Tải bản đầy đủ

Ôn thi môn Logistics

Câu 1: Logistics trong nền kinh tế thị trường
Lịch sử phát triển của Log trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới
Logistics được phát minh và ứng dụng lần đầu tiên không phải trong hoạt động thương
mại mà là trong lĩnh vực quân sự. Napoleon đã từng định nghĩa: “Logistics là hoạt động để
duy trì lực lượng quân đội”. Logistics được các quốc gia ứng dụng rất rộng rãi trong hai cuộc
Đại chiến thế giới để di chuyển lực lượng quân đội cùng với một khối lượng lớn vũ khí và đảm
bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến.
Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, các chuyên gia Logistics trong quân đội
đã áp dụng các kỹ năng Logistics của họ trong hoạt động tái thiết kinh tế thời hậu chiến. Đây
cũng là lúc hoạt động Logistics trong thương mại lần đầu tiên được ứng dụng và triển khai.
Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội châu Á -Thái Bình Dương, Logistics phát triển qua 3 giai đoạn
- Phân phối vật chất, Hệ thống Logistics và Quản trị Logistics.
- Giai đoạn phát triển hệ thống phân phối vật chất: Logistics là hoạt động cung ứng sản
phẩm vật chất, Logistics đầu ra, là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan đến
nhau để đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách có hiệu quả.
- Giai đoạn phát triển hệ thống Logistics: hoạt động Logistics là sự kết hợp cả hai khâu
đầu vào và đầu ra để tiết kiệm chi phí, tăng hiệu quả. Đây gọi là “quá trình Logistics”.
- Giai đoạn quản trị dây chuyền cung ứng - Quản trị Logistics (Supply chain
manangement): Quản trị Logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc
hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng

như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của KH.
Hiện có nhiều ý kiến khác nhau về giai đoạn tiếp theo của Logistics. Nhiều nhà kinh tế cho
rằng, Logistics hợp tác sẽ là giai đoạn tiếp theo và nó được kết hợp trên hai khía cạnh: ko ngừng
tối ưu hóa thời gian thực hiện với việc liên kết tất cả các thành phần tham gia chuỗi cung ứng.
Ở Việt Nam
Trong lịch sử Việt Nam, nổi bật có hai người đầu tiên ứng dụng thành công Logistics trong
hoạt động quân sự chính là vua Quang Trung - Nguyễn Huệ trong cuộc hành quân thần tốc ra
miền Bắc đại phá quân Thanh (1789); trong lịch sử hiện đại có Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong
chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Con đường
Trường Sơn huyền thoại với tên gọi khác là Đường dây 559 đã làm nên những kỳ tích lịch sử về
vận chuyển lương thực, thuốc men, quần áo và vũ khí hậu cần giúp toàn dân và toàn quân ta
đánh thắng giặc Mỹ, thống nhất đất nước.
Trong các văn bản pháp quy, Điều 133, Luật Thương mại (năm 2005), Logistics là hoạt
động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm
nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn
1


khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến
hàng hóa theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Logistics được phiên âm theo tiếng
Việt là dịch vụ lô-gi-stics.
Trước đây, các hoạt động có nội dung tương tự được hiểu một cách đơn giản là dịch vụ
giao nhận hàng hóa. Ngày 5/9/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 140/2007/NĐ-CP quy
định chi tiết việc vận dụng Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh Logistics và giới hạn trách
nhiệm đối với thương nhân kinh doanh Logistics.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (năm 2006) của Đảng cũng chưa đưa vào
khái niệm Logistics, mà chỉ nhấn mạnh trong phần phát triển các ngành kinh tế, trong đó có
ngành dịch vụ
Các quan niệm về LOG
Đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về Logistics. Có nhiều cách định nghĩa
khác nhau về Logistics, được xây dựng dựa trên từng góc độ và mục đích nghiên cứu, logistics
được hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, Logistics được hiểu như là một quá trình có tác động từ giai đoạn tiền sản
xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng, tiêu biểu là các định nghĩa:
- Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu quả về mặt chi
phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cùng những
thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm
mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng. Đây là định nghĩa phổ biến và được nhiều
người công nhận hiện nay.
- Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho,


sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng
 Logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất,
sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Theo nghĩa hẹp, Logistics được hiểu như là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình
phân phối, lưu thông hàng hóa và Logistics là hoạt động thương mại gắn với các dịch vụ cụ thể.
Tiếp cận Logistics như khoa học, nghệ thuật tổ chức và quản lý thì Logistics là quá trình
phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, tổ chức
thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ… từ điểm khởi nguồn sản xuất
đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã
hội tiến hành được nhịp nhàng, liên tục và đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng.
Tiếp cận Logistics là một ngành dịch vụ: Dịch vụ Logistics gắn liền với quá trình trên cũng
được hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ Logistics là hoạt động thương
2


