trên các địa bàn khác nhau.
- Xác định được thu nhập thuần từ lãi cho từng Chi nhánh theo sản phẩm, phân
khúc khách hàng và từng tài khoản khách hàng để có các chiến lược phát triển kinh
doanh đạt hiệu quả.
1.2.2 Nguyên tắc thực hiện Cơ chế Quản lý vốn tập trung:
1.2.2.1 Quản lý vốn tập trung và thống nhất:
Tập trung và thống nhất là nguyên tắc cơ bản trong cơ chế quản lý vốn tập trung.
Trên nguyên tắc đó, Hội sở sẽ kiểm soát được thu nhập, chi phí của từng Chi nhánh, và
điều hành thông qua các chính sách quản lý vốn chung một cách hiệu quả.


-5-

Nguồn vốn của Ngân hàng được quản lý tập trung, cả hệ thống là một bảng tổng
kết tài sản thống nhất và không tồn tại các bảng cân đối vốn riêng lẻ của các chi nhánh.
Vốn do chi nhánh huy động sẽ chuyển vào nguồn vốn chung của toàn Ngân hàng, Chi
nhánh được hiểu như một đơn vị kinh doanh huy động vốn cho Hội sở, Hội sở sẽ trả
cho chi nhánh phần lãi suất điều chuyển vốn. Đối với các khoản Chi nhánh cho khách
hàng vay, Chi nhánh sẽ phải mua vốn từ Hội sở và phải trả chi phí cho Hội sở thông
qua lãi suất điều chuyển vốn. Do đó, Chi nhánh chỉ quan tâm đến lãi suất điều chuyển
vốn nội bộ và các hạn mức kinh doanh được giao làm cơ sở thương lượng lãi suất với
khách hàng, không chịu trách nhiệm cân đối các nguồn vốn từ phía khách hàng, các rủi
ro trong công tác quản lý vốn hoàn toàn do Hội sở chịu trách nhiệm.
Với cơ chế quản lý vốn tập trung, việc tính lãi phải thu phải trả giữa các Chi
nhánh chỉ mang tính chất danh nghĩa mà không có sự dịch chuyển của dòng tiền. Phần
thu nhập và chi phí vốn của Chi nhánh sẽ được tính tự động định kỳ theo cơ chế định
giá chuyển vốn nội bộ do Hội sở quy định và ghi nhận vào kết quả tài chính của từng
đơn vị.
Trong cơ chế quản lý vốn tập trung, các Ngân hàng cũng sử dụng thống nhất các
chính sách và công cụ sau để quản lý toàn bộ hệ thống các Chi nhánh:
- Công cụ kế hoạch kinh doanh (kế hoạch huy động vốn, sử dụng vốn,…)
- Công cụ hạn mức: Hạn mức tín dụng, đầu tư…
- Các chính sách khách hàng, chính sách đầu tư, sản phẩm, lãi suất…
- Các cơ chế định giá chuyển vốn nội bộ.
- Hệ thống chi tiêu an toàn trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
1.2.2.2 Thực hiện cơ chế mua-bán vốn giữa Hội sở với chi nhánh:
Quan hệ điều chuyển vốn điều chuyển vốn nội bộ giữa Hội sở và Chi nhánh được
thực hiện theo cơ chế mua – bán vốn. Điều này có nghĩa là tất cả các khoản mục trong
bảng cân đối kế toán của Chi nhánh đều phải được định giá vốn điều chuyển: toàn bộ
Tài sản Có sẽ phải trả chi phí điều chuyển vốn và toàn bộ Tài sản Nợ và vốn tự có sẽ
nhận được thu nhập điều chuyển vốn. Việc mua bán vốn này được định giá thông qua
lãi suất điều chuyển vốn.
Lãi suất điều chuyển vốn được Hội sở xác định và thông báo tới các đơn vị kinh
doanh trong từng thời kỳ. Lãi suất này chính là công cụ quan trọng trong hoạt động


-6-

điều hành vốn của Hội sở và là căn cứ để xác định hiệu quả hoạt động của các Chi
nhánh trên cơ sở chênh lệch giữa lãi suất thực hiện của khách hàng và lãi suất điểu
chuyển vốn với Hội sở.
Hình 1.1: Minh họa cơ chế mua bán vốn giữa Hội sở và Chi nhánh

1.2.2.3 Quản lý tập trung thanh khoản, rủi ro lãi suất:
Cơ chế quản lý vốn tập trung sẽ giúp các Ngân hàng quản lý các rủi ro thanh
khoản và rủi ro lãi suất tại Hội sở chính, tách biệt các loại rủi ro này khỏi hoạt động
kinh doanh của các Chi nhánh
- Về quản lý tập trung rủi ro thanh khoản: Tất cả các giao dịch nhận tiền gửi và
cho vay giữa Chi nhánh và khách hàng đều được Chi nhánh thực hiện đối ứng với Hội
sở. Khi có nhu cầu thanh toán hoặc cho vay khách hàng, Chi nhánh chỉ cần mua vốn từ
Hội sở mà không cần phải huy động nguồn vốn nào khác để đảo bảo thanh toán. Toàn
bộ rủi ro thanh khoản đều được chuyển từ Chi nhánh về Hội sở để quản lý tập trung.
- Về quản lý tập trung rủi ro lãi suất: Toàn bộ Tài sản Nợ và Tài sản Có của Chi
nhánh đều được mua bán với Hội sở căn cứ vào kỳ hạn, loại tiền và lãi suất điều
chuyển vốn tại ngày phát sinh giao dịch. Từ ngày phát sinh giao dịch cho đến ngày
định giá lại của Tài sản Nợ hay Tài sản Có, Chi nhánh luôn được đảm bảo một mức
chênh lệch lãi suất giữa lãi suất áp dụng cho khách hàng và lãi suất điều chuyển vốn.
Do đó, rủi ro lãi suất cũng được chuyển toàn bộ về Hội sở và được Hội sở quản lý tập
trung nhằm đề ra các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu.
1.2.3 Nội dung cơ bản của Cơ chế quản lý vốn tập trung
1.2.3.1 Điều hành hệ thống các Chi nhánh
Trong cơ chế quản lý vốn tập trung, Ngân hàng sẽ sử dụng thống nhất các chính
sách và công cụ sau để điều hành hệ thống các Chi nhánh:


