Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO tìm HIỂU tư DUY mới về NHIỆM vụ bảo vệ tổ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

TÌM HIỂU TƯ DUY MỚI VỀ NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG
TÌNH HÌNH HIỆN NAY
I.VỀ MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa đưa đến sự thay đổi căn bản vị thế của giai cấp vô sản: từ
thân phận là nô lệ, làm thuê, không có Tổ quốc “trở thành dân tộc”, là chủ nhân thực sự có Tổ quốc, ra sức
chăm lo xây dựng cuộc sống mới vì hòa bình, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đó là sự tiến bộ xã hội. Sự phản
kháng quyết liệt của giai cấp tư sản nhằm mục đích tiêu diệt Nhà nước xã hội chủ nghĩa và khẳng định sự
thống trị của mình, xét theo góc độ quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế của nó, cũng là “một tất yếu lịch
sử” nhưng là “một tất yếu lịch sử buồn”, là sự thoái bộ xã hội, đi ngược lại nguyện vọng chính đáng của
nhân dân và xu thế phát triển của thời đại.
Để thực hiện sứ mệnh lịch sử toàn thế giới và bảo vệ lợi ích giai cấp đã được ghi trong Điều lệ của
Đảng Cộng sản, hiến pháp quốc gia, luật pháp quốc tế; giai cấp công nhân buộc phải bảo vệ Tổ quốc, bảo
vệ thành quả cách mạng đã giành được từ tay giai cấp thống trị. Sự xuất hiện Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội quy định tính tất yếu khách quan; mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa; đồng thời, quy định nội dung, hình thức thể hiện các điều khoản ghi trong Điều lệ của
Đảng Cộng sản và Hiến pháp quốc gia.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, sự ra đời Nhà nước Xô Viết - Nhà nước xã hội chủ
nghĩa đầu tiên trên thế giới năm 1917, đánh dấu cột mốc khởi đầu thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ
nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và cách mạng vô sản trên phạm vi toàn thế giới. Sự kiện này không chỉ
làm cho giai cấp tư sản Nga “kinh hoàng”; đã phản kháng lại giai cấp vô sản một cách quyết liệt, mà cả phe
đế quốc chủ nghĩa “run sợ”, đã xúm lại, tìm mọi cách hòng tiêu diệt Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên

trên thế giới còn rất non trẻ. Với phương châm “sống hay là chết”, “chân lý và lẽ phải thuộc về chúng ta”;
nhân dân Nga và cả nước Nga Xô Viết đã đứng dậy, đoàn kết xung quanh Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Bônsnêvích do V.I.Lênin đứng đầu, kiên quyết phá tan sự bao vây, phong tỏa, cấm vận của
các thế lực thù địch, tự giải phóng mình.
Từ ý nghĩa của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, V.I.Lênin khẳng định “Một cuộc cách mạng chỉ có giá
trị khi nó biết tự bảo vệ”1 và chủ trương bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngay từ ngày 25 tháng Mười năm
1917 đã giúp nhân dân Nga thời kỳ đó và nhân dân Liên Xô sau này bảo vệ vững chắc thành quả cách
mạng trước mọi mưu toan xâm lược và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo học thuyết khoa học, cách
mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có những quan điểm đúng
đắn về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và nó đã được thể hiện sâu sắc trong hai cuộc kháng
chiến “thần thánh” chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; trong công cuộc đổi mới, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đối với Đảng và nhân
dân ta, bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh hiện thời chính là bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đang xây dựng. Quan điểm, tư tưởng của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa đã được trình bày thành hệ thống; được ghi thành văn kiện Đảng và đưa vào Hiến pháp
nước ta phù hợp với từng giai đọan lịch sử.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội quan hệ chặt chẽ với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tính tất yếu khách
1

V.I.Lênin, Toàn tập, Nhà xuất bản, Tiến bộ, Matxcơva, 1977, tập 36, tr. 102


quan của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa quy định tính tất yếu khách quan của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội quy định và đòi hỏi những chủ nhân của sự
nghiệp ấy phải có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và nó đã được luật pháp hóa, thể
hiện sâu sắc trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tổ quốc là một phạm trù lịch sử, gồm hai phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội có quan
hệ chặt chẽ với nhau, quy định và chế ước lẫn nhau, không thể tách rời nhau. Những yếu tố tự nhiên, địa
bàn cư trú và hoạt động thực tiễn của cộng đồng dân cư cùng với quá trình đấu tranh sinh tồn, phát triển
luôn gắn bó chặt chẽ với những yếu tố chính trị - xã hội và chế độ kinh tế - chính trị, văn hóa - xã hội được
xây dựng trên nó. Bản chất của chế độ xã hội quy định tính chất, đặc điểm của tổ quốc trong mỗi giai đoạn
lịch sử cụ thể. Vì vậy, bảo vệ tổ quốc nói chung, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nói riêng tuy có khác
nhau về không gian, thời gian nhưng đều giống nhau ở chỗ: là một quá trình thống nhất biện chứng giữa
hai mặt bảo vệ: tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội và nội dung bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa không
nằm ngoài nhiệm vụ bảo vệ các nội dung thuộc hai mặt nêu trên.
Xét về mặt tự nhiên - lịch sử, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của
Tổ quốc, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ những giá
trị văn hoá truyền thống; bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc. Xét về mặt chính trị - xã hội, bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa là bảo vệ quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân, bảo vệ chế độ chính trị - xã hội mà giai


cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa để xây dựng và bảo vệ
chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ những thiết chế và hệ thống chính trị; quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ
những quan hệ quốc tế xã hội chủ nghĩa mà giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã
thiết lập, đang xây dựng và ngày càng làm cho các yếu tố của chủ nghĩa xã hội lớn dần lên và phát triển
bền vững.
Đối với dân tộc ta, từ ngàn xưa, Tổ quốc được quan niệm là “sơn hà”, “xã tắc” và ngày nay, “sơn hà”,
“xã tắc” của chúng ta chính là Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng; trong đó có
sự thống nhất biện chứng giữa Tổ quốc Việt Nam theo quan niệm của cha ông và quan niệm mácxít về Tổ
quốc hiện nay. Điều đó đã làm cho khái niệm Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ trong bản chất, nội
dung “sơn hà” đã được mở rộng hơn, tính chất và nội dung “xã tắc” đã hoàn toàn được đổi mới, nâng cao,
phù hợp với điều kiện lịch sử mới. Địa vực, lãnh thổ sinh tồn của Việt Nam ngày nay không chỉ là vùng
đất, vùng trời, vùng biển, biên giới, hải đảo mà còn bao gồm lãnh hải, các vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục
địa, khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên… Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay không chỉ là truyền
thống văn hóa đã hình thành từ lâu đời, mà còn là sự kế thừa, nối tiếp, phát triển, làm giàu có, sâu sắc hơn
hệ giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại.
Có thể khẳng định rằng, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là một thực thể thống nhất về tự nhiên lịch sử và chính trị - xã hội, bao gồm toàn bộ các yếu tố địa lý, lãnh thổ, dân cư, các giá trị văn hoá - lịch
sử, lợi ích kinh tế, quyền lực chính trị và chế độ xã hội chủ nghĩa. Cho nên, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa chính là bảo vệ hai mặt thống nhất biện chúng: tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội đã và
đang kiến tạo nên Tổ quốc ta hiện nay và các nội dung mà chúng ta đang xây dựng.
Xuất phát từ lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn lãnh đạo
cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn luôn xác định đúng đắn mục tiêu, nhiệm vụ và phương thức bảo vệ Tổ
quốc phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Các văn kiện, tài liệu của Đảng, đặc biệt là các Văn kiện
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ năm 1986 đến nay đã thể hiện sâu sắc sự nhất quán về đường lối,


mục tiêu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX, X, XI của Đảng ngày càng phản ánh đầy đủ, chính xác các nhiệm vụ quân sự, quốc
phòng, an ninh; thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ toàn cầu hóa và
hội nhập quốc tế.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X viết: Bảo vệ vững chắc Tổ quốc là “...bảo vệ độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa;
bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ
cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm
mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ” 2. Ngoài việc khẳng định rõ sự nhất quán
của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc về mặt tự nhiên - lịch sử là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ, tức là bảo vệ vùng đất, vùng trời, vùng biển, biên giới, hải đảo, thềm lục địa, khoáng sản, tài
nguyên thiên nhiên của đất nước mà các Đại hội Đảng trước đây đã khẳng định; Đại hội X nhấn mạnh
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc về mặt chính trị - xã hội là bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội
chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật
tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước.
Như vậy, xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong các văn kiện của mình, Đảng ta
đều chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt của một vấn đề bảo vệ Tổ quốc là tự nhiên - lịch sử và
chính trị - xã hội. Hai mặt này có quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung và quy định lẫn nhau nhằm một mục
đích: “ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động,
bất ngờ”.
Qua thực tiễn đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hơn 20 năm
thực hiện Cương lĩnh năm 1991, lần này, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta xác
định rõ hơn mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là: “ Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân
dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm
thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe
dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ, trong mọi tình huống” 3. Nhìn
chung, nội hàm bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XI nêu ra cơ bản thống nhất với nội hàm bảo vệ Tổ quốc mà
Đại hội X đã khẳng định. Tuy nhiên, xét về mặt tự nhiên - lịch sử, lần này, trong Văn kiện Đại hội XI, nội
hàm bảo vệ Tổ quốc đã được Đảng ta bổ sung cụm từ mới “giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng
trời” nhằm nhấn mạnh và khẳng định rõ ràng hơn vai trò, nhiệm vụ bảo vệ biển đảo của Tổ quốc; điều đó
hoàn toàn thống nhất với Chiến lược khai thác và bảo vệ biển đảo, thềm lục địa mà toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân ta đang khẩn trương triển khai, ra sức thực hiện.
Xét về mặt chính trị - xã hội, ngoài mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc như đã nêu ở Văn kiện Đại hội
X và các đại hội Đảng trước đó; lần này, trong Văn kiện Đại hội XI, xét về mặt chính trị - xã hội, nội hàm
bảo vệ Tổ quốc còn được Đảng ta bổ sung thêm cụm từ: “sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi
truyền thống mang tính toàn cầu”. Đây là điểm mới, phản ánh rõ hơn quá trình phát triển tư duy lý luận
2

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biêu toàn quốc lần thứ Đảng X, Nxb

CTQG, H.2006, trang 109
3

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG,

Hà Nội 2011, trang 233.


của Đảng ta về mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Rõ ràng là, vấn đề có tính nguyên tắc trong nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay là cần thấy rõ
và hiểu đầy đủ, sâu sắc hơn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xét trên cả hai mặt: tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã
hội; mối quan hệ biện chứng giữa hai mặt ấy. Trong đó, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết
định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bảo vệ Đảng, Nhà
nước; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và hạnh phúc của nhân dân. Vì một lý do nào đó, vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản bị lung lay; hiệu lực quản lý của Nhà nước bị thu hẹp đều dẫn đến nguy cơ đe dọa trực tiếp
sự tồn vong, sự mất còn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.
Bài học đắt giá về sự sụp đổ của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, các nước Đông Âu, bắt đầu từ
sự phai nhạt chủ nghĩa Mác - Lênin, xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng; là sự biến chất, thoái hóa về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; sự buông lỏng kỷ luật Đảng, khinh
nhờn luật pháp, hiến pháp, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền nhà nước và Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh
đạo xã hội là dẫn chứng điển hình về tính đúng đắn của những luận điểm mácxít: chủ nghĩa Mác - Lênin là
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc
cách mạng.
Giữ vững và phát huy tốt vai trò “nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng” là chủ
nghĩa Mác - Lênin; giải quyết tốt mọi vấn đề phát sinh của chính quyền cách mạng là hai trong nhiều mắt
khâu then chốt, đặc biệt quan trọng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chúng ta thấm nhuần
sâu sắc rằng, đối với chế độ ta, còn chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, còn có Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo, còn có Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì còn có chế độ mà chúng ta đang xây
dựng và do đó, thành quả cách mạng mà nhân dân ta bằng xương máu của mình đã giành lại được từ tay
quân thù mới được trân trọng gìn giữ, phát huy; tương lai, tiền đồ của quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của
nhân dân mới được bảo đảm; con cháu ngàn đời mới có được cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do, hạnh phúc.
Ngược lại, những điều nêu trên không còn thì chẳng những nhân dân ta sẽ mất tất cả các quyền công
dân của một nước độc lập, tự do, có chủ quyền, hạnh phúc được khẳng định và ghi trong Hiến pháp quốc
gia, luật pháp quốc tế mà còn bị trà đạp, giày xéo bởi phải quay về với “kiếp ngưa trâu”, gánh chịu thân
phận nô lệ, lầm than. Đó là điều không thể chấp nhận. Thực tiễn hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và
giữ nước của ông cha ta và hơn một trăm năm chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược đã khẳng
định chân lý “không có gì quý hơn độc lập tự do” mà Bác Hồ kính yêu sau hơn 30 năm đi tìm kiếm, trải
nghiệm thực tiễn để đúc kết, khái quát nên.
Trong bối cảnh hiện nay, trách nhiệm, bổn phận và nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân tham gia
bảo vệ Tổ quốc cũng chính là bảo vệ chân lý, lẽ phải, bảo vệ quyền sống làm người, bảo vệ gia đình, người
thân yêu ruột thịt; thành quả lao động do mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của mình, bao thế hệ người
Việt Nam đã dày công vun đắp, tạo dựng nên.
Có thể khẳng định rằng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới là bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa với các nội dung: bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và sự thống nhất toàn
vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ xã hội mà dân tộc ta đã lựa chọn, bảo vệ nền văn hoá
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, bảo vệ công cuộc lao động hoà bình của nhân dân ta. Mục tiêu, nhiệm vụ
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
lần thứ Tám khoá IX, các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X, XI của Đảng xác định: a). Bảo vệ vững chắc
độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời, vùng