mại bao gồm các dịch vụ bổ sung về vận chuyển, giao nhận, kho hàng, hải quan, tư vấn khách
hàng và các dịch vụ khác liên quan đến hàng hóa được tổ chức một cách hợp lý và khoa học
nhằm đảm bảo quá trình phân phối, lưu chuyển hàng hóa một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu
của khách hàng. Theo nghĩa rộng, dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại bao gồm một chuỗi
các dịch vụ được tổ chức và quản lý khoa học gắn liền với các khâu của quá trình sản xuất, phân
phối, lưu thông và tiêu dùng trong nền sản xuất xã hội.
Đặc điểm của Logistics
Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hoạt động liên tục trong suốt
quá trình từ đầu vào tới đầu ra của sản phẩm và chuyển tới khách hàng. Thực chất Logistics là
quá trình tối ưu hóa địa điểm, thời gian, tính đồng bộ và hoạt động lưu chuyển, dự trữ nguồn tài
nguyên từ đầu vào cho đến tay người tiêu dùng, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu
dùng.
- Logistics là hoạt động thương mại mang tính liên ngành bao gồm nhiều hoạt động và các hoạt
động này chịu sự quản lý, chi phối của nhiều bộ ngành liên quan.
- Logistics gắn liền với tất cả các khâu của quá trình sản xuất. Logistics là quá trình hoạch định và
kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho bãi của hàng hoá và dịch vụ từ điểm đầu tiên tới khách
hàng và thoả mãn khách hàng. Logistics bao gồm cả các chu chuyển đi ra, đi vào, bên ngoài và
bên trong của cả nguyên vật liệu thô và thành phẩm.
- Logistics là hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp.
- Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận.
- Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức.
- Dịch vụ Logistics chỉ có thể phát triển hiệu quả khi được dựa trên cơ sở sử dụng triệt để những
thành tựu của công nghệ thông tin.
- Logistics là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên 3 khía cạnh: Logistics sinh tồn,
Logistics hoạt động, Logistics hệ thống.
 Logistics là quá trình tối ưu hoá luồng vận động vật chất và thông tin về vị trí, thời gian, chi phí,
yêu cầu của khách hàng và hướng tới tối ưu hoá lợi nhuận; quan điểm Logistics đồng nghĩa với
quan điểm hiệu quả cả quá trình, chuỗi cung ứng và đối lập với lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm gây
tổn hại đến lợi ích toàn cục, lợi ích quốc gia.
Vai trò của Logistics
Ở góc độ vĩ mô, logistics có những vai trò quan trọng:
- Logistics phát triển góp phần đưa Việt Nam trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu,
gắn nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới.
- Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường, thương mại quốc tế, nâng cao mức hưởng thụ
của người tiêu dùng, đồng thời góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- dịch vụ Logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong quá trình phân phối và lưu thông
hàng hóa, từ đó tăng tính hiệu quả của nền kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
- Logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh
quốc tế.
- Dịch vụ Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường năng lực cạnh tranh
quốc gia. Với việc hình thành và phát triển dịch vụ Logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng
-

3


như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi Logistics, làm cho quá trình
sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của
quốc gia và doanh nghiệp trên thị trường.
Đối với doanh nghiệp, Logistics có vai trò rất quan trọng sau đây:
-

-

Logistics góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật của sản xuất, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn
lực, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho DN.
Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm yếu tố đúng thời gian, đúng địa điểm, nhờ đó
đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra theo nhịp độ đã định, góp phần nâng cao chất
lượng và hạ giá thành sản phẩm, sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của các doanh nghiệp
Logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các DN thông qua việc thực hiện các dịch vụ
lưu thông bổ sung (các d.vụ tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu phân phối, lưu thông)
Sứ mệnh của Logistics
Logistics có sứ mệnh đưa được đúng sản phẩm và dịch vụ tới đúng địa điểm, thời gian và
hoàn cảnh yêu cầu, đồng thời phải đem lại những đóng góp lớn nhất cho doanh nghiệp
(Ballou, 1992). Khác với nhiều định nghĩa khác thường đề cập tới các hoạt động trong Logistics,
Ballou lại nhấn mạnh vào sứ mệnh mà Logistics phải thực hiện. Cũng đưa ra một quan điểm
tương tự, E.Grosvenor Plowman cho rằng hệ thống Logistics sẽ cung cấp cho các công ty 7 lợi
ích (7 rights): đúng khách hàng, đúng sản phẩm, đúng số lượng, đúng điều kiện, đúng địa điểm,
đúng thời gian, đúng chi phí.
Câu 2: Các tiêu thức phân loại LOG và ý nghĩa cách phân loại
a) Theo thông lệ quốc tế
* Theo lĩnh vực hoạt động, người ta chia Logistics thành
- Logistics trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh (Business Logistics) là một phần của chuỗi cung
ứng, nhằm hoạch định, thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả các dòng vận động và dự trữ sản
phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan, đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các
hoạt động này.
- Logistics sự kiện (Event Logistics) là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ
thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho
một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp.
- Logistics dịch vụ (Service Logistics) bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình và
quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/tài sản, con người và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các
quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh.
* Theo phương thức khai thác hoạt động Logistics, gồm có
4


- Logistics bên thứ nhất (1PL): Các công ty tự thực hiện các hoạt động Logistics của mình.
Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao
gồm cả con người để thực hiện các hoạt động Logistics.
- Logistics bên thứ hai (2PL): Là việc quản lý các hoạt động Logistics truyền thống như
vận tải hay kho vận. Công ty không sở hữu hoặc có đủ phương tiện, cơ sở hạ tầng thì có thể
thuê ngoài các dịch vụ Logistics nhằm cung cấp phương tiện thiết bị hay dịch vụ cơ bản.
phương thức này sẽ cắt giảm chi phí hoặc vốn đầu tư.
- Logistics bên thứ ba (3PL hoặc TPL) hay còn được gọi là Logistics theo hợp đồng.
Phương thức này sử dụng các công ty bên ngoài để thực hiện các hoạt động Logistics, có thể là
toàn bộ quá trình quản lý Logistics hoặc chỉ một số hoạt động có chọn lọc. Đây được coi như
một liên minh chặt chẽ giữa một công ty và nhà cung cấp dịch vụ Logistics, nó không chỉ
nhằm thực hiện các hoạt động Logistics mà còn chia sẻ thông tin, rủi ro và các lợi ích theo một
hợp đồng dài hạn.
- Logistics bên thứ tư (4PL hay FPL) hay còn được gọi là Logistics chuỗi phân phối. FPL
là một khái niệm phát triển trên nền tảng của TPL nhằm tạo ra sự đáp ứng dịch vụ, hướng về
khách hàng và linh hoạt hơn. FPL quản lý và thực hiện các hoạt động Logistics phức hợp như
quản lý nguồn lực, trung tâm điều phối, kiểm soát và các chức năng kiến trúc và tích hợp các
hoạt động Logistics.
* Theo tính chuyên môn hóa của các doanh nghiệp Logistics, người ta chia thành
- Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải: Bao gồm (1) Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải
đơn phương thức: (2) Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức; (3) Các công ty
cung cấp dịch vụ khai thác cảng; (4) Các công ty môi giới vận tải.
- Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối: Bao gồm các công ty cung cấp dịch vụ kho bãi;
Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối.
- Các công ty cung cấp dịch vụ hàng hóa: Bao gồm các công ty môi giới khai thuê hải
quan; Các công ty giao nhận, gom hàng lẻ; Các công ty chuyên ngành hàng nguy hiểm; Các công
ty dịch vụ đóng gói vận chuyển.
- Các công ty cung cấp dịch vụ Logistics chuyên ngành: Bao gồm các công ty công nghệ thông
tin; Các công ty viễn thông; Các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm; Các công ty cung
cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo.
* Theo khả năng tài chính của các công ty cung cấp dịch vụ Logistics, có thể chia thành
- Các công ty sở hữu tài sản thực sự có riêng đội vận tải, nhà kho… và sử dụng chúng để quản lý
tất cả hay một phần các hoạt động Logistics cho khách hàng của mình.
- Các công ty Logistics không sở hữu tài sản thì hoạt động như một người hợp nhất các
dịch vụ Logistics và phần lớn các dịch vụ là đi thuê ngoài. Họ có thể phải đi thuê phương tiện
vận tải, nhà kho, bến bãi,...
* Theo quá trình thực hiện, có thể phân biệt các loại hình Logistics
5