-7-

* Kế hoạch kinh doanh
Để đảm bảo an toàn hoạt động, quản lý được các rủi ro tiềm ẩn đồng thời phân
bổ nguồn lực một cách hiệu quả, Hội sở sẽ quyết định các chỉ tiêu kế hoạch kinh
doanh của năm, cụ thể như sau:
- Các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu của toàn hệ thống bao gồm: chỉ tiêu hiệu quả
kinh doanh, quy mô tổng tài sản, nguồn vốn huy động, quy mô tín dụng, hạn mức đầu
tư, các chỉ tiêu chất lượng hoạt động…Các chỉ tiêu cũng được xem xét, điều chỉnh
trong năm kế hoạch căn cứ vào biến động thị trường và tình hình thực hiện nhằm bảo
đảm mục tiêu ưu tiên trong từng thời kỳ.
- Các chỉ tiêu kế hoạch giao cho Chi nhánh bao gồm: doanh số huy động, quy mô
tín dụng, tỷ lệ NIM…để bảo đảm sự cân đối trong toàn hệ thống.
* Quy định các hạn mức
- Hạn mức tín dụng: Quy mô tín dụng tối đa của hệ thống được quản lý theo tỷ lệ
tương đối trên tổng tài sản và tổng nguồn vốn huy động được. Hội sở có trách nhiệm
phân bổ giới hạn tín dụng cho các Chi nhánh căn cứ trên tổng hạn mức tín dụng và
danh mục tín dụng toàn hệ thống, tiềm năng phát triển trên địa bàn, chất lượng và hiệu
quả tín dụng của Chi nhánh.
Hội sở chịu trách nhiệm giám sát thường xuyên tình hình thực hiện hạn mức tín
dụng toàn hệ thống và từng Chi nhánh, chi đạo để duy trì mức cấp tín dụng trong hạn
mức quy định, trên cơ sở đó sẽ có hướng tăng, giảm hạn mức tín dụng của các Chi
nhánh theo các căn cứ trên.
- Hạn mức đầu tư: thông thường các NHTM quản lý danh mục đầu tư nhằm hai
mục tiêu là cơ cấu lại tài sản để quản lý rủi ro thanh khoản, lãi suất và mục tiêu lợi
nhuận kinh doanh. Danh mục đầu tư của một NHTM với cơ chế quản lý vốn tập trung
cũng khá đa dạng bao gồm: Giấy tờ có giá, đầu tư trên thị trường tiền tệ, kinh doanh
ngoại tệ. Để giảm thiểu rủi ro, Hội sở sẽ quyết định mức giới hạn giảm giá trị của danh
mục đầu tư tối đa khi lãi suất thay đổi theo từng thời kỳ.
Hạn mức đầu tư thường được Hội sở Ngân hàng quy định theo từng loại tài sản,
thông thường các Chi nhánh không được phép đầu tư trừ trường hợp được sự cho phép
từ Hội sở đối với các loại Giấy tờ có giá do chính quyền Tỉnh, Thành phố hoặc các
TCTD phát hành. Hạn mức này được chia thành hai phần:


-8-

+ Hạn mức đầu tư GTCG: bao gồm tổng hạn mức đầu tư Giấy tờ có giá dài hạn,
và hạn mức đầu tư Giấy tờ có giá ngắn hạn.
+ Hạn mức đầu tư liên ngân hàng: bao gồm tổng hạn mức đầu tư, hạn mức đầu tư
theo từng loại hình tổ chức của các TCTD, hạn mức đối tác.
* Quy định các giới hạn
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM): căn cứ vào kế hoạch tài chính, Hội sở sẽ thông
báo tỷ lệ NIM tối thiểu của hệ thống. Tùy từng thời kỳ, Hội sở quy định tỷ lệ NIM
thống nhất cho toàn hệ thống hoặc phân biệt cho các Chi nhánh đặc thù. Dựa trên NIM
của Hội sở quy định, các Chi nhánh sẽ tính toán thu nhập lãi từ nghiệp vụ huy động
vốn và cho vay nhằm bảo đảm NIM theo quy định. Hội sở có trách nhiệm theo dõi,
giám sát tỷ lệ NIM của hệ thống, định kỳ phân tích tình hình thực hiện và xu hướng thị
trường, báo cáo và thiết lập các biện pháp cần duy trì tỷ lệ NIM nhằm ổn định thu
nhập ròng của ngân hàng.
Bên cạnh đó, Hội sở còn đưa ra các giới hạn về rủi ro như:
- Giá trị tối đa của khe hở nhạy cảm với lãi suất, giá trị tối đa của khoản mục Tài
sản Nợ, Tài sản Có không nhạy cảm với lãi suất trong từng thời kỳ.
- Giá trị tối đa của khe hở kỳ hạn.
- Các chỉ số thanh khoản: giá trị tối đa/ tối thiểu của chỉ số trạng thái tiền mặt, giá
trị tối đa/ tối thiểu của chỉ số tài sản đầu tư thanh khoản, giá trị tối đa/ tối thiểu đầu tư
ngắn hạn ngắn hạn trên vốn nhạy cảm, giá trị tối đa/ tối thiểu chỉ số cấu trúc tiền gửi.
1.2.3.2 Kiểm soát tập trung các rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất
* Quản lý rủi ro thanh khoản:
Trong cơ chế quản lý vốn tập trung, Hội sở chính chịu trách nhiệm quản lý rủi ro
thanh khoản toàn hệ thống, xác định trạng thái thanh khoản ròng và các biện pháp bảo
đảm thanh khoản cho toàn hệ thống.
Trạng thái thanh khoản ròng được xác định dựa trên chênh lệch các nguồn cung
thanh khoản và cầu thanh khoản tại từng thời điểm. Mức chênh lệch này được dự báo
bằng cách điều chỉnh theo xác suất thống kê của khả năng xảy ra các trường hợp ảnh
hưởng đến thanh khoản của Ngân hàng như khả năng quay vòng các tài khoản tiền gửi
đến hạn, xác suất rút tiền trước hạn, khả năng trả nợ trước hạn, xác suất giải ngân của
dự án.


-9-

Hội sở chính có trách nhiệm xây dựng khả năng xảy ra đối với Bảng tổng kết tài
sản tại thời điểm trong tương lai khi thị trường có những biến động mạnh ảnh hưởng
đến hoạt động của Ngân hàng (về giá cả, tỷ giá, chính sách…), từ đó xây dựng các
biện pháp đối phó (xây dựng báo cáo thanh khoản chi theo từng kỳ hạn cụ thể như ON,
2-7 Days, 8 Days – 1M….).
Hội sở chịu trách nhiệm đảm bảo dự trữ thanh khoản trong các giới hạn cho phép
của các chỉ số, cân đối phù hợp với nhu cầu thanh khoản để bảo đảm sử dụng vốn hiệu
quả. Các biện pháp có thể nhằm bảo đảm thanh khoản được Ngân hàng thực hiện theo
các thứ tự ưu tiên sau:
(1) Vay tái cấp vốn NHNN (chiết khấu, cầm cố, bán có kỳ hạn các Giấy tờ có giá qua thị

trường mở, SWAP…).
(2) Thực hiện các Hợp đồng bán có kỳ hạn các tài sản thanh khoản với các TCTD Khác
(Tín phiếu, Trái phiếu, ngoại tệ…)
(3) Huy động trên thị trường tiền tệ (từ các khách hàng lớn hoặc từ các TCTD)
(4) Bán tài sản (bán hẳn đối với các giấy tờ có tính thanh khoản như Giấy tờ có

giá, ngoại tệ kinh doanh).
(5) Phát hành giấy tờ có giá.
(6) Điều chỉnh các chính sách điều hành như giảm quy mô tín dụng, thay đổi giá