đất; b). Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; c). Bảo vệ sự nghiệp đổi mới,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; d). Bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; e). Bảo vệ an ninh chính trị,
an ninh tư tưởng, văn hoá và an ninh xã hội; g). Giữ vững ổn định chính trị và môi trường hoà bình, phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. h). Chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt
động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống
mang tính toàn cầu, không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.
Mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nêu trên phản ánh đầy đủ các yếu tố về tự nhiên - lịch sử và về
chính trị - xã hội trong Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Chúng quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành chỉnh thể
thống nhất; bảo vệ nội dung này cũng có nghĩa là bảo vệ nội dung khác, và ngược lại. Thực chất bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới là bảo vệ Tổ quốc trong một chỉnh thể thống nhất: bảo
vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Trong bối cảnh hiện thời, tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh; xây dựng quân đội nhân dân và
công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa là một yêu cầu khách quan, là mệnh lệnh của cuộc sống. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa là sức mạnh tổng hợp: vật chất - kỹ thuật, chính trị - tinh thần, khoa học - công nghệ, quân
sự - quốc phòng - an ninh, gồm con người và tổ chức, sức mạnh hiện hữu và tiềm tàng, được xây dựng và
chuẩn bị chu đáo, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống xảy ra, kể cả cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí
công nghệ cao. Lực lượng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là lực lượng của cả hệ thống chính trị, bao gồm
toàn thể các giai tầng xã hội đặt trực tiếp, tuyệt đối dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của
Nhà nước; trong đó, quân đội nhân dân và công an nhân dân thực hiện chức năng là cơ quan tham mưu và
tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội nhân dân và các lực lượng vũ trang cách mạng luôn giữ vững và
phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp của giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc trong điều
kiện lịch sử mới. Đó là vấn đề cốt tử của một đội quân cách mạng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra và
nó đã được thực hiện ngay từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược cho đến
ngày nay. Vì vậy, trong sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (bổ sung, phát triển năm 2013), cần thể hiện sâu sắc
bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam. Để làm tốt
điều này, việc giữ lại và chỉnh sửa một số nội dung Chương 4: Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa,
(từ Điều 44 đến Điều 48 của Hiến pháp năm 1992) là rất cần thiết. Trong đó, vấn đề có tính nguyên tắc là
tiếp tục khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình,
ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Theo đó, trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2013) cần nhất quán khẳng định ba điểm: Thứ nhất,
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh huệ, hiện đại của
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thứ hai, Nhà nước ưu tiên xây dựng, phát triển lực lượng
vũ trang nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Thứ ba, bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa và giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ chính trị giữ vai trò trọng yếu trong sự
nghiệp phát triển đất nước. Trong sửa đổi Hiến pháp lần này, cần bổ sung vào Điều 45 Hiến pháp năm 1992
(sửa đổi năm 2013) cụm từ “Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân” và bổ sung vào Điều 48 Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi năm 2013) một số quy định về chế độ, chính sách đảm bảo đời sống vật chất, tinh thần cho
cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng thời, bổ sung, cập nhật quan điểm Đại


hội XI của Đảng vào Hiến pháp năm 1992 (bổ sung năm 2013) các nội dung về tiếp tục mở rộng hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc.
II. CHủ ĐộNG BảO Vệ Tổ QUốC TRƯớC NHữNG DIễN BIếN PHứC TạP CủA TìNH HìNH,
ÂM MƯU, THủ ĐOạN CHốNG PHá CủA CáC THế LựC THù ĐịCH
Gần đây, tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất phức tạp, khó lường, song nhìn chung, xu hướng
hoà bình, hợp tác, phát triển là vẫn chủ đạo. Trong đó, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã
hội, giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang phát triển, giữa tư tưởng nước lớn, bá quyền với
phong trào độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội vẫn là mâu thuẫn cơ bản của thời đại ngày nay. Mỹ vẫn sử
dụng nhiều thủ đoạn chính trị, kinh tế, quân sự để đạt được vị trí siêu cường duy nhất trên thế giới; các
nước lớn khác, nhất là Nga, Trung Quốc, ấn Độ dùng nhiều biện pháp để vươn lên trở thành cường quốc
trên thế giới, cạnh tranh gay gắt với Mỹ. Nhiều dân tộc trên thế giới đấu tranh mạnh mẽ hơn để bảo vệ độc
lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, do mối liên hệ, tác động của toàn cầu hoá
và hội nhập quốc tế, dù các mâu thuẫn nêu trên có gay gắt, có thể xảy ra xung đột, biến động, nhưng xu thế
chung của thời đại vẫn là hòa bình, hợp tác và phát triển.
Trong lĩnh vực kinh tế, do sự suy giảm vị thế kinh tế của Mỹ và sự vươn lên mạnh mẽ của các nước
thuộc nhóm BRIC (Braxin, Nga, ấn Độ, Trung Quốc), nhất là Trung Quốc; sự khẳng định vị thế của nhóm
nước đang phát triển mới VISTA (Việt Nam, Inđônêxia, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, áchentina); sự cạnh tranh
quyết liệt giữa các cường quốc kinh tế cũng như nhu cầu hội nhập kinh tế để phát triển của đa số quốc gia
đang phát triển; sự đổ vỡ liên tiếp của vòng đàm phán thương mại toàn cầu của WTO (vòng đàm phán
Đôha); hợp tác kinh tế quốc tế có một số xu toàn cầu với nội dung cơ bản là thúc đẩy tự do hoá thương
mại, đầu tư, dịch vụ vẫn tiếp tục được đẩy mạnh. Trong khuôn khổ thương mại và đầu tư, các thành viên
chủ chốt của WTO do nhu cầu tự thân về tái cơ cấu, ổn định và phát triển kinh tế, đã và đang tạm gác lại
những bất đồng về mở cửa thị trường các sản phẩm nông nghiệp của các nước phát triển và mở cửa thị
trường các sản phẩm công nghiệp, dịch vụ của các nước đang phát triển để kết thúc “Vòng đàm phán
Đôha”, tạo sức bật mới cho tăng trưởng kinh tế thế giới.
Trong khuôn khổ dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, các thiết chế tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế
giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) sẽ phải cơ cấu lại cả về cơ cấu tổ chức cũng như nội dung, danh mục
hợp tác, hỗ trợ bởi có sự đóng góp tài chính nhiều hơn của các cường quốc kinh tế (Trung Quốc, Nga, ấn
Độ...) cũng như một số nước đang phát triển khác. Vì thế, hợp tác tài chính - tiền tệ thế giới sẽ có sự thay
đổi lớn với việc tái cơ cấu mạnh hệ thống tài chính và hình thành các quỹ hợp tác tài chính - tiền tệ phòng,
chống khủng hoảng, bởi những tồn tại của hệ thống này trong thời gian qua đã gây nên hậu quả to lớn cho
hệ thống kinh tế - tài chính toàn cầu và sự bấp bênh của giá trị đồng USD, sự gia tăng vị thế của một số
đồng tiền chủ chốt trên thế giới (Euro, JPY...) cũng như đồng nhân dân tệ.
Điều đáng chú ý là nội dung hợp tác kinh tế toàn cầu sẽ được đẩy mạnh trong vấn đề chống lại tình
trạng nóng lên của trái đất do biến đổi khí hậu mà ở đó, lợi thế đang thuộc về các nước công nghiệp phát
triển.
Hiện nay, hợp tác kinh tế song phương với các hiệp định tự do thương mại (FTA), hiệp định đầu tư
song phương (BIT), hiệp định đối tác kinh tế (EPA), hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện (PCA)... đang
trở thành động lực thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế giữa các nước, vùng miền, lãnh thổ đi vào chiều sâu
với mức độ mở cửa mạnh hơn. Các nền kinh tế lớn trên thế giới, nhất là Mỹ, EU..., sau khủng hoảng và suy


thoái kinh tế thế giới, đã và đang tiến hành điều chỉnh, tái cơ cấu hệ thống kinh tế của bản thân các nước
này và toàn cầu thông qua tái khởi động mạnh hệ thống sản xuất trong nước thay vì đầu tư ra bên ngoài.
Mặt trái của tiến trình này là các nền kinh tế lớn sẽ tăng cường các biện pháp bảo hộ mậu dịch, đi ngược lại
với xu thế tự do hoá mà họ đã thiết lập và cổ vũ mạnh mẽ, tạo thách thức rất lớn cho các nước đang phát
triển trong hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển kinh tế.
Trong hợp tác về an ninh, mặc dù Mỹ tìm cách xây dựng “thế giới đơn cực” nhưng trật tự thế giới sẽ
phát triển theo xu thế đa cực. Với sự “trỗi dậy” của Trung Quốc và chính sách khôi phục vị thế cường quốc
của Nga thời Putin làm tổng thống (lần hai) có thể làm cho vị thế chính trị, kinh tế của Mỹ ngày càng suy
giảm; do những vấn đề an ninh phi truyền thống (khủng bố, biến đổi khí hậu, mâu thuẫn dân tộc và tôn
giáo, khủng hoảng năng lượng và lương thực, HIV/AIDS, dịch bệnh...) đã, đang và tiếp tục diễn ra trên
phạm vi toàn cầu; nên dù hoà bình, hợp tác vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng sự cạnh tranh giữa các nước lớn
diễn ra quyết liệt hơn với quy mô, mức độ, nội dung, hình thức khác nhau, dẫn đến các xu hướng lớn sau
đây:
Một là, hợp tác quân sự truyền thống vẫn được tăng cường nhằm đưa Mỹ trở thành siêu cường hoặc
đưa Nga, Trung Quốc thành cường quốc trên thế giới. Tại châu Âu, khối quân sự Bắc Đại Tây Dương
(NATO), dẫn đầu là Mỹ, được sự cổ vũ nhiệt thành của một số nước Đông Âu và nước cộng hoà thuộc
Liên Xô cũ, tiếp tục tiến về phía Đông nhằm bao vây, cô lập và khống chế Nga, tạo nên sự đối đầu quân sự
gay gắt tại châu Âu, dẫn tới một cuộc “chiến trạnh lạnh” mới trên thế giới. ở khu vực châu á, một liên minh
quân sự bao vây, chống Trung Quốc (liên minh quân sự châu á - Thái Bình Dương) do Mỹ dẫn đầu với các
đồng minh chủ chốt (Nhật Bản, Hàn Quốc, Ôxtrâylia, Philíppin, Thái Lan...) có thể hình thành nên cuộc
“chiến trạnh lạnh” trên thế giới. Tại khu vực Trung Đông, dù cuộc hoà đàm giữa Ixraen và Palextin có
thành công để hình thành một Nhà nước Palextin có chủ quyền thì liên minh quân sự Mỹ - Ixraen vẫn được
củng cố để Mỹ khống chế nguồn tài nguyên dầu mỏ to lớn tại khu vực, từ đó chi phối thế giới.
Ngược lại xu hướng trên, Nga, Trung Quốc trước sức ép bao vây, ngăn chặn của Mỹ và các đồng minh
của Mỹ; trước nhu cầu khẳng định địa vị cường quốc đối lập với Mỹ...; hai nước vừa ưu tiên đầu tư phát
triển tiềm lực quân sự, vừa liên kết với các đồng minh cũ và mới của mình để hình thành các liên minh
quân sự.
Nga sẽ củng cố liên minh với các nước thân thiết thuộc không gian hậu Xô Viết như Bêlarút,
Cadắcxtan...; tăng cường hợp tác với ấn Độ, Xiry, Iran, Vênêduêla.... Trung Quốc vẫn coi trọng và ưu tiên
quan hệ với các nước lớn (Mỹ, Nga, EU, ấn Độ...) để duy trì môi trường an ninh xung quanh Trung Quốc,
phối hợp chiến lược với các nước để kiềm chế, ngăn chặn Mỹ; tăng cường quan hệ và khả năng chi phối
các nước, các tổ chức trong các khu vực (Đông Bắc á, Đông Nam á, Trung Nam á) nhằm phá thế bao vây,
cô lập của Mỹ và đồng minh của Mỹ, từng bước trở thành cường quốc có sức đối trọng với Mỹ. Nhưng do
tiếp tục bị nhiều nước ngờ vực, Trung Quốc khó có thể tạo nên liên minh quân sự với nước nào mà tập
trung phát triển tiềm lực quân sự cho chính mình. Tuy nhiên, nếu cả Nga và Trung Quốc bị Mỹ và phương
Tây lấn át quá mạnh, bị xâm phạm đến lợi ích sống còn, khả năng liên minh, hợp tác sâu sắc hơn về quân
sự của Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) với nòng cốt là Nga, Trung Quốc vẫn có thể xảy ra.
Hai là, hợp tác an ninh phi truyền thống tiếp tục được đẩy mạnh, đa dạng về hình thức và nội dung, có
cả ý nghĩa tích cực và tiêu cực. Với ý nghĩa tích cực, các nội dung hợp tác cũ và mới có mục tiêu đảm bảo
an ninh, an toàn cho con người và cơ sở vật chất của các quốc gia trên thế giới. Với ý nghĩa tiêu cực, các
nội dung, hình thức hợp tác luôn ẩn chứa ý đồ của Mỹ và phương Tây phát huy, củng cố thế mạnh vốn có,