- Logistics đầu vào (Inbound Logistics): bao gồm các hoạt động nhằm đảm bảo cung ứng
một cách tối ưu (cả về vị trí, thời gian và chi phí) các đầu vào (nguyên vật liệu, vốn, thông tin,...)
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Logistics đầu ra (Outbound Logistics): bao gồm các hoạt động đảm bảo cung ứng thành
phẩm đến tay khách hàng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đáp ứng các mục
tiêu của doanh nghiệp.
- Logistics ngược (Reverse Logistics): quá trình thu hồi các phế liệu, phế phẩm, phụ phẩm và
tất cả các yếu tố khác phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến
môi trường để xử lý hoặc tái chế.
* Xét theo đối tượng hàng hóa, có các loại hình
- Logistics hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn: Là loại hình Logistics áp dụng đối với
những mặt hàng có thời hạn sử dụng ngắn như thực phẩm, quần áo, giày dép. Đối với những
mặt hàng này thì yêu cầu quan trọng nhất là đảm bảo thời gian giao hàng.
- Logistics ngành ô tô: Đảm bảo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các nhà máy, bộ
phận sản xuất, các chi tiết, phụ tùng riêng lẻ sao cho thời điểm cuối của công đoạn này là thời
điểm đầu của công đoạn tiếp theo. Một khâu đặc biệt quan trọng trong loại hình Logistics này là
việc dự trữ và phân phối phụ tùng thay thế.
b) Theo quy định của Nhà nước
Điều 3, Nghị định 163/2017/NĐ-CP về Phân loại dịch vụ logistics
Dịch vụ logistics được cung cấp bao gồm:
1. Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay.
2. Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển.
3. Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải.
4. Dịch vụ chuyển phát.
5. Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa.
6. Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan).
7. Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải
hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp
nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải.

6


8. Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu
gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng.
9. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển.
10. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa.
11. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt.
12. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ.
13. Dịch vụ vận tải hàng không.
14. Dịch vụ vận tải đa phương thức.
15. Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật.
16. Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
17. Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa
thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại.
Câu 3: Hệ thống LOG quốc gia? Tình hình ở Việt Nam? Giải pháp phát triển
a) Quan niệm về hệ thống log quốc gia

Một hệ thống có: Đầu vào, đầu ra, các cơ chế phản hồi; Duy trì các trạng thái sẵn sàng bên
trong cho dù có những thay đổi của môi trường bên ngoài; Thể hiện các tính chất riêng của toàn
bộ hệ thống và những tính chất này không riêng gì cho từng thành tố riêng lẻ của hệ thống.Có
những giới hạn được xác định bởi những người quan sát hệ thống.
Hệ thống tuân thủ những quy luật, những quy luật này sẽ không nhận dạng được nếu phân chia
hệ thống thành các phần khác nhau, và hệ thống sẽ trục trặc khi một thành tố của hệ thống bị loại bỏ
hoặc thay đổi đáng kể.
Đối với hệ thống logistics thường phải có được các tính chất của một hệ thống gồm có đầu
vào, đầu ra, có tính chất riêng của toàn bộ hệ thống, tuân thủ các quy luật và các thành tố của hệ
thống, liên kết với nhau chặt chẽ để tạo thành tính tổng thể. Có nhiều cách tiếp cận khi nghiên
cứu hệ thống Logistics nên có nhiều định nghĩa khác nhau:
-

Hệ thống logistics trong nền Kinh tế Quốc dân là một tổng thể bao gồm tất cả các hoạt động liên
hệ với nhau nhằm chuyển đưa nguyên vật liệu và hàng hóa từ tổ chức đầu nguồn qua tất cả các
khâu trung gian đến người sử dụng cuối cùng trong nền kinh tế.
7


-

-

-

Theo quan điểm của ngân hang ADB: hệ thống Logistics quốc gia là tổng thể khung thể chế pháp
lý, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Logistics, các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ Logistics và
hệ thống cơ sở hạ tầng.
Theo cách tiếp cận là hệ thống kinh doanh dịch vụ: Hệ thống Logistics quốc gia là tổng thể các
tổng công ty (công ty) Nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics trong và nước
ngoài với hệ thống kho, trạm, trung tâm Logistics, cửa hàng thuộc các ngành, địa phương và
doanh nghiệp quản lý, các tổ chức kinh doanh dịch vụ hợp pháp của tất cả các thành phần kinh tế
kinh doanh Logistics trên thị trường.
Theo quan điểm của Viện Nghiên cứu Kinh tế vận tải và Logistics CHLB Đức, hệ thống logistics
bao gồm cấu trúc cơ bản (cơ sở hạ tầng), thiết chế công, các dịch vụ logistics, kiến thức logistics.
Cần coi hệ thống log quốc gia như môi trường để thúc đẩy tang trưởng kinh tế nhanh
và bền vững.
Phát triển bền vững hệ thống logistics phải đảm bảo tiêu chí phát triển bền vững, tức là hài
hoà cả 3 mặt: Kinh tế - xã hội - môi trường để đáp ứng nhu cầu hiện tại nhưng không gây trở
ngại đến khả năng cung cấp tài nguyên để phát triển kinh tế - xã hội mai sau, không làm giảm
chất lượng cuộc sống trong tương lai.
Logistics xanh, theo khái niệm của Logistics xã hội, là sự tác động tới các bên liên quan
trong quá trình cung ứng phải cân nhắc những hành động của họ có thể ảnh hưởng tới môi
trường xung quanh. Mục đích chính của Logistics xanh là gắn kết các công đoạn của chuỗi cung
ứng nhằm đảm bảo đáp ứng tốt nhất các yêu cầu cung ứng đặt ra, tuy nhiên các chi phí bỏ ra do
sự tác động tới môi trường xung quanh là thấp nhất. Đây là một yếu tố cơ bản của chu trình Log.
Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn
nhau. Vì vậy, nếu nâng cao hiệu quả hoạt động hệ thống Logistics theo hướng bền vững thì sẽ
góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội và đẩy nhanh sự phát triển thương mại
nội địa và thương mại quốc tế, đồng thời giảm thiểu những chi phí không cần thiết, tiết kiệm một
lượng lớn tiền cho nhà nước. Hiệu quả chuỗi hoạt động trong hệ thống Logistics tác động trực
tiếp đến khả năng hội nhập của nền kinh tế. Việc giảm chi phí vận tải trong hệ thống Logistics có
ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược thúc đẩy xuất khẩu phát triển và tăng trưởng kinh tế của
mỗi quốc gia. Mục tiêu chính cuối cùng của việc phát triển bền vững hệ thống Logistics là để
phối hợp các hoạt động này trong một cách thức nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng với chi
phí tối thiểu mà trong đó có mối quan hệ mật thiết đến môi trường, kinh tế, xã hội liên quan đến
chi phí bên ngoài gián tiếp của Logistics.
b) Tình hình hệ thống log quốc gia ở Việt Nam
• Thể chế pháp luật

