Tải bản đầy đủ

NÊU và PHÂN TÍCH NHỮNG ưu NHƯỢC điểm của các PHƯƠNG THỨC tư vấn

NÊU VÀ PHÂN TÍCH NHỮNG ƯU
NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC PHƯƠNG
THỨC TƯ VẤN

I. Các phương thức tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1. Tư vấn bằng lời nói
Tư vấn trực tiếp bằng lời là một trong số những hình thức tư vấn pháp luật.
Theo đó, tư vấn pháp luật bằng lời nói được hiểu là người tư vấn trao đổi bằng lời
nói với khách hàng, trao đổi mọi thông tin liên quan cần thiết đến vấn đề mà khách
hàng cần tư vấn.
Thực tiễn hoạt động tư vấn pháp luật cho thấy hình thức tư vấn bằng miệng là
hình thức phổ biến. Với các vụ việc có tính chất đơn giản, khách hàng thường gặp
người tư vấn để tìm hiểu bản chất pháp lý của vụ việc trên cơ sở đó giúp họ tìm


giải pháp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp một cách nhanh chóng, có hiệu quả. Tuy
vậy, hoạt động tư vấn pháp luật là một hoạt động đa dạng, phức tạp đòi hỏi một
quá trình lao động trí óc.
Vì vậy khi tư vấn trực tiếp bằng miệng cho khách hàng, người tư vấn cần thiết
phải tôn trọng một quy trình sau đây[1]:
- Thứ nhất, người tư vấn cần phải lắng nghe khách hàng trình bày và ghi

chép đầy đủ nội dung chính, ý chính, trên cơ sở đó đặt câu hỏi để làm rõ thêm.
Thông thường, lần đầu tiên tiếp xúc, người tư vấn chưa thể nắm bắt một cách chắc
chắn bản chất của sự việc đó, hơn nữa, khách hàng thường trình bày theo ý chủ
quan và bỏ qua nhiều chi tiết mà họ cho là không cần thiết. Do đó, người tư vấn
cần gợi ý những vấn đề để khách hàng trình bày đúng bản chất của vụ việc. Người
tư vấn nên lưu ý khách hàng, chỉ có thể đưa ra giải pháp chính xác, đầy đủ và đúng
pháp luật nếu khách hàng trình bày vấn đề trung thực và khách quan.
Đồng thời, người tư vấn phải nắm bắt được tâm lý khách hàng để có những
ứng xử, giao tiếp phù hợp. Ngoài ra, người tư vấn cũng cần phải khiêm tốn, thái độ
đúng mực, thông cảm, chia sẻ và tôn trọng khách hàng.
- Thứ hai, người tư vấn yêu cầu khách hàng cung cấp các tài liệu liên quan
đến vấn đề cần tư vấn. Những giấy tờ, tài liệu này phản ánh diễn biến của quá
trình tranh chấp hoặc bản chất của vụ việc mà khách hàng yêu cầu tư vấn. Nếu
không có những tài liệu này, việc tư vấn có thể không chính xác.
Sau khi khách hàng cung cấp đầy đủ các văn bản, giấy tờ, tài liệu có liên
quan, người tư vấn cần phải dành thời gian để nghiên cứu các giấy tờ tài liệu đó.
Trường hợp sau khi nghe khách hàng trình bày và nghiên cứu các tài liệu do khách
hàng cung cấp mà thấy không thể trả lời ngay được, phải thông báo điều đó cho
khách hàng và hẹn khách hàng gặp vào một ngày khác.
- Thứ ba, tra cứu tài liệu tham khảo. Đây là công việc cần thiết để khẳng
định với khách hàng rằng người tư vấn dựa trên cơ sở pháp lý chắc chắn, tư vấn
theo pháp luật chứ không phải theo cảm tính, chủ quan, đồng thời giúp chính người
tư vấn khẳng định đúng những suy nghĩ, cảm tính của chính mình trước đó. Việc
dùng các quy định của pháp luật để làm cơ sơ cho các kết luận của mình đều là bắt
buộc.
- Thứ tư, người tư vấn phải định hướng cho khách hàng. Thực chất là việc
đưa ra giải pháp trả lời (bằng miệng) các vấn đề mà khách hàng yêu cầu. Người tư
vấn cần phải trung thực, phân tích vấn đề trên cơ sở pháp lý và luôn đứng về phía
khách hàng của mình. Không được thiên vị, chủ quan, bởi như vậy, sẽ không nhận
được sự tin tưởng của khách hàng. Nếu chưa tin tưởng vào giải pháp của mình,
người tư vấn nên hẹn khách hàng vào một ngày khác.
- Thứ năm, trong quá trình tư vấn, có thể kết hợp hòa giải. Người tư
vấn giúp hai bên đương sự hòa giải, thỏa thuận với nhau để tìm ra một giải pháp
thỏa đáng. Tuy nhiên, trong trường hợp hoà giải, người tư vấn phải cho khách hàng