gây thiệt hại cho các nước đang và kém phát triển. Do đó, bên cạnh những công ước, điều ước, hiệp định,
sáng kiến, chương trình đã có như “chống khủng bố”, “chống phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt”..., Mỹ và
phương Tây tiếp tục lợi dụng các diễn đàn hợp tác quốc tế, khu vực để đề xuất các sáng kiến hợp tác an
ninh mới nhằm buộc các nước khác phải tham gia mà ở đó, phần thua thiệt luôn thuộc về các nước nhỏ,
kém phát triển hơn.
Xu hướng giành giật giữa đơn cực và đa cực, song thế giới phát triển theo đa cực. Do sự vươn lên
mạnh mẽ của các nước lớn và các quốc gia mới nổi, sự đấu tranh chống lại ý đồ bá chủ thế giới với Mỹ tiếp
tục diễn ra quyết liệt để vừa không cho Mỹ thực hiện được ý đồ, vừa tạo vị thế, lợi ích cho các nước này.
Trong khi đó, Mỹ đang ở xu thế đi xuống, vị thế và vai trò ngày càng suy giảm trên thế giới. Vì vậy, dù sự
đấu tranh, giành giật giữa xu hướng đơn cực và đã cực ngày càng gay gắt, nhưng xu thế chung của thế giới
là phát triển theo hướng đa cực.
Khoa học công nghệ cơ bản và ứng dụng phát triển mạnh, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ vật
liệu, nanô, sinh học, thông tin và truyền thông... cuộc chạy đua quyết liệt để tăng cường sức mạnh tổng hợp
quốc gia về kinh tế, chính trị, quân sự, nhất là các cường quốc Mỹ, Nga, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, ấn
Độ... sẽ khiến các quốc gia đặt ưu tiên cao cho phát triển khoa học công nghệ, nhằm đảm bảo vừa tiết kiệm
nguyên nhiên liệu, có giá trị gia tăng cao, vừa bảo vệ môi trường. Khoa học công nghệ trong tương lai
không chỉ là lực lượng sản xuất trực tiếp, động lực cho sự phát triển mà còn là một trong những nhân tố
(cùng với kinh tế) cực kỳ quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia và là cơ sở của trật tự thế giới mới.
Khoa học công nghệ quân sự được phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu bởi sự cạnh tranh giành địa vị
“quán quân” trên thế giới của các cường quốc. Tốc độ nghiên cứu, ứng dụng các phát minh khoa học mới
để chế tạo các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại ngày càng nhanh hơn, tạo cơ sở vật chất để mở rộng
các hình thức tác chiến mới, vươn mạnh sang tác chiến điện tử và vũ trụ.
Trong xu thế đó, các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội ngày càng
phát triển. Trung Quốc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và phát triển thể chế chính trị và kinh tế theo con
đường xã hội chủ nghĩa mang “đặc sắc Trung Quốc”, trở thành một trong những hình mẫu phát triển cho
các nước muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sức mạnh tổng hợp quốc gia của Trung Quốc tiếp tục tăng
nhanh, mạnh không chỉ nhờ hệ quả của hơn 35 năm cải cách, mở cửa và vươn lên hàng thứ 2 sau Mỹ, vượt
xa Nhật Bản và Đức; mà còn tiếp tục gặt hái những thành quả mới thông qua liên tục đổi mới về tư tưởng,
hoạch định và tổ chức thực hiện đúng đắn, sáng tạo đường lối chiến lược của các kỳ đại hội Đảng Cộng sản
Trung Quốc. Đã có nhiều dự báo, khoảng 30 - 40 năm nữa, kinh tế Trung Quốc sẽ trở thành nền kinh tế lớn
nhất thế giới, và đương nhiên, sẽ trở thành quốc gia có khả năng chi phối thế giới trên nhiều lĩnh vực.
Sự lớn mạnh nhanh chóng và gia tăng vai trò của Trung Quốc là hiện tượng hoàn toàn mới so với thế
kỷ XX. Nếu như Liên Xô trước đây chỉ có ưu thế về chính trị, quân sự là chính, còn kinh tế chưa phải là
đối thủ đáng gờm với Mỹ và một số nước phát triển, thì ngày nay và trong nhiều năm tới, Trung Quốc có
lợi thế, vị thế trên cả ba lĩnh vực và ngày càng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn cầu.
Tuy nhiên, trong giai đoạn thoái trào của hệ thống xã hội chủ nghĩa kể từ khi Liên Xô và các nước xã
hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, phong trào xã hội chủ nghĩa đã và đang cần một nước xã hội chủ nghĩa có
đủ tiềm lực, ý chí và quyết tâm làm người dẫn đường, thì Trung Quốc không thể làm được.
Trong khi mở rộng quan hệ với mọi quốc gia trên thế giới, thậm chí tài trợ mạnh cho các nước không
phải là xã hội chủ nghĩa, thì sự giúp đỡ, hỗ trợ của Trung Quốc đối với phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế thật không đáng kể. Đặc biệt, chiến lược phát triển, “trỗi dậy” của Trung Quốc luôn thực hiện theo


phương châm “trụ chân cho vững, trường kỳ mai phục, bình tĩnh quan sát, quyết không đi đầu” rất thực
dụng cho thấy, Trung Quốc khó có thể trở thành thành trì của chủ nghĩa xã hội như Liên Xô đã làm trước
đây để các nước ít nhất coi đó là tấm gương noi theo.
Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại như Việt Nam, Cu Ba, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, nhất
là Việt Nam dù đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về chính trị và kinh tế, được thế giới công
nhận, thán phục và ngưỡng mộ; dù đã nỗ lực cao trong ưu tiên giúp đỡ phong trào cộng sản và công nhân
quốc tế cũng như phong trào độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; nhưng do là những nước nhỏ, tiềm lực còn
yếu, nên nhiệm vụ quan trọng nhất của các nước này là vững bước trên con đường đổi mới, từng bước xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở vật chất quan trọng để xây dựng chủ
nghĩa xã hội; mỗi nước sẽ có sự lựa chọn con đường phát triển cho riêng mình, phù hợp với xuất phát điểm,
điều kiện, hoàn cảnh, mối quan hệ với các nước trên thế giới, phù hợp với tiềm lực và sức mạnh tổng hợp
của chính mình. Con đường tiếp tục sự nghiệp đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam và những động thái đổi mới kinh tế ở Cu Ba gần đây cho thấy, các nước này đang trở
thành tấm gương lớn cho nhiều quốc gia có cùng điều kiện, hoàn cảnh và có mong muốn xây dựng chế độ
xã hội chủ nghĩa noi theo.
Nga và một số nước thuộc cộng đồng các quốc gia độc lập, tuy không theo con đường xã hội chủ
nghĩa, nhưng thể chế chính trị không tương đồng với thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, đang có những
mâu thuẫn gay gắt với thế giới tư bản. Dù cơ sở hạ tầng kinh tế, văn hoá, xã hội vẫn đọng lại rất nhiều nhân
tố xã hội chủ nghĩa; Đảng Cộng sản vẫn kiên trì đấu tranh trên con đường xã hội chủ nghĩa, trước mắt là
duy trì hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa..., nhưng các nước này khó quay trở lại con đường xã hội chủ nghĩa đã
từng đi, dù tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia sẽ được khôi phục và có vị thế trên trường quốc tế.
Như vậy, dù phong trào xã hội chủ nghĩa sau thời kỳ thoái trào chưa thể hồi phục và trở thành xu thế
lớn của thời đại trong ngắn hạn; nhưng về dài hạn, tức là trong tương lai, với những gì đã và đang có, với
tiềm năng, chiều hướng phát triển hiện nay, có thể dự báo rằng, xu thế nhiều nước đi theo và xây dựng chế
độ xã hội chủ nghĩa là rất lớn, con đường xã hội chủ nghĩa là tất yếu của thời đại ngày nay.
Phong trào độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội tiếp tục phát triển. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
nhận thức chỉ có độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội mới có cơ sở để phát triển, thực hiện tiến bộ xã hội. Thực
tế nhiều năm qua cho thấy, chỉ nước nào giành được độc lập, chủ quyền về chính trị và kinh tế, tự quyết
định vận mệnh của quốc gia và dân tộc mình; đồng thời có chủ trương, chính sách phát triển phù hợp trong
giai đoạn toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, mới có khả năng phát triển toàn diện, vững chắc, mang lại vị
thế cho đất nước và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Vì vậy, xu hướng này sẽ tiếp tục được
nhiều nước lựa chọn và phát huy.
Thực tế thời đại ngày nay đã chứng tỏ các loại chủ nghĩa thực dân, kể cả chủ nghĩa thực dân mới đã lỗi
thời. Nhiều năm qua, cuộc đấu tranh của các nước với mặt trái của toàn cầu hoá, của hội nhập quốc tế ngày
càng quyết liệt, thể hiện rõ nét ở việc các nước đang phát triển đấu tranh không khoan nhượng đòi các nước
phát triển phải đối xử công bằng về chính trị, kinh tế, văn hóa... trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là quan hệ
kinh tế. Trong những năm tới, cuộc đấu tranh này sẽ càng mạnh hơn khi bản thân mô hình kinh tế thị
trường tự do tư bản chủ nghĩa đã bộc lộ những khuyết tật lớn, làm cho các nước tư bản chủ nghĩa suy yếu
đi tương đối, cán cân lực lượng sẽ trở nên bớt chênh lệch hơn.
Về xu hướng phát triển của các nước tư bản chủ nghĩa. Tuy Mỹ vẫn giữ được vị thế siêu cường nhưng
đã và đang bị đe doạ so với giai đoạn đỉnh cao hơn một thập kỷ qua sau khi Liên Xô và các nước xã hội


chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã. Trước mắt, Mỹ có sức mạnh tổng hợp vượt trội so với bất kỳ quốc gia nào trên
thế giới. Về kinh tế, tuy Mỹ chỉ chiếm 4% dân số thế giới nhưng chiếm tỷ tới 30% GDP toàn cầu, chi phối
hầu hết các tổ chức tài chính tiền tệ và thương mại quốc tế (IMF, WB, WTO), có nhiều công ty xuyên quốc
gia nhất trên thế giới, dẫn đầu về kinh tế tri thức. Về khoa học công nghệ, sản phẩm công nghệ cao của Mỹ
chiếm 70% của thế giới, dẫn đầu 27/33 ngành khoa học mũi nhọn, chiếm trên 60% bằng phát minh sáng
chế. Về quân sự, Mỹ có bộ máy quân sự khổng lồ với các loại vũ khí, trang bị hiện đại nhất, chiếm 47% chi
phí quân sự thế giới. Về chính trị, Mỹ vẫn tiếp tục thao túng, chi phối nhiều nước, tổ chức quốc tế lớn và
các khu vực trên thế giới. Tuy nhiên, vị thế này của Mỹ đang ngày càng bị lung lay bởi tương quan lực
lượng cũng như chính bản thân nước Mỹ. Kinh tế Mỹ đang suy giảm bởi suy thoái, khủng hoảng tài chính
đã nổ ra với mức độ nghiêm trọng nhất kể từ năm 1929; nợ Chính phủ đã lên tới trên 10.000 tỷ USD, cơ
cấu nợ đã xuất hiện cả đối thủ chiến lược về ý thức hệ là Trung Quốc so với thời kỳ chiến tranh lạnh (Mỹ
không nợ Liên Xô mà ngược lại).
Mỹ cũng không còn chiếm vị thế độc tôn về khoa học và công nghệ; các đối thủ cạnh tranh như Nhật
Bản, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nga... đang tìm cách vươn lên, thách thức Mỹ, đặc biệt trong lĩnh
vực vũ trụ. Bộ máy quân sự khổng lồ, hiện đại của Mỹ đã và đang sa lầy ở ápganixtan ...trong khi nhiều
đồng minh chủ chốt của Mỹ đang lần lượt rút đi, làm cho gánh nặng về tài chính ngày càng đè lên nước
Mỹ. Về chính trị, Mỹ đã, đang và tiếp tục trở thành đối tượng căm ghét ở mọi nơi, là đối thủ cạnh tranh của
các nước lớn. Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ, lan rộng ra các nước tư bản đã và đang
tạo thách thức rất lớn đối với việc duy trì vị thế của các nước tư bản chủ nghĩa trong hệ thống kinh tế thế
giới, dù có thể hồi phục trong tương lai. Vì vậy, chủ nghĩa tư bản sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển nhưng sức
mạnh và ảnh hưởng của nó không giống như các thập niên của thế kỷ XX.
Một Liên minh châu Âu (EU) thống nhất và mở rộng, lại có tiềm lực kinh tế - khoa học công nghệ sánh
ngang với Mỹ, sẽ trở thành cực rất quan trọng trong cán cân quan hệ với Mỹ để tự quyết định các vấn đề
của mình cũng như ảnh hưởng lớn hơn trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, chính sự mở rộng của EU sang
phía Đông đã và đang làm tăng thêm mâu thuẫn trong nội bộ khối này do chênh lệch về trình độ phát triển
giữa các nước. Mặt khác, sự lệ thuộc của EU vào Nga trong nhiều vấn đề, nhất là năng lượng, sẽ tác động
tới quan điểm của từng nước trong ứng xử với Nga, làm cho mâu thuẫn nội bộ cũng như giữa EU với Mỹ
sẽ phức tạp hơn.
Nhật Bản tuy là một cường quốc kinh tế mạnh, nhưng khả năng trở thành siêu cường quốc, có vị thế
lớn trên thế giới và châu á là không cao, nhất là sau động đất, sóng thần năm 2011 và tranh chấp biển đảo
với Hàn Quốc hiện nay. Chính quyền Nhật Bản sẽ tiếp tục thúc đẩy tiến trình sửa đổi hiến pháp, xây dựng
những dự luật mới để đưa quân đội ra hoạt động ở bên ngoài, tăng cường quan hệ với Mỹ, cải thiện quan
hệ với Trung Quốc và Hàn Quốc, thúc đẩy cải cách Liên hợp quốc, mở rộng ảnh hưởng tại Đông Nam á,
Trung á và Trung Đông.
Những vấn đề đặt ra đối với việc giải quyết các vấn đề toàn cầu, tác động, ảnh hưởng của nó đối với
nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Chiến tranh thế giới khó có thể xảy ra do
mối quan hệ quốc tế ngày càng đan xen phức tạp hơn và với kho vũ khí mà các cường quốc hạt nhân đang
sở hữu, cuộc chiến này sẽ không có kẻ thắng người thua. Tuy nhiên, với các mâu thuẫn khu vực cả cũ và
mới, đặc biệt là tại Trung Đông, Bắc á, ấn Độ - Pakixtan... thì nguy cơ xảy ra chiến tranh cục bộ trên quy
mô lớn chưa bị loại trừ.