Khi Việt Nam trở thành thành viên ASEAN, dịch vụ logistics còn chịu tác động của các
thỏa thuận tại khu vực như Hiệp định vận tải qua biên giới (1999); Hiệp định tạo thuận lợi cho
hàng hóa quá cảnh (1968); Hiệp định khung vận tải đa phương thức ASEAN (2005). Hệ thống
8


luật pháp Việt Nam liên quan tới logistics dần được hình thành và hoàn thiện. Luật Thương mại
năm 2005 đã thay thế Luật Thương mại 1997, trong đó thuật ngữ ”logistics” được thay cho dịch
vụ giao nhận trước kia. Năm 2006, Việt Nam chính thức công nhận Công ước tạo điều kiện thuận
lợi cho tàu biển ra vào cảng biển (FAL-65). Nhằm thực thi Luật Thương mại 2005 một cách có
hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics, Chính phủ
Việt Nam đã ban hành Nghị định 140/2007/NĐ-CP ngày 5/9/2007 hướng dẫn chi tiết thi hành
Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân
kinh doanh dịch vụ Logistics. Ngoài các văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp dịch vụ Logistics
nói trên, Việt Nam cũng đã ban hành một số văn bản luật và dưới luật khác liên quan đến hoạt
động Logistics nhằm góp phần tạo môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi hơn cho hoạt động
này.
Sau khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics còn
chịu sự điều chỉnh bởi các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam. Trong khuôn khổ cam kết với
WTO và ASEAN, Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ logistics bao gồm: dịch vụ
xếp, dỡ container, dịch vụ thông quan, dịch vụ kho bãi, dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa và các
dịch vụ thực hiện thay mặt cho chủ hàng với những quy định cụ thể. C
Tiếp sau đó, Chính phủ cũng ban hành các thông tư, nghị định khuyến khích phát triển hệ
thống log quốc gia như: Nghị định 87/2009/NĐ-CP, Nghị định số 89/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị
định 87/2009/ NĐ-CP vận tải đa phương thức, Quyết định 1012/QĐ-TTg,
Năm 2017 đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ trong việc hoàn thiện khung pháp lý và chính
sách liên quan đến logistics. Trước sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực logistics, theo đề nghị
của Bộ Công Thương, tại văn bản 2299/VPCP-KTTH ngày 6/4/2015, Thủ tướng Chính phủ đã
giao Bộ Công Thương phối hợp cùng các Bộ ngành xây dựng Kế hoạch hành động nâng cao
năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics. Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh
tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ ký ban
hành tại Quyết định 200/ QĐ-TTg ngày 14/2/2017. Theo đó, Kế hoạch hành động đặt ra 60
nhiệm vụ thuộc 6 nhóm. Bộ Công Thương, Bộ Giao thông vận tải, Hiệp hội Doanh nghiệp dịch
vụ logistics Việt Nam là những đơn vị được giao chủ trì nhiều nhiệm vụ nhất. Các đơn vị này
cũng phối hợp với nhiều Bộ ngành, tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ khác.


-

-

Cơ sở hạ tầng
Cơ sơ hạ tầng phần cứng:
Đường bộ: Hạ tầng giao thông đường bộ đã được cải thiện rõ rệt trong năm vừa qua, cả nước có
tổng số 13 tuyến đường cao tốc, 146 tuyến đường quốc lộ chính với tổng chiều dài là 23.816 km,
trong đó chủ yếu là đường bê tông nhựa. Đường chuyên dùng cũng có 2.476 tuyến với tổng
chiều dài là 2.476 km.
Đường sắt: Kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia hiện nay như sau: - Tổng chiều dài đường sắt:
3.161 km (Trong đó có 2.646 km đường chính tuyến và 515 km đường ga, đường nhánh). - Diện
tích nhà ga, kho ga: 2.029.837 m2 . - Diện tích ke ga, bãi hàng: 1.316.175 m2 . Hiện nay, chỉ còn
9