điều chuyển vốn nội bộ.
* Quản lý rủi ro lãi suất:
Bộ phận/ban nguồn vốn tại Hội sở Ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm duy trì khe hở
nhạy cảm với lãi suất và khe hở kỳ hạn trong giới hạn quy định để quản lý rủi ro lãi
suất trong hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống. Các Chi nhánh chịu trách nhiệm
thực hiện các biện pháp chỉ đạo của Hội sở trong quá trình quản lý nhằm hạn chế rủi ro
lãi suất.
Cơ chế quản lý vốn tập trung chỉ có một bảng tổng kết tài sản, do đó việc theo
dõi Bảng tổng kết tài sản và cũng như các diễn biến thị trường, định kỳ xây dựng các
phương án duy trì giá trị các khe hở, dự kiến mức độ rủi ro của từng phương án và đề
xuất các biện pháp khắc phục phù hợp để quản lý rủi ro lãi suất hoàn toàn thuộc trách
nhiệm của Hội sở. Khi khe hở kỳ hạn có khả năng vượt giới hạn quy định, Hội sở sẽ
tác động đến cơ cấu bảng tổng kết tài sản để duy trì khe hở trong giới hạn thông qua


-10-

điều chỉnh lãi suất điều chuyển vốn FTP, trực tiếp tác động tới các hoạt động kinh
doanh của Chi nhánh thông qua điều chỉnh các hạn mức huy động, sử dụng vốn.
1.2.3.3 Quản lý các tài khoản Nostro
Việc mở, đóng tài khoản và quản lý tài khoản Nostro do Hội sở chính thực hiện,
Chi nhánh không được phép mở tài khoản Nostro mới khi không được sự cho phép
của Hội sở chính đặc biệt là đối với tài khoản tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ của các
TCTD khác.
Hiện tại ở Việt Nam, các NHTM theo chỉ định của NHNN, kênh điều chuyển vốn
ngoại tệ chủ yếu qua Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB). Vì vậy, việc
điều chuyển vốn ngoại tệ giữa Hội sở và Chi nhánh trong cơ chế Quản lý vốn tập trung
cũng phải tuân theo quy định trên. Các chi nhánh được phép mở tài khoản ngoại tệ tại
các Chi nhánh VCB cùng địa bàn để dùng kênh này điều chuyển ngoại tệ với Hội sở.
Đối với Chi nhánh gần Hội sở có thể không dùng tài khoản Nostro để điều hòa mà nộp
trực tiếp tiền mặt tại Hội sở.
Việc quản lý các giao dịch thanh toán của toàn hệ thống sẽ do Hội sở quản lý.
Hội sở vì vậy cũng sẽ chịu trách nhiệm duy trì số dư tại các tài khoản Nostro đáp ứng
yêu cầu thanh toán cụ thể một cách hiệu quả.
1.2.3.4 Định giá điều chuyển vốn nội bộ
- Nguyên tắc định giá điều chuyển vốn nội bộ
Việc định giá điều chuyển vốn nội bộ là một trong những điểm then chốt của cơ
chế quản lý vốn tập trung, định giá điều chuyển vốn hợp lý sẽ xác định đúng mức thu
nhập và chi phí của Hội sở và các Chi nhánh trong công tác quản lý vốn. Các nguyên
tắc định giá điều chuyển vốn nội bộ trong cơ chế quản lý vốn tập trung bao gồm:
Nguyên tắc mua bán toàn bộ vốn và tài sản của các Chi
nhánh trong hệ thống:
+ Hệ thống quản lý vốn xác định chi phí và thu nhập mua bán vốn đối với từng
giao dịch huy động và sử dụng vốn của Chi nhánh.
+ Các khoản mục còn lại thuộc Tài sản nợ, Tài sản có của các Chi nhánh được
xác định chi phí và thu nhập mua bán vốn trên số dư bình quân của tài khoản kế toán.
Nguyên tắc bình đẳng, thống nhất:


-11-

+ Hội sở áp dụng giá mua bán vốn ngay tại thời điểm phát sinh giao dịch, các
giao dịch có cùng thời gian và cùng kỳ hạn được áp giá mua bán vốn giống nhau.
+ Đối với các giao dịch có lãi suất ổn định: giá mua bán vốn của một hợp đồng
không thay đổi trong toàn bộ thời gian của hợp đồng.
+ Đối với các giao dịch với lãi suất điểu chỉnh định kỳ hoặc lãi suất thả nổi: giá
mua bán vốn của một hợp đồng được điều chỉnh tương ứng với các điều kiện quy định
đối với từng loại hình lãi suất giao dịch.
+ Giá mua bán vốn của từng kỳ hạn áp dụng cho các giao dịch mua bán vốn là
như nhau trên toàn hệ thống ngân hàng.
- Nội dung định giá điều chuyển vốn nội bộ
Kỳ hạn chuyển vốn
Kỳ hạn chuyển vốn có ý nghĩa quan trọng trong việc định giá điều chuyển vốn.
Kỳ hạn chuyển vốn là kỳ hạn do Trung tâm vốn quy định mà theo đó kỳ hạn danh
nghĩa của giao dịch vốn được đưa về các kỳ hạn nhất định để áp dụng giá chuyển vốn.
Tại mỗi kỳ hạn chuyển vốn, giá chuyển vốn áp dụng cho các giao dịch mua bán vốn là
như nhau cho tất cả Chi nhánh.
Cách tính kỳ hạn danh nghĩa – cơ sở để xác định kỳ hạn chuyển vốn được các
Ngân hàng áp dụng như sau:
+ Đối với giao dịch xác định được kỳ hạn: kỳ hạn danh nghĩa là khoảng thời gian
tính từ ngày phát sinh giao dịch đến ngày đáo hạn của giao dịch đó theo cam kết thực
hiện với khách hàng.
+ Đối với các giao dịch không xác định được kỳ hạn danh nghĩa: Hội sở sẽ quy
định kỳ hạn danh nghĩa theo tính chất hoạt động của giao dịch đó.
Đồng tiền giao dịch
Giá chuyển vốn được xác định cho từng loại tiền. Tất cả các đồng tiền giao dịch
phát sinh trong bảng cân đối kế toán nội bảng đều được sử dụng làm đồng tiền tính
toán trong hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ. Trong báo cáo thu nhập chi phí
của Chi nhánh, tất cả các loại ngoại tệ sẽ được quy đổi sang VND theo tỷ giá hạch toán
tại ngày làm việc cuối kỳ.
Giá điều chuyển vốn nội bộ


