Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO PHÒNG CHỐNG DIỄN BIẾN hòa BÌNH TRÊN LĨNH vực KINH tế ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHÒNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH“ TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Phần thứ nhất
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” VÀ CHỐNG
“DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ
I. "Diễn biến hòa bình"
và phòng, chống "diễn biến hòa bình"
trên lĩnh vực kinh tế
1. Mục tiêu và sự hình thành chiến lược "diễn biến hòa bình"
* Mục tiêu chiến lược "diễn biến hòa bình"
"Diễn biến hòa bình" là chiến lược tiến công trên quy mô toàn cầu của các thế
lực thù địch (được khởi xướng từ những năm 40 của thế kỷ XX và được hoàn
thiện vào những năm 80) nhằm thủ tiêu chủ nghĩa xã hội và phong trào cộng sản
quốc tế trong điều kiện không thể giành thắng lợi bằng biện pháp quân sự. Chiến
lược này được thực hiện thông qua việc sử dụng tổng hợp các phương thức, thủ
đoạn hoạt động phá hoại thâm độc, tinh vi, với tính chất, phạm vi và mức độ khác
nhau, kể cả biện pháp răn đe quân sự, diễn ra trên mọi lĩnh vực trong đó chính trị,
kinh tế, tư tưởng nội bộ là "mặt trận hàng đầu"; dân tộc, tôn giáo là "ngòi nổ".
Mục tiêu bao trùm của chiến lược "diễn biến hòa bình" là xóa bỏ chủ nghĩa xã
hội
trên

phạm
vi
toàn
thế
giới,
để đạt mục tiêu đó chúng phải đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
Một là, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin ở các
nước xã hội chủ nghĩa bằng hệ tư tưởng tư sản.
Các nhà lý luận của chiến lược "diễn biến hòa bình" biết rằng: chủ nghĩa Mác Lênin là cơ sở, nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, để xóa bỏ chủ
nghĩa xã hội trước hết phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của xã hội đó. Cùng với việc
xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng tìm cách đẩy mạnh xâm nhập hệ tư tưởng
tư sản vào các nước xã hội chủ nghĩa, làm cuộc đảo chính hòa bình về hệ tư
tưởng trong các nước xã hội chủ nghĩa.
Hai là, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện "đa nguyên chính
trị, đa đảng đối lập" ở các nước xã hội chủ nghĩa.
Đảng Cộng sản lãnh đạo là nhân tố quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã
hội. Vì vậy, để xóa bỏ chủ nghĩa xã hội phải xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản. Chúng thường xuyên tung ra các luận điểm: Đảng Cộng sản độc quyền lãnh
đạo là độc đoán chuyên quyền; bóp nghẹt dân chủ; là nguyên nhân gây nên tình
trạng lạc hậu, trì trệ về kinh tế - xã hội… Vì vậy, phải thực hiện "đa nguyên chính
trị, đa đảng đối lập". Thực chất là chúng tìm cách hạ thấp tiến tới xóa bỏ vai trò


lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong xã hội, giành quyền lãnh đạo vào tay giai cấp
tư sản.
Ba là, gây mất ổn định về chính trị - xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa.
Chúng tìm mọi cách tác động để gây mất đoàn kết trong nội bộ tổ chức đảng;
làm tha hóa một bộ phận cán bộ, đảng viên, xây dựng lực lượng chống đối ngay
trong nội bộ tổ chức đảng, trong nhân dân làm lực lượng nội ứng cho "diễn biến
hòa bình" về chính trị. Chúng lợi dụng các vấn đề về dân chủ, nhân quyền, dân
tộc, tôn giáo để gây mất lòng tin của nhân dân vào chế độ xã hội chủ nghĩa; chia
rẽ dân với đảng; gây mâu thuẫn giữa dân với chính quyền; lôi kéo, kích động
quần chúng nhân dân tham gia biểu tình chống đối chính quyền các cấp; kết hợp
"diễn biến hòa bình" với bạo loạn lật đổ.
Bốn là, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển của nền kinh tế
Lợi dụng vào công cuộc cải cách kinh tế ở các nước xã hội chủ nghĩa, các thế
lực thù địch vừa tìm cách phá hoại, kìm hãm sự phát triển kinh tế, vừa thúc đẩy
nền kinh tế các nước này đi theo quỹ đạo của các nước tư bản. Thúc đẩy các nước
xã hội chủ nghĩa tư nhân hóa nền kinh tế; mở cửa và phát triển nền kinh tế theo
hướng kinh tế thị trường tự do; hạ thấp vai trò kiểm kê, kiểm soát kinh tế của nhà


nước; thực hiện con bài "cây gậy và củ cà rốt" trong vấn đề cho vay, viện trợ;
thông qua đầu tư làm mất cân đối nền kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa.
Năm là, làm chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo giá
trị phương Tây.
Văn hóa, đạo đức, lối sống cũng là một trong những tiêu chí quan trọng để
phân biệt các chế độ xã hội khác nhau trong lịch sử. Để xóa bỏ các nước xã hội
chủ nghĩa, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch cũng rất chú trọng xóa bỏ
văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa; khuyến khích, cổ vũ du nhập văn
hóa, đạo đức, lối sống phương Tây vào các nước xã hội chủ nghĩa. Chúng đặc
biệt quan tâm làm thay đổi lối sống của tầng lớp thanh niên, những người chưa
kinh qua cách mạng; cổ vũ cho lối sống thực dụng phương Tây trong tầng lớp
thanh niên.
Sáu là, "phi chính trị hóa" để vô hiệu hóa quân đội và công an.
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch biết rất rõ quân đội và công an là
công cụ bạo lực của nhà nước để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, muốn
xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, nhất là trong việc kết hợp "diễn biến hòa bình" với bạo
loạn lật đổ phải vô hiệu hóa được quân đội và công an. Để vô hiệu hóa quân đội
và công an, trước hết chúng phải vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
với lực lượng này. "Phi chính trị hóa" quân đội và công an, làm cho hai lực lượng
này mất phương hướng chiến đấu, khi đó, lực lượng này sẽ án binh bất động khi
chúng tiến hành bạo loạn lật đổ.
Các mục tiêu kể trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau,
nếu kẻ thù thực hiện được các mục tiêu trên thì chúng sẽ thực hiện được mục tiêu
xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, để làm thất bại chiến lược "diễn biến hòa bình"
của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta phải bảo vệ được các giá trị của chủ nghĩa xã
hội, trong đó trước hết là: bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ Đảng Cộng sản;
bảo vệ chế độ kinh tế - xã hội, văn hóa, đạo đức, lối sống, quốc phòng - an ninh,
toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...


* Quá trình hình thành và phát triển của chiến lược "diễn biến hòa bình"
"Diễn biến hòa bình" được ra đời, hình thành, phát triển lâu dài, lúc đầu nó chỉ
là một thủ đoạn hỗ trợ biện pháp quân sự mà chủ nghĩa đế quốc sử dụng để tiêu
diệt chủ nghĩa xã hội; về sau, "diễn biến hòa bình" được nâng lên thành học
thuyết, chiến lược có kế hoạch, bước đi cụ thể cho từng giai đoạn, từng quốc gia
riêng biệt.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, chủ nghĩa xã hội đã ra đời và trở thành
một hệ thống hùng mạnh, phản ánh xu hướng phát triển tất yếu của xã hội loài
người. Phong trào cách mạng thế giới phát triển nhanh chóng do ảnh hưởng và
sự giúp đỡ của hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chủ nghĩa đế quốc coi Liên Xô là đối
thủ chính cần phải tiêu diệt để thực hiện mộng bá chủ thế giới của mình. Để tiêu
diệt Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, ngăn chặn sự ảnh hưởng
của chủ nghĩa xã hội đang lan rộng trên thế giới, lúc đó chủ nghĩa đế quốc đã
chủ trương sử dụng biện pháp quân sự là chủ yếu. Tổng thống Mỹ Truman đã đề
ra "Chiến lược ngăn chặn", sử dụng thủ đoạn "cứng rắn", coi trọng biện pháp
quân sự. Truman từng nói: "Phải dùng quả đấm sắt và ngôn ngữ cứng rắn để đối
phó với Liên Xô"1. Chủ nghĩa đế quốc cho rằng, chỉ có thực lực quân sự hùng
mạnh với con bài chủ lực là bom nguyên tử mới tiêu diệt được chủ nghĩa xã hội
ở Liên Xô và Đông Âu. Tuy nhiên, "chiến lược ngăn chặn" đã không có hiệu
quả, chủ nghĩa đế quốc muốn tìm kiếm một phương thức khác chống chủ nghĩa
xã hội có hiệu quả hơn.
Ngày 22 tháng 12 năm 1946, Gi. Kennan, đại diện lâm thời sứ quán Mỹ tại
Liên Xô đã đề nghị với Chính phủ dùng các biện pháp chống Liên Xô toàn diện
hơn, bao gồm cả bao vây quân sự, phong toả kinh tế và lật đổ chính trị. Ông ta đề
xuất,
bên
cạnh
việc
tăng
cường
sức
mạnh
quân sự, sẵn sàng dùng vũ lực thì cần tăng cường viện trợ cho các nước xung
quanh
Liên
Xô,
kể
cả
các
nước
Đông
Âu,
cổ vũ lực lượng chống Liên Xô trên thế giới. Với những đề xuất trên, Kennan
được coi là người đề cập đến biện pháp "diễn biến hòa bình" đầu tiên để chống
phá
chủ
nghĩa
xã hội.
Tháng 1 năm 1961, Kennơđi nhận chức Tổng thống Mỹ. Đánh giá chính sách
đối ngoại trước đây của Truman và Aixenhao, Kennơđi cho rằng: nước Mỹ đã quá
coi trọng vai trò của quân sự, xem nhẹ vai trò của các biện pháp hòa bình. Trên cơ
sở đó, ông ta đưa ra chiến lược "phản ứng linh hoạt" thay thế chiến lược trả đũa ồ
ạt trước đó của Aixenhao. Để chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa,
Kennơđi chủ trương vừa phải giữ thái độ cứng rắn thông qua sức mạnh quân sự,
vừa có thái độ mềm dẻo bằng các biện pháp hòa bình để đưa các nước này trở lại
"thế giới tự do". Kennơđi nói rằng: "Chính sách của nước Mỹ phải giống như con
đại bàng trên quốc huy, chân phải của nó cắp cành ô liu, còn chân trái cắp mũi
tên"1.
1

. Chống diễn biến hòa bình trên các phương tiện thông tin đại chúng, Nxb Chính trị quốc gia, H.

2000, tr. 12.
1

. Chống diễn biến hòa bình trên các phương tiện thông tin đại chúng , Nxb Chính trị quốc gia, H.

2000, tr. 14.