Việc giải quyết các vấn đề chính trị quốc tế về cơ bản vẫn dựa vào Liên hợp quốc, nhưng vị thế của tổ
chức này ngày càng bị yếu đi do các cường quốc đơn phương thực hiện mục tiêu chiến lược riêng của
mình. Các tổ chức, diễn đàn quốc tế (SCO, ASEAN, ALBA.... và các tổ chức phi chính phủ - NGO) sẽ tiếp
tục hợp tác chặt chẽ hơn, tự giải quyết các vấn đề của khu vực, thách thức địa vị của Mỹ cũng như Liên
hợp quốc do Mỹ chi phối.
Xu hướng hợp tác kinh tế quốc tế xuất hiện nhiều vấn đề mới, nhất là hợp tác về tài chính, biến đổi khí
hậu và môi trường. Trước nguy cơ, thách thức mới của kinh tế thế giới, nhất là khủng hoảng tài chính, năng
lượng, lương thực, hệ quả của phát triển kinh tế bất chấp những thiệt hại tới môi trường; hợp tác kinh tế
quốc tế đang và tiếp tục đặt trọng tâm vào những vấn đề này, đi đầu là các nước lớn. Tuy nhiên, trong quá
trình hợp tác trên, các nước có tiềm lực yếu hơn nếu không cảnh giác, sẽ tiếp tục bị thua thiệt.
Song song với việc tăng cường hợp tác toàn cầu, hợp tác khu vực cũng được đẩy mạnh. Tại châu á, hợp
tác khu vực ASEAN sẽ ngày càng chặt chẽ và chắc chắn sẽ hình thành Cộng đồng ASEAN vào những năm
tới đây với ba trụ cột là Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC) và Cộng
đồng văn hoá - xã hội ASEAN (ASSC) khi nền tảng của nó là Hiến chương ASEAN đã được tất cả các
thành viên thông qua; không chỉ dừng lại hợp tác nội khối, hợp tác giữa ASEAN với bên ngoài thông qua
các cơ chế ASEAN+1, ASEAN+3, ASEAN+5 đang phát triển linh hoạt mà trọng tâm là hợp tác kinh tế;
hợp tác khu vực Đông Bắc á sẽ được tăng cường khi mối quan hệ Trung Quốc - Nhật Bản đang dần được
cải thiện.
Hợp tác liên khu vực sẽ ngày càng gắn kết chặt chẽ hơn, tạo cơ sở cho tăng trưởng kinh tế của các
thành viên. Điển hình của mô hình này là Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC) với
21 nền kinh tế thành viên sẽ ngày càng được tăng cường, nhiều khả năng sẽ hình thành Khu vực tự do
thương mại châu á - Thái Bình Dương (FTAAP). Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) với 39 thành viên,
chiếm 40% dân số thế giới, 50% sản lượng toàn cầu sẽ ngày càng có vị thế quan trọng. Tổ chức hợp tác
Thượng Hải với sự có mặt của hai thành viên lớn là Nga (sau khi đã vào WTO) và Trung Quốc sẽ dần
khẳng định vị thế cả về kinh tế, chính trị, quân sự, thách thức ý đồ can dự vào khu vực Trung á cũng như
bao vây, kiềm chế các nước trên của Mỹ.
Việc hình thành các tổ chức mới về chính trị, quân sự khu vực sẽ không có nhiều mà sẽ là tăng cường,
củng cố các cơ cấu, tổ chức hiện có. Tổ chức quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) do Mỹ cầm đầu vẫn là
tổ chức quân sự lớn nhất thế giới, tiếp tục thực hiện ý đồ tiến về phía Đông để chia cắt các nước thuộc
không gian hậu Xô Viết, thực hiện chiến lược bao vây, kiềm chế Nga. Tuy không thể hình thành khối quân
sự, nhưng một liên minh quân sự Đông á do Mỹ cầm đầu cùng các đồng minh Nhật Bản, Hàn Quốc,
Ôxtrâylia... sẽ ngày càng chặt để bao vây, ngăn chặn ảnh hưởng của Trung Quốc. Hội đồng phòng thủ Nam
Mỹ mới hình thành, tiềm lực yếu, lại chưa và khó thống nhất, nên khó trở thành tổ chức quân sự có vị thế
tại châu Mỹ.
Việc hình thành các tổ chức kinh tế khu vực sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ ở khắp các châu lục với quy
mô và mức độ hợp tác khác nhau để phát huy lợi thế riêng có của từng khu vực, từng nhóm nước. Cộng
đồng kinh tế ASEAN (AEC) sẽ được thành lập để thay thế cho Khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA)
hiện nay để gắn kết sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa 10 quốc gia thành viên trên nhiều lĩnh vực, từ thương mại,
đầu tư tới tài chính - tiền tệ.
Sự tranh dành ảnh hưởng giữa Mỹ và đồng minh của Mỹ với Trung Quốc ở khu vực Đông Nam á, nhất
là Biển Đông sẽ tác động đến sự phát triển của các nước và quan hệ giữa các nước trong khu vực, trong đó


có Việt Nam. Trong mối liên hệ nhiều chiều này, sẽ xuất hiện những thuận lợi, thời cơ cũng như những khó
khăn, thách thức mới cả về chính trị, kinh tế, quân sự; đòi hỏi các nước, nhất là các nước nhỏ như Việt
Nam phải vừa tỉnh táo, linh hoạt, mềm dẻo trong ứng xử các mối quan hệ quốc tế; vừa kiên định thực hiện
hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nhằm đưa đất nước lên tầm cao
mới, có vị thế lớn hơn trên trường quốc tế.
Với sự “trỗi dậy” và ý đồ chi phối các cơ chế hợp tác khu vực, sự độc chiếm biển Đông của Trung
Quốc thông qua các chiến lược cũ và mới, quá trình hợp tác đòi hỏi chúng ta luôn tạo ra sự hài hoà giữa
thúc đẩy hợp tác nội khối cũng như giữa khu vực với các cường quốc bên ngoài nhằm vừa đảm bảo phát
triển các nhân tố nội tại, vừa đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế nhằm tránh sự chi phối, thao túng của
Trung Quốc đối với nước ta trước mắt cũng như lâu dài cần được nghiên cứu công phu, nghiêm túc và giải
quyết thỏa đáng, đúng tầm chiến lược.
Đối với nước ta, nền hoà bình, ổn định, toàn vẹn lãnh thổ, sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ
nghĩa đang chịu tác động của một số nguy cơ, thách thức từ bên ngoài không thể xem thường. Đó là cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao và ảnh hưởng ngày càng
sâu sắc. Với những tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghê, lực lượng
sản xuất phát triển mạnh mang tính nhảy vọt, nhiều ngành công nghệ mới đã ra đời, phân công lao động
trên phạm vi toàn thế giới ngày càng đi vào chiều sâu, quan hệ kinh tế giữa các nước ngày càng mở rộng,
sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc ngày càng tăng lên, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hoá nền kinh tế và đời sống xã hội. Công nghệ mới ra đời đã, đang và
sẽ thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ hơn, trong đó quan hệ mậu dịch tự do sẽ phát triển
nhanh chóng, trở nên đan xen hơn, sự phụ thuộc, chi phối qua lại giữa các nước ngày càng chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật và công nghệ sẽ tiếp tục diễn ra không đồng đều
ở các khu vực, các quốc gia và ngay trong từng nước sẽ tạo ra những mâu thuẫn mới. Đây vừa là cơ hội,
vừa là thách thức đối với các nước vừa và nhỏ bởi sự chèn ép của các nước lớn và nguy cơ xói mòn bản sắc
văn hóa dân tộc. Việt Nam là nước hội nhập sau với nhiều nước trên thế giới, vì vậy mặc dù chưa hội nhập
về văn hoá nhưng đã có sự tiếp biến về văn hoá ở mức độ nhất định.
Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế là một quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu
tranh rất phức tạp, đặc biệt là đấu tranh bảo vệ lợi ích dân tộc, vì một trật tự kinh tế quốc tế công bằng,
chống lại những áp đặt phi lý của các cường quốc. Toàn cầu hoá kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng
chứa đựng nhiều yếu tố gây bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước
đang phát triển như Việt Nam.
Quan hệ giữa các nước lớn, nhất là “trục” quan hệ Mỹ - Trung có tác động, ảnh hưởng mạnh đến tình
hình Việt Nam, đặc biệt là nó luôn tiềm ẩn nguy cơ của một sự thoả hiệp, gây phương hại đến lợi ích quốc
gia dân tộc Việt Nam, nhất là ở khu vực Biển Đông - Trường Sa. Mỹ và một số nước lớn khác đang tìm
cách can thiệp, chi phối khối ASEAN và các nước láng giềng của Việt Nam như Lào và Campuchia. Nếu
các nước này bị chi phối sẽ tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế, chính trị, văn hoá - xã
hội Việt Nam.
Vấn đề biên giới, đặc biệt là vấn đề tranh chấp lãnh thổ và lợi ích của biển Đông sẽ tiếp tục diễn biến
phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xung đột vũ trang ở biên giới, biển đảo, nhất là khu vực quần đảo Trường Sa và
nhà dàn DK I. Cùng lúc đó, những khó khăn, thách thức tạo ra nguy cơ bên trong đối với nền hoà bình, ổn
định, toàn vẹn lãnh thổ, sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta xuất phát từ việc tăng


cường xâm nhập, chống phá của các thế lực thù địch trong nước cấu kết với các thế lực thù địch bên ngoài
là không thể xem thường.
Sau nhiều năm thực hiện chính sách bao vây, cấm vận, chống đối không đạt kết quả, Mỹ và phương
Tây đã điều chỉnh chiến lược với nhiều thủ đoạn, biện pháp tinh vi, thâm độc, thực hiện chính sách hai mặt,
vừa ve vãn lôi kéo, vừa gây sức ép đối với Việt Nam nhằm tạo ra sự mơ hồ về chính trị trong xác định đối
tác và đối tượng của một bộ phận quần chúng nhân dân. Đặc biệt, trong mấy năm gần đây, một mặt, Mỹ
thúc đẩy quan hệ với Việt Nam, tăng cường các chuyến thăm cấp cao và hợp tác kinh tế, ủng hộ Việt Nam
gia nhập WTO và trở thành Uỷ viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc... Mặt khác, Mỹ
tìm mọi cách xâm nhập, tác động, chi phối một số lĩnh vực, thông qua “hỗ trợ sáng kiến” để thúc đẩy “cải
cách dân chủ” để “chuyển hoá” chế độ chính trị ở Việt Nam theo hướng có lợi cho Mỹ. Các thủ đoạn, biện
pháp chính mà họ thường sử dụng là: Xâm nhập, hướng lái ngành giáo dục đào tạo và truyền thông Việt
Nam theo hướng phương Tây, đưa nội dung “dân chủ” kiểu Mỹ vào hệ thống báo chí và nền giáo dục Việt
Nam nhằm tác động, chuyển hoá tư tưởng, lối sống của các thế hệ Việt Nam, nhất là giới trẻ, học sinh, sinh
viên.
Để đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” Việt Nam, Mỹ cho rằng, nhất thiết phải có hai yếu tố: (1) “Dân
chủ hoá” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam; (2) “Dân chủ hoá” trong truyền thông và trong xã hội. Hai
yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, tuy yếu tố “dân chủ hóa trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam”
mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hoá” nhưng nếu không có yếu tố “dân chủ hoá” trong truyền
thông và trong xã hội thì không thể đẩy nhanh “tự diễn biến” từ bên trong. “Dân chủ hoá truyền thông” là
đưa “dân chủ” vào trong truyền thông Nhà nước, đồng thời thúc đẩy vai trò truyền thông phi chính thống.
Theo đó, những năm qua, Mỹ và phương Tây đã sử dụng các công cụ truyền thông chủ yếu, gồm truyền
thông của Mỹ và phương Tây, truyền thông của bọn phản động trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại và
lợi dụng hệ thống truyền thông Việt Nam để tạo dư luận nhằm kích thích tư tưởng “tự do” theo tiêu chí của
phương Tây.
Đồng thời, Mỹ tìm mọi cách hạ thấp nền giáo dục Việt Nam, quảng bá nền giáo dục Mỹ và thực hiện
các dự án hợp tác giáo dục đào tạo để lồng ghép nội dung nhằm tác động, “chuyển hoá” học sinh, sinh viên
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống theo kiểu Mỹ. Trên thực tế, Mỹ đã tiến hành các hoạt động như: Lợi
dụng những bất cập của nền giáo dục Việt Nam để đưa ra những đánh giá xuyên tạc về tình hình giáo dục ở
Việt Nam và tuyên truyền, quảng bá, khuếch trương nền giáo dục Mỹ; Hỗ trợ các quỹ, các chương trình
đào tạo, tuyển chọn cán bộ đang công tác trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước để đào tạo thế hệ cán
bộ có tư tưởng thân Mỹ và phương Tây; Tổ chức “nghiên cứu khoa học”, thành lập “Trung tâm nghiên cứu
khoa học” để lôi kéo trí thức, nhất là các nhà khoa học Việt Nam...
Một số thủ đoạn tinh vi đang được các thế lực thù địch sử dụng là tung tin, tạo dư luận nhằm gây mâu
thuẫn nội bộ ta như đề cao vai trò của Chính phủ và Quốc hội Việt Nam nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam; thúc đẩy các cơ quan lập pháp tách dần khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Họ đã tung tin xuyên tạc rằng, trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đang hình thành “bè phái, vây
cánh”, không có sự đoàn kết, thống nhất. Đồng thời, họ lợi dụng Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI của
Đảng ta về “một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay” và những vấn đề phức tạp, bức xúc xã
hội khác như tham nhũng, biểu tình, đình công, khiếu kiện... để kích động, chia rẽ đoàn kết trong nội bộ
Đảng Cộng sản Việt Nam và làm giảm niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.