-12-

Định giá chuyển vốn nhằm xác định tỷ lệ thu nhập vốn trong quan hệ nội bộ, và
tính toán thu nhập, chi phí từ lãi của các đơn vị kinh doanh (bao gồm các Chi nhánh
trực tiếp kinh doanh và các đơn vị sử dụng vốn tại Hội sở). Giá chuyển vốn nội bộ phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như: lãi suất thị trường, kỳ hạn, loại tiền, các chi phí hoạt động
kinh doanh. Giá chuyển vốn nội bộ bao gồm hai loại là giá mua (áp dụng cho tài sản
Nợ) và giá bán (áp dụng cho tài sản Có) của Chi nhánh. Với mỗi kỳ hạn nhất định, giá
chuyển vốn nội bộ có thể áp dụng chung cho cả Tài sản Nợ và Tài sản Có (giá mua
bằng giá bán) hoặc áp dụng mức giá riêng (giá mua không bằng giá bán).
Giá mua bán vốn đối với một giao dịch được giữ nguyên trong suốt kỳ hạn danh
nghĩa của giao dịch (đối với các giao dịch xác định được kỳ hạn danh nghĩa) hoặc
trong suốt kỳ định giá lại của giao dịch và có thể thay đổi trong kỳ định giá lại tiếp
theo (đối với những giao dịch không xác định được kỳ hạn danh nghĩa).
Theo chính sách điều hành vốn của Hội sở chính trong từng thời kỳ, đối với một
kỳ hạn chuyển vốn nhất định, giá mua có thể bằng hoặc nhỏ hơn giá bán vốn.
Giá điều chuyển vốn nội bộ đối với tiền gửi không kỳ hạn
Nhằm khuyến khích các Chi nhánh đẩy mạnh huy động tiền gửi không kỳ hạn
(nguồn vốn có chi phí trả lãi thấp) và đẩy mạnh phát triển các dịch vụ ngân hàng, trong
từng thời kỳ nhất định, giá mua vốn áp dụng cho tiền gửi không kỳ hạn của khách
hàng sẽ được xem xét điều chỉnh bằng hoặc cao hơn mức giá áp dụng cho tiền gửi có
kỳ hạn.
Giá điều chuyển vốn nội bộ đối với tài sản cố định, khoản đầu tư chiến lược
Các tài sản cố định, các khoản đầu tư chiến lược tại Chi nhánh sẽ được Hội sở
chính điều chuyển vốn không lãi tương ứng với giá trị còn lại của tài sản. Danh mục
tài sản cố định gồm: nhà, đất, bất động sản khác; xe ô tô chuyên dùng chở tiền; phần
mềm máy tính; các tài sản khác.
Đối với các khoản đầu tư góp vốn, mua cổ phần: được điểu chỉnh hàng năm bằng
giá mua vốn chuyển quyền sở hữu do cấp có thẩm quyền quyết định áp dụng kể từ
ngày đầu tiên của năm. Thu nhập được tính cho Hội sở, chi phí tính cho Chi nhánh
Giá điều chuyển vốn nội bộ đối với tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN


-13-

Đối với tiền mặt, tiền gửi thanh toán tại NHNN: kỳ hạn dùng để xác định giá
mua bán vốn là kỳ hạn qua đêm - ON, thu nhập tính cho Hội sở chính, chi phí tính cho
các Chi nhánh.
Giá điều chuyển vốn nội bộ trong hoạt động huy động và cho vay đặc biệt
Các trường hợp huy động và cho vay đặc biệt sẽ phải được cấp có thẩm quyền
phê duyệt và thu nhập/chi phí mua bán vốn đối với những món này sẽ được điều chỉnh
theo mức giá mua bán vốn nội bộ đặc biệt.
Hoạt động huy động, cho vay với các TCTD khác của các Chi nhánh
Ngoại trừ các giao dịch vốn liên quan đến hoạt động tín dụng (đồng tài trợ, ủy
thác đầu tư), các giao dịch phục vụ thanh toán và các giao dịch ủy thác của Hội sở
chính, các Chi nhánh sẽ không được phép trực tiếp huy động, gửi vốn hoặc cho vay
đối với các TCTD khác. Nếu phát sinh các giao dịch gửi và cho vay có kỳ hạn với
TCTD khác, các Chi nhánh cần thực hiện các giao dịch đối ứng với Hội sở để đảm bảo
trả lãi và nhận lãi cho phần vốn này.
Hoạt động điều chỉnh giảm thu nhập và tăng chi phí
Về nguyên tắc, việc điểu chỉnh giảm thu nhập/ tăng chi phí của Chi nhánh chỉ áp
dụng đối với những giao dịch có kỳ hạn, khi kỳ hạn thực tế giao dịch mua vốn của Chi
nhánh lớn hơn kỳ hạn danh nghĩa theo cam kết và kỳ hạn thực tế của giao dịch bán
vốn của Chi nhánh nhỏ hơn kỳ hạn danh nghĩa theo cam kết.
Điểu chỉnh giảm thu nhập của Chi nhánh đối với nghiệp vụ huy động vốn áp
dụng cho trường hợp Chi nhánh để khách hàng rút vốn huy động trước hạn. Thu nhập
bán vốn của Chi nhánh đối với giao dịch này sẽ bị tính giảm tương ứng với phần
chênh lệch giữa giá mua vốn của Hội sở đang áp dụng cho giao dịch đó và giá mua
vốn của Hội sở được áp dụng cho các giao dịch rút trước hạn.
Điểu chỉnh tăng chi phí của Chi nhánh đối với nghiệp vụ tín dụng áp dụng cho
trường hợp Chi nhánh phát sinh nợ quá hạn, chi phí mua vốn của Chi nhánh đối với
giao dịch đó sẽ bị tính tăng theo nhóm nợ quá hạn.
1.2.4 Điều kiện áp dụng Cơ chế quản lý vốn tập trung
- Về cơ sở vật chất: Để áp dụng cơ chế quản lý vốn tập trung thì các Ngân hàng

thương mại cần phải có hệ thống công nghệ thông tin tốt. Các phần mềm tính toán lãi
suất điều chuyển vốn và phần mềm tổng hợp, báo cáo thông tin phải được thiết lập