Tháng 1 năm 1969, R. Níchxơn nhận chức Tổng thống Hoa Kỳ và đã điều
chỉnh
chiến
lược
toàn
cầu
của
Mỹ
theo hướng giảm bớt sự đối đầu căng thẳng, tăng cường đối thoại hòa bình giữa
Mỹ và các đối thủ. Chiến lược "Phản ứng linh hoạt" của thời kỳ Kennơđi,
Giônxơn được Níchxơn thay bằng chiến lược "răn đe thực tế", với chính sách
"cây gậy và củ cà rốt". Trong chính sách này, Níchxơn mặc dù vẫn coi trọng răn
đe hạt nhân nhưng đã điều chỉnh giảm bớt lực lượng quân sự của Mỹ ở nước
ngoài; tạo thế cân bằng giữa các nước lớn; tăng cường tiếp xúc hòa bình với các
nước xã hội chủ nghĩa, lấy hòa hoãn thay dần cho "chiến tranh lạnh"; qua tiếp
xúc hòa hoãn để thẩm thấu tư tưởng, văn hoá, tác động vào các lĩnh vực kinh tế,
văn hoá, xã hội, quốc phòng; gây dựng lực lượng chống đối từ bên trong; chia rẽ
mối quan hệ đoàn kết quốc tế giữa các nước xã hội chủ nghĩa... biện pháp này
bước đầu đã có hiệu quả.
Bước vào những năm 80 của thế kỷ XX, lợi dụng vào sự phát triển mạnh mẽ
của cách mạng khoa học công nghệ, chủ nghĩa đế quốc đã có sự điều chỉnh thích
nghi cả về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cũng như cải cách các chính
sách xã hội. Do đó, họ đã đạt được sự ổn định và phát triển. Trong khi đó, Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa lại rơi vào khủng hoảng buộc phải thực hiện
cải tổ, cải cách. Tuy nhiên, do thực hiện cải tổ cải cách sai lầm nên làm cho
khủng hoảng càng trở nên trầm trọng. Lợi dụng vào tình hình này, chủ nghĩa đế
quốc đã đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình" coi đó là đòn tiến công chính
chống phá Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Tổng thống Rigân đã thực
hiện chuyển hướng chiến lược của Mỹ, lấy "diễn biến hòa bình" làm biện pháp
chính để phá hoại các nước xã hội chủ nghĩa. Rigân đã chủ trương thực hiện
"cách mạng dân chủ" hay còn gọi là "cuộc cách mạng lần thứ hai" để xoá bỏ các
nước xã hội chủ nghĩa, với nội dung chính là: dựa vào sức mạnh tổng hợp của
Mỹ, tăng cường quan hệ kinh tế, văn hoá, đẩy mạnh tuyên truyền tư tưởng,
tuyên truyền lối sống phương Tây, giá trị đạo đức kiểu Mỹ vào các nước xã hội
chủ nghĩa; thúc đẩy các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện cải tổ, cải cách chính
trị theo hướng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; thực hiện nền kinh tế thị
trường tự do; tư nhân hoá nền kinh tế; xây dựng các lực lượng chống đối từ bên
trong.
Tháng 5 năm 1989, Tổng thống Mỹ Gioocgiơ Busơ đưa ra chiến lược "vượt
trên ngăn chặn", trong đó linh hồn là "diễn biến hòa bình". Busơ cho rằng, cuộc
đọ sức lịch sử giữa hai chế độ đã đến hồi kết thúc. Mục tiêu, biện pháp của chiến
lược "vượt trên ngăn chặn" là lợi dụng vào chính sách cải tổ của các nước xã hội
chủ nghĩa để đẩy mạnh "diễn biến hòa bình", làm cho các nước này đi chệch khỏi
quỹ đạo xã hội chủ nghĩa, dẫn đến sụp đổ, tan rã. Ông ta coi Đông Âu là trọng
điểm, Liên Xô là then chốt của chiến lược "diễn biến hòa bình".
Như vậy, cho đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, chiến lược "diễn biến
hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc mới được hoàn chỉnh. Bằng chiến lược "diễn
biến hòa bình", chủ nghĩa đế quốc đã góp phần quan trọng vào làm tan rã chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào những năm 80 của thế kỷ XX và Liên Xô năm
1991. Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xem Việt Nam là một
trong những trọng điểm của chiến lược "diễn biến hòa bình" và kết hợp "diễn biến


hòa bình" với bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng Việt Nam.
Sau thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt Nam (1975), chủ nghĩa đế quốc đã
tiến hành chống phá cách mạng Việt Nam thông qua bao vây, cấm vận nhằm cô lập
và làm suy yếu kinh tế Việt Nam, với hy vọng từ suy yếu về kinh tế sẽ dẫn đến suy
yếu về chính trị và tự sụp đổ. Chính sách bao vây cấm vận về kinh tế của Mỹ với
Việt Nam mặc dù đã gây cho kinh tế Việt Nam nhiều khó khăn trong phục hồi và
phát triển sau chiến tranh song không khuất phục được nhân dân Việt Nam. Dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng từng
bước vượt qua khó khăn thử thách và đã giành được nhiều thành tựu to lớn trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ
năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới
toàn diện đất nước và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Trên lĩnh vực đối
ngoại, Việt Nam đã mở rộng quan hệ với các nước, các tổ chức trên thế giới, phá
thế bao vây, cấm vận của chủ nghĩa đế quốc. Chính sách bao vây, cấm vận của chủ
nghĩa đế quốc với Việt Nam bị phá sản. Để chống phá Việt Nam, chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực thù địch buộc phải thay đổi thủ đoạn, chuyển từ "kiềm chế"
sang "can dự" nhằm can thiệp sâu hơn, toàn diện hơn vào công việc của Việt Nam,
nhằm chuyển hoá chế độ chính trị theo tư bản chủ nghĩa.
Năm 1992, Thượng nghị viện Mỹ đã thông qua dự
luật 954, trong đó, nhấn mạnh các biện pháp nhằm thực hiện "diễn biến hòa bình"
với Việt Nam là: "Yêu cầu cải cách dân chủ"; đòi Việt Nam "tự do hoá chính trị";
"tôn trọng quyền con người"; "xây dựng một chế độ dân chủ ở Việt Nam". Ngày
12 tháng 7 năm 1995, trong diễn văn tuyên bố bình thường hoá quan hệ với Việt
Nam, Tổng thống Mỹ B. Clintơn đã công khai chủ trương của Mỹ là: "bình
thường hoá quan hệ để thúc đẩy tự do dân chủ ở Việt Nam như đã từng diễn ra ở
Đông Âu và Liên Xô trước đây". Sau "chiến tranh lạnh", để thúc đẩy "diễn biến
hòa bình" ở Việt Nam, Mỹ đã từng bước bổ sung ba bộ phận chiến lược quan
trọng đó là: "chiến lược chi phối đầu tư", thực hiện "diễn biến hòa bình" bằng con
đường kinh tế; "chiến lược ngoại giao thân thiện", nhằm lôi kéo Việt Nam về phía
Mỹ; "chiến lược khoét sâu nội bộ", thực hiện nội công - ngoại kích. Chủ nghĩa đế
quốc hy vọng rằng, bằng chiến lược "diễn biến hòa bình", kết hợp với bạo loạn lật
đổ, chúng sẽ xoá bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Tuy nhiên, không như sự mong muốn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch, Việt Nam không những không sụp đổ như Liên Xô và các nước Đông Âu
mà ngày càng phát triển vững mạnh. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã
đem lại cho nhân dân Việt Nam những thắng lợi hết sức to lớn trên tất cả các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam được tăng cường; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam ngày càng sáng tỏ hơn bao giờ hết. Đây là một thách thức đối với chủ
nghĩa đế quốc, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là "cái gai" cần phải loại bỏ trong
chiến lược "diễn biến hòa bình" của chúng.
Hiện nay, các thế lực phản động quốc tế coi nước ta là một trọng điểm của
chiến lược "diễn biến hòa bình" vì những lý do chủ yếu sau đây:


Một là, Việt Nam có Đảng Cộng sản kiên cường lãnh đạo, là ngọn cờ đấu tranh
cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đang kiên quyết chống chủ nghĩa đế
quốc. Xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam sẽ tạo thuận lợi cho xoá bỏ chủ nghĩa
xã hội ở các nước còn lại.
Hai là, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong xây dựng chủ
nghĩa xã hội, uy tín quốc tế ngày càng cao. Do vậy, "đánh quỵ" được Việt Nam sẽ
chứng minh con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là bế tắc, chủ nghĩa xã hội không
thể đổi mới, cải tổ, cải cách thành công.
Ba là: Bị thất bại thảm hại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, chủ nghĩa đế
quốc và các thế lực phản động quyết tâm giành lại "chiến thắng đã mất" bằng
phương pháp "diễn biến hòa bình", có như vậy mới xoá được "hội chứng Việt
Nam".
Bốn là: Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng về địa lí chính trị - quân sự,
giành được vị trí này sẽ thuận lợi trong thực hiện chiến lược chi phối của Mỹ
trong khu vực.
Năm là: Với dân số hơn 80 triệu người, Việt Nam là thị trường lớn thứ 2 ở
Đông Nam á, có nhiều tiềm năng về kinh tế; thực hiện "diễn biến hòa bình" ở Việt
Nam sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp của các nước tư bản làm ăn và thu nhiều
lợi nhuận.
Hiện nay, để chống phá cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực
thù địch chủ trương kết hợp chiến lược "diễn biến hòa bình" với bạo loạn lật đổ.
Trong đó, "diễn biến hòa bình" giữ vai trò xung kích, đi trước, chuẩn bị lực lượng,
điều kiện (chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức, lực lượng quần chúng, địa bàn, thời cơ…)
để tiến hành bạo loạn lật đổ khi có thời cơ. Bạo loạn lật đổ là hệ quả tất yếu của các
hoạt động "diễn biến hòa bình" trước đó.
Bạo loạn lật đổ là một phương thức chống phá cách mạng nhằm lật đổ chế độ
chính trị, giành chính quyền trung ương và địa phương bằng các hoạt động có tổ
chức của bọn phản động trong nước. Thông qua sự chỉ đạo và giúp đỡ của các thế
lực phản động quốc tế, các tổ chức phản động trong nước tập hợp lôi kéo số đông
quần chúng tham gia biểu tình, chống đối, lật đổ chính quyền. "Diễn biến hòa
bình" và bạo loạn lật đổ tuy khác nhau về phương thức, thủ đoạn, nhưng đều
thống
nhất

mục
tiêu

lật
đổ chế độ chính trị, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giành
chính
quyền
về
tay
các
tổ
chức
phản động.
Kết hợp "diễn biến hòa bình" với bạo loạn lật đổ là sự kết hợp hai phương thức
"hòa bình" và "không hòa bình" trong một chiến lược chống phá cách mạng Việt
Nam, có thể diễn ra đồng thời, đan xen trên một hay nhiều khu vực. Bạo loạn bao
gồm bạo loạn chính trị và bạo loạn quân sự. Bạo loạn chính trị thường là đòn tiến
công ban đầu đối với chính phủ, "châm ngòi" cho toàn bộ cuộc bạo loạn và áp lực
toàn diện đối với chính phủ trong suốt quá trình diễn ra bạo loạn. Quy mô bạo
loạn tùy thuộc vào tương quan lực lượng, vào điều kiện và thời cơ, mục đích thực
sự của bạo loạn. Có loại bạo loạn lật đổ chỉ mang tính cục bộ, quy mô nhỏ, trên
địa bàn hẹp và cũng chỉ nhằm mục đích tập dượt, chuẩn bị, gây thanh thế cho các