Phương Tây chủ trương, thông qua việc ủng hộ chương trình hành động của Chính phủ nhằm tạo nên
sự “đối lập” giữa Đảng và Nhà nước để giảm dần quyền lực của Đảng, hình thành “Nhà nước kỹ trị dựa
trên pháp lý thay thế Nhà nước Đảng trị”. Mỹ và phương Tây còn tìm cách thúc đẩy “dân chủ hoá” Quốc
hội và các cơ quan lập pháp nhằm tách dần các cơ quan này ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam.
Sử dụng các điều kiện hội nhập quốc tế và những khó khăn về kinh tế, xã hội để ép Việt Nam cải cách
luật pháp theo ý đồ của phương Tây; tác động vào các cơ quan hoạch định chiến lược của Đảng, Nhà nước
để làm thay đổi đường lối, chính sách, chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Mỹ và phương Tây đã trực tiếp
hoặc gián tiếp tác động vào các cơ quan hoạch định chiến lược của Việt Nam; sử dụng sức ép từ bên ngoài,
đặc biệt là các điều kiện hội nhập quốc tế để tác động, “chuyển hoá” đường lối, chính sách và pháp luật của
Việt Nam; lợi dụng những khó khăn về kinh tế, thông qua “góp ý, khuyến nghị” lãnh đạo các cấp để tác
động, hướng lái chính sách kinh tế vĩ mô của Việt Nam theo ý đồ của họ; đồng thời tìm cách công kích các
tập đoàn, tổng công ty Nhà nước nhằm xoá bỏ vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Qua đó, tìm cách xâm nhập, tác động, làm chệch hướng trong các
chính sách đối ngoại của Việt Nam, bằng cách thúc đẩy quan hệ Việt - Mỹ và phương Tây, thổi phồng nguy
cơ về Trung Quốc nhằm chia rẽ quan hệ Việt - Trung, Việt - Lào, Việt Nam - Campuchia.
Mỹ xác định, bằng mọi giá phải phá vỡ quan hệ đối tác chiến lược Việt - Trung, Việt - Lào, Việt Nam Campuchia; lôi kéo Việt Nam ngả về phía Mỹ. Theo đó, Mỹ chủ trương “rút tỉa bất đồng trong quá khứ,
củng cố hợp tác trong hiện tại và mở rộng định hướng chiến lược cho tương lai”. Trong thời gian diễn ra
Hội nghị Trung ương 4, khoá XI, Mỹ chỉ đạo các cơ quan ngoại giao Mỹ tại Việt Nam tăng cường theo dõi
tình hình nội bộ Việt Nam, nhất là “sự chia rẽ và mâu thuẫn trong nội bộ Ban lãnh đạo Việt Nam” và
những diễn biến liên quan đến Hội nghị Trung ương 4, đồng thời tung tin rằng: “Do cuộc vận động xây
dựng, chỉnh đốn Đảng không thành công nên lần này Trung ương 4, khóa XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
phải ra thêm Nghị quyết “ Về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay nhằm chạy chữa căn
bệnh suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên”. Cùng với đó, Mỹ và
phương Tây luôn duy trì sức ép về “dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo” đối với Việt Nam thông qua việc
vận động đưa ra các dự luật, tổ chức hội thảo, điều trần để xuyên tạc tình hình, vu cáo Việt Nam “vi phạm
nhân quyền, tự do tôn giáo”, đòi Việt Nam trả tự do cho các đối tượng chống đối bị bắt giữ. Họ đã tổ chức
nhiều hoạt động gây sức ép với Việt Nam về vấn đề “dân tộc, dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo” thông
qua việc triển khai một số biện pháp chế tài nếu Việt Nam không “cải thiện tình trạng nhân quyền”, đẩy
mạnh chương trình định cư cho những người Việt “tị nạn”, tài trợ hơn 10 triệu USD cho đài châu á Tự do
(RFA) để “chống lại sự phá sóng của Việt Nam”, cấp 2 triệu USD/năm cho các NGO thúc đẩy “tiến trình
dân chủ” tại Việt Nam.
Bộ Ngoại giao Mỹ, tổ chức Giám sát nhân quyền quốc tế, “ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ”… ra báo
cáo thường niên, cho rằng: “Chính sách của Việt Nam chưa đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, mọi hoạt động đối
lập bị ngăn cấm, các quyền của công dân bị vi phạm, đình công, biểu tình, khiếu kiện bị đàn áp ”, kêu gọi
Chính phủ Mỹ và các nước gây sức ép để Việt Nam “xóa bỏ Điều 88 của Bộ luật Hình sự” và đưa Việt
Nam trở lại danh sách CPC; đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế gây sức ép, thúc đẩy sự “thay đổi” ở Việt
Nam; tăng cường tiếp xúc với những đối tượng cầm đầu các tổ chức phản động, chống đối chính trị người
Việt ở trong và ngoài nước để hỗ trợ, chỉ đạo chúng tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Đây là
những hành động can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ Việt Nam của Mỹ, đi ngược lại những cố gắng
của cả hai phía trong việc phát triển mối quan hệ Việt - Mỹ.


Được phương Tây hậu thuẫn, lực lượng phản động, cực đoan ở trong và ngoài nước tăng cường củng
cố tổ chức, lôi kéo, phối hợp lực lượng và thực hiện nhiều kế hoạch chống phá Việt Nam. Bọn phản động,
chống đối chính trị trong và ngoài nước tìm mọi cách cho ra đời các tổ chức chống đối mới, ra sức lợi dụng
các sự kiện chính trị, chống tham nhũng, các vụ án kinh tế, chính trị, những vấn đề xã hội phức tạp, nhạy
cảm, vấn đề Biển Đông - Trường Sa để tập hợp, liên kết lực lượng và tiến hành nhiều hoạt động chống phá
Đảng và Nhà nước ta, đồng thời kích động chia rẽ đoàn kết nội bộ, tạo dư luận xấu trong xã hội, kích động
quần chúng kiếu kiện, biểu tình chống đối chính quyền nhằm gây bất ổn định và thúc đẩy sự hình thành “xã
hội dân sự” tại Việt Nam.
Số phản động, cực đoan trong các tôn giáo đã và đang tích cực củng cố tổ chức, tập hợp lực lượng để
“đấu tranh” đòi “tự do tôn giáo”. Đặc biệt, chúng lợi dụng vấn đề khiếu kiện để kích động quần chúng “cầu
nguyện đòi đất”, gây phức tạp tại một số địa bàn, nhất là ở Thủ đô Hà Nội.
Bọn phản động, cực đoan trong các dân tộc tăng cường kích động, xúi dục đồng bào dân tộc thiểu số
đấu tranh đòi “ly khai, tự trị” trên các địa bàn trọng điểm, nhất là Tây Nguyên và Tây Nam Bộ.
Do sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường, vấn đề tham nhũng, tiêu cực xã hội tiếp tục tác động,
ảnh hưởng đến tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và lực lượng vũ trang,
có thể tạo ra những phức tạp xã hội mới. Chính sách mở cửa, mở rộng dân chủ của Đảng và Nhà nước ta,
kết hợp với sự non yếu về kinh tế... dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng để xâm nhập, chống phá, hướng lái,
“chuyển hoá”, tạo nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chúng ta phải hết sức thận trọng khi
xử lý các vấn đề liên quan, nhất là những vấn đề nhạy cảm, phức tạp.
Tác động, ảnh hưởng của sự chống phá từ bên ngoài do các thế lực thù địch mưu toan thực hiện đã và
đang góp phần làm nảy sinh một số nguy cơ bên trong ở nước ta đặc biệt nguy hiểm. Do hoạt động chống
phá của địch, kết hợp với những tồn tại, tiêu cực xã hội, đã tạo ra những nguy cơ bên trong gây ảnh hưởng
đến quá trình đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là nội bộ bị phân hoá, tự diễn biến. Các thế lực thù
địch sử dụng nhiều thủ đoạn nham hiểm, xảo quyệt như mua chuộc, lôi kéo, kích động tâm lý… nhằm làm
cho nội bộ Đảng, Quốc hội và chính quyền các cấp nảy sinh mâu thuẫn, chia rẽ, hình thành phe phái, tách
Đảng, chính quyền khỏi quần chúng nhân dân, từ đó, hỗ trợ lực lượng đối lập phát triển, từng bước tiếm
quyền, chi phối chính trường, làm thay đổi nền tảng chính trị, xã hội.
Đi chệch định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là một nguy cơ có thể xảy ra, không thể xem thường. Các
thế lực thù địch lợi dụng xu thế hội nhập quốc tế và chính sách mở cửa của Đảng, Nhà nước ta, đặc biệt là
lợi dụng nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi sang cơ chế thị trường để xâm nhập, tác
động nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh thành phần kinh tế tư bản và làm suy yếu thành phần kinh tế Nhà
nước, qua đó hướng lái nền kinh tế Việt Nam theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Từ tình hình trên, chúng
ta cần nêu cao cảnh giác, phòng, chống nguy cơ xảy ra biểu tình, bạo loạn ở các khu vực trung tâm, đông
dân cư. Do hoạt động chống phá của địch, cơ chế chính sách còn bất cập, sự tác động của cơ chế thị
trường, vấn đề lịch sử và những bức súc xã hội liên quan đến chính sách tiền tệ và đất đai, hiện đang tồn tại
những phức tạp: Đình công của công nhân đòi tăng lương; Học sinh, sinh viên với chính sách giáo dục đào
tạo; Tranh chấp cơ sở tôn giáo và hoạt động lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng của các thế lực thù
địch; Vấn đề biên giới và chủ quyền ở Biển Đông - Trường Sa; Hội nhập, mở cửa dẫn đến sự xâm nhập của
kinh tế nước ngoài kèm theo ý thức hệ tư bản, vấn đề buôn lậu qua biên giới, tội phạm xuyên quốc gia, vấn
đề khủng bố… Các thế lực thù địch, lực lượng chống đối chính trị sẽ lợi dụng để kích động biểu tình, bạo
loạn ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Một nguy cơ khác cần hết sức đề phòng là


biểu tình, bạo loạn ở các địa bàn chiến lược, nhất là Tây Nguyên. Do hoạt động chống phá của địch, một
số địa bàn chiến lược thường xuyên phức tạp, căng thẳng. Một bộ phận quần chúng người dân tộc vẫn mâu
thuẫn với người Kinh, không an tâm sản xuất, nuôi hy vọng ảo tưởng về một “Nhà nước Đêga”, hoặc chạy
sang Campuchia để được đi nước thứ 3 mưu cầu cuộc sống sung túc hơn. Đây chính là những nhân tố có
thể bị lợi dụng, dẫn đến nguy cơ biểu tình, bạo loạn trên địa bàn. Tuy là ít khả năng xảy ra, song cần đề
phòng nguy cơ có thể xảy ra biểu tình, bạo loạn ở nông thôn Việt Nam. Các thế lực thù địch, bọn cực đoan
lợi dụng những vấn đề bức xúc của nông dân ở nông thôn, nhất là những tác động mặt trái của quá trình
công nghiệp hoá và đô thị hoá nông thôn như sự phân hoá giàu nghèo, giải phóng mặt bằng, tham nhũng
của cán bộ địa phương, vấn đề giải quyết công ăn, việc làm... để kích động gây phức tạp, sau đó thúc đẩy
thành cuộc bạo loạn chính trị.
Nhận thức sâu sắc bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước hiện nay; đặc biịet là tiến trình có tính quốc
tế của toàn cầu hóa, khẳng định nó là một “cơn lốc”, một xu thế lớn của thời đại, đã và đang lôi cuốn tất cả
các quốc gia, dân tộc và mọi người trên hành tinh vào vòng xoáy của nó, ngay từ những năm 90 của thế kỷ
XX, cùng với việc khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta đã
chủ trương từng bước đưa nền kinh tế nước ta chủ động hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới trên
cơ sở giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế trong
kỷ nguyên toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế tri thức.
Mặc dù trong thế bị bao vây, cấm vận, phong tỏa của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhưng
từ những năm đầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta đã chủ trương sớm đưa Việt Nam
thoát ra khỏi tình cảnh ấy bằng việc đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao, làm cho bạn hiểu ta và nhiệt tình
giúp đỡ ta để từng bước khắc phục khó khăn, đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục phát triển. Một trong
những thành công quan trọng của chiến lược đưa Việt Nam hòa nhập, hội nhập vào cộng đồng quốc tế là
nước ta đã gia nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và sau đó, đã ký thỏa thuận thành lập các
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc; ASEAN - ấn Độ; ASEAN - Hàn Quốc; ASEAN - Australia
- New Zealand. Tham gia vào các tổ chức ấy, một mặt, chúng ta đã thực hiện đầy đủ, đúng tiến độ các cam
kết của mình và nghiêm túc thực hiện quá trình giảm thuế AFTA; nhờ đó không để xảy ra các cú “sốc”
hoặc đột biến tiêu cực, giúp ta thêm tự tin bước vào thực hiện các thỏa thuận hợp tác kinh tế mới. Mặt
khác, từ năm 1996, Việt Nam tích cực xúc tiến và là sáng lập viên của Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM);
đến năm 1998, chúng ta đã là thành viên chính thức của Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu á - Thái Bình
Dương (APEC).
Tích cực tham gia và làm tròn trách nhiệm của mình trong các tổ chức quốc tế và khu vực, đã làm cho
uy tín, vị thế của nước ta ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế; một số sáng kiến của Việt Nam
được bạn bè quốc tế đánh giá cao và nhiệt tình ủng hộ, tham gia; kết qua đạt được rất tốt đẹp. Với tư cách
là chủ nhà của APEC 2006, chúng ta có nhiều lợi thế để phát huy thế mạnh của mình, đã tiến hành nhiều
phiên đàm phán đa phương, song phương về mở cửa thị trường với các đối tác, kể cả với một số đối tác
được coi là “khó khăn” như Hoa Kỳ và Mêxicô. Qua thương lượng, đàm phán, ký kết các hiệp ước và mời
các đối tác đến Việt Nam để tận mắt chứng kiến sự “thay da đổi thịt” ở đất nước gần 90 triệu dân với nhiều
tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội, chúng ta đã làm cho bạn bè quốc tế và các đối tác chiến lược tin cậy,
hiểu thêm về thiện chí, cũng như đất nước, con người, truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam và
họ đã nhận ra sự thật, lẽ phải, đã tích cực ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO từ năm 2007 và mời chúng ta
tham gia một số tổ chức kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội khác.