-14-

đồng bộ tại Hội sở và các Chi nhánh, điều này đòi hỏi các Ngân hàng phải đầu tư
nguồn vốn lớn cho phát triển công nghệ và nhờ vào sự tư vấn, hỗ trợ thiết kế phần
mềm của các tổ chức công nghệ tiên tiến.
- Về bộ máy tổ chức: Trong cơ chế quản lý vốn trung, các chính sách, quy định
về cơ chế phải được phê duyệt và thống nhất thực hiện từ các cấp Hội đồng quản trị,
Ban điều hành, Ủy ban ALCO và các Chi nhánh. Các Ngân hàng cũng phải thành lập
Trung tâm mua bán vốn đặt tại Hội sở chính chuyên thực hiện và quản lý việc mua bán
vốn. Trung tâm mua bán vốn sẽ phối hợp với các Khối Quản trị rủi ro, Khối kinh
doanh vốn tại Hội sở để thực hiện quản trị các loại rủi ro và đầu tư, kinh doanh vốn.
Đồng thời, các Chi nhánh cũng phải lập các tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước
để quản lý nguồn vốn và thực hiện điều chuyển vốn với Hội sở hàng ngày. Như vậy, để
áp dụng được cơ chế quản lý vốn tập trung, các Ngân hàng phải có chuyên môn hóa về
bộ máy tổ chức, thiết lập các quy trình thực hiện cơ chế quản lý vốn thống nhất trên
toàn bộ hệ thống.
- Về nhân lực: Các Ngân hàng phải có bộ phận quản lý nguồn vốn tại Hội sở có
trình độ chuyên môn cao, có kiến thức và hiểu biết trong công tác cân đối và điều hòa
nguồn vốn. Các cán bộ tác nghiệp điều chuyển vốn tại Chi nhánh cũng cần có kiến
thức chuyên môn và trình độ tác nghiệp nhanh chóng, chính xác nhằm hạn chế tối
thiểu các rủi ro tác nghiệp. Nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là yếu tố quan trọng
trong cơ chế quản lý vốn tập trung.
1.2.5 Ưu điểm và nhược điểm của Cơ chế Quản lý vốn tập trung:
1.2.5.1 Ưu điểm
- Quản lý tập trung rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất tại Hội sở chính:
Đây là hai rủi ro chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trước khi ứng
dụng cơ chế quản lý vốn tập trung, các Chi nhánh tự chịu trách nhiệm về việc quản lý
rủi ro trong trong hoạt động dẫn đến sự phân tán trong chiến lược hoạt động kinh
doanh, không hiệu quả và không kiểm soát được thường xuyên hoạt động của các Chi
nhánh. Với cơ chế quản lý vốn tập trung, các Chi nhánh chỉ tập trung vào hoạt động
kinh doanh với khách hàng, toàn bộ rủi ro thanh khoản và lãi suất sẽ được chuyển giao
cho Hội sở chính quản lý.
- Hạn chế tình trạng thừa/thiếu thanh khoản tại các Chi nhánh:


-15-

Trong cơ chế quản lý vốn tập trung, mọi giao dịch của Chi nhánh đều phải tập
trung về Hội sở chính thông qua Trung tâm vốn. Khi huy động được nguồn tiền gửi,
chi nhánh thực hiện bán toàn bộ cho Trung tâm; khi có nhu cầu thanh toán, đầu tư, cho
vay,… chi nhánh thực hiện mua lại vốn từ Trung tâm vốn. Trung tâm vốn sẽ thực hiện
động tác luân chuyển vốn giữa các Chi nhánh. Vì thế, các chi nhánh không cần quan
tâm đến vấn đề thanh khoản và sẽ không tồn tại tình trạng thừa hoặc thiếu thanh khoản
tại các Chi nhánh.
- Linh hoạt hơn trong việc quản lý, giám sát và điểu hành nguồn vốn đối với các
Chi nhánh:
Điều này thể hiện qua việc Hội sở chính xác định một giá điều chuyển vốn thống
nhất cho các Chi nhánh để thực hiện mua bán vốn mà không can thiệp cụ thể vào hoạt
động cụ thể của từng chi nhánh. Quan hệ điều chuyển vốn giữa Chi nhánh và Hội sở là
quan hệ mua bán vốn, không phải quan hệ vay gửi vốn nên cũng làm tăng tính độc lập
và hiệu quả trong hoạt động điều hành, quản lý của Hội sở chính.
- Là cơ chế hiện đại theo sát với thông lệ quốc tế, giúp tăng cường chuyên môn
hóa, hiện đại hóa trong các Ngân hàng:
Cơ chế quản lý vốn tập trung là cơ chế quản lý tiên tiến được các ngân hàng ở
các nước phát triển áp dụng rộng rãi. Việc thực hiện cơ chế này là hoàn toàn phù hợp
trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng của ngành Tài chính Ngân hàng và tiềm lực
Tài chính của các Ngân hàng đang gia tăng nhanh chóng. Đồng thời, cơ chế quản lý
vốn tập trung giúp các Ngân hàng gia tăng tính chuyên môn hóa. Các Chi nhánh trong
cơ chế này đóng vai trò là bộ phận tiếp xúc khách hàng, là nơi tiếp nhận các nguồn vốn
và điều chuyển về Hội sở. Các giao dịch trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng, hoạt
động đầu tư, quản trị rủi ro đều được các bộ phận chuyên trách ở Hội sở thực hiện.
Chính sự tập trung chuyên môn hóa cao này giúp các Ngân hàng xử lý dữ liệu hiệu
quả, trên cơ sở đó gia tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
- Hệ thống báo cáo đa dạng, kịp thời, chính xác góp phần tích cực vào việc quản
lý và đánh giá hoạt động của các Chi nhánh:
Trong cơ chế quản lý vốn tập trung, kết quả hoạt động kinh doanh của từng Chi
nhánh được tổng hợp mỗi ngày thông qua Hệ thống báo cáo điều chuyển vốn tự động
FTP thuộc mạng nội bộ của các Ngân hàng. Vì thế, cơ chế này đã loại bỏ được các


-16-

công tác báo cáo thủ công về thu nhập, thanh khoản mà các Chi nhánh phải thực hiện
trước đó. Đồng thời, chi phí hoạt động của Chi nhánh từ hoạt động lập báo cáo cũng sẽ
được giảm bớt. Hệ thống báo cáo kịp thời và chính xác cũng giúp Hội sở giám sát và
đưa ra các quyết định về phát triển hoạt động kinh doanh và quản lý các rủi ro một
cách kịp thời và hiệu quả.
1.2.5.2 Nhược điểm:
- Hạn chế thao tác nghiệp vụ tại các chi nhánh:
Cơ chế quản lý vốn tập trung là tiền đề công nghệ để hình thành Tập đoàn tài
chính ngân hàng với đặc tính tất cả giao dịch về tiền tệ, dịch vụ ngân hàng, quản trị rủi
ro đều được tập trung về Hội sở chính. Trong tương lai, các Chi nhánh chỉ đóng vai trò
là các đơn vị kinh doanh tiếp xúc trực tiếp khách hàng, chủ yếu thực hiện các hoạt
động huy động và cho vay thuần túy. Vì vậy, các thao tác nghiệp vụ tại Chi nhánh sẽ
giảm bớt dần, làm hạn chế trình độ nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tiễn của các nhân
viên tại Chi nhánh.
- Chi phí ứng dụng cao:
Để áp dụng cơ chế quản lý vốn tập trung, các Ngân hàng phải triển khai hệ thống
mạng đồng bộ đến tất cả các Chi nhánh ngân hàng trên toàn quốc. Đối với các ngân
hàng có mạng lưới Chi nhánh rộng lớn trải rộng trên nhiều địa bàn khác nhau, việc đầu
tư cho phát triển công nghệ để ứng dụng cơ chế quản lý vốn tập trung đòi hỏi phải có
tiềm lực vốn rất lớn. Ngoài ra, việc đào tạo chuyên môn, kỹ năng sử dụng hệ thống
mạng cho các cán bộ tại Hội sở chính và Chi nhánh cũng sẽ là khoản chi phí đáng kể
khi các Ngân hàng áp dụng cơ chế quản lý vốn tập trung.
- Gia tăng khối lượng công việc và mức độ rủi ro cho Hội sở chính:
Toàn bộ nguồn vốn cũng như rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất từ Chi nhánh sẽ
chuyển hóa về Hội sở trong cơ chế quản lý vốn tập trung. Điều này sẽ tạo áp lực cho
Hội sở trong việc định giá điều chuyển nguồn vốn ở mức hợp lý để bảo đảm mức lợi
nhuận cho cả Hội sở và Chi nhánh, đồng thời khuyến khích hoạt động kinh doanh của
các Chi nhánh. Bên cạnh đó, Hội sở còn phải thực hiện các giao dịch kinh doanh vốn
trên thị trường liên ngân hàng, mua bán ngoại tệ, đầu tư để phòng ngừa các rủi ro
thanh khoản và rủi ro lãi suất. Khối lượng công việc lớn và phức tạp đòi hỏi các Ngân