cuộc bạo loạn quy mô lớn hơn, có mục đích cao hơn. Có loại bạo loạn nhằm hỗ
trợ cho các hoạt động "diễn biến hòa bình", như gây rối loạn chính trị - xã hội để
tăng sức ép đối với chính phủ, buộc chính phủ phải thay đổi đường lối, chính sách
theo hướng có lợi cho "diễn biến hòa bình" và tạo điều kiện cho các hoạt động
"diễn biến hòa bình" tiếp theo.
ở nước ta, các tổ chức phản động trong nước được sự giúp đỡ của các thế lực
bên ngoài đã gây nên hai cuộc bạo loạn chính trị ở Tây Nguyên vào tháng 2 năm
2001 và tháng 4 năm 2004 rất nguy hiểm. Như vậy, để chống phá cách mạng
nước ta, hiện nay, các thế lực thù địch không đơn thuần chỉ tiến hành các hoạt
động "diễn biến hòa bình" mà còn kết hợp với bạo loạn lật đổ để tăng thêm hiệu
quả chống phá. Do vậy, trong đấu tranh chống chiến lược "diễn biến hòa bình",
chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động phát hiện, ngăn chặn sớm, đập tan các
âm mưu, mầm mống gây bạo loạn của các thế lực phản động, không để xảy ra
"điểm nóng", tụ tập biểu tình, khiếu kiện đông người, diễn biến phức tạp trên diện
rộng.
2. Thực chất của "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực kinh tế và nội dung
kinh tế trong chiến lược "diễn biến hòa bình"
* Thực chất của "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực kinh tế đối với cách
mạng Việt Nam
"Diễn biến hòa bình" ở Việt Nam được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch tiến hành trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó kinh tế được
coi là mũi nhọn. Bởi vì:
Một mặt, kinh tế là lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội và là cơ sở của các lĩnh
vực khác, như chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại. "Diễn
biến hòa bình" trên lĩnh vực kinh tế sẽ tạo điều kiện vật chất để "diễn biến hòa
bình" trên các lĩnh vực khác, đặc biệt là lĩnh vực chính trị. Mặt khác, thực hiện
"diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực kinh tế sẽ dễ hơn các lĩnh vực khác, vì Việt
Nam mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế là thời cơ để chủ nghĩa đế quốc và các thế
lực thù địch thâm nhập chống phá. Hơn nữa, do kinh tế nước ta hiện nay còn
nhiều yếu kém, đời sống một bộ phận nhân dân còn gặp khó khăn, nhất là của
đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Đây là điều kiện thuận
lợi để chúng mua chuộc, lôi kéo, kích động đồng bào chống lại Đảng và Nhà
nước trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Thực chất chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế
lực thù địch đối với nước ta trên lĩnh vực kinh tế là tác động làm chệch hướng xã
hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta thông qua tổng thể những âm mưu, thủ đoạn
vừa tinh vi, vừa thâm độc, lái kinh tế nước ta phát triển theo hướng tư bản chủ
nghĩa.
Để đạt mục tiêu đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã và đang thực
hiện hàng loạt các âm mưu, thủ đoạn nhằm đạt được các mục tiêu: xoá bỏ quan
điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xoá bỏ
vai trò lãnh đạo về kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò quản lý nền kinh
tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phủ nhận chế độ công hữu
xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất trong nền kinh tế, xoá bỏ vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước; xoá bỏ phương pháp phân phối đặc trưng của chủ nghĩa xã hội;


sử dụng sức mạnh kinh tế để từng bước khống chế, phá hoại kinh tế nước ta dưới
nhiều hình thức. Dưới đây là những nội dung cơ bản:
* Nội dung kinh tế trong chiến lược "diễn biến hòa bình"
Một là, tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận những tư tưởng kinh tế cơ bản
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm kinh
tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tuyên truyền, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh nói chung, tư tưởng về kinh tế nói riêng là một trong những âm mưu, thủ
đoạn hết sức thâm độc của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong chiến
lược "diễn biến hòa bình" đối với nước ta. Bởi vì, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng hy vọng
xoá bỏ được nền tảng tư tưởng của Đảng đồng nghĩa với xoá bỏ cơ sở khoa học
của đường lối mà Đảng đề ra. Đánh đổ nền tảng tư tưởng của Đảng là cơ sở để
phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng nói chung, về phát triển kinh tế nói riêng.
Từ năm 1988 đến nay, chủ nghĩa đế quốc đã cho xuất bản nhiều tác phẩm nhằm
bôi nhọ, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong đó đáng lưu ý 3 tác
phẩm là: "Đại thất bại - sự hưng vong của chủ nghĩa cộng sản thế kỷ XX" của
Brêdinsky; "1999 - Không đánh mà thắng" của R. Níchxơn và "Sự kết cục của lịch
sử" của Phơransit Phusan. Điểm chung mà các sách này đề cập là tìm cách phủ nhận
tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin; cho rằng đó chỉ là một thứ tín ngưỡng đã
bị thực tế xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu 70 năm chứng minh là
sai lầm. Chúng cho rằng, học thuyết của các ông mang yếu tố bạo lực hơn là yếu
tố xây dựng một xã hội mới, cho nên, nếu cứ vận dụng mãi học thuyết này, thì thế
giới sẽ không tiến lên được; sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa
ở châu Âu chứng minh cho sự cáo chung của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời
đại mới. Tại một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại, họ phê phán về sự kết hợp
giữa yếu tố kinh tế thị trường với yếu tố xã hội chủ nghĩa, giữa nhà nước pháp
quyền với nhà nước xã hội chủ nghĩa là sự gán ghép khiên cưỡng. Từ đó, chúng
khuyên ta nên đi theo con đường chủ nghĩa xã hội dân chủ và từ bỏ con đường
chủ nghĩa xã hội khoa học. Họ ra sức tuyên truyền cho thuyết "giải thể hệ tư
tưởng", một trong những tác giả của nó là nhà xã hội học Mỹ Benlơ. Những
người theo thuyết này viện cớ rằng: trong lịch sử thế giới không hề có một hệ tư
tưởng nào gọi là khoa học, cho nên cần phải giải thể hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Thủ đoạn của chúng là lợi dụng các phương tiện thông tin như: các phương
tiện phát thanh, truyền hình (đài RFA, một số đài khác bằng tiếng Việt hoặc tiếng
dân tộc), mạng Internet, các ấn phẩm báo chí... để phát tán tài liệu phản động.
Đặc biệt, chúng triệt để khai thác tối đa công cụ truyền miệng để tung tin thất
thiệt, sai lệch về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối
chính sách của Đảng và Nhà nước ta nói chung, về kinh tế nói riêng. Đối tượng
mà chúng nhằm vào trước hết là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên và một
số đối tượng có tâm lý dao động, bất mãn khác. Chúng tìm cách tài trợ cho các tổ
chức phản động lưu vong ở nước ngoài, cấu kết với các phần tử chống đối ở trong
nước thu thập thông tin, tìm cách viết bài, phỏng vấn, hội thảo để tuyên truyền,
xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm


của
Đảng,
nói
xấu
chế
độ,
xuyên
tạc tình hình nhất là về vấn đề dân chủ, nhân quyền, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta với đồng bào dân tộc thiểu số...
Nội dung mà chúng đã và đang tập trung vào xuyên tạc phủ nhận chủ nghĩa
Mác - Lênin về kinh tế, xuyên tạc phủ nhận đường lối kinh tế của Đảng ta là:
Một là, lợi dụng vào sự phát triển của khoa học công nghệ, vào sự điều chỉnh
thích nghi của chủ nghĩa tư bản và vào sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa ở Đông Âu để phủ nhận các tư tưởng kinh tế cơ bản của các nhà kinh
điển Mácxít.
Lợi dụng vào sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới sự tác động của cách
mạng khoa học công nghệ, bằng việc viện dẫn ra những nhà máy tự động hoá cao
để phủ nhận học thuyết giá trị thặng dư - hòn đá tảng trong học thuyết kinh tế
Mác. Chúng cho rằng, chính máy móc và tài kinh doanh của nhà tư bản tạo ra giá
trị thặng dư, tạo ra lợi nhuận chứ không phải giai cấp công nhân. Bằng chứng là,
lợi nhuận thu được của các nhà tư bản có nhà máy đạt trình độ tự động hoá cao sẽ
cao hơn nhiều lần so với các nhà tư bản sử dụng công nghệ lạc hậu. Chúng viện
dẫn mức lương, thu nhập và mức sống cao của một bộ phận công nhân có việc
làm ở các nước tư bản phát triển để phủ nhận lý luận bần cùng hoá giai cấp vô sản
của C. Mác.
Lợi dụng vào những thành tựu do điều chỉnh, thích nghi của chủ nghĩa tư bản
mang lại cũng như sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, chúng
phủ nhận những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về: địa vị
lịch sử của chủ nghĩa tư bản; về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân;
phủ nhận chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất; vai trò chủ đạo
của kinh tế nhà nước, vai trò của kinh tế hợp tác; vai trò kiểm kê, kiểm soát kinh
tế của nhà nước; tán dương, cổ vũ, khuyến khích chúng ta phát triển kinh tế thị
trường tự do tư bản chủ nghĩa...
Hai là, xuyên tạc một cách tinh vi các quan điểm tư tưởng kinh tế của các nhà
kinh điển Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thông qua việc trích dẫn một cách cắt xén các tư tưởng kinh tế của các nhà tư
tưởng Mácxít để xuyên tạc tư tưởng của các ông. Chẳng hạn, Hoàng Minh Chính
đã viện dẫn: "Mác và Ăngghen tuyên bố rằng: Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ
trước đến nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp" và ông ta coi "luận điểm này đi
ngược lại lịch sử phát triển khách quan của xã hội loài người". ở đây, Hoàng
Minh Chính đã sử dụng một luận điểm duy vật lịch sử của
C. Mác về sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, về vai trò quyết định
của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng để phản bác lại luận điểm
Mácxít về đấu tranh giai cấp mà ông tưởng tượng ra là đi ngược lại lịch sử phát
triển khách quan của xã hội. Thực tế khẳng định, chính C. Mác xuất phát từ cơ sở
kinh tế, từ phương thức sản xuất để giải thích đấu tranh chứ không phải ngược lại.
Trong lời tựa viết cho bản tiếng Đức xuất bản năm 1883, Ph. Ăngghen viết: "Tư
tưởng cơ bản và chủ đạo của "Tuyên ngôn" là: Trong mọi thời đại lịch sử, sản
xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra,
cả hai cái đó cấu thành cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại
ấy; do đó (từ khi chế độ công hữu ruộng đất nguyên thủy tan rã), toàn bộ lịch sử


là lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp...". Qua đó, chúng ta thấy rõ ông Chính đã
trích dẫn một cách cắt xén câu trong "Tuyên ngôn", lờ đi sự bổ sung của Ph.
Ăngghen trong lời tựa và cố tình xuyên tạc tư tưởng của C. Mác về đấu tranh giai
cấp.
Khi trích dẫn lời của C. Mác trong "Tuyên ngôn" về "xóa bỏ
chế độ tư hữu", ông Chính đã xuyên tạc thành "Mác đã chủ
trương xóa bỏ các hình thái kinh tế - xã hội hiện hữu để trên mảnh đất sạch sẽ đó mà xây
dựng
chủ
nghĩa
cộng
sản".
Trên
trang
tp://i190.photobucket.com/albums/z151/hanlenhan/Baocap.jpg, chúng cho rằng:
"Chủ nghĩa Mác - Lênin là lý thuyết do C. Mác viết nhưng chưa bao giờ áp dụng,
cho
đến
lúc V.I. Lênin đem ra xài trong cuộc cách mạng giành chính quyền ở Nga (1917).
Cái
chính
của
chủ
nghĩa

hội là tập trung, tập trung tài sản vào đảng, xóa mất quyền tư hữu đất đai, đi lại, ý
kiến,
hôn
nhân,
tình
dục
để giành quyền kiểm soát nhân dân. V.I. Lênin đã sai
khi xóa mất quyền tư hữu đất đai, thành lập hợp tác
xã đưa đến tình trạng nông dân không muốn trồng lúa. Nạn đói hoành hành dân
Liên Xô 2 năm liền, chết đói vài triệu người...".
Ba là, chúng tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng nói
chung, đường lối kinh tế nói riêng.
Để xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, trước hết chúng tập trung tìm cách xuyên
tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng nói chung, đường lối chủ trương về
phát triển kinh tế nói riêng. Bởi vì, Đảng lãnh đạo trước hết bằng đường lối, chủ
trương chính sách. Do đó, nếu xuyên tạc, phủ nhận được đường lối của Đảng
cũng đồng nghĩa với việc phủ nhận năng lực lãnh đạo của Đảng và tất yếu cần
phải thay Đảng Cộng sản bằng một đảng khác có năng lực hơn. Để xuyên tạc, phủ
nhận đường lối lãnh đạo kinh tế của Đảng ta, chúng sử dụng tổng hợp các âm
mưu, thủ đoạn vừa tinh vi, vừa trắng trợn, như:
Chúng tìm cách đối lập đường lối kinh tế của Đảng ta với các quan điểm kinh
tế cơ bản của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế
hàng hóa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về cải tạo quan hệ sản
xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới; vấn đề cho tư bản tư nhân trong nước và
nước ngoài phát triển kinh tế... Từ đó, khẳng định đường lối lãnh đạo kinh tế của
Đảng là không có cơ sở khoa học và qua đó phê phán Đảng ta không nhất quán
giữa lời nói với việc làm, là "ruột xanh, vỏ đỏ". Chúng tìm cách phủ nhận đường
lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng, tạo dư luận hoài nghi
trong xã hội đối với các chính sách kinh tế mà Đảng đưa ra, hoài nghi về con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta.
Thông qua các tổ chức phản động, chúng tìm cách xuyên tạc đường lối của
Đảng, kích động dân chúng biểu tình chống đối. Vào năm 1994, Nguyễn Công
Bằng, Trương Minh Đức trong cái gọi là "Đảng Vì dân" và "khối 8406" liên tục
kích động người dân khiếu kiện ở một số tỉnh phía Nam, đồng thời viết và phát
tán nhiều bài xuyên tạc chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Các bài
viết này được chúng tung lên trang web của "Đảng Vì dân" đồng thời, chúng còn