biết bản chất của vấn đề, tức là nếu đưa vụ án ra xét xử tại Toà án hoặc Trọng tài
họ sẽ được lợi gì và nếu tự hoà giải họ cũng sẽ được lợi gì.
2. Tư vấn bằng văn bản
Tư vấn pháp luật bằng văn bản được hiểu là người tư vấn trao đổi bằng văn


bản với khách hàng, trao đổi mọi thông tin liên quan cần thiết đến vấn đề mà khách
hàng cần tư vấn.
Việc tư vấn bằng văn bản thông thường được tiến hành khi:
- Khách hàng ở xa, không trực tiếp đến gặp người tư vấn và không muốn tư
vấn qua điện thoại.
- Khách hàng muốn khẳng định độ tin cậy của giải pháp thông qua việc đề ra
các câu hỏi để người tư vấn trả lời bằng văn bản.
- Kết quả tư vấn bằng văn bản có thể được khách hàng sử dụng để phục vụ
cho mục đích khác của họ.
- Những vụ, việc phức tạp mà nếu người tư vấn tư vấn bằng lời nói thì khách
hàng không nắm bắt hết được.
Theo yêu cầu của khách hàng việc tư vấn bằng văn bản có thể được thực hiện
theo hai hình thức: Khách hàng viết đơn, thư, chuyển fax và khách hàng trực tiếp
đến gặp người tư vấn và đề nghị tư vấn bằng văn bản.
Khi thực hiện tư vấn bằng văn bản thông thường hai bên (người tư vấn và
khách hàng) phải ký hợp đồng tư vấn pháp luật với nhau (ví dụ: Điều 26 Luật Luật
sư quy định về thực hiện dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý). Trong
trường hợp một bên yêu cầu thì hợp đồng phải được công chứng.
Cũng như việc tư vấn bằng miệng, việc tư vấn bằng văn bản yêu cầu phải
quán triệt các bước sau đây:
- Nghiên cứu kỹ yêu cầu của khách hàng.
- Trao đổi với khách hàng về yêu cầu của họ để khẳng định trong một số
trường hợp cần thiết.
- Tra cứu các tài liệu văn bản pháp luật có liên quan để phục vụ cho việc tư
vấn.
- Soạn văn bản trả lời cho khách hàng.
II. Ưu và nhược điểm của các phương thức tư vấn
1. Đối với phương thức tư vấn bằng lời nói
 Ưu điểm:
- Người tư vấn có thể quan sát trực tiếp cử chỉ, tâm lý khách hàng để hiểu rõ
hơn về tâm lý khách hàng, có thể tương tác với khách hàng một cách tích cực để
tìm ra giải pháp phù hợp.