Trở thành thành viên thứ 150 của WTO, chúng ta chính thức hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là thời cơ,
vận hội lớn để nước ta mở cửa ra thị trường thế giới, bước vào “sân chơi” rộng lớn để quảng bá hình ảnh,
con người Việt Nam trước con mắt bạn bè, lôi cuốn, thu hút họ vào việc giúp ta đẩy mạnh xuất khẩu hàng
hóa, dịch vụ; tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tiếp nhận các nguồn vốn, công nghệ sản xuất, trao đổi
chuyên gia, nắm bắt thông tin; tiếp thu, kế thừa kinh nghiệm tổ chức, quản lý, điều hành sản xuất mà các
nhà đầu tư đem lại để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát triển kinh tế - xã
hội, củng cố quốc phòng - an ninh; sớm đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng một nước nghèo, kém phát
triển; thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa
xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích “sát sườn, thiết thực” mà hội nhập kinh tế quốc tế đem lại, Đảng ta
đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức to lớn mà chúng ta phải đối mặt, phải có đối sách để vượt qua.
Đó là sự cạnh tranh ngày càng trở nên quyết liệt hơn giữa các cơ sở xản xuất, doanh nghiệp nước ta vốn
còn yếu kém về một số mặt với các công ty, doanh nghiệp các nước trên thị trường nước ngoài để thu hút
nguồn nhân lực bậc cao, xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, chiếm giữ được niềm tin của khách hàng. Sức ép về
tài chính, công nghệ, tay nghề và uy tín, chất lượng sản phẩm hàng hóa sẽ không hề nhỏ đối với tất cả các
cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nước ta, nhất là đối với các doanh nghiệp đã quen với sự bảo trợ, giúp đỡ của
Nhà nước, các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính, công nghệ yếu kém, sản phẩm thiếu sức cạnh tranh, v.v..
Hơn thế, hội nhập quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng
hóa và dịch vụ, tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro, nhất là sự rủi ro về mặt xã hội; trong khi đó, yêu cầu hết sức
cấp bách về việc bổ sung, hoàn thiện thể chế, cải cách nền hành chính quốc gia, đào tạo đội ngũ cán bộ,
nhân viên chuyên môn, kỹ thuật; cán bộ quản lý nhà nước và đội ngũ doanh nhân, chuyên gia đủ mạnh để
làm tốt các yêu cầu, nhiệm vụ mà hội nhập quốc tế đặt ra, không để nước ta bị chèn ép, bắt chẹt hay rơi vào
thế bị động trong ứng xử, quan hệ quốc tế, ký kết, thực hiện các hợp đồng kinh tế, thương mại. Đặc biệt là
các hợp đồng, hợp tác về quốc phòng, an ninh và văn hóa, giáo dục, đào tạo. Đây là những việc làm hết sức
khó khăn, đặc biệt nhạy cảm, luôn đòi hỏi chúng ta phải khôn ngoan, tỉnh táo; không được phép sai lầm
trong mỗi bước đi, quyết sách trong khi chúng ta còn thiếu kinh nghiệm quản lý nhà nước về các mặt ấy.
Trong xu thế chung của toàn cầu hóa và sự phát triển năng động, sáng tạp và đặc biệt hiệu quả của nền
kinh tế tri thức, chúng ta không thể đơn độc, tự cho phép mình đứng ngoài “cuộc chơi” theo kiểu “một
mình một bàn cờ”, “một mình một chợ” như một số người vẫn nói. Cân nhắc mọi điều, tính toán các yếu
tố, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”; Đảng ta chủ
trương hội nhập kinh tế quốc tế và cam kết tham gia đầy đủ, đúng nguyên tắc các chế định kinh tế khu vực
và toàn cầu. Song, để hội nhập diễn ra đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc và phát triển
bền vững các lợi ích quốc gia, dân tộc, Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải tranh thủ tối đa thời cơ, vận
hội do hội nhập quốc tế đem lại để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và củng cố
quốc phòng - an ninh; đồng thời phải có những đối sách tối ưu nhằm phòng, chống, khắc phục các ảnh
hưởng, tác động tiêu cực do chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế gây nên một cách năng động, hiệu quả.
Nguyên tắc của hội nhập quốc tế và đổi mới ở nước ta là “hòa nhập nhưng không hòa tan”, “đổi mới
nhưng không đổi hướng”. Theo đó, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, phải giữ vững độc lập, tự chủ
về kinh tế; đồng thời, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững định hướng xã hội
chủ nghĩa, giữ vững chủ quyền quốc gia, dân tộc và bản sắc văn hóa, phẩm giá, đạo đức, nhân cách con
người Việt Nam; nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không để các thế lực thù địch lợi dụng hợp tác,
làm ăn kinh tế, hội nhập để thực hiện “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, mặc cả, chèn ép ta về mặt


đầu tư vốn, khoa học, công nghệ hoặc tiến hành “ngoai giao, quân sự” để phá hoại sự nghiệp đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Yêu cầu của hội nhập là bình đẳng, hai bên cùng có
lợi, vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết vừa mềm dẻo; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ kinh
tế, văn hóa...nhưng phải giữ vững nguyên tắc ứng xử đã xác định.
Đảng ta chỉ rõ: muốn hội nhập kinh tế thành công, chúng ta không những phải chủ động thực hiện có
kết quả các nguyên tắc, yêu cầu nêu trên mà quan trọng hơn là xây dựng cho được nền kinh tế độc lập, tự
chủ; trước hết là độc lập, tự chủ về lựa chọn đường lối phát triển kinh tế - xã hội, nhưng trong quan hệ phụ
thuộc lẫn nhau vẫn không lệ thuộc vào sự chi phối của một nước hay nhóm nước nào, có khả năng ứng phó
nhanh nhạy, có hiệu quả trước những biến động của thời cuộc như nợ công hay suy thoái, khủng hoảng
kinh tế khu vực hoặc toàn cầu; kiên quyết đấu tranh đòi các đối tác thực hiện nghiêm túc các hợp đồng kinh
tế; chống phá giá, thay đổi hạn ngạch, làm phức tạp thêm tình hình, v.v..
Trong các văn kiện chính trị và ngoại giao của mình, Đảng ta đều nhất quán khẳng định những khả
năng có thể làm được và chỉ rõ thiện chí, những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan rất cơ bản để
Việt Nam xây dựng thành công nền kinh tế độc lập, tự chủ: đó là có một tiềm lực kinh tế năng động, sáng
tạo; có cơ sở vật chất - kỹ thuật vững mạnh, có tiềm lực dồi dào về con người, có khoa học, kỹ thuật và
công nghệ đủ mạnh để tự phát triển; nền kinh tế có sức cạnh tranh dựa trên một cơ cấu kinh tế ngành, vùng,
miền hợp lý, cân đối, hiệu quả; có cơ chế quản lý kinh tế vững mạnh, kinh tế vĩ mô ổn định; có môi trường
hòa bình để phát triển.
Ai đó đã cho rằng, trong điều kiện toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế tri thức mà Đảng ta lại chủ
trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là thiếu nhạy bén, không thức thời; là tự mâu thuẫn với đường
lối đổi mới do Đảng vạch ra và chủ trì lãnh đạo. Theo họ, thế giới đương đại là “một thế giới phẳng”,
không còn rào cản, ngăn cách, cả thế giới là một cái chợ “vĩ đại”, hoàn toàn thống nhất; ai cần thứ gì thì
mua thứ đó, thiếu tiền thì đi vay; vì thế, không nhất thiết phải xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ?
Phải chăng làm như thế, Đảng ta đã rơi vào bảo thủ, bị trói buộc bởi phương thức tư duy siêu hình, trực
quan, máy móc và giáo điều, Đảng ta đã tự làm khó mình vì đã “bớt bạn, thêm thù”.
Luận đề nêu trên nghe qua không ít người cảm nhận có lý, nhưng suy ngẫm sâu sắc và nhìn rõ hơn sự
thật lịch sử, điều kiện, hoàn cảnh nước nhà thì thấy nó không có cơ sở khoa học vì nó quá giản đơn, phiến
diện, một chiều. Ai cũng biết rõ, độc lập, tự chủ là một xu hướng phát triển của thế giới. Trong xu thế toàn
cầu hóa hiện nay, người ta “bung ra làm ăn” dưới nhiều hình thức liên doanh, liên kết rất đa dạng, phức tạp
nhưng không ai dại gì để tự đánh mất mình, bị lệ thuộc, theo đuôi người khác, bị người ta thâu tóm, quản
thúc, biến thành nô lệ; mà ngược lại, từ các nhà tài phiệt quốc tế đến các quốc gia, dân tộc đều giữ thế chủ
động, đề cao tính độc lập, tự chủ trong kinh tế và cả trong chính trị, xã hội và quân sự; không ai phụ thuộc
ai, không bao giờ nhầm lẫn, bị đánh tráo khái niệm, lẫn lộn “xanh đỏ, trắng đen”. Đó là một vấn đề có tính
nguyên tắc, đã và đang chỉ đạo các mối quan hệ, ứng xử trước đây cũng như hiện nay, dù thành văn hay
chưa thành văn; song bất kể ai, giai cấp, lực lượng nào, trong các quan hệ quốc tế, đều phải nhận thức và
thực hiện các hành vi sao cho “đúng mực”, cốt là không sai “luật” và “lệ” nhằm bảo vệ vững chắc lợi ích
của quốc gia, dân tộc mình.
Việt Nam là một trong những nước đi sau so với những nước đã tham gia hội nhập quốc tế trước đó.
Chúng ta có lợi thế lớn là “đi tắt”, “đón đầu”, “nhảy cóc”, bỏ qua một số khâu, đoạn để đi ngay vào hội
nhập quốc tế; rút ngắn thời gian mò mẫm, thử nghiệm. Những bài học thành công, không thành công của
một số nước là “liều thuốc thử vô cùng quý báu”, đã và đang giúp chúng ta tránh rơi vào bế tắc, sai lầm.


Chúng ta xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ không chỉ xuất phát từ quan điểm, đường lối chính trị
độc lập, tự chủ mà còn là đòi hỏi của thực tiễn khách quan là phải đảm bảo độc lập, tự chủ vững chắc về
chính trị, coi đó là cái đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững khi
chúng ta mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế. Không thể nói rằng, chúng ta có độc lập, tự chủ về chính trị
nhưng nền kinh tế của chúng ta lại phụ thuộc vào quốc gia, dân tộc khác, bị chi phối bởi các đối tác. Đây là
một bài học kinh nghiệm “xương máu” mà một số nước tham gia hội nhập quốc tế trước ta đã mắc phải,
chúng ta kiên quyết không đi lại lối mòn, lặp lại điệp khúc sai lầm.
Thực tế chỉ ra rằng, nếu không xây dựng được một nền kinh tế độc lập, tự chủ thì đương nhiên, chúng
ta sẽ bị lệ thuộc vào nước khác, sẽ bị các thế lực xấu, thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để lôi kéo, mua
chuộc, hoặc khống chế, ép buộc chúng ta thay đổi chế độ chính trị, đi chệch quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội
và nền độc lập, tự do giành lại được bằng xương máu của hàng triệu người đã hy sinh sẽ trở nên vô nghĩa.
Cho nên, cần hiểu một cách biện chứng rằng, độc lập, tự chủ về kinh tế là nền tảng vật chất vững chắc nhất
để bảo đảm cho độc lập, tự chủ về chính trị; không bao giờ có độc lập, tự chủ về chính trị nếu bị phụ thuộc
về kinh tế, bị người khác chi phối, giật dây, sai khiến.
Rõ ràng là, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ ở nước ta không có nghĩa là “đóng cửa”, chỉ
chăm lo xây dựng một nền kinh tế tự cung, tự cấp, khép kín, không cần quan hệ với ai, tự ta “một mình một
chợ”, tách biệt với thế giới bên ngoài cho “an toàn” như một số người đã suy nghĩ và kiến nghị với Đảng,
Nhà nước. Trong bối cảnh hiện thời, làm như thế là chúng ta tự cô lập mình, là sự phòng vệ thụ động, tiêu
cực, không chắc chắn, không hiệu quả. Một mặt, chúng ta không biết kế thừa, sử dụng những thành tựu,
tinh hoa văn hóa, khoa học, công nghệ mà nhân lọai đã sáng tạo ra để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; mặt khác, chúng ta sẽ mãi mãi nằm trong thế bị kẹt, bị bao vây,
cấm vận, phong tỏa do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch gây nên từ nhiều thập kỷ trước đó. Chúng
ta đều biết rằng, cho đến tận ngày nay, chưa có nước nào tồn tại biệt lập mà có nền kinh tế năng động, phát
triển bền vững, quốc gia, dân tộc đi đến phồn vinh, con người phát triển toàn diện, hạnh phúc. Bài học lịch
sử và kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã tiếp thêm
niềm tin, nghị lực, cho phép Đảng và nhân dân ta vững bước khai thông con đường mở cửa, hội nhập quốc
tế để thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Lý luận và thực tiễn những năm mở của, hội nhập kinh tế quốc tế theo đường lối Đại hội IX của Đảng
đã chỉ ra rằng, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế không mâu thuẫn với nhau,
nếu đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa để xem xét, luận bàn. Bởi lẽ, cả hai
chủ trương - đối sách của Đảng, Nhà nước ta đều phục vụ một mục đích là lợi ích quốc gia, dân tộc và định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trong phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn nội lực bao giờ cũng mang ý nghĩa
quyết định, các nguồn ngoại lực là quan trọng. Nếu kết hợp hài hòa hai nguồn nội lực và ngoại lực thì sẽ
tạo ra sức mạnh tổng hợp, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển và hiệu quả đạt được từ quá trình ấy sẽ vô
cùng to lớn, nhưng nếu tách riêng từng lĩnh vực, từng nguồn lực thì công dụng, hiệu quả của từng lĩnh vực,
từng nguồn lực sẽ rất thấp. Vì vậy, chỉ có thể tăng thêm sức mạnh cho nền kinh tế khi chúng ta kết hợp hài
hòa các yếu tố nội lực và ngoại lực; làm cho các yếu tố nội lực, nhất là nguồn nhân lực, nguồn vật lực, tức
là sản phẩm hàng hóa được nâng cấp, hiện đại hóa, có đủ sức cạnh tranh khi tham gia hội nhập, và ngược
lại, các yếu tố ngoại lực, khi đã nằm trong tầm kiểm soát của chúng ta, chúng sẽ phát huy tác dụng, là tăng
thêm sức sống cho nền kinh tế từ việc bổ sung kịp thời nguồn vốn, thông tin, các thành tựu khoa học, công
nghệ, kinh nghiệm điều hành, quản lý để phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng, hiệu quả các sản phẩm
hàng hóa tạo ra. Rõ ràng là, hai chủ trương - một đối sách mà Đảng, Nhà nước ta nêu trên không chỉ giống