rải truyền đơn kêu gọi tẩy chay bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII. Ngày 16
tháng 4 năm 2007, Nguyễn Công Bằng và số cầm đầu "Đảng Vì dân" đã chỉ đạo
tay chân đến trụ sở tiếp dân ở số 1 Mai Xuân Thưởng, Hà Nội để tiếp xúc, phỏng
vấn, nhận đơn khiếu nại, tố cáo của một vài người dân và hứa phát tin ảnh lên
mạng Internet. Sau đó, chúng đến nơi trọ của những người dân đi khiếu kiện cho
mỗi người 5kg gạo và 10 ngàn đồng gọi là tiền chụp ảnh, đồng thời phát tán tạp
chí "Hoa mai" và kích động dân chúng tiếp tục biểu tình. Chúng còn cử tay chân
đến các điểm nóng đình công ở các khu công nghiệp và các tỉnh có vấn đề tranh
chấp đất đai lên tiếng cổ xúy cho hành động của họ trên tạp chí "Hoa mai", thổi
phồng sự việc, kích động gây rối, hứa sẽ gửi tiền về cho họ ăn nghỉ tiếp tục khởi
kiện, biểu tình.
Chúng còn tìm cách phê phán các chính sách kinh tế của Đảng, qua đó, tìm
cách gây mâu thuẫn, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết giữa Việt Nam với các nước,
đặc biệt là với Trung Quốc. Chẳng hạn, chúng đã xuyên tạc làm sai lệch chủ
trương khai thác quặng bô xít ở Tây Nguyên của Đảng và Nhà nước ta để nói xấu
Đảng, tìm cách gây mâu thuẫn giữa ta với Trung Quốc.
Lợi dụng vào những yếu kém của ta trong quản lý kinh tế - xã hội để phủ nhận
đường lối lãnh đạo của Đảng. Lợi dụng vào việc quản lý đất đai yếu kém ở một
số địa phương, nhất là trên địa bàn Tây Nguyên và sự kém hiểu biết của một bộ
phận đồng bào dân tộc thiểu số để vu khống chính sách của Chính phủ Việt Nam.
Chúng tung tin: "Người Kinh chiếm đất của đồng bào dân tộc khiến cho đồng bào
không còn đất làm rẫy cho nên dẫn đến nghèo đói"; "Nhà nước phân biệt đối xử
không tốt với người thiểu số, chỉ quan tâm đến người Kinh"... Cùng với thực tế là
đất đai đang tích tụ vào một số người từ miền xuôi lên và sự quản lý đất đai kém
hiệu quả của một số chính quyền ở Tây Nguyên, luận điệu này đã gây không ít
ngộ nhận cho đồng bào dân tộc thiểu số từ đó dẫn đến tâm lý tiêu cực trong thái
độ ứng xử với người Kinh nói riêng và người miền xuôi nói chung. Từ luận điệu
này, các thế lực thù địch tiếp tục khoét sâu tâm lý ly khai dân tộc, phá vỡ khối đại
đoàn kết dân tộc khi cho rằng "Người Tây Nguyên cần phải thành lập "nhà nước
Đềga tự trị" dành riêng cho người dân tộc, không để cho người Kinh quản lý".
Chúng dựng lên "cái bánh vẽ nhà nước Đềga" với tên phản động Ksor Kơk là
tổng thống tự phong cùng với những lời hứa hẹn về giàu sang, quyền cao chức
trọng cho những ai ủng hộ và nghe theo lời chúng. Ngoài ra, để gây ra sự bất ổn
về chính trị chúng tuyên truyền trong đồng bào thiểu số: đi biểu tình thì sẽ được
chia tiền, chạy trốn sang Campuchia sẽ được sang các nước tư bản sống cuộc
sống sung túc… Chúng còn tìm cách kích động nhân dân biểu tình, chống đối
chính quyền khi thực hiện chủ trương thu hồi đất nông nghiệp để phát triển các
khu công nghiệp, khu chế xuất, xây dựng các công trình công cộng phục vụ xã
hội.
Lợi dụng vào chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, chủ trương cổ
phần hoá một phần doanh nghiệp nhà nước để thúc đẩy tư nhân hoá nền kinh tế
nước ta. Chúng cho rằng: Chìa khoá cải cách chính trị ở Việt Nam là doanh
nghiệp tư nhân. Chủ nghĩa cộng sản Việt Nam đã chống lại một cách oanh liệt và
giành thắng lợi vĩ đại trước cuộc tấn công bằng sức mạnh quân sự của Pháp, Mỹ;
nhưng nó không thể tồn tại lâu dài trước những cơ hội tích cực do doanh nghiệp
tư nhân mở ra.


Hai là, thông qua các hoạt động viện trợ, đầu tư, liên doanh, liên kết làm
biến đổi dần cơ sở kinh tế - xã hội của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu lại
bị chiến tranh tàn phá vì vậy chúng ta rất cần vốn, khoa học kỹ thuật để phát triển
cơ sở hạ tầng, phát triển sản xuất. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một chủ
trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên,
đây lại là thời cơ để chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng "diễn biến
hòa bình" trên lĩnh vực kinh tế, nhằm làm thay đổi cơ cấu kinh tế, cơ sở kinh tế xã
hội chủ nghĩa ở nước ta. Các âm mưu, thủ đoạn dưới đây thường được chúng tiến
hành cần phải được quan tâm để chủ động phòng, chống:
- Viện trợ phát triển chính thức ODA (ODA: Official Development
Assistance).
ODA là nguồn vốn do chính phủ các nước phát triển và các tổ chức tài chính
quốc tế chính thức viện trợ cho các nước đang phát triển, các nước nghèo. Theo
quy định của Liên hợp quốc, các nước phát triển mỗi năm phải dành 0,7% GNP
để viện trợ cho các nước đang phát triển. Chủ nghĩa đế quốc đã triệt để lợi dụng
vào hình thức này để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" đối với các nước
xã hội chủ nghĩa. Năm 1989, trong "Báo người bảo vệ" của Anh đã viết: "Nguyên
tắc cơ bản nhất của chủ nghĩa Busơ là: viện trợ phải thúc đẩy và khen thưởng quá
trình đa nguyên hoá chính trị và kinh tế thị trường tự do trong
các nước xã hội chủ nghĩa". Về kinh tế là thực hiện đa nguyên hoá, tức là thực
hiện tự do hoá nền kinh tế và chấp nhận nền kinh tế thị trường tự do hoàn toàn,
xoá bỏ chế độ công hữu và kinh tế kế hoạch hoá. Theo họ, nước nào đi theo
hướng như vậy thì mới nhận được sự cho vay, viện trợ của Mỹ.
Viện trợ ODA được phân theo các hình thức khác nhau:
+ Theo phương thức hoàn trả: ODA được phân thành khoản viện trợ không
hoàn
lại
(thường
chiếm
tối
đa

25% tổng ODA) và cho vay ưu đãi. Trong cho vay ưu đãi lại bao gồm: cho vay
không có lãi và cho vay lãi suất thấp từ 0,5% - 5,0% trong thời hạn từ 30 - 40
năm. Do lãi suất thấp với thời gian dài nên nhiều nước chủ quan, sử dụng vốn
ODA lãng phí, thất thoát, kém hiệu quả khi đến hạn không trả được nợ, dẫn đến
nợ nần lệ thuộc nước ngoài.
+ Theo nguồn cung cấp, có viện trợ song phương và viện trợ đa phương. Viện
trợ song phương do một quốc gia viện trợ cho nước ta, thường chiếm 80% nguồn
vốn ODA. Viện trợ đa phương do các tổ chức tài chính viện trợ, thường chiếm
20% nguồn ODA.
+ Theo đối tượng phục vụ có viện trợ theo dự án, theo chương trình, hỗ trợ kỹ
thuật...
Hiện nay ở nước ta đang có nhiều dự án ODA hoạt động. Chỉ riêng tỉnh Đắc
Lắc từ năm 2005 đến tháng 6 năm 2008, trên địa bàn tỉnh đã có 29 dự án ODA
với tổng số vốn là hơn 102 triệu USD. Nguồn viện trợ này từ các Chính phủ Đan
Mạch, Đức, Nhật Bản, Cô Oét, Hà Lan, Thụy Sĩ và ADB, WB. Trong đó, có 12
dự án đã thực hiện, 17 dự án đang triển khai thực hiện. Địa điểm thực hiện dự án
có đều khắp từ thành phố Buôn Ma Thuột đến các huyện, thị trong tỉnh. Thông
qua việc thực hiện dự án, nhiều người nước ngoài thâm nhập khắp nơi nắm tình
hình, tuyên truyền xuyên tạc và lôi kéo quần chúng.