-17-

hàng phải có các chính sách quản trị rủi ro hiệu quả, theo sát với các thông lệ quốc tế
và đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của Khóa luận đã trình bày lý luận tổng quan về Cơ chế quản lý vốn
của Ngân hàng thương mại. So với cơ chế quản lý vốn phân tán, cơ chế quản lý vốn
tập trung có ưu điểm là giúp các Ngân hàng quản lý tập trung rủi ro thanh khoản và rủi
ro lãi suất, cũng như đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động của các Chi nhánh qua hệ
thống báo cáo chính xác và kịp thời. Cơ chế quản lý vốn tập trung cũng là cơ chế quản
lý vốn hiện đại, tiên tiến được áp dụng phổ biến tại các Ngân hàng ở các nước phát
triển trên thế giới.
Dựa trên cơ sở lý luận về cơ chế quản lý vốn tập trung đã trình bày, chương 2
của Khóa luận sẽ nghiên cứu thực trạng áp dụng cơ chế này tại NHTMCP Công
Thương Việt Nam và đánh giá các thành tựu cũng như hạn chế của việc áp dụng cơ
chế quản lý vốn tập trung tại Ngân hàng.


-18-

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG
TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Ngân hàng Công thương Việt Nam (tên Tiếng anh: Viet Nam Joint Stock
Commercial Bank For Industry and Trade - VietinBank) có trụ sở chính tại 108 Trần
Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Vietibank là một những ngân hàng thương mại
hàng đầu ở Việt Nam về quy mô vốn, giữ vai trò quan trọng trụ cột của ngành Ngân
hàng Việt Nam; có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 1 Sở giao dịch, 150 Chi
nhánh và trên 1000 Phòng giao dịch / Quỹ tiết kiệm. Hiện nay, VietinBank có 7 công
ty hạch toán độc lập là Công ty cho thuê Tài chính, Công ty Chứng khoán Công
thương, Công ty TNHH MTV Quản lý quỹ, Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý,
Công ty TNHH MTV Công đoàn và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ thông
tin, Trung tâm thẻ, Trường Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. VietinBank là ngân
hàng đầu tiên tại Việt Nam mở chi nhánh tại Frankfurt, Berlin (Châu Âu), đánh dấu
bước phát triển vượt bậc của nền tài chính Việt Nam trên thị trường khu vực và thế
giới. VietinBank hiện có quan hệ ngân hàng đại lý với gần 1000 Định chế tài chính lớn
trên toàn thế giới. Đồng thời, VietinBank cũng là ngân hàng tiên phong trong việc ứng
dụng công nghệ hiện đại và thương mại điện tử tại Việt Nam, đáp ứng tốt yêu cầu quản
trị và kinh doanh hiện đại. Ngân hàng luôn đầu tư nghiên cứu, cải tiến các sản phẩm
dịch vụ hiện có và phát triển các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Tầm nhìn đến năm 2018 của VietinBank là trở thành một Tập đoàn Tài chính
ngân hàng hiện đại, đa năng, theo chuẩn quốc tế, với sứ mệnh là ngân hàng số 1 của hệ
thống ngân hàng Việt Nam cung cấp sản phẩm dịch tài chính ngân hàng hiện đại theo
tiêu chuẩn quốc tế.
Quá trình hình thành và phát triển của NHTMCP Công Thương Việt Nam:
- Ngày 26/03/1988: Ngân hàng chuyên doanh Công thương Việt Nam tiền thân
của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam được thành lập theo Nghị định số
53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng).
- Ngày 14/11/1990: Chuyển Ngân hàng chuyên doanh Công thương Việt Nam
thành Ngân hàng Công thương Việt Nam (theo Quyết định số 402/CT của Hội đồng
Bộ trưởng).


-19-

- Ngày 27/03/1993: Thành lập Doanh nghiệp Nhà nước có tên Ngân hàng Công
thương Việt Nam (theo Quyết định số 67/QĐ-NH5 của Thống đốc NHNN Việt Nam).
- Ngày 21/09/1996: Thành lập lại Ngân hàng Công thương Việt Nam (theo Quyết
định số 285/QĐ-NH5 của Thống đốc NHNN Việt Nam).
- Ngày 23/09/2008: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phương án cổ phần hóa
Ngân hàng Công thương Việt Nam (theo Quyết định số 1354/QĐ-TTg).
- Ngày 25/12/2008: Ngân hàng Công thương tổ chức bán đấu giá cổ phần ra công
chúng thành công và thực hiện chuyển đổi thành doanh nghiệp cổ phần.
- Ngày 03/07/2009: NHNN quyết định cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho
Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (theo Quyết định số 142/GP-NHNN của
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
- Ngày 03/07/2009: Thống đốc NHNN chuẩn y Điều lệ tổ chức và hoạt
động Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (theo Quyết định số 1573/GP-NHNN).

Cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam:
Hình 2.1: Hệ thống tổ chức của NHTMCP Công Thương Việt Nam

Trụ sở chính

Sở giao dịch

Chi nhánh
cấp 1

Văn phòng
đại diện

Đơn vị
sự nghiệp

Công ty
Trực thuộc

Phòng giao
dich

Quỹ tiết kiệm

Chi nhánh
cấp 2

Phòng giao
dịch

Chi nhánh
trực thuộc

Phòng giao
dich

Quỹ tiết
kiệm


-20-

Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành tại Hội sở chính

Hình 2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành tại Sở giao dịch, các Chi nhánh
Giám đốc

Phó giám đốc

Trưởng phòng
Kế toán

Tổ kiểm tra
nội bộ

Các phòng
chuyên môn
nghiệp vụ

Phòng giao
dịch

Quỹ tiết
kiệm


-21-

2.2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.2.1 Quá trình chuyển đổi từ Cơ chế quản lý vốn phân tán sang Cơ chế
quản lý vốn tập trung của VietinBank.
Cơ chế quản lý vốn nội bộ được VietinBank thiết lập ngay từ những ngày đầu
mới tách ra từ Ngân hàng Nhà nước và đã trải nhiều quá trình phát triển, cải tiến theo
yêu cầu kinh doanh thực tế của Ngân hàng.
Lịch sử phát triển cơ chế quản lý vốn của VietinBank chia ra làm 3 giai đoạn
chính và đánh dấu sự chuyển đổi thành công từ cơ chế quản lý vốn phân tán sang cơ
chế quản lý vốn tập trung.
Giai đoạn 1: Cơ chế lãi suất điều chuyển chênh lệch cố định
Trước năm 2004, VietinBank thực hiện cơ chế quản lý vốn phân tán với lãi suất
điều chuyển vốn giữa Hội sở và Chi nhánh được tính bằng lãi suất bình quân huy động
thực tế tại Chi nhánh cộng với một tỷ lệ % khuyến khích cố định. Ưu điểm của Cơ chế
này là đã tính toán đến tính chất địa bàn của lãi suất huy động của các Chi nhánh, giúp
cho Chi nhánh gửi vốn luôn được hưởng tỷ lệ khuyến khích như nhau với bất kỳ lãi
suất huy động nào. Tuy nhiên, nhược điểm của Cơ chế này là chưa tạo được động lực
cho các Chi nhánh để giảm mặt bằng lãi suất huy động đầu vào do Chi nhánh luôn
nhận được phần lãi suất khuyến khích khi bán vốn cho Hội sở. Trong cơ chế này, giá
bán vốn của Hội sở được tính toán bảo đảm bù đắp các khoản chi phí tại Hội sở chính
như chi trả lãi tiền vay ngoài hệ thống và chi trả lãi cho Chi nhánh gửi vốn.
Giai đoạn 2: Cơ chế lãi suất điều chuyển một giá
Từ năm 2005 đến năm 2008, VietinBank đã chuyển sang cơ chế quản lý vốn
phân tán với lãi điều chuyển một giá (thống nhất cho toàn bộ hệ thống) nhằm khuyến
khích các Chi nhánh huy động nguồn vốn giá rẻ, giảm thấp chi phí đầu vào và tăng
hiệu quả kinh doanh. Ưu điểm của cơ chế này là tạo động lực cho các Chi nhánh huy
động các nguồn vốn đầu vào thấp để đạt được lợi nhuận cao khi bán vốn cho Hội sở và
cho khách hàng vay với lãi suất phù hợp để hưởng phần lãi suất chênh lệch so với lãi
suất mua vốn của Hội sở. Tuy nhiên, nhược điểm của Cơ chế này là không tính đến
yếu tố kỳ hạn đã làm mất cân bằng về kỳ hạn giữa danh mục cho vay và huy động của
từng đơn vị, từ đó tạo ra rủi ro thanh khoản lớn cho toàn hệ thống. Mặt khác, cơ chế


-22-

lãi suất điều chuyển một giá chưa giúp Hội sở chính có công cụ để điều tiết rủi ro lãi
suất của hệ thống do không có khả năng tính giá mua bán vốn khác nhau cho các giao
dịch có lãi suất cố định và lãi suất thả nổi.
Trước những hạn chế lớn của các cơ chế quản lý vốn phân tán, VietinBank đã
nghiên cứu và áp dụng cơ chế quản lý vốn tập trung từ năm 2009 để thúc đẩy hoạt
động kinh doanh và quản lý các rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất một cách hiệu quả.
Giai đoạn 3: Cơ chế quản lý vốn tập trung
Năm 2009, VietinBank thực hiện cổ phần hóa thành công và chính thức niêm yết
cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Cũng vào thời điểm đó, sự mở cửa của thị
trường tài chính ngân hàng Việt Nam đã dẫn đến cạnh tranh gay gắt về vốn và lợi
nhuận giữa các Ngân hàng. Áp lực lớn về mục tiêu tăng trưởng và hiệu quả hoạt động
trong quá trình hội nhập thị trường tài chính quốc tế đã đặt ra yêu cầu cho VietinBank
phải tính toán chính xác về giá trị của các nguồn vốn huy động và cho vay trên toàn hệ
thống ngân hàng. Từ đó, Hội sở chính mới đánh giá chính xác được thu nhập và chi
phí của từng đơn vị kinh doanh của ngân hàng (CN, phòng giao dịch, phòng khách
hàng), từng mảng nghiệp vụ, từng khách hàng….
Kể từ năm 2009, Cơ chế quản lý vốn tập trung và mô hình định giá điều chuyển
vốn khớp kỳ hạn (FTP) theo thông lệ quốc tế đã được VietinBank nghiên cứu và thử
nghiệm. Và kể từ ngày 2/4/2011, VietinBank đã áp dụng chính thức Cơ chế quản lý
vốn tập trung thông qua công cụ giá mua bán vốn nội bộ FTP. Toàn bộ Tài sản Nợ và
Tài sản Có của các Chi nhánh trên toàn hệ thống đều được mua bán với Trung tâm
Quản lý vốn tại Hội sở chính. Đồng thời, rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản cũng
được tập trung về Hội sở chính và được quản lý hiệu quả hơn.
Việc áp dụng cơ chế quản lý vốn tập trung đánh dấu một bước phát triển đột phá
của VietinBank để thực hiện chiến lược kinh doanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế
của Ngành Tài chính Ngân hàng. Trải qua 3 năm vận dụng, cơ chế quản lý vốn tập
trung đã đóng góp tích cực vào việc tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của
VietinBank và góp phần kiểm soát tốt các rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất. Nhưng
trong thời gian tới, cơ chế này vẫn cần phải được cải tiến, nâng cấp để theo sát các
chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là về hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ.