nhau về mục đích, con đường, bước đi mà còn tương đồng về điều kiện, giải pháp thực hiện nhằm tăng
thêm sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, tăng sức nội sinh và sức đề kháng của nền kinh tế, giúp chúng
ta tự tin, vững vàng tham gia hội nhập với tư cách là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế.
Đối với nước ta, độc lập, tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là bảo đảm chắc chắn định hướng xã hội chủ
nghĩa; bảo vệ các giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống dân tộc Việt Nam mà chúng ta đã chắt chiu, dành
dụm từ hàng ngàn năm đấu tranh để dựng nước và giữ nước. Vì vậy, ngay từ bây giờ, bằng sự khôn ngoan
và tỉnh táo của mình, chúng ta hãy ra sức xây dựng và bảo vệ nền kinh tế độc lập, tự chủ, làm cho nó sinh
sôi, nảy nở, đơm hoa, kết trái trên cơ sở phát huy tối đa mọi tiềm năng sẵn có. Trách nhiệm của mỗi công
dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thực hiện tốt các yêu cầu, nguyên tắc cơ bản về phát triển
kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; nâng cao vị thế, uy tín của nước ta trên trường
quốc tế. Đương nhiên, xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ là một quá trình khó khăn, phức tạp và lâu
dài, chúng ta không vì mong muốn là có ngay được những điều cần có mà nóng vội, đốt cháy giai đoạn;
làm sai quy trình, vi phạm cam kết, luật pháp quốc gia và quốc tế. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ở
nước ta là một quá trình tự giác, nhất thiết phải kinh qua những bước đi tuần tự từ thấp đến cao, từ chưa
hòan thiện đến hoàn thiện với thái độ tích cực, chủ động, sáng tạo và có các chủ trương, chính sách, bước
đi phù hợp, hiệu quả. Vì vậy, mỗi người cần nhận thức đúng việc tiếp thu, kế thừa và vận dụng sáng tạo các
bài học kinh nghiệm về hội nhập quốc tế mà các nước hội nhập kinh tế quốc tế đã kinh qua cũng như nắm
vững và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của thời cuộc vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại, Đảng, Nhà nước ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là thực hiện chủ định tạo ra thời cơ, vận
hội mới với các điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh quá trình xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Và khi có
được độc lập, tự chủ về kinh tế thì mới thật sự tự in để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là điều căn
bản nhất, cốt tử nhất trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, giữ vững chủ quyền quốc gia và lợi ích dân tộc và
đó cũng là đối sách mềm dẻo, năng động, sáng tạo để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước; sớm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; góp phần
xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối
cảnh toàn cầu hóa hiện nay.


III. PHÊ PHáN CáC QUAN ĐIểM SAI TRáI, BảO Vệ Và PHáT TRIểN NGHĩA MáC - LÊNIN,
TƯ TƯởNG Hồ CHí MINH Về CON ĐƯờNG ĐI LÊN CHủ NGHĩA Xã HộI ở VIệT NAM
Trong mục “Tiếng nói dân chủ - Phong trào dân chủ ở Việt Nam”, mạng internet:
(http://ptdcvn.wordpress.com/2009/11/09/th%E1%BB1%9F-h%E1%BA%AFt, ra ngày 1 tháng 4 năm
2010; tác giả Phạm Trần đã viết bài với tiêu đề “ Thở hắt ra” có độ dài đến 07 trang với những lời lẽ
thiếu văn hóa đến mức thô bỉ như một kẻ tâm thần, loạn trí. Sau khi xuyên tạc và phê phán chủ nghĩa Mác
- Lênin; người này đã quay sang chỉ chích Đảng ta và các nhà khoa học Việt Nam. Trong đó, quy kết, khép
tội ba người cuồng nhiệt “hô hào bảo vệ chủ nghĩa cộng sản để hại nước”: người thứ nhất là Giáo sư
Nguyễn Đức Bình, cựu chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; người thứ hai là Phó giáo sư, Tiến sĩ
Nguyễn Bá Dương, Học viện Chính trị; người thứ ba là Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Như Khôi, Viện Khoa học
xã hội nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng. Là người bị đối phương chỉ chích và xếp thứ hai trong số ba
người cuồng nhiệt “hô hào bảo vệ chủ nghĩa cộng sản để hại nước”, tôi viết chương này để nói rõ hơn cái
điều vô lý đến mức phi lý của Phạm Trần và những loại người chuyên đi vu khống, “bốc lửa bỏ bàn tay”.
1. Trước sự biến động dữ dội của tình hình thế giới, đặc biệt là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên
Xô và các nước Đông Âu; sự đổi mới, thích nghi và phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại, cũng như việc
chậm khắc phục những hạn chế, bất cập của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn sơ
khai ở nước ta và một số hiện tượng tiêu cực trong quá trình đổi mới đất nước, một bộ phận người dân đã
dao động, giảm lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng
Cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Với cái gọi là “kiến nghị tâm huyết” với
Đảng, Nhà nước, số người này đã nhân danh “cấp tiến” đề xuất biện pháp nhằm “thay máu cho hệ tư
tưởng”, “phục sinh chủ nghĩa dân tộc” và “sửa lại chủ nghĩa Mác - Lênin” cho hợp thời và sát với thực tế
Việt Nam. Hùa theo những người có quan điểm đối lập với Đảng ta, có người đã “sám hối”, thừa nhận
rằng, cả đời mình ngưỡng mộ, tin vào một học thuyết sai lầm, đi theo một con đường không đúng là chủ
nghĩa xã hội nên “rơi vào tình cảnh éo le, bế tắc”, “cùng đường”; nay nhận thức lại “thấy chủ nghĩa tư bản
là lời giải đáp đầy đủ nhất cho mọi vấn đề đặt ra trong cuộc sống tương lai”. Vì vậy, phải “chôn vùi quá
khứ bi thảm”, phải “tẩy sạch, rửa sạch chủ nghĩa Mác - Lênin, nhất là lý luận hình thái kinh tế - xã hội của
Mác” để “thanh thản đi theo con đường tư bản chủ nghĩa”, mong sớm phát tài, giàu sang.
Trong một cuộc hội thảo khoa học gần đây, có người đã dẫn ra sự “hồi sinh” của Đông Đức, của Nga
sau khi “được giải thoát khỏi sự ràng buộc của Đảng Cộng sản và hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa”. Chủ ý của
họ là muốn dẫn dắt người nghe về sự cần thiết phải nhận thức rõ sự lạc hậu của chủ nghĩa Mác - Lênin và
sự cần thiết phải từ bỏ học thuyết này; theo đó phải đồng thời từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn từ đầu thế kỷ trước. Điều đáng bàn ở đây là trong số
những người này, có một số người được Đảng, Nhà nước, gia đình cho ăn học và nuôi dạy chu đáo; thậm
chí đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đi học tập ở nước ngoài ở những trường đại học có danh tiếng; được
đào tạo chính quy, cơ bản, có trình độ, có hiểu biết nhất định; số người này đã đọc và nghiên cứu khá kỹ
chủ nghĩa Mác - Lênin; nhưng buồn thay, họ đã cố tình xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng của chủ
nghĩa Mác - Lênin, phê phán Đảng ta đã áp đặt ý muốn chủ quan khi tiếp thu, vận dụng học thuyết hình
thái kinh tế - xã hội của Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và họ hy vọng thay vào đó, những
tư tưởng mà họ cho là “cấp tiến” của chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực dụng… Đó
là những thứ triết học mà theo họ là “mốt”, là “hiện đại”; đã và đang làm xã hội tư bản “giàu có, hiện đại,


văn minh”…ý đồ của họ là thay thế hệ tư tưởng vô sản bằng hệ tư tưởng tư sản và khi hệ tư tưởng của
Đảng ta đã biến dạng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không còn là nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, họ sẽ “đón rước” chủ nghĩa tư bản, các nhà
tư sản vào nước ta và làm cho ý thức hệ tư sản đóng vai trò thống trị xã hội Việt Nam mới mà họ có công
tạo dựng nên, và đương nhiên, họ sẽ được hưởng lợi từ việc làm ấy. Vậy là, sự giáo đầu bằng cuộc cách
mạng lý luận là mưu đồ để họ thực hiện cuộc cách mạng về chính trị: lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phủ nhận thành quả của cuộc cách mạng mà nhân dân
ta bằng xương máu của mình, chiến đấu, hy sinh gần 100 năm mới giành lại được.
Gần đây, trên một số hội thảo khoa học, các sách báo, tài liệu quốc tế, người ta bàn nhiều về số phận
của học thuyết Mác - Lênin. Phần đông các học giả đều thừa nhận giá trị khoa học, cách mạng của chủ
nghĩa Mác - Lênin và khẳng định sự cần thiết phải có học thuyết này trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, đã
có quan điểm cho rằng, “chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là của quá khứ”, “chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, XX;
không phù hợp với thời đại ngày nay”, “chủ nghĩa Mác - Lênin đã chết cùng với sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội
ở Liên Xô và Đông Âu”. Trắng trợn hơn, có người còn vu khống: “C.Mác và V.I.Lênin là những nhà xã hội
duy tâm, siêu hình, là nhà không tưởng”, học thuyết Mác - Lênin chỉ là “sự sao chép sống sượng” chủ
nghĩa xã hội không tưởng Pháp, kinh tế chính trị học Anh, triết học cổ điển Đức và văn học Nga; là “sản
phẩm lai tạo”, “hỗn hợp” mang tính chủ quan, áp đặt,“được nặn ra từ những cái đầu thiển cận của C.Mác
và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin”.
ở nước ta, lợi dụng văn đàn các cuộc hội thảo khoa học, một số người cũng “a dua, hùa theo bọn cơ
hội, xét lại”, đã đưa ra nhiều lý lẽ “đòi xem xét lại” con đường, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn; xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta. Điều hết sức nguy hiểm là các quan điểm sai trái này bằng nhiều hình thức đã được tán phát, lan
truyền rất nhanh trên mạng Internet, các sách báo, đài phát thanh của các thế lực thù địch. Vì thế, chúng đã
và đang gieo rắc sự hoài nghi, bi quan cho nhiều người, để lại những hậu quả không thể xem thường trong
xã hội ta. Bằng cách này, cách khác, họ muốn “chuyển lửa về quê nhà”, tạo nên sự “diễn biến bên trong” xã
hội ta, trước hết là diễn biến về nhận thức, tư tưởng; từ đó dẫn đến “tự diễn biến” về những mặt khác.
Chúng ta không hề ngạc nhiên trước những quan điểm xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin, vì những “điệp
khúc” này đã được “tua đi tua lại” nhiều lần kể từ khi chủ nghĩa Mác ra đời cho đến nay; chỉ có điều nó
được thể hiện rất khác nhau bởi các “ngữ điệu” khác nhau qua các kiểu loại kẻ thù “lớn nhỏ” của C.Mác,
Ăngghen, V.I.Lênin. Vì sao họ lại chống chủ nghĩa Mác - Lênin một cách điên cuồng và quyết liệt như
vậy? Hẳn là họ ý thức rất rõ sức sống mãnh liệt cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với
sự tồn tại, phát triển và lợi ích của họ, nhất là khi chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành hệ tư tưởng thống trị
phong trào công nhân, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của các Đảng Cộng sản, trong đó có
Đảng Cộng sản Việt Nam. Hẳn là họ hiểu rằng, chừng nào còn chủ nghĩa Mác - Lênin thì chừng ấy còn có
Đảng Cộng sản, còn có phong trào công nhân và cuộc đấu tranh của giai cấp này tất yếu sẽ tiêu diệt họ; chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản tất yếu sẽ được xây dựng thành công. Do đó, họ sẽ bị diệt vong. Sự tồn
tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin là hoàn toàn có hại cho họ và họ không mong muốn chế độ và
giai cấp mà họ tôn thờ lại có kết cục “bi thảm”; họ không thể ngồi nhìn sự “chết dần, chết mòn” của chính
mình; họ không thể “chịu đựng nổi” uy tín và vai trò ngày càng tăng lên của Đảng Cộng sản, ưu thế và sức
mạnh của chủ nghĩa xã hội. Để cứu lấy mình, họ buộc phải dùng mọi âm mưu, thủ đoạn, kể cả âm mưu, thủ
đoạn bỉ ổi, đê hèn nhất để chống phá, hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin.