-

-

lại một số rất ít đường nhánh nối với các cảng, các khu công nghiệp như: cảng Ninh Bình, cảng
Vật Cách, cảng Hải Phòng, mỏ apatit Lào Cai, cảng ICD Lào Cai, cảng Việt Trì. Trên đường sắt
quốc gia hiện còn khoảng trên 40 vị trí có đường nhánh nối các nhà máy, mỏ để vận chuyển các
loại hàng hóa phục vụ các khu vực này đây là cơ sở vật chất ban đầu cho hoạt động vận tải
logistisc. Sau nhiều năm không khai thác, duy trì và nhiều lý do khác mà nhiều đường nhánh nối
với các cảng biển, cảng sông như Cửa Lò, Tiên Sa, Quy Nhơn, Ba Ngòi, Sài Gòn đã bị tháo dỡ
và chưa được khôi phục lại. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông vận tải đường
sắt Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại
Quyết định số 1468/QĐ-TTg ngày 24/8/2015, trong đó quy hoạch đường sắt liên quan đến hoạt
động logistics trong giai đoạn đến năm 2025. Phát triển mạnh vận tải đa phương thức, dịch vụ
logistics và các công trình hỗ trợ cho vận tải hàng hóa; gắn kết kinh doanh vận tải đường sắt với
kinh doanh ngoài vận tải đường sắt tại các nhà ga để tạo sự thuận tiện tối đa cho hành khách và
vận tải hàng hóa.
Đường biển: Về hệ thống bến cảng biển Hiện nay cả nước có 44 cảng biển (trong đó có 14 cảng
biển loại I và IA; 17 cảng biển loại II, 13 cảng dầu khí ngoài khơi loại III). Tổng số bến cảng là
254 bến cảng với 59,4 km dài cầu cảng, tổng công suất thiết kế khoảng 500 triệu tấn/năm. Hệ
thống cảng biển Việt Nam cơ bản đáp ứng được yêu cầu luân chuyển hàng hóa vận tải bằng
đường biển, phục vụ tích cực cho quá trình phát triển kinh tế xã hội vùng ven biển và cả nước;
tạo động lực thu hút, thúc đẩy các ngành kinh tế, công nghiệp liên quan cùng phát triển. Đã hình
thành các liên doanh với nhà khai thác cảng, hãng tàu lớn trên thế giới đầu tư xây dựng các bến
cảng tại Quảng Ninh, Lạch Huyện, Cái Mép Thị Vải và Thành phố Hồ Chí Minh. Về tuyến luồng
hàng hải Hiện cả nước có 42 tuyến luồng hàng hải công cộng vào cảng quốc gia với tổng chiều
dài là 935,9 km và 10 luồng vào cảng chuyên dùng. Về khả năng tiếp nhận tàu biển + Nhiều bến
cảng tổng hợp, container của các cảng biển: Quảng Ninh; Hải Phòng; Nghi Sơn - Thanh Hóa;
Vũng Áng; Đà Nẵng; Dung Quất - Quảng Ngãi; Quy Nhơn; Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian
qua do thiếu hàng hóa nên các bến container tại khu vực phải hoạt động cầm chừng hoặc ngừng
khai thác. Cục Hàng hải Việt Nam đã đề xuất các cơ quan có thẩm quyền ban hành mức. Về khối
lượng hàng hóa thông qua cảng biển + Lượng hàng thông qua hệ thống cảng biển tăng trưởng ổn
định trung bình khoảng 9%/năm, năm 2016 gấp 1,5 lần so với năm 2010. Tổng lượng hàng hóa
thông qua cảng biển Việt Nam năm 2016 đạt 495,8 triệu tấn (tăng 7% so với năm 2015), hàng
container đạt 12 triệu TEU (tăng 13% so với năm 2015), so với Quy hoạch được duyệt, đã đạt
104,1%. Trong 9 tháng đầu năm 2017, sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Việt
Nam ước đạt 384,5 triệu tấn, tăng 11% so với cùng kỳ, trong đó hàng container đạt 10,5 triệu
TEU, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2016
Đường thủy nội địa Hiện tại, trên cả nước có 45 tuyến đường thủy nội địa quốc gia với tổng
chiều dài khoảng 7.075 km (miền Bắc có 17 tuyến, miền Nam có 18 tuyến, miền Trung có 10
tuyến). Đây là những tuyến vận tải huyết mạch kết nối các trung tâm kinh tế, khu công nghiệp
lớn của khu vực và cả nước. Việc phân cấp quản lý chi tiết từng tuyến theo Thông tư số
46/2016/TT-BGTVT ngày 29/12/2016 của Bộ Giao thông vận tải. Hệ thống báo hiệu trên tuyến
10


-

bao gồm: 12.539 cột báo hiệu, 18.458 biển báo hiệu, 3.070 phao báo hiệu, 9.153 đèn báo hiệu.
Hệ thống cầu bắc qua tuyến: Hiện tại có 251/532 cầu và công trình vượt sông nằm trên các tuyến
đường thủy nội địa quốc gia có tĩnh không thông thuyền thấp hơn thông số kỹ thuật theo cấp quy
hoạch đã được phê duyệt.
Đường hàng không Hiện tại cả nước đang có 21 cảng hàng không đang khai thác, cụ thể gồm: - 8
cảng hàng không quốc tế: Nội Bài, Cát Bi, Đà Nẵng, Cam Ranh, Phú Bài, Tân Sơn Nhất, Cần
Thơ, Phú Quốc. - 13 cảng hàng không nội địa: Điện Biên, Đồng Hới, Vinh, Phù Cát, Tuy Hòa,
Pleiku, Chu Lai, Liên Khương, Buôn Ma Thuột, Cà Mau, Rạch Giá, Côn Đảo, Thọ Xuân. Trong
số các cảng hàng không trên, chỉ có 4 cảng hàng không có nhà ga hàng hóa riêng biệt. Các cảng
hàng không còn lại không có nhà ga hàng hóa, toàn bộ hàng hóa xử lý trong nhà ga hành khách.
Hiện nay mới chỉ có các cảng hàng không lớn như Nội Bài, Tân Sơn Nhất là có các trung tâm
logistics phục vụ xử lý hàng không. Tại Nội Bài, các trung tâm logistics như ACVS, ALS đảm
nhiệm xử lý phần lớn khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua đường hàng không với
chủng loại hàng hóa khá đa dạng.