Đối với loại hình này, chúng ta cần phải xây dựng các chương trình, dự án hài
hoà, cân đối, có tính khả thi; lựa chọn bố trí đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực
về tổ chức quản lý, có bản lĩnh chính trị vững vàng; kiểm tra giám sát quá trình
thực hiện các chương trình, dự án bảo đảm sử dụng vốn ODA đúng mục đích, có
hiệu quả, không để nợ nần phụ thuộc bên ngoài.
- Viện trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) (NGO: Non Government
Organization).
Cho đến nay, trên thế giới đã hình thành hơn 29.000 tổ chức phi chính phủ
mang tính quốc tế. ở các nước lớn, có thể có hàng vạn tổ chức NGO. Hầu hết các
tổ chức phi chính phủ đều hoạt động mang tính nhân đạo, nhưng cũng có một bộ
phận lợi dụng viện trợ nhân đạo để thực hiện những hoạt động chống phá các nước.
Chủ nghĩa đế quốc coi NGO là một kênh quan trọng để thực hiện "dân chủ, nhân
quyền", nhà cầm quyền của một số nước đế quốc đã cho rằng: nắm vững tầm quan
trọng của viện trợ nhân đạo tại Việt Nam hiện nay là điểm đúng tử huyệt của chế
độ. ở Việt Nam hiện có 600 tổ chức phi chính phủ hoạt động, trong đó không thể
không có một số tổ chức hoạt động theo lệnh của nhà nước tư bản. Gần đây, các tổ
chức NGO tăng cường phạm vi hoạt động ở các vùng nông thôn, miền núi, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số. Lợi dụng viện trợ nhân đạo, một số tổ chức NGO tìm
hiểu tình hình về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, tuyên truyền xuyên tạc, gây
chia rẽ sự đoàn kết của các dân tộc, phát triển tôn giáo, xây dựng nhà thờ, nhất là
đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa.
Riêng trên địa bàn Tây Nguyên, từ năm 2005 đến tháng 6 năm 2008, tại tỉnh
Đắc Lắc đã có 14 tổ chức phi chính phủ hoạt động, trong đó có 3 tổ chức của Mỹ,
2 tổ chức của Đức, 2 tổ chức của Pháp, 1 tổ chức của Thụy Sỹ, 1 tổ chức của
Nhật Bản. Số dự án là 30 với tổng số vốn 3.344.446 USD. Trong đó, có 4 dự án
đã thực hiện xong, 26 dự án đang triển khai thực hiện. Nhiều tổ chức hoạt động
thật sự vì mục tiêu nhân đạo nhưng cũng có những tổ chức NGO lợi dụng viện trợ
để tuyên truyền, kích động, gây mâu thuẫn giữa người Kinh với người dân tộc
thiểu số, kích động người dân tộc thiểu số sang Campuchia, sang Mỹ; vu cáo Việt
Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền. Lợi dụng hoạt động nhân đạo để gây cơ sở,
tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống đối, thâm nhập, chuyển hoá nội bộ.
Đặc biệt là NGO ở Tây Nguyên thông qua việc thực hiện các chương trình, dự án
mà nắm bắt thông tin kinh tế, văn hoá, quốc phòng, an ninh, dụ dỗ lôi kéo đồng
bào các dân tộc thiểu số, nhất là thanh niên chống lại chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước, tuyên truyền, kích động các tôn giáo, lôi kéo tầng lớp trí thức và
sinh viên... Vì vậy, chúng ta phải hết sức cảnh giác với sự hoạt động của NGO,
phải kiểm soát, theo dõi mọi hoạt động của các tổ chức phi chính phủ để kịp thời
ngăn chặn những âm mưu phá hoại của kẻ thù, đồng thời gần dân, nắm dân, giáo
dục cho mọi người dân hiểu được âm mưu thâm độc của chủ nghĩa đế quốc để
nhân dân nhận thức và cảnh giác, không bị kẻ xấu dụ dỗ, mua chuộc.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: (FDI: Foreign Direct Investment).
FDI là nguồn vốn do tư bản tư nhân và chính phủ đầu tư ra nước ngoài để tìm
lợi nhuận. Đây là hình thức xuất khẩu tư bản trực tiếp, hiện tượng phổ biến của
các nước tư bản phát triển từ cuối thế kỷ XIX lại đây. Đối với nước ta, thu hút đầu


tư trực tiếp nước ngoài sẽ góp phần bổ sung sự thiếu hụt nguồn vốn, tạo điều kiện
cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, nhận đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam cũng có thể làm ảnh hưởng đến chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội; làm thay đổi cơ cấu kinh tế vùng, ngành và cơ cấu kinh tế
thành phần; khai thác cạn kiệt tài nguyên; là bãi thải công nghiệp của các nước
giàu, ô nhiễm môi trường sinh thái; phụ thuộc vào kinh tế, từ đó phụ thuộc vào
chính trị đối với nước ngoài...
Theo thống kê, từ năm 1988 đến hết năm 2008, chúng ta đã cấp giấy phép cho
10.981 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với số vốn đăng ký là 163.602,2 triệu USD.
Trong đó, Hoa Kỳ có 396 dự án, với tổng số vốn đăng ký là 6,7 tỷ USD, đứng thứ 6
trong 82 nước, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Đó là chưa kể còn có những
công ty con, công ty cháu nằm ở các nước mà công ty mẹ là của Mỹ cũng đang
đầu tư tại Việt Nam.
Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam cần chú ý những vấn đề
sau đây:
+ Vấn đề chuyển giao công nghệ: Trong quá trình đầu tư ra nước ngoài, hầu
hết các công ty, các nước đều không chuyển giao công nghệ cao, công nghệ
nguồn mà thường chuyển công nghệ cũ, thậm chí công nghệ lạc hậu, đã hết khấu
hao cho các nước nghèo. Vì họ không muốn các nước nghèo nắm được công nghệ
cao để cạnh tranh với họ, kiềm giữ các nước nghèo, tạo một khoảng cách, tạo ra
khu vực sân sau làm thị trường tiêu thụ sản phẩm của các nước phát triển, đồng
thời tiết kiệm được nguyên liệu, chi phí và đẩy vấn đề ô nhiễm môi trường sang
các nước đang phát triển.
Đối với các nước đế quốc và các thế lực thù địch, việc chuyển giao công nghệ
cũ, lạc hậu vào Việt Nam là một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá lâu dài
của họ. Thực tế đã có địa phương, bộ, ban, ngành đã mua phải máy móc, thiết bị
cũ, không đồng bộ; hầu hết máy móc, thiết bị nước ngoài đưa vào các công ty liên
doanh với ta là máy móc cũ, lạc hậu nhiều thế hệ...
+ Các công ty nước ngoài tìm cách nắm quyền chủ động và chuyển từ công ty
liên doanh sang công ty 100% vốn nước ngoài.
Lợi dụng sự yếu kém về trình độ tổ chức quản lý của ta, các công ty liên doanh
thường tìm cách trốn lậu thuế một cách hợp pháp. Máy móc, thiết bị được chuyển
từ công ty mẹ sang công ty con ở Việt Nam với giá rất cao. Nhiều công ty tìm mọi
cách tạo nên tình trạng "thua lỗ". Hiện nay, ở nước ta nói chung, Thành phố Hồ
Chí Minh nói riêng, các công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài "thua lỗ" lên đến
70%. Do làm ăn "thua lỗ" kéo dài, bên Việt Nam không thể chịu nổi nên chuyển
từ công ty liên doanh sang công ty 100% vốn nước ngoài. Tình trạng "thua lỗ"
kéo dài của công ty liên doanh gây tổn thất lớn cho phía Việt Nam. Bởi vì, công
ty liên doanh là công ty con của công ty mẹ ở chính quốc. Khi sản phẩm không
tiêu thụ được thì công ty liên doanh phải bán với giá rẻ cho các công ty anh em
hoặc công ty mẹ ở nước ngoài; đồng thời phải mua máy móc, thiết bị với giá đắt.
Từ đó, các nhà tư bản nước ngoài được lợi từ cả hai đầu mà không phải đóng một
đồng thuế nào cho nước chủ nhà.
Bên cạnh việc tìm cách làm ăn "thua lỗ", chúng còn tìm cách thay đổi tỷ lệ góp
vốn của các bên thông qua tăng vốn điều lệ. Vì bên Việt Nam ít vốn nên không


theo được dẫn đến tỷ lệ góp vốn của Việt Nam ngày càng ít đi trong liên doanh và
đến một lúc nào đó sẽ không còn đủ điều kiện tham gia vào hội đồng quản trị của
công ty.
+ Đầu tư vào những ngành, lĩnh vực nhạy cảm để dần dần nắm các mạch máu
then chốt, chi phối nền kinh tế.
Để chống phá kinh tế Việt Nam, chúng tìm cách đầu tư vào các ngành, lĩnh
vực nhạy cảm như: bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng, xuất bản, truyền
thông... Những lĩnh vực này nếu họ đầu tư và chi phối thì sẽ rất nguy hiểm, đây
không còn là vấn đề kinh tế đơn thuần mà là vấn đề chính trị, đe dọa trực tiếp đến
tình hình kinh tế - xã hội và an ninh quốc gia, đến sự sống còn của chế độ xã hội
chủ nghĩa. Chính vì thế, khi đàm phán song phương giữa Việt Nam với một số
nước tư bản để Việt Nam gia nhập WTO, Chính phủ các nước này đòi Việt Nam
phải cam kết ngay từ đầu mở cửa thị trường tự do hoàn toàn đối với các ngành
dịch vụ như tài chính ngân hàng, truyền thông báo chí, xuất bản...
Thông qua dịch vụ ngân hàng, hệ thống chuyển nhận kiều hối, các nước đế
quốc và các thế lực thù địch chuyển tiền cung cấp tài chính cho các tổ chức phản
động trong nước. Mặt khác, chúng còn tìm cách đầu tư mất cân đối giữa các
ngành, vùng; thành phần kinh tế để vừa làm cho kinh tế nước ta phụ thuộc vào
bên ngoài, vừa tìm cách chuyển dần cơ sở kinh tế - xã hội của ta chệch khỏi quỹ
đạo của chủ nghĩa xã hội.
Gần đây, chúng còn tìm cách xin cấp giấy phép đầu tư trồng rừng trên các địa
bàn chiến lược, biên giới của ta. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm vì nó liên quan
trực tiếp đến quốc phòng - an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Do vậy, trong việc thu hút đầu tư nước ngoài, đã đến lúc chúng ta phải hết sức
cẩn trọng, phải đi vào quy hoạch, xét duyệt, tính toán cụ thể, cho phép đầu tư vào
ngành nào, lĩnh vực nào có lợi cho quốc kế dân sinh; đồng thời phải nâng cao
trình độ, năng lực để tiếp nhận và sử dụng các nguồn vốn nước ngoài có hiệu quả.
+ Dùng tiền mua chuộc cán bộ, nhân viên giỏi, gây "chảy máu chất xám" ngay
trên lãnh thổ Việt Nam.
Phần lớn các công ty có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam đều dùng chế độ
tiền lương cao để thu hút cán bộ, công nhân giỏi vào làm việc. Do tiền lương cao
gấp đôi, thậm chí gấp 4 - 5 lần so với khu vực Nhà nước và các công ty trong
nước nên có không ít người bỏ việc ở khu vực Nhà nước sang làm cho công ty
nước ngoài. Hiện tượng "chảy máu chất xám" này có chiều hướng tăng lên trong
những năm gần đây.
Các công ty của nước ngoài thường có chế độ tiền lương và thưởng rất cao cho
một số cán bộ chủ chốt, cán bộ công đoàn, cán bộ trẻ là người Việt Nam, người
địa phương nơi đặt công ty. Đồng thời, chọn một số cán bộ chủ chốt đưa sang các
nước, nhất là các nước đế quốc lớn để bồi dưỡng, học tập, đào tạo. Những người
này ăn lương của nhà nước tư bản, sống theo lối sống tư bản, tư tưởng thân tư
bản, làm theo tư bản. Đó chính là cách đầu tư của chủ nghĩa đế quốc nhằm mục
tiêu chống phá Việt Nam lâu dài. Cần khẳng định rằng, các nước đế quốc chưa