Xem xét ở một khía cạnh khác, chúng ta sẽ rõ hơn vấn đề nêu trên. Sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
và Đông Âu sụp đổ, một số người đã hí hửng cho rằng, “chủ nghĩa Mác - Lênin đã cáo chung, học thuyết
hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, theo đó cũng mất vai trò, tác dụng, chẳng còn
ý nghĩa”. Vì sao những người có quan điểm đối lập với Đảng ta lại tập trung bài xích, phủ nhận giá trị khoa
học, cách mạng của chủ nghĩa
Mác - Lênin, xoáy sâu vào vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội là học
thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, công cuộc đổi
mới ở nước ta?
Luận giải vấn đề này có nhiều quan điểm khác nhau, song tựu chung lại, những người có quan điểm
đối lập với Đảng ta muốn dụng ý rằng, ở Việt Nam cần phải lựa chọn con đường đi khác chứ không phải là
việc tiếp tục đi theo con đường cách mạng vô sản, thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn từ đầu thế kỷ XX. Theo họ, “có làm như vậy,
người dân Việt Nam mới thật sự có điều kiện để hòa nhập, hội nhập quốc tế, mới mau chóng thực hiện
được mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Họ cho
rằng, “con đường đi “ngắn nhất, phù hợp nhất” đối với Việt Nam hiện nay là bắt tay làm ăn với các nhà tư
bản, nhờ sự giúp đỡ của các nước tư bản phát triển. Họ đưa ra nhiều luận cứ khác nhau để chứng minh
rằng, các nước vốn đã từng là chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu như Balan, Hunggari, Bungari,... đã từ bỏ con
đường chủ nghĩa xã hội để bắt tay làm ăn với Mỹ, với các nước phương Tây, gia nhập khối NATO nên tốc
độ phát triển kinh tế - xã hội của các nước ấy là rất nhanh và đạt hiệu quả thiết thực.
Theo họ, “cách làm và hướng đi như vậy là đúng đắn, hợp thời”; “một mặt, tránh được sự chèn ép của
Mỹ và phương Tây, tạo dựng được môi trường “hòa bình” để hợp tác, làm ăn giữa một nước có trình độ sản
xuất, khoa học, công nghệ còn thấp như nước ta với các nước có trình độ sản xuất, khoa học, công nghệ
phát triển cao là Mỹ và phương Tây; nhờ đó mà sớm chấm dứt sự lạc hậu, yếu kém, để nhanh chóng tiếp
thu các giá trị tiến bộ, hiện đại ở các nước phát triển; nhanh chóng thu hút nguồn vốn đầu tư; và hơn thế,
phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và chuyên gia trên các lĩnh vực; không cần phải chờ đợi quá trình
đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia và tích lũy vốn dài lâu. Với cách đi này, vừa không phải lo đối phó với thù
trong giặc ngoài; vừa có điều kiện để “tăng tốc phát triển kinh tế, đẩy nhanh quá trình phát triển đất nước;
nhờ đó mà đến năm 2020, nước ta mới cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Luận bàn như thế họ cho là chưa đủ, để tăng thêm sức mạnh, họ khẳng định: bắt tay làm ăn, hợp tác
với các nước tư bản phát triển, gia nhập khối NATO là thời cơ, điều kiện tốt nhất để giảm “gánh nặng” chi
phí quốc phòng, an ninh, nhờ đó mà tập trung vào xây dựng, làm cho đất nước giàu có, phồn vinh. Hơn
nữa, sự hùng mạnh của quốc gia nhờ sự tăng trưởng kinh tế và phát triển đất nước lại có thêm sự bảo đảm
chắc chắn nền từ nền quốc phòng, an ninh. Lợi dụng một số cuộc biểu tình tự phát của sinh viên và những
người quá khích về việc phản đối tàu đánh cá Trung Quốc vi phạm quyền chủ quyền biển, đảo Việt Nam,
cắt cáp thăm dò biển của tàu Bình Minh 2, những người “cấp tiến” vội cho rằng, Việt Nam phải bắt tay
ngay với Mỹ và tham gia khối NATO, đó là cái đảm bảo chắc chắn nhất cho độc lập chủ quyền quốc gia;
và đó là thứ vũ khí lợi hại nhất để uy hiếp và răn đe các nước láng giềng, làm thui chột mưu đồ xâm chiếm
của họ, v.v..
Với những lập luận về “cái được” nêu trên, những người có quan điểm “cấp tiến”, một mặt, không
những không hiểu hoặc cố tình không hiểu đường lối, chủ trương , chính sách của Đảng, Nhà nước ta về
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà còn không hiểu truyền thống lịch sử dân tộc qua hàng ngàn năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước; mặt khác, họ còn đưa ra các kiến nghị, yêu cầu Đảng và Nhà nước ta phải đẩy


nhanh quá trình đổi mới tư duy và nhận thức lại con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để sớm kết thúc thời kỳ
quá độ gián tiếp “đầy đau khổ” hiện nay mà lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin đã
gây ra. Những “lời khuyên”, “kiến nghị” nêu trên, thoạt nghe có vẻ hấp dẫn, thực dụng đối với một số
người nhẹ dạ cả tin. Song, suy xét kỹ, nó hoàn toàn đi ngược lại mục tiêu, con đường, lẽ sống mà chúng ta
đã lựa chọn. Khi những lời khuyên, kiến nghị, khuyến nghị, yêu cầu của họ nêu trên, không được Đảng và
Nhà nước ta chấp nhận thì họ quay sang nói xấu, xuyên tạc và bôi nhọ Đảng ta, chế độ ta; phủ nhận những
thành tựu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa qua hơn 25 năm đổi mới. Làm những
việc sai trái mà lương tâm họ không hề cắn dứt, thậm chí họ chẳng thèm đói hoài đến những người thân đã
thắt lưng buộc bụng, dành những gì là tốt nhất cho họ ăn học như thế nào, mà lẽ ra, họ phải đem tài năng,
kiến thức đã được học để phục vụ nhân dân, đất nước, làm giàu đẹp cho quê hương, xứ xở; thế nhưng họ
lại ngang nhiên bài xích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chà đạp thô bạo lên lịch sử dân tộc, phản bội
nhân dân.
Bóp méo, che đậy sự thật trước mắt người dân, phủ nhận thành quả đổi mới toàn diện đất nước là một
việc làm không hề dễ dàng vì sự thật, tự bản thân nó, tràn đầy tính thuyết phục. Vì vậy, những người có
quan điểm đối lập với Đảng ta quay sang sử dụng ngón đòn ác hiểm nhất là phê phán, xuyên tạc nền tảng
tư tưởng, lý luận của Đảng và của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;
phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của các ông. Làm điều này, theo họ sẽ đạt hiệu quả hơn, tác
dụng lớn hơn, vì nó gây ra sự hoài nghi, nghi ngờ về tính đúng đắn, sáng tạo của lý luận khoa học Mác Lênin, về sự lựa chọn đúng, sai con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặt lại sự nghi vấn đối với cả
Hồ Chí Minh. Theo cách này, họ hy vọng sẽ tạo ra một khoảng trống trong lòng xã hội ta, sẽ phân hóa các
lực lượng “trung thành” với chủ nghĩa Mác - Lênin, với Đảng và dễ dàng nhận biết ai là lực lượng “cấp
tiến”, đứng về phía họ, mong muốn đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, tập hợp các phần tử bất
mãn với chế độ ta thành một lực lượng độc lập, tạo dựng ngọn cờ, khi đủ mạnh thì ép Đảng ta từ bỏ mục
tiêu, con đường chủ nghĩa xã hội để thực hiện mưu đồ của họ là lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ
nghĩa.
Làm những việc sai trái, phản quốc, chống lại nhân dân, nơi mà minh đã sinh ra và lớn lên; hết lời ca
ngợi không công cho chủ nghĩa tư bản, những người có quan điểm đối lập với Đảng ta đã cố tình quên đi
những mâu thuẫn gay gắt vốn có trong lòng xã hội tư bản đương đại, làm ngơ trước sự bất công, phân biệt
đối xử, phân cực giàu nghèo; tình trạng vi phạm dân chủ, nhân quyền, gây chiến tranh xâm lược, tệ nạn xã
hội, tàn phá môi trường do chủ nghĩa tư bản gây ra. Ngay nước Mỹ, người ta tính rằng, chỉ 1% dân số giàu
có nhất nhưng chiếm giữ 53% tổng lượng cổ phiếu, 64% chứng khoán và 1/3 tài sản cả nước; thu nhập
người da trắng cao gấp 11 lần người da màu, tỷ lệ người da đen sống trong nghèo khổ cao gấp 3 lần, tỷ lệ
nạn nhân da đen trong các vụ giết hại cao gấp 5 lần so với người da trắng; năm 2008 Mỹ là nước buôn bán
vũ khí lớn nhất, chiếm 56,7% tổng lượng buôn bán vũ khí thế giới ,v.v..
2. Rõ ràng là, nhận thức và vận dụng sáng tạo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác để kiên
định mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đưa sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đi đến thành
công đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề mới. Điều đó đòi hỏi chúng ta không những phải biết bảo vệ, đập
tan các quan điểm sai trái, phản động mà còn phải kiên định, vững vàng trước khó khăn, thử thách; biết vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của các ông nói riêng
để tiếp tục làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ
mà Cương lĩnh năm 1991, (bổ sung, phát triển 2011) đề ra, hoàn thành các chỉ tiêu mà Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã xác định. Đây là những vấn đề hệ trọng, liên quan trực tiếp đến sự an


nguy, phát triển của quốc gia, dân tộc Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu làm rõ giá trị và ý nghĩa của quan niệm
duy vật lịch sử, đặc biệt là bảo vệ và phát triển học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác trong thời
điểm hiện nay là vấn đề lý luận thời sự cấp bách, rất đáng quan tâm.
Chúng ta đều biết, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác đã, đang là một trong những trọng
điểm lý luận bị công kích, chống phá từ nhiều phía của những người có quan điểm đối lập với Đảng ta.
Trong phía phản diện, có người lớn tiếng cho rằng, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác đã lỗi
thời và vô dụng. Vì vậy, con đường và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Đảng,
Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là “sai lầm”, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là “sao
chép, rập khuôn máy móc mô hình Liên Xô (cũ); ”là trái với quá trình lịch sử - tự nhiên, không mang tính
tất yếu khách quan, không có khả năng thực hiện ở Việt Nam; cho nên, họ đặt ra vấn đề “cần từ bỏ chủ
nghĩa xã hội, nên lựa chọn con đường đi mới cho dân tộc Việt Nam là đi theo các nước tư bản chủ nghĩa vì
họ có hơn 500 năm tồn tại, phát triển với nhiều kinh nghiệm quý” có thể giúp ta mau chóng giàu sang, hiện
đại.
Hơn lúc nào hết, nhiệm vụ chính trị cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lúc này là nhận
thức đúng đắn bản chất khoa học, cách mạng; giá trị và ý nghĩa học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của
chủ nghĩa Mác - Lênin, trang bị tri thức lý luận khoa học và thực tiễn cách mạng để đứng vững trên cuộc
đấu tranh tư tưởng, lý luận, chống các quan điểm sai trái, phản động; bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng
tạo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin vào công cuộc đổi mới xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay, làm cho mọi người dân nhận thức đúng mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
thấy đó là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đó, làm
sáng rõ hơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và khả năng thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã xác định, góp phần phòng, chống nguy cơ
“chệch hướng xã hội chủ nghĩa” và chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các thế lực thù địch đang mưu toan
thực hiện với nhiều thủ đoạn tinh vi, vô cùng nham hiểm, ác độc.
Nếu trước đây, bằng quan niệm duy tâm về lịch sử, các thế lực thù địch đã tuyên truyền cho người dân
tin vào vai trò sáng tạo thế giới của chúa trời, thượng đế và thánh thần, vì thế người dân buông xuôi, an
phận, tuân theo định mệnh, số phận. Làm việc đó, các thế lực thù địch đã tước đi sức mạnh tinh thần của
người dân, loại bỏ nguy cơ phản kháng của giai cấp bị trị từ sự ươn hèn, bạc nhược về chính trị của họ; nhờ
đó, chúng mặc sức lũng loạn và áp đặt quyền thống trị đối với người dân “nô lệ”. Với sự ra đời của quan
niệm duy vật về lịch sử thế giới, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã bác bỏ vai trò sáng tạo thế giới của của
chúa trời, thượng đế và thánh thần, đã khẳng định dứt khoát: tiền đề đầu tiên của lịch sử là con người với
tư cách là chủ thể sáng tạo thế giới, cải tạo hiện thực, làm nên lịch sử, chứ không phải là chúa trời, thượng
đế và thánh thần.
Theo C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin: Để sống, trước hết con người cần phải có cái ăn, cái mặc, nơi ở
và làm việc…, những thứ đó không có sẵn trong tự nhiên, buộc con người phải lao động, sản xuất, tạo ra.
Muốn vậy, nhất thiết con người phải cần đến công cụ lao động, đối tượng lao động, sức lao động; kinh
nghiệm, vốn sống, sự hiểu biết và kĩ thuật chế tạo công cụ và sản xuất. Các yếu tố đó, C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin gọi là lực lượng sản xuất, tức là quan hệ giữa con người với tự nhiên, thể hiện sự chinh phục giới
tự nhiên của họ. Để sản xuất ra thức ăn, đồ dùng, vật dụng, nếu chỉ có lực lượng sản xuất không thôi thì
chưa đủ, con người phải cần đến quan hệ giao tiếp, tức là quan hệ sản xuất: quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất, quan hệ về tổ chức, quản lí, phân công lao động và quan hệ về phân phối sản phẩm đã tạo ra. Sự gắn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×