Cơ sở hạ tầng phần mềm
-

HẠ TẦNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN PHỤC VỤ LOGISTICS Hạ tầng công nghệ thông
tin tại Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Việt Nam được đánh giá là
nước có mật độ phổ biến dịch vụ viễn thông cao so với các nước trên thế giới. Năm 2017, Bộ
Thông tin và Truyền thông đã triển khai cấp phép cung cấp dịch vụ 4G cho 4 nhà mạng. Các nhà
mạng cũng đang nhanh chóng triển khai hạ tầng để đi vào hoạt động, phát triển di động băng
rộng nhằm đẩy mạnh việc phát triển Internet kết nối vạn vật. Theo khảo sát nhỏ của VLA thực
hiện trong năm 2017 về Hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) trong các doanh nghiệp logistics,
các doanh nghiệp thực hiện khảo sát cho biết:
- Công nghệ thông tin đã có bước phát triển giúp đa dạng kênh bán hàng và phân phối đến
người tiêu dùng được thuận tiện hơn
- Phương pháp EDI để gửi và nhận dữ liệu thông tin giữa các doanh nghiệp logistics và hải
quan mới được áp dụng và chưa đạt hiểu quả. Vấn đề định vị vị trí phương tiện vận tải GPS cũng
chưa được đem lại hiệu quả tối đa đối với vận hành các phương tiện vận tải đường bộ
- Hạ tầng CNTT rất quan trọng nhưng chưa được quan tâm đúng mức và chưa có kết nối,
thiếu nhiều ứng dụng và không đồng bộ;
- Hạ tầng CNTT có cải thiện nhưng chưa như mong đợi; - Hạ tầng CNTT tạm ổn trong quy
mô nhỏ nhưng sẽ không theo kịp sự phát triển của thương mại điện tử
Khảo sát chuyên sâu của VLA về ứng dụng hệ thống CNTT tại một số doanh nghiệp đi đầu
trong việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy, các doanh nghiệp
nhận thức được tầm quan trọng của ứng dụng IT đối với ngành logistics, tuy nhiên, do tỉ suất đầu
tư lớn dẫn đến các hạng mục IT của doanh nghiệp (Hệ thống quản lý giao nhận (FMS), quản lý
11


vận tải (TMS), quản lý kho hàng (WMS), quản lý nguồn lực (ERP) được thực hiện manh mún,
không mang tính hệ thống được tiến hành đầu tư theo các nhu cầu của từng bộ phận nghiệp vụ
riêng biệt và được cung cấp bởi các công ty giải pháp khác nhau. Các ứng dụng điện toán đám
mây cũng còn rất mới với các doanh nghiệp dịch vụ logistics, và đa số các hệ thống ứng dụng IT
trong nước không đủ điều kiện kết nối các các hệ thống IT bên ngoài cũng như đảm bảo an toàn
an ninh mạng trong yêu cầu dịch vụ toàn cầu. Số lượng nhà cung cấp giải pháp công nghệ thông
tin logistics chuyên nghiệp trong nước là quá ít, quy mô nhỏ, thực tế không có thương hiệu uy tín
nào và số doanh nghiệp đang hoạt động tích cực hay có giải pháp ứng dụng được là chưa tới 10
đơn vị. Làn sóng khởi nghiệp đã lan tỏa tới ngành logistics, nhưng các công ty khởi nghiệp vẫn
gặp nhiều khó khăn về vốn và nhân lực. Bản thân các công ty logistics khi tìm kiếm giải pháp
ứng dụng cũng gặp nhiều trở ngại do năng lực cung cấp giải pháp và bảo đảm hỗ trợ kỹ thuật
chưa chắc chắn.


Dịch vụ log
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), tốc độ phát triển của
ngành logistics tại Việt Nam những năm gần đây đạt khoảng 14-16%, có quy mô khoảng 40-42
tỷ USD/năm. Dựa vào chuỗi giá trị của logistics tại Việt Nam, có thể thấy các hoạt động của
chuỗi tập trung vào giao nhận, vận tải nội địa, khai thác cảng biển và cảng hàng không, lưu kho
bãi, quản lý hàng hóa và vận tải quốc tế. Theo báo cáo “Kết nối để cạnh tranh 2016: Logistics
trong nền kinh tế toàn cầu” của Ngân hàng Thế giới, sau những lần tăng điểm trong 4 báo cáo
trước đây, báo cáo năm 2016 lần đầu tiên ghi nhận Chỉ số hoạt động logistics (LPI) của Việt Nam
bị giảm điểm kể từ khi Ngân hàng Thế giới công bố báo cáo này năm 2007. Theo báo cáo trên,
Việt Nam đang đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong ASEAN
sau Singapore, Malaysia, Thái Lan. Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng đến nay năng lực cạnh
tranh của ngành logistics Việt Nam vẫn còn hạn chế. Cơ sở hạ tầng cả phần cứng và phần mềm
cũng như công nghệ quản lý và môi trường chính sách, mặc dù đã được cải thiện trong những
năm qua, nhưng vẫn cần được đẩy mạnh hơn nữa để bắt kịp trình độ phát triển của các nước đối
tác và đối thủ cạnh tranh trong khu vực. Các doanh nghiệp logistics Việt Nam hầu hết có quy mô
nhỏ và vừa, chỉ đáp ứng được các dịch vụ giao nhận, cho thuê kho bãi, làm thủ tục hải quan, gom
hàng lẻ, chưa tham gia điều hành cả chuỗi logistics như các doanh nghiệp FDI.


Doanh nghiệp dịch vụ log
Hiện nay tổng số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực logistics theo khảo sát của VLA là
khoảng hơn 3000 doanh nghiệp trong đó 20% là công ty nhà nước, 70% là công ty Trách nhiệm
hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân là 10% (theo khảo sát của VLA). Trước đây, các doanh nghiệp
trong nước chủ yếu làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn trong chuỗi dịch vụ logistics cho
các nhà cung cấp dịch vụ logistics quốc tế như giao nhận (đại lý trong và ngoài nước), vận tải,
dịch vụ kho bãi, xếp dỡ. Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu vào thương mại quốc
tế, các doanh nghiêp đang ngày càng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ nhằm cung cấp đầy đủ hơn
12