bao giờ thương người dân Việt Nam, chúng chưa bao giờ từ bỏ âm mưu xoá bỏ
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Việc bỏ tiền đầu tư cho một số người Việt Nam là
nằm trong kế hoạch chống phá lâu dài để chuyển từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang
chế độ tư bản chủ nghĩa.
Ba là, thực hiện phá hoại nền kinh tế nước ta bằng nhiều hình thức biện
pháp vừa tinh vi, vừa trắng trợn trên các lĩnh vực
Trong quan hệ thương mại: Mở rộng quan hệ thương mại ngày nay là yêu cầu
khách quan đối với tất cả các nước. Hiện nước ta đã có quan hệ thương mại với
165 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Từ khi nước ta và Mỹ ký Hiệp định
Thương mại, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ phát triển nhanh. Tuy
nhiên, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn triệt để lợi dụng quan hệ
thương mại để thực hiện "diễn biến hòa bình" với nhiều hình thức, vừa tinh vi,
vừa trắng trợn, cụ thể:
Cạnh tranh không bình đẳng, dùng hàng rào kỹ thuật, chính sách bảo hộ để
ngăn cản hàng hoá của Việt Nam xuất vào các nước tư bản. Dựa vào luật chống
bán phá giá để hành xử đối với các loại hàng hoá vào các nước tư bản, nhất là
hàng hoá may mặc, giày da, nông lâm, thủy sản... gây thiệt hại kinh tế cho Việt
Nam. Dùng hàng rào thuế quan và phi thuế quan để hạn chế sản phẩm của Việt
Nam tiếp cận thị trường các nước tư bản và thị trường châu Âu. Một số mặt
hàng như giày dép, gạo, thủy sản, hàng dệt may ở thị trường Mỹ thường bị hạn
chế và bị kiện chống bán phá giá. Nhiều vụ kiện đã gây tổn thất lớn về kinh tế
cho doanh nghiệp và nông dân nước ta.
Mới đây, Mỹ đã đưa ra đạo luật Lacey, đạo luật này có hiệu lực từ ngày 1
tháng 4 năm 2010. Theo đó, khi xuất khẩu gỗ vào thị trường Mỹ, những nhà sản
xuất, xuất khẩu và bán lẻ đồ gỗ có nguồn gốc đáng nghi ngờ có thể bị chính phủ
nước này tịch thu hàng, phạt tiền hoặc thậm chí bị bỏ tù. Theo đạo luật này:
nguồn gốc gỗ phải rõ ràng, có giấy tờ chứng minh mua ở đâu, được khai thác ra
sao, phải có chứng chỉ FSC; hơn nữa, gỗ đó phải được trải qua chuỗi kiểm tra của
một tổ chức quốc tế độc lập, ví dụ gỗ khai thác ở rừng nào của nước nào, vận
chuyển qua cảng nào, về qua cửa khẩu nào của Việt Nam, rồi đến nhà máy nào.
Cả chuỗi như thế phải có chứng từ kiểm tra, xác minh rõ ràng mới được cấp phép.
Vấn đề khó khăn nhất đối với ta là không thể đứng ra cấp giấy chứng nhận, mà
phải thoả thuận với Mỹ và quốc tế để một tổ chức độc lập, tức là bên thứ 3 đứng
ra chứng nhận (hiện nay chưa có tổ chức quốc tế nào giúp ta làm việc này). Đạo
luật này đã gây khó khăn cho hơn 300 doanh nghiệp sản xuất gỗ của ta hiện nay.
Bởi vì kim ngạch xuất khẩu gỗ của ta vào thị trường Mỹ hiện nay là hơn 1 tỷ
USD/năm; vào EU khoảng 600 triệu (hai thị trường này chiếm hơn 1/2 tổng kim
ngạch xuất khẩu gỗ của ta hiện nay). Đáng lưu ý là vào năm 2011, EU cũng sẽ áp
dụng đạo luật Flegt với những quy định tương tự đạo luật Lacey.
Trong việc xuất khẩu hàng hoá sang Việt Nam, bên cạnh việc gia tăng khối
lượng, chủng loại, các nước tư bản rất quan tâm xuất khẩu vào thị trường nước
ta các hàng hoá gây khó khăn cho các ngành sản xuất trong nước như thịt bò,
rau quả, sữa hộp, các loại thức ăn nhanh... Đồng thời, chúng còn tìm cách đưa
vào
nước
ta
các
loại
văn
hóa phẩm đồi trụy, cổ xúy cho lối sống thực dụng của chủ nghĩa tư bản. Từ đó,
kích thích vào lợi ích cá nhân, tâm lý thấp hèn của một số người, nhất là lớp trẻ,


khuyến khích họ chạy theo lối sống sa đọa, vì tiền, thực dụng
với lợi ích cá nhân. Khi đã quen với lối sống thực dụng của Mỹ thì những giá trị
đạo đức truyền thống của ông cha sẽ bị xói mòn hoặc bị xoá bỏ, các tệ nạn xã
hội sẽ xảy ra và người ta sẵn sàng nghe và làm theo tư bản khi có điều kiện.
- Dùng tiền tài trợ, mời cán bộ của ta đi tham quan, học tập, đi du lịch, hội
thảo ở nước ngoài, qua đó mua chuộc, khống chế nhằm phục vụ âm mưu phá
hoại lâu dài. Hiện nay, mỗi năm nước ta có rất nhiều người đi du lịch, tham quan,
hội thảo khoa học, đi học ở nước ngoài, bao gồm cả cán bộ của Đảng, Nhà nước,
chính quyền các cấp, các doanh nghiệp tư nhân và nhân dân. Thông qua tài trợ
cho các đối tượng, chúng tìm cách tác động gây ảnh hưởng, dụ dỗ mua chuộc một
số người nhằm mục đích cài cắm vào nội bộ của ta. Đây là con đường dễ dàng và
rẻ tiền nhất để chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xây dựng, tổ chức các
lực lượng chống đối ở trong nước. Trong khi đó, các cơ quan, đơn vị, địa phương
của chúng ta lại rất xem thường vấn đề này, tổ chức quản lý cán bộ lỏng lẻo và
chưa có biện pháp gì để theo dõi tình hình này.
- Lợi dụng vào chính sách mở cửa của ta, thông qua các hình thức như đi du
lịch, tham quan, hội thảo tại Việt Nam chúng thâm nhập nắm tình hình kinh tế,
chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh của ta. Đặc biệt, chúng rất quan tâm đến
vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Chúng gặp các đối
tượng bất mãn, chống đối, đi vào sâu trong buôn làng để tuyên truyền tôn giáo,
xây dựng nhà thờ, mua chuộc các già làng, dụ dỗ thanh niên dân tộc chạy ra nước
ngoài. Riêng trên địa bàn Tây Nguyên từ năm 2001 - 2007, khách nước ngoài đến
Gia Lai là 5.247 lượt người thuộc 66 quốc gia, có 415 Việt kiều, trong đó có 101
người dân tộc thiểu số. Năm 2007, có 26 đoàn gồm 85 người các nước Mỹ, Anh,
úc, Pháp, ý, Canađa... đến Tây Nguyên, trong đó 24 đoàn có đối tượng UNHCR
hoạt động tại địa phương.
- Thông qua làn sóng đầu tư kinh doanh của Việt kiều, chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch xây dựng cơ sở, đưa người của chúng trở về nước để chống
phá ta từ bên trong. Đảng, Chính phủ Việt Nam thực hiện chính sách đại đoàn kết
dân tộc, luôn khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận của dân
tộc Việt Nam, đồng thời kêu gọi, khuyến khích Việt kiều về nước đầu tư kinh
doanh, làm ăn sinh sống. Đó là chủ trương đúng đắn được nhân dân hưởng ứng.
Đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài đều có lòng yêu nước, muốn đóng góp
công sức để xây dựng và phát triển đất nước. Lợi dụng chính sách này, một số
nước đế quốc lớn đã cài cắm những phần tử phản động, chống cộng sản về nước
dưới danh nghĩa các nhà kinh doanh. Lợi dụng tình hình hợp pháp để hoạt động
bất hợp pháp có tính lâu dài.
Dưới hình thức các nhà kinh doanh, chúng tìm cách thâm nhập vào các địa
phương, mở rộng quan hệ với các cơ quan ban ngành; móc nối với ngụy quân,
ngụy quyền và các phần tử bất mãn, lưu manh hình thành các tổ chức phản động
ngay ở trong nước. Khi các tổ chức phản động trong nước được hình thành,
chúng tài trợ tài chính để các tổ chức này hoạt động và sẵn sàng tạo điểm nóng,
phá hoại các cơ sở kinh tế, gây bạo loạn, làm mất ổn định chính trị - xã hội.
Hiện nay, đã có một số Việt kiều về đầu tư, tham gia vào các công ty liên
doanh. Vì thế phải đề cao cảnh giác và phân biệt được các nhà đầu tư Việt kiều.


Thường họ xây dựng công ty lớn ở các thành phố, các tỉnh đồng bằng rồi mở rộng
mạng lưới, chi nhánh đến các địa phương, nhất là lên Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây
Nam Bộ. Cần chú ý vấn đề này, đồng thời có biện pháp nghiệp vụ chuyên môn
cùng với tai mắt của quần chúng thì Việt kiều thật, giả sẽ được phát hiện không
mấy khó khăn.
- Tài trợ cho học sinh, sinh viên đi học ở trong và ngoài nước. ở trong nước,
Mỹ tài trợ cho sinh viên, cán bộ đi học theo chương trình Fulbright. Những người
mở lớp, quản lý, giảng dạy hầu hết là người Mỹ và một số ít người Việt Nam. Nội
dung chương trình giảng dạy là của người Mỹ, các lý thuyết kinh tế của Mỹ, kinh
nghiệm thực tế của Mỹ. Sau khi học sinh ra trường về công tác ở các ban ngành,
địa phương, hàng năm người Mỹ có tổ chức gặp mặt hay "họp lớp" ở các khu
vực. Đã có hàng nghìn người Việt Nam theo học chương trình này trong những
năm qua.
ở nước ngoài, Mỹ đã tài trợ cho hàng ngàn học sinh, sinh viên đi học tại Mỹ,
phần lớn là những người học giỏi. Ngoài ra, những người không thuộc diện tài trợ
trên mà do Chính phủ Việt Nam đưa đi học và những người do gia đình tự túc cho
đi học cũng được xét tài trợ học bổng trong những trường hợp cụ thể. Hiện nay,
theo thống kê sơ bộ, có khoảng hơn 6.000 sinh viên Việt Nam đi học ở Mỹ. Sau
khi học xong, phần đông số người này ở lại Mỹ hoặc làm việc trong các công ty
Mỹ ở các nước và công ty Mỹ ở Việt Nam. Số còn lại trở về nước nhưng hầu hết
cũng làm việc trong các công ty nước ngoài... Trường hợp này, trước mắt, chưa có
những biểu hiện gì nhưng về lâu dài cũng không thể xem thường. Bởi vì, tiền tài
trợ của tư bản, học theo quan điểm lý luận của tư bản, ra làm việc và được hưởng
lương của tư bản... đến một lúc nào đó, sẽ có một số người trong diện này mang
cái xác của người Việt Nam nhưng linh hồn là của tư bản.
- Dùng tiền bạc, hàng hoá mua chuộc, lôi kéo, kích động một bộ phận đồng
bào các dân tộc thiểu số chống đối chính quyền. Các tổ chức người Việt phản
động ở nước ngoài được đế quốc nuôi dưỡng tìm cách gửi tiền, hàng hoá về cho
thân nhân, gia đình đồng thời tuyên truyền về đời sống sung sướng ở các nước tư
bản. Điều này làm cho một bộ phận dân cư ở trong nước không quan tâm làm ăn
mà chỉ trông chờ tiền hàng ở nước ngoài gửi về, một số người hy vọng sang các
nước tư bản để được sung sướng và khi có điều kiện họ sẵn sàng ra đi kể cả vượt
biên trái phép.
Chỉ trong 6 tháng đầu năm 2008, số tiền từ nước ngoài gửi về cho một bộ
phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Kon Tum là 49.602 USD và 403.070.376
VNĐ. ở Đắc Lắc có hơn 3 triệu USD từ nước ngoài gửi về. Có nơi đồng bào các
dân tộc thiểu số không sản xuất, bỏ vườn hoang, đất hoang để trông chờ tiền
hàng từ nước ngoài gửi về. Nguy hại hơn là có một số người nhẹ dạ nghe theo
lời dụ dỗ đã vượt biên ra nước ngoài. Khi ra nước ngoài sẽ có một số người
được đế quốc nuôi dưỡng, đào tạo để đưa về nước tiếp tục chống phá chúng ta.
Mới đây, một số nước đế quốc lớn đã có chính sách mới về vấn đề người
Thượng và người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trốn sang Campuchia đã tác
động xấu đến tình hình an ninh các tỉnh Tây Nguyên. Nhất là việc họ hứa hẹn
phối hợp với UNHCR, các tổ chức NGO tiếp nhận người dân tộc thiểu số vượt
biên sang Campuchia, hỗ trợ 80% kinh phí cho hoạt động này và cử một số
chuyên viên chuyên lo việc này. Từ đó, đã có những người tìm cách vượt biên