- Khi người tư vấn tư vấn trực tiếp bằng miệng: những thắc mắc của khách
hàng sẽ được giải đáp cặn kẽ, chi tiết nhất. Được gặp và trao đổi trực tiếp với
người tư vấn, khách hàng có thể có được câu trả lời nhanh nhất. Hơn nữa, khách
hàng cũng có thể đưa ra các yêu cầu của mình dễ dàng hơn. Trực tiếp đến gặp
người tư vấn, khách hàng sẽ trao đổi được nhiều hơn, nhận được sự tư vấn rõ ràng
hơn. Đây là hình thức được sử dụng nhiều và mang lại hiệu quả cao nhất.
- Với hình thức tư vấn bằng lời nói qua điện thoại: hình thức này rất tiện lợi
cho khách hàng ở xa hay bận rộn không thể đến gặp trực tiếp người tư vấn. Người
tư vấn có thể nghe khách hàng trình bày thắc mắc cũng như đưa ra cho khách hàng
lời khuyên qua điện thoại. Hình thức này thực hiện nhanh chóng nhưng chỉ giải
quyết được các tranh chấp, vấn đề không liên quan đến thủ tục.
Hình thức tư vấn này ngày càng phổ biến vì hiện tại, điện thoại là phương tiện
liên lạc nhanh và hữu hiệu. Khách hàng có thể có được số điện thoại của người tư
vấn qua người quen, qua khách hàng cũ của người tư vấn hay họ thấy thông tin của
chúng ta trên báo chí, trên mạng internet.
 Nhược điểm:
- Hình thức này không chỉ đòi hỏi người tư vấn phải am hiểu pháp luật mà
còn phải có các kỹ năng giao tiếp với khách hàng, như các kỹ năng: tạo niềm tin
cho khách hàng, đồng cảm, thuyết phục, tự chủ cảm xúc[2],… Ngoài ra, người tư
vấn cũng cần phải am hiểu xã hội, tâm lý khách hàng.
- Đối với hình thức tư vấn qua điện thoại: những vấn đề liên quan đến thủ tục,
giấy tờ thì hình thức này không đạt được hiệu quả cao. Bởi, người tư vấn không thể
giới thiệu, tư vấn, hướng dẫn khách hàng một cách tỷ mỷ, khoa học và chính xác.
- Kết quả tư vấn, hướng dẫn của người tư vấn chỉ có tính định hướng cho
khách hàng. Do đó, khách hàng có thể làm theo hướng dẫn hoặc không làm theo.
Mặt khác, khách hàng cũng không thể sử dụng kết quả tư vấn để phục vụ cho mục
đích khác của mình.
- Ngoài ra, khách hàng sẽ mất khá nhiều thời gian để gặp gỡ, tiếp xúc với
người tư vấn. Phí tư vấn cũng khá cao, chưa kể chi phí cho việc đi lại,…
2. Đối với phương thức tư vấn bằng văn bản
 Ưu điểm:
- Khác với tư vấn trực tiếp bằng miệng, tư vấn bằng văn bản tạo cơ hội cho
người tư vấn thâm nhập hồ sơ kỹ càng và chính xác hơn, vì thế có thể đưa ra những
giải pháp hữu hiệu cho khách hàng. Tư vấn bằng văn bản yêu cầu người tư vấn
phải làm việc cẩn thận hơn, chu đáo và văn bản tư vấn đưa ra phải có độ chính xác,
có cơ sở khoa học và đúng pháp luật.


- Khách hàng có thể nắm bắt rõ ràng hơn, đầy đủ hơn những tư vấn của người
tư vấn, trong trường hợp, vụ, việc cần tư vấn quá phức tạp, mà khách hàng không
thể nắm bắt hết được khi người tư vấn tư vấn bằng lời nói.
- Khách hàng có thể khẳng định độ tin cậy của giải pháp mà người tư vấn đưa
ra. Qua đó, khách hàng có thể sử dụng kết quả tư vấn vào những mục đích khác
của mình.
- Ngoài ra, với hình thức này, khách hàng không phải mất thời gian để đến
gặp trực tiếp người tư vấn. Chi phí tư vấn thường ít tốn kém hơn so với tư vấn mặt
đối mặt bằng lời nói. Hơn nữa, chi phí đi lại, có thể tránh được.
 Nhược điểm:
- Người tư vấn khó có thể nắm bắt bắt được hết tâm lý khách hàng, khó có cơ
hội tương tác để tìm hiểu rõ hơn những yêu cầu của khách hàng. Do đó, người tư
vấn khó có thể đưa ra được những giải pháp vừa đúng pháp luật, vừa hợp lý, lại
hợp tình.
- Hình thức này, ngoài việc đòi hỏi người tư vấn phải có những kỹ năng chung
về tư vấn pháp luật, thì còn đòi hỏi người tư vấn phải có kỹ năng soạn thảo văn bản
tư vấn tốt[3].
- Khách hàng sẽ không có cơ hội để tìm hiểu, yêu cầu giải đáp các vướng mắc
mới phát sinh, thời gian nhận được sự tư vấn, hướng dẫn sẽ lâu hơn so với tư vấn
trực tiếp bằng lời nói.
- Người tư vấn có thể tư vấn, hướng dẫn một cách rõ ràng, tỷ mỷ đến khách
hàng nhữngn giấy tờ, tài liệu cần thực hiện.
- Một hình thức tư vấn mà nhiều văn phòng, trung tâm tư vấn đã áp dụng đó
là tư vấn qua mail. Những vấn đề, thắc mắc mà bạn gặp trong cuộc sống bạn có thể
gửi đến các văn phòng qua mail. Những văn phòng sẽ có người check mail và trả
lời thắc mắc của bạn. Tuy nhiên, hình thức này thường mất khá nhiều thời gian.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×