-23-

2.2.2 Vai trò của các cơ quan quản lý tại Hội sở chính và các Chi nhánh
trong Cơ chế quản lý vốn tập trung:
Để thực hiện cơ chế quản lý vốn tập trung một cách hiệu quả, các cơ quan quản
lý tại Hội sở các Ngân hàng và các Chi nhánh phối hợp với nhau theo các cấp và đều
có vai trò riêng, cụ thể:
- Hội đồng quản trị:
+ Định hướng các chính sách liên quan đến cơ chế quản lý vốn tập trung áp dụng
trong hệ thống NHTMCP Công thương Việt Nam trong từng thời kỳ.
+ Tổ chức rà soát, sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các quy định về cơ chế quản lý
vốn tập trung áp dụng trong toàn hệ thống NHTMCP Công thương Việt Nam phù hợp
với tình hình thị trường, định hướng kinh doanh của NHTMCP Công thương Việt Nam
và hướng tới thông lệ quốc tế.
- Tổng giám đốc:
+ Quyết định biểu lãi suất mua bán vốn, biểu chi phí/phần bù thanh khoản áp
dụng cho từng đối tượng khách hàng, từng sản phẩm cụ thể trong từng thời kỳ.
+ Quyết định phương pháp tính giá điều chuyển vốn nội bộ - FTP và phương
pháp điểu chỉnh giá điểu chuyển vốn nội bội trong từng thời kỳ.
+ Quyết định các hệ số điểu chỉnh thu nhập và chi phí từ mua bán vốn nội bộ của
các Chi nhánh trong từng thời kỳ.
+ Quyết định danh sách khách hàng đặc biệt và mức ưu đãi trong từng thời kỳ.
+ Trình HĐQT sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh Quy định về cơ chế FTP áp dụng
trong toàn hệ thống NHTMCP Công Thương Việt Nam phù hợp với tình hình thị
trường, định hướng kinh doanh của NHTMCP Công Thương Việt Nam và hướng
tới thông lệ quốc tế.
- Ủy Ban ALCO:
+ Tham mưu cho HĐQT về định hướng chính sách FTP áp dụng trong toàn hệ
thống trong từng thời kỳ.
+ Tham mưu cho HĐQT sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh quy định về cơ chế FTP áp
dụng trong toàn hệ thống NHTMCP Công Thương Việt Nam phù hợp với tình hình thị
trường, định hướng kinh doanh của NHTMCP Công Thương Việt Nam và hướng tới
thông lệ quốc tế.


-24-

- Phòng Kế hoạch và Hỗ trợ ALCO:
+ Nghiên cứu, đề xuất và trình Tổng giám đốc xem xét quyết định biểu lãi suất
mua bán vốn, chi phí/phần bù thanh khoản áp dụng cho từng đối tượng khách hàng,
từng sản phẩm cụ thể trong từng thời kỳ.
+ Phối hợp với các Chi nhánh và các Phòng khách hàng đề xuất danh sách khách
hàng đặc biệt và chính sách FTP đối với các giao dịch liên quan đến khách hàng này
trong từng thời kỳ.
+ Làm đầu mối phối hợp với các phòng khách hàng, phòng Kinh doanh dịch vụ,
Phòng Định chế Tài chính, Sở giao dịch, phòng Chế độ Tín dụng đầu tư, phòng quản
lý và hỗ trợ INCAS và các phòng ban liên quan nghiên cứu đề xuất trình Tổng giám
đốc xem xét trình HĐQT để quyết định phương pháp tính giá điều chuyển vốn nội bộ FTP và phương pháp điều chỉnh giá điểu chuyển vốn nội bộ cho từng sản phẩm cụ thể
phù hợp với từng thời kỳ.
+ Đầu mối phối hợp với Trung tâm Công nghệ thông tin vận hành hệ thống FTP;
phối hợp với Phòng quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp, Ban kiểm tra kiểm toán nội
bộ và Trung tâm công nghệ thông tin để giám sát, kịp thời phát hiện và đề xuất biện
pháp xử lý đối với những trường hợp xảy ra do rủi ro tác nghiệp dẫn tới sai lệch giá
mua bán vốn nội bộ FTP.
+ Phối hợp với Phòng thanh toán Việt Nam đồng để hạch toán FTP thu nhập,
FTP chi phí cho các Chi nhánh hàng ngày.
- Các Chi nhánh trên toàn hệ thống:
+ Các Chi nhánh chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ giao dịch,
bảo đảm tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật và quy định của NHTMCP Công
Thương Việt Nam.
+ Chịu trách nhiệm về tính chính sách và khớp đúng giữa nội dung hồ sơ giấy và
dữ liệu lưu trữ trên hệ thống INCAS.
+ Chấp hành đúng các chính sách, quy định về cơ chế quản lý vốn tập trung của
HĐQT, Ban Giám đốc đề ra.
2.2.3 Định giá điều chuyển vốn trong Cơ chế quản lý vốn tập trung
2.2.3.1 Phương pháp định giá điều chuyển vốn
Theo thông lệ trên thế giới, có 3 phương pháp định giá điều chuyển vốn:


-25-

- Phương pháp định giá điều chuyển vốn duy nhất (single pool method):
Phương pháp này xác định một giá mua duy nhất cho các giao dịch huy động vốn và
một giá bán duy nhất cho các giao dịch sử dụng vốn, không quan tâm đến kỳ hạn (cách
mà VietinBank áp dụng từ năm 2004 đến năm 2010). Phương pháp này đơn giản
nhưng lại không phản ánh đúng lợi nhuận của đơn vị so với rủi ro về thanh khoản và
rủi ro lãi suất của các khoản huy động và cho vay.
- Phương pháp định giá điều chuyển vốn phân theo kỳ hạn (multiple pool
method): Phương pháp này phân loại các giao dịch vốn theo một số kỳ hạn nhất định
(ví dụ 1 tháng, 2 tháng)...và tập trung tất cả các giao dịch vốn có cùng kỳ hạn vào một
nhóm (pool method) và áp dụng giá điều chuyển vốn cho tổng số dư của kỳ hạn đó,
không tính đến các tính chất khác nhau của các giao dịch như sản phẩm, khách hàng…
Do vậy, phương pháp này tuy đã áp dụng giá điều chuyển vốn riêng cho từng kỳ hạn
nhưng cũng chưa phân biệt được các sản phẩm có tính chất khác nhau như đối tượng
khách hàng, phương thức xác định lãi suất (thả nổi, cố định)…
- Phương pháp định giá điều chuyển vốn khớp kỳ hạn đến cấp giao dịch
(matched maturity method): Nhằm đáp ứng yêu cầu kinh doanh ngày càng phát triển
nhiều với các sản phẩm huy động vốn và tín dụng đa dạng, phương pháp định giá điều
chuyển vốn này phát triển lên một bước hiện đại hơn là mua bán vốn khớp theo tính
chất giao dịch của các Chi nhánh. Ví dụ tiền gửi của dân cư từ các Chi nhánh sẽ có giá
mua vốn khác với tiền gửi của Định chế tài chính từ các Chi nhánh do thanh khoản của
hai sản phẩm huy động vốn này khác nhau.
Hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ FTP do VietinBank nghiên cứu và xây
dựng áp dụng kết hợp 2 phương pháp thứ hai và thứ ba trên. Hệ thống cho phép định
giá mua bán vốn theo kỳ hạn và tính chất của giao dịch (sản phẩm, loại hình lãi suất,
đối tượng khách hàng) cho mảng hoạt động cho vay và huy động vốn. Các mảng hoạt
động khác như đầu tư, kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại được mua bán vốn theo
tính chất rủi ro và theo phương pháp định giá điều chuyển vốn theo kỳ hạn (pool
method). Hệ thống đính giá điều chuyển vốn nội bộ FTP cũng hỗ trợ Hội sở quản lý và
điều chỉnh thu nhập và chi phí điều chuyển vốn của các Chi nhánh theo đúng kỳ hạn
thực tế của giao dịch (ví dụ như các giao dịch tiền gửi rút sớm, nợ trả sớm…). So với


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×