trái phép, trong đó nhiều người không phải vì động cơ chính trị, mà từ động cơ
kinh tế, vượt biên để có cuộc sống sung sướng hơn.
Như vậy chỉ cần dùng tiền hàng mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch
đạt nhiều mục đích như gây sự chia rẽ, nghi ngờ trong cộng đồng các dân tộc,
một số người tin đế quốc, nghe đế quốc và phụ thuộc vào họ, đồng thời xây dựng
lực lượng chống phá chủ nghĩa xã hội lâu dài.
Chúng ta cần nhận thức được vấn đề này để tuyên truyền giáo dục, đồng thời
làm rõ thực chất vấn đề cho đồng bào thấy được âm mưu thâm độc của kẻ thù, có
biện pháp ngăn chặn dòng người vượt biên chạy ra nước ngoài.
Một số nước đế quốc lớn và các nước phương Tây còn sử dụng con bài "cây
gậy và củ cà rốt" để lái dần các nước xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo của chúng.
Chính sách "tối huệ quốc" của chủ nghĩa đế quốc là một bằng chứng. Đối với
những nước kiên định chủ nghĩa xã hội, chúng sẽ tìm cớ gây chiến tranh thương
mại, hủy bỏ chế độ "tối huệ quốc" trong quan hệ thương mại. Ngoài ra, chúng
còn tìm cách tung bạc giả nhằm làm rối loạn thị trường của ta. Từ tháng 9 năm
1981 đến tháng 9 năm 1984, tổ chức "Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu
nước giải phóng Việt Nam" do Mai Văn Hạnh và Lê Quốc Túy cầm đầu đã đưa
vào Việt Nam 10 tấn tiền giả; giai đoạn từ năm 1990
đến 1992 chúng ta đã phát hiện 167 vụ lưu hành tiền giả Việt Nam, 4 vụ đô la
giả, 3 vụ nhân dân tệ giả. Trắng trợn hơn, chúng còn đưa cả phương tiện in ấn
tiền giả hiện đại vào Việt Nam để in ấn tiền giả nhằm phá hoại nền kinh tế nước
ta. Ngoài ra, chúng còn móc nối với bọn phản động trong nước và các doanh
nghiệp tư nhân có thế lực đầu cơ tích trữ, nâng giá hàng hoá; khuyến khích tiếp
tay cho bọn buôn lậu trốn thuế, tuồn hàng lậu với số lượng lớn vào Việt Nam để
bán
phá
giá
hàng
hoá
trên
thị trường Việt Nam, nhằm bóp chết các doanh nghiệp trong nước.
3. Thực chất của phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình" trên lĩnh
vực kinh tế ở Việt Nam
Theo Đại từ điển tiếng Việt, do Nhà xuất bản Văn hoá Tư tưởng xuất bản năm
1998 thì: "Phòng" là tìm cách ngăn ngừa, đối phó với điều không hay có thể xảy
ra, gây tai hại cho mình1. Phòng đề cập đến những biện pháp mang tính chất chủ
quan của chủ thể đưa ra để ngăn ngừa, đối phó với những điều xấu, điều không
hay mà người khác hoặc tác nhân nào đó ở bên ngoài có thể gây ra làm tổn hại
đến mình. Mục đích của phòng là ngăn ngừa làm cho điều xấu không thể xảy ra,
hoặc nếu đã xảy ra thì đối phó thắng lợi với những điều xấu đó, không để điều
xấu khác xảy ra, bảo vệ mình.
Còn "chống" là gây tác động trở lực ngược lại với hoạt động của ai hoặc của
cái gì1. Nếu như "phòng" nhấn mạnh đến biện pháp ngăn ngừa cái chưa xảy ra
nhiều hơn thì "chống" lại đề cập đến những biện pháp quyết liệt gây tác động trở
ngược với những điều đã xảy ra, đẩy lùi, làm thất bại những điều đã xảy ra với
mình.
Như vậy, phòng và chống là hai khái niệm khác nhau song có mối quan hệ
1

. Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, H. 1998, tr. 1.339.

1

. Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, H. 1998, tr. 388.


mật thiết, gắn bó với nhau, cả hai đều đề cập đến biện pháp để ngăn ngừa, chống
lại làm cho các điều xấu do tác động từ bên ngoài không thể xảy ra với mình hoặc
nếu xảy ra thì làm thất bại những điều đó. Nếu phòng tốt thì chống dễ dàng,
ngược lại chống tốt thì tạo điều kiện cho phòng tốt. Vận dụng vấn đề trên vào
xem xét "phòng" và "chống" chiến lược "diễn biến hòa bình" chúng ta thấy:
Một là, "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực kinh tế là của chủ nghĩa đế quốc và
các thế lực thù địch nhằm làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta
trong quá trình phát triển, thông qua các biện pháp, âm mưu, thủ đoạn vừa tinh vi,
vừa thâm độc. Nếu như trước đây để chống phá nước ta chúng tìm cách bao vây,
cấm vận, cắt đứt quan hệ ngoại giao thì hiện nay chúng chuyển sang mở rộng
quan hệ, tăng cường đầu tư, viện trợ, cổ vũ chúng ta phát triển kinh tế thị
trường… Vì vậy, để phòng, chống "diễn biến hòa bình" có hiệu quả trước hết
chúng ta phải phát hiện ra được những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, để
đề ra các giải pháp phòng, chống phù hợp.
Hai là, nội hàm của "diễn biến hòa bình" là hết sức rộng và động, liên tục
được bổ sung, phát triển cùng với sự vận động phát triển của tình hình thực tiễn.
Mặt khác, thông qua "diễn biến hòa bình" để làm cho đối phương "tự diễn biến"
là một trong những thủ đoạn mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sử
dụng trong chiến lược "diễn biến hòa bình". Vì vậy, để làm thất bại âm mưu, thủ
đoạn của địch thì chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữa "phòng" và "chống", trong
đó "phòng" là chính, còn "chống" phải quyết liệt. Phòng và chống chiến lược
"diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực kinh tế phải được tiến hành đồng bộ, quan hệ
mật thiết với nhau, không tách rời nhau, là điều kiện, tiền đề của nhau, hỗ trợ
lẫn nhau; trong phòng phải có chống và trong chống phải có phòng. Nếu chúng
ta phòng tốt, nghĩa là chúng ta không tạo ra điểm yếu, khe hở để địch lợi dụng
"diễn biến hòa bình" thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi để chống tốt; ngược lại nếu
chúng ta chống tốt, nghĩa là khi đã phát hiện ra âm mưu, thủ đoạn phá hoại của
địch thì phải chống quyết liệt, làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn đó thì sẽ tạo
điều kiện cho phòng tốt. Đối tượng của phòng, chống không chỉ là những âm
mưu, thủ đoạn của địch "diễn biến hòa bình" với ta trên lĩnh vực kinh tế mà còn
cả phòng, chống với "tự diễn biến", chệch hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta
trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế.
Ba là, thông qua phân tích, lập luận ở phần trên chúng ta khẳng định thực chất
của chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch
với cách mạng Việt Nam là làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước
ta. Do vậy, thực chất của phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình" trên lĩnh
vực kinh tế của ta là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta
trong quá trình phát triển.
Từ cách phân tích lập luận như trên, theo chúng tôi:
Phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực kinh tế là tổng thể
những biện pháp của chúng ta nhằm phát hiện, ngăn ngừa, đấu tranh làm thất
bại âm mưu, thủ đoạn của địch "diễn biến" trên lĩnh vực kinh tế, giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta trong quá trình phát triển.
Nghiên cứu khái niệm trên cần lưu ý các nội dung cơ bản sau:
- Chủ thể phòng, chống "diễn biến hòa bình" nói chung, trên lĩnh vực kinh tế nói


riêng là chúng ta, với nghĩa bao hàm là của cả hệ thống chính trị và của toàn dân.
Bởi vì, "diễn biến hòa bình" là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù
địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam với mục tiêu cao nhất là xoá bỏ sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Để thực hiện
được mục tiêu đó chúng đã sử dụng tổng hợp nhiều âm mưu, thủ đoạn vừa tinh vi,
vừa trắng trợn, "diễn biến" trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, ngoại giao, quốc phòng, an ninh; liên quan đến nhiều đối tượng; hướng vào
chia rẽ mối quan hệ đoàn kết giữa Đảng với dân, với quân, giữa quân với dân; chia
rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân
quyền... để chống phá ta. Vì vậy, để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa
bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta,
chúng ta phải huy động được sức mạnh toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản
lý điều hành của Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và vai trò làm
tham mưu của các bộ, ban, ngành, đoàn thể có liên quan trong phòng và chống
chiến lược "diễn biến hòa bình".
- Biện pháp để phòng, chống "diễn biến hòa bình" của ta cũng hết sức đa dạng
và phong phú, tiến hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bởi vì, kẻ địch sử
dụng tổng hợp các âm mưu, thủ đoạn trên các lĩnh vực để "diễn biến" với ta, để
chống lại chúng ta cũng phải sử dụng đa dạng, phong phú các giải pháp, trên các
lĩnh vực. Trong đó, vị trí, vai trò của các giải pháp trên các lĩnh vực là không
ngang bằng nhau, song có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, làm điều
kiện, tiền đề cho nhau và đều hướng tới mục tiêu là làm thất bại âm mưu, thủ
đoạn của kẻ thù, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta trong
quá trình phát triển.
- Nội dung của phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa bình" là:
Bảo vệ và phát triển các quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh để nó luôn là nền tảng tư tưởng kinh tế của Đảng; giữ
vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý kinh
tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với sự phát triển của
nền kinh tế nói riêng, với xã hội nói chung.
Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa
đế quốc và các thế lực thù địch trên lĩnh vực kinh tế; giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập
kinh tế quốc tế. Tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, kinh tế nhà
nước cùng với kinh tế hợp tác phải trở thành nền tảng của nền kinh tế; tăng
cường hiệu lực quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước; mở cửa hội nhập kinh tế
quốc tế phải trên cơ sở nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ, bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Phát triển mạnh mẽ kinh tế đi đôi với giải quyết tốt các vấn đề xã hội; gắn tăng
trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện tốt công tác
xóa đói, giảm nghèo; công tác đền ơn đáp nghĩa; nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần cho nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số.
Thực hiện tốt cuộc đấu tranh phòng, chống tham ô, lãng phí và các tệ nạn xã


hội khác, kết hợp chống "diễn biến hòa bình" của địch với chống "tự diễn biến"
của ta.
II. TìNH HìNH THựC HIệN
PHòNG, CHốNG CHIếN LƯợC "DIễN BIếN Hòa BìNH"
TRÊN LĩNH VựC KINH Tế ở VIệT NAM THờI GIAN QUA
1. Thành tựu và hạn chế trong phòng, chống chiến lược "diễn biến hòa
bình" trên lĩnh vực kinh tế ở nước ta thời gian qua
a) Thành tựu và hạn chế trong phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh
vực lý luận tư tưởng kinh tế bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, thời gian qua công tác đấu tranh phòng, chống
chiến lược "diễn biến hòa bình" của địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận luôn
được coi trọng và tăng cường, góp phần xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị
tư tưởng, bảo vệ và phát triển quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giữ
gìn, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.
"Công tác đấu tranh chống lại các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các
thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, vu cáo Đảng, Nhà nước ta bước
đầu được đẩy mạnh, có nhiều cố gắng tìm tòi, đổi mới nội dung và phương
thức hoạt động" 1. Chúng ta đã làm khá tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng
vì vậy mà nhân dân, nhất là đội ngũ những người làm báo, làm công tác lý
luận, tư tưởng ngày càng hiểu sâu sắc hơn âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa
bình" của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nói chung, trên lĩnh vực lý
luận tư tưởng kinh tế nói riêng. Vì vậy, ngày càng có nhiều nhà nghiên cứu,
nhiều học giả, nhà báo đã tích cực đấu tranh quyết liệt với các luận điểm sai
trái nhằm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối kinh tế của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Công tác báo chí đã góp phần quan trọng vào đấu tranh, phòng, chống "diễn
biến hòa bình" trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng. Phần lớn báo chí của ta đã hoạt
động đúng tôn chỉ mục đích, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của nhân
dân, biểu dương phong trào thi đua yêu nước, đấu tranh phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, quan liêu và các tệ nạn xã hội; thường xuyên và kịp thời phản
bác lại những luận điệu bóp méo, vu cáo của kẻ địch, vạch trần động cơ, ý đồ đen
tối của chúng. Các báo, tạp chí, trong đó có Đài Tiếng nói Việt Nam thường
xuyên có chuyên mục, bài bình luận về âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế
lực thù địch. Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Nhân dân,
Báo Quân đội nhân dân, Tạp chí Cộng sản là những cơ quan báo chí quan trọng
nhất tham gia nhiệm vụ này với nhiều bài chuyên luận sâu sắc, nhiều bài bình
luận đạt được độ sắc bén về cách nhìn và lập luận. Báo chí của ta bước đầu chủ
động, tích cực chống lại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch ở
nhiều mức độ khác nhau: từ vạch trần âm mưu của địch đằng sau các sự kiện vừa
1

. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X,

Nxb Chính trị quốc gia, H. 2007, tr. 35.


xảy ra, đến chủ động tấn công vào ngay các khuyết tật của xã hội tư sản và chủ
động trình bày quan điểm chính diện của Đảng, Nhà nước một cách có hệ thống
trên các vấn đề lớn như: tự do, dân chủ, nhân quyền, sở hữu, kinh tế nhiều thành
phần và định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đấu tranh, báo chí đã thực hiện tốt
phương châm giữa chống và xây, chống quyết liệt và xây tích cực. Đấu tranh
phòng, chống "diễn biến hòa bình" của ta gần đây không chỉ là phản bác những
luận điệu xuyên tạc, bóp méo, vu cáo, bịa đặt của địch, mà đã làm rõ tính đúng
đắn của đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Xây dựng cách nhìn, quan
điểm đúng đắn cho đông đảo quần chúng nhân dân, đặc biệt là cho đội ngũ cán
bộ, đảng viên.
Công tác lý luận đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, thông qua tổng kết
lý luận và thực tiễn 25 năm đổi mới, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội của ta đã ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan
điểm lý luận về công cuộc đổi mới đã hình thành trên những nét cơ bản. Chúng
ta đã tập trung nghiên cứu, hiểu đúng hơn bản chất những quan điểm kinh tế cơ
bản của các nhà kinh điển Mác - Lênin, đặc biệt là về kinh tế thời kỳ quá độ.
Các vấn đề về kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường; về phát triển lực lượng sản
xuất, công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức; vấn đề cải
tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa; mở
rộng quan hệ kinh tế đối ngoại... được nhận thức sâu sắc và được bổ sung phát
triển. Điều đó không chỉ là cơ sở để Đảng ta đề ra chủ trương, đường lối lãnh
đạo kinh tế đúng đắn mà còn góp phần đấu tranh có hiệu quả với sự tuyên
truyền, xuyên tạc của kẻ thù, bảo vệ phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng. Đặc biệt, Cuộc vận động "Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" được Đảng ta phát động đã đi
sâu vào quần chúng và đem lại hiệu quả to lớn. Công tác nghiên cứu, truyền bá
tư tưởng Hồ Chí Minh bước đầu đạt được kết quả tốt, tính thuyết phục được
nâng cao, tác động tích cực đối với đời sống xã hội. Việc nghiên cứu, giáo dục
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục lý luận chính trị
trong Đảng và trong xã hội được đẩy mạnh.
Bên cạnh những thành tựu quan trọng như trên, công tác đấu tranh phòng,
chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực lý luận tư tưởng bảo vệ chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối kinh tế của Đảng thời gian qua cũng còn
nhiều hạn chế, yếu kém, cụ thể:
Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục, tính chiến đấu còn
hạn chế, chưa sát thực tiễn và chưa linh hoạt. Nhiều cấp ủy đảng chưa thực sự
làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng nên còn nhiều cán bộ, đảng viên và
nhân dân chưa nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn, tính chất nguy hiểm của
"diễn biến hòa bình" nói chung, trên lĩnh vực kinh tế nói riêng. Một bộ phận
không ít cán bộ, đảng viên và quần chúng không thấy được trách nhiệm của mình
đối với công tác đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" trên lĩnh vực lý
luận, tư tưởng, cho rằng đó là công việc riêng của Đảng, các tổ chức chính trị - xã
hội, các nhà nghiên cứu chứ không phải của mình nên đứng ngoài cuộc, không
tham gia.


Công tác nắm bắt tư tưởng, tâm trạng xã hội chưa sâu sát, kịp thời, nhất là ở
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Công tác đấu tranh chống âm
mưu "diễn biến hòa bình" ở một số nơi chậm được triển khai; đấu tranh với các
hoạt động lợi dụng tôn giáo, dân tộc chưa sắc bén. Việc triển khai, quán triệt và
học tập nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước ở một số địa phương, cơ sở
chưa cụ thể, chưa sát dân và còn hình thức. Do đó, một số chủ trương, đường lối
của Đảng chậm đi vào cuộc sống.
"Công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn bị động,
hiệu quả thấp"1. Hình thức, biện pháp đấu tranh còn đơn điệu; chưa phát huy được
sức mạnh tổng hợp của các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là báo chí,
truyền thanh, truyền hình. Đáng lưu ý, một số cơ quan báo chí "thiếu nhạy bén
chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng, văn hoá, có biểu hiện xa rời sự lãnh
đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, xa rời tôn chỉ mục đích, thông tin không
trung thực, thiếu chính xác"1. Công tác quản lý Nhà nước về truyền thông còn
nhiều bất cập, rất nhiều trang web có nội dung xấu, tuyên truyền, xuyên tạc chủ
nghĩa Mác - Lênin; đường lối của Đảng, đời tư các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà
nước... vẫn tồn tại ngang nhiên, chúng ta chưa có biện pháp kiểm soát hữu hiệu
các trang web này.
Công tác lý luận còn lạc hậu trên một số mặt, chưa đáp ứng được đòi hỏi của
thực tiễn đang vận động nhanh chóng, phong phú, phức tạp; chưa giải đáp được
nhiều vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra; việc phát triển những quan điểm kinh tế
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới chưa kịp
thời... Điều này đã tạo ra những khoảng trống về lý luận tư tưởng cho kẻ địch lợi
dụng "diễn biến hòa bình". Chất lượng các sản phẩm nghiên cứu khoa học lý luận
chưa cao; lý luận chưa làm tốt chức năng định hướng cho hoạt động thực tiễn,
cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước.
b) Thành tựu và hạn chế của việc phòng, chống "diễn biến hòa bình" trong
quá trình kêu gọi đầu tư, liên doanh liên kết kinh tế với nước ngoài
Mặc dù kẻ địch đang ra sức lợi dụng vấn đề mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế
của ta để tiến hành "diễn biến hòa bình" về kinh tế với nước ta song chúng ta đã
chủ động nắm vững âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, phân biệt rõ đối tượng và đối
tác từ đó có biện pháp đề phòng hiệu quả. Cụ thể, chúng ta đã biết từ chối những
khoản đầu tư, cho vay của các thế lực thù địch núp bóng các tổ chức phi chính
phủ vào ta để phá ta. Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực,
địa phương ngày càng được kiểm soát chặt chẽ. Chúng ta vừa tiến hành cải cách
thủ tục hành chính để tạo điều kiện môi trường thuận lợi, thông thoáng cho các
nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam làm ăn; vừa có đối sách để kiểm tra, kiểm
soát hoạt động của các công ty này, kịp thời xử lý những vi phạm của các công ty
1

. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb

Chính trị quốc gia, H. 2007, tr. 36.
1

. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X,

Nxb Chính trị quốc gia, H. 2007, tr. 37.


nước ngoài đối với luật pháp Việt Nam. Việc kêu gọi đầu tư nước ngoài của Nhà
nước và các địa phương đã chú ý vào các ngành, lĩnh vực, địa bàn mà ta đang
muốn phát triển nhanh, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Chúng ta đã chủ động xây dựng các khu công nghiệp tập trung, các khu chế
xuất, các khu kinh tế để vừa tạo điều kiện thu hút nhiều đầu tư FDI, vừa tiện cho
công tác quản lý, giám sát đầu tư nước ngoài. Việc xây dựng các tổ chức đoàn thể
như Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ… trong các doanh nghiệp có vốn
nước ngoài cũng ngày càng được xúc tiến, góp phần bảo vệ lợi ích chính đáng
của người lao động Việt Nam.
Đối với các lĩnh vực nhạy cảm của nền kinh tế như ngân hàng, bảo hiểm, vận
tải, báo chí… mặc dù chúng ta phải từng bước mở cửa theo cam kết khi vào
WTO, song chúng ta đã chủ động lựa chọn lộ trình, bước đi; lựa chọn đối tác có
lợi cho ta; kiểm soát tình hình, không để cho địch lợi dụng chống phá. Chính vì
vậy, Nhà nước ta đã hoàn toàn kiểm soát được sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Chính phủ đã thực sự điều tiết tốt nền kinh tế vĩ mô, kể cả trong những lúc
tình hình đặc biệt khó khăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao và tương đối bền vững; các cân đối lớn của nền kinh tế
được giữ vững; suy thoái được chặn đứng; lạm pháp được khống chế. Vốn vay
ODA được sử dụng có hiệu quả và số nợ vay nước ngoài nằm trong độ an toàn,
cho phép.
Đối với hoạt động tài trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO), chúng ta hoan
nghênh họ đến với Việt Nam, tài trợ cho các địa phương, các chương trình, dự án,
nhất là cho xóa đói, giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục ở các địa bàn vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các địa phương, các cấp, các ngành một
mặt tạo điều kiện cho các tổ chức NGO tiếp xúc, tìm hiểu, thâm nhập các địa bàn,
lĩnh vực họ quan tâm, nhưng mặt khác, chúng ta đã chủ động triển khai các biện
pháp phản gián có hiệu quả với các đoàn. Chúng ta đã chủ động hướng họ vào
thực hiện tài trợ cho các chương trình, dự án, cho các địa phương mà ta có nhu
cầu; triển khai các biện pháp nghiệp vụ để hạn chế địch lợi dụng việc này hoạt
động câu móc, gây dựng lực lượng chống đối, chuyển giao tài liệu phản động;
hạn chế tối đa hoạt động moi hỏi, thu thập tin tức, tài liệu liên quan đến an ninh
chính trị trong thời gian các đoàn đến thăm và làm việc tại địa phương.
Trong hoạt động du lịch, tham quan, hội thảo, một mặt, chúng ta đã có nhiều
chủ trương, biện pháp nhằm mở rộng hoạt động này, thu hút ngày càng nhiều
khách nước ngoài đến với Việt Nam. Phát triển kinh tế du lịch, quảng bá hình ảnh
đất nước, văn hóa, con người Việt Nam với bạn bè quốc tế; mặt khác, chúng ta đã
xây dựng quy chế và phối hợp tốt hoạt động của các lực lượng: du lịch, công an,
quân đội, biên phòng, hải quan, Bộ Văn hóa Thông tin… trong kiểm tra, kiểm
soát các hoạt động. Đã kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật của khách
nước ngoài đối với luật pháp Việt Nam, xử lý nghiêm theo luật pháp nước ta và
phù hợp với thông lệ quốc tế, không tạo khe hở để địch lợi dụng chống phá.
Trong liên doanh liên kết làm ăn giữa các doanh nghiệp Nhà nước với các
công ty nước ngoài đã được tính toán cẩn thận. Trên cơ sở sắp xếp lại doanh


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×