các dịch vụ, thậm chí là dịch vụ “door to door“ để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.. Doanh
nghiệp logistics Việt Nam còn khá non trẻ nhưng phát triển nhanh, phần lớn xuất phát điểm từ
các hoạt động truyền thống như vận chuyển kho bãi... và đang phát triển các dịch vụ tích hợp có
hàm lượng giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên hiện nay doanh nghiệp Việt Nam chỉ đang chiếm thị
phần nhỏ. Năng lực giữa các doanh nghiệp không đồng đều, thiếu chuyên nghiệp, hoạt động
logistics còn phân tán, thiếu kết nối nên chưa thuyết phục được chủ hàng tăng thuê ngoài dịch vụ
logistics.
Câu 4: Bản chất và nội dung của log Doanh nghiệp
Bản chất
Quá trình sản xuất là quá trình con người sử dụng tư liệu lao động để tác động vào đối
tượng lao động làm thay đổi hình dáng, kích thước, tính chất lý hóa của đối tượng lao động để
tạo ra sản phẩm với chất lượng ngày càng cao, thỏa mãn đầy đủ nhu cầu đa dạng của con người.
Để bảo đảm cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp được tiến hành liên tục
và đều đặn, phải thường xuyên là đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng, đúng về quy
cách, chủng loại, kịp về thời gian và đồng bộ. Điều này ảnh hưởng đến năng suất của doanh
nghiệp, đến chất lượng sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm vật tư, đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự tồn tại, phát triển của doanh
nghiệp. Đó là điều kiện bắt buộc mà thiếu nó thì không thể có sản xuất được. Có vật tư mới có
thể tạo ra sản phẩm, vì vậy đảm bảo vật tư là một yêu cầu khách quan, một điều kiện chung của
mọi nền sản xuất xã hội. Nhưng bất cứ việc bảo đảm nào về các loại vật tư cần thiết cho sản
xuất cũng đều diễn ra trong phạm vi một hình thái xã hội nhất định và thông qua hình thái xã hội
đó. Đứng trên ý nghĩa đó mà xét, đảm bảo vật tư cho sản xuất là một quá trình kinh tế xã hội.
Thực vậy, khi một doanh nghiệp này bán cho một doanh nghiệp khác loại vật tư nào đó, thì giữa
hai doanh nghiệp có những quan hệ nhất định với nhau trong sản xuất. Tính chất của những quan
hệ ấy là do phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất quyết định. Như vậy, bản
chất của log doanh nghiệp là việc đảm bảo tốt vật tư cho sản xuất, đáp ứng các yêu cầu về số
lượng, chất lượng, đúng về quy cách, chủng loại, kịp về thời gian và đồng bộ.
Nội dung chủ yếu của log doanh nghiệp
Với bản chất của log DN là cung ứng các yếu tố đàu vào cho sản xuất với chi phí thấp nhất,
bảo đảm các hoạt động sản xuất tiến hành nhịp nhàng, lien tục, nội dung chủ yếu của log DN:
a) Vận chuyển hàng hóa, vật tư kỹ thuật phục vụ sx. Vận chuyển vật tư ký thuật là sự di chuyển

thực tế của vật tư kỹ thuật, cho các hoạt động về DN đảm bảo cho sx diễn ra lien tục và ko bị
gián đoạn.
b) Quản lý cung ứng nguyên vật liệu trong sản xuất: là quá trình theo dõi, giám sát, vận hành các
hoạt động lien quan đến việc đảm bảo vật tư đưa vào, lưu trữ và đưa ra khỏi chuỗi cung ứng
nhằm tối ưu hóa, bảo toàn, hạn chế và tránh những tình huống đình trệ không cần thiết.
c) Quản lý dự trữ: hoạt động này bao gồm quản lý nguyên liệu thô, bán thành phẩm và thành phẩm;
dự báo tình hình kinh doanh ngắn hạn; xác định số lượng, lượng dự trữ và vị trí các điểm dự trữ;
13


xây dựng kế hoạch đảm bảo tiến độ giao nhận đúng thời gian.
d) Hoạt động kho bãi: đây là hoạt động bổ trợ nhưng có vai trò quan trọng trong việc thực thiện
mục tiêu chung của quản trị chuỗi cung ứng. Gồm các hoạt động:xác định quy mô, diện tích, địa
điểm; bố trí mặt bằng xếp trong kho; thiết lập cơ cấu kho bãi; lựa chọn địa điểm.
e) Tiêu thụ sản phẩm của DN: sản phẩm đc sx ra phải được tiêu thụ, đó là điều kiện tiên quyết cho
sự tồn tại và phát triển của DN. Vì vậy, tiêu thụ sp là một bộ phận chiếm vị trí quan trọng trong
hoạt động log DN. Tiêu thụ sp là quá trình thực hiện giá trị của hang hóa, chuyển hóa hình thái
giá trị cùa hang hóa từ hang sang tiền.
f) Quản lý hệ thống thông tin:
Câu 5: Các phương pháp xác định nhu cầu vật tư cho sx
Nhu cầu là một khái niệm cơ bản và tiềm ẩn trong marketing, được hiểu chung là cảm giác
thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Nhu cầu là một phạm trù kinh tế quan
trọng , phản ánh mối quan hệ phụ thuộc của các đơn vị sản xuất kinh doanh , các hộ tiêu dùng
vào các điều kiện của tái sản xuất xã hội. Nhu cầu vật tư là những nhu cầu cần thiết về nguyên
nhiên vật liệu , thiết bị máy móc để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định.
Các phương pháp xác định nhu cầu vật tư của DN:
Phương pháp trực tiếp: nhu cầu vật tư được xác định dựa vào mức tiêu dùng vật tư và
khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ.
+ Tính theo mức sản phẩm:
Nhu cầu vật tư = mức tiêu dùng vật tư cho 1 sản phẩm X số lượng sản phẩm sản xuất
+ Tính theo mức chi tiết sản phẩm:
Nhu cầu vật tư = tổng của tích giữa mức tiêu dùng vật tư cho 1 chi tiết sp X số lượng chi
tiết sp
+ Tính theo mức của sản phẩm tương tự.
+ Tính theo mức của sản phẩm đại diện.
- Phương pháp tính dựa trên cơ sở số liệu về thành phần chế tạo sản phẩm.
+ B1: xác định nhu cầu vật tư để thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
+ B2: xác định nhu cầu vật tư cần thiết cho sản xuất sản phẩm có tính đến tổn thất trong
quá trình sử dụng.
- Phương pháp tính nhu cầu dựa trên cơ sở thời hạn sử dụng.
Nhu cầu vật tư = nhu cầu hàng hóa cần có cho sử dụng / thời hạn sử dụng.
- Phương pháp tính theo hệ số biến động
Phương pháp này dựa vào thực tế sản xuất và sử dụng vật tư trong năm báo cáo, phương án
sản xuất kỳ kế hoạch, phân tích các yếu tố tiết kiệm vật tư, từ đó xác định hệ số sử dụng vật tư kỳ
kế hoạch so với kỳ báo cáo.
Nhu cầu vật tư = số lượng vật tư sử dụng trong năm báo cáo X nhịp độ phát triển sản xuất
kỳ kế hoạch X hệ số tiết kiệm vật tư năm kế hoạch so với năm báo cáo.
-

(Tham khảo thêm
14


Đặc trưng cơ bản của nhu cầu vật tư của doanh nghiệp
g)
h)
i)
j)
k)
l)
m)

Liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất;
Nhu cầu được hình thành trong lĩnh vực sản xuất vật chất;
Tính xã hội của nhu cầu vật tư ký thuật;
Tính thay thế lẫn nhau của nhu cầu vật tư;
Tính bổ sung cho nhau của nhu cầu vật tư;
Tính khách quan của nhu cầu vật tư;
Tính đa dạng của nhu cầu vật tư.
Kết cấu nhu cầu vật tư của doanh nghiệp
Nhu cầu vật tư của DN được hiểu là toàn bộ nhu cầu của DN trong kỳ hoạch toán để đảm
bảo thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, sửa chữa và dự trữ...Kết
cấu nhu cầu vật tư được thể hiện bằng mối quan hệ giữa mỗi loại nhu cầu với toàn bộ nhu cầu
vật tư DN.
Nhu cầu vật tư doanh nghiệp gồm:

Nhu cầu vật tư
văn phòng

Nhu cầu vật tư cho
phân xưởng phụ

Nhu cầu vật tư sản
xuất sản phẩm A

Tổng nhu cầu
vật tư của DN

Nhu cầu vật tư
cho sản xuất

Nhu cầu vật tư cho
phân xưởng chính

Nhu cầu vật tư sản
xuất sản phẩm B

Nhu cầu vật tư cho
nghiên cứu khoa học

Nhu cầu vật tư bổ
sung dự trữ

Nhu cầu vật tư sản
xuất sản phẩm C

Các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu vật tư DN
-

Tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất. Nhân tố này phản ánh tiến bộ khoa học kỹ thuật trong
lĩnh vực sản xuất và sử dụng vật tư như sử dụng vật liệu mới, sử dụng có hiệu quả nguồn vật tư.
Quy mô sản xuất các ngành ở các DN. Nhân tố này ảnh hưởng trực tiêp tới khối lượng vật tư tiêu
dùng và qua đó ảnh hường tới khối lượng nhu cầu vật tư.

15


-

-

-

Cơ cấu khối lượng sản phẩm sản xuất. Cơ cấu khối lượng sản phẩm sản xuất thay đổi theo nhu
cầu thị trường và sự tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là theo trình độ sử dụng vật tư tiêu dùng và
cải tiến chất lượng sản phẩm tư những vật tư tiêu dùng đó.
Quy mô thị trường vật tư tiêu dùng. Quy mô thị trường thể hiện rõ số lượng doanh nghiệp tiêu
dùng vật tư và quy cách chủng loại vật tư mà các doanh nghiệp có nhu cầu tiêu dùng trên thị
trường, quy mô thị trường càng lớn thì nhu cầu vật tư càng nhiều.
Cung vật tư – hàng hóa có trên thị trường. Cung vật tư tác động đến cầu vật tư thông qua giá cả
và qua đó tác động đến toàn bộ nhu cầu vật tư.
Phương pháp tính toán nhu cầu vật tư cho kế hoạch sản xuất một loại sản phẩm (4
bước xác định nhu cầu đặt hàng_kế hoạch logistics)
Các bước tính toán
- B1: Tính toán nhu cầu thô bằng cách cộng những nhu cầu độc lập
Trong đó:
+ Nhu cầu đốc lập là những nhu cầu phát sinh trực tiếp từ nhu cầu tiêu thụ các thành phẩm
hoặc các linh kiện rời.
+ Nhu cầu thô là tổng hợp các nhu cầu phụ thuộc sau khi đã chia cho hệ số thu thành phẩm
hoặc nhân với (1+tỷ lệ phế phẩm)
+ Nhu cầu phụ thuộc là những nhu cầu tính toán xuất phát từ kết cấu sản phẩm.
- Bước 2: Tính mức dự trữ ước tính bằng cách cộng dồn tồn kho thực tế với phần sẽ tiếp
nhận trừ đi phần dự kiến tiêu dùng trong khoảng thời gian từ khi lập kế hoạch cho đến
ngày kế hoạch.
- Bước 3: Tính toán nhu cầu tinh bằng cách lấy nhu cầu thô trừ đi mức dự trữ ước tính.
- Bước 4: Tính lượng đặt mua bằng cách lấy nhu cầu tinh cộng với dữ trữ định mức.
Tính yêu cầu mua
Yêu cầu tinh theo từng lô: nhu cầu thô đúng bằng nhu cầu phụ thuộc, có điều chỉnh bởi hệ
số phế phẩm.
Nhu cầu thô=Nhu cầu phụ thuộc x (1+%phế phẩm) hoặc = nhu cầu phụ thuộc/ hệ số thu
thành phẩm.
Nhu cầu tinh = nhu cầu thô – Dự trữ ước tính.
Nhu cầu đặt mua = nhu cầu tinh + Định mức dự trữ.
Ngày bắt đầu = Ngày nhu cầu – Chu kỳ cung ứng.
Yêu cầu tinh theo nhóm các lô
Ghép nhóm theo chu kỳ: Khi muốn cung cấp n chu kỳ một lần.

16


Nhu cầu thô= Tổng nhu cầu phụ thuộc của n chu kỳ x (1+%phế phẩm) hoặc = Tổng nhu
cầu phụ thuộc/ hệ số thu thành phẩm.
Nhu cầu tinh = Nhu cầu thô – Dự trữ ước tính.
Nhu cầu đặt mua = Nhu cầu tinh + Định mức dự trữ.
Ngày bắt đầu = Ngày đầu tiên của n chu kỳ – Chu kỳ cung ứng.
Ghép nhóm theo số lượng: áp dụng khi tổ chức sản xuất theo số lượng kinh tế
Nhu cầu thô= Tổng nhu cầu phụ thuộc đầu tiên x (1+%phế phẩm).
Nhu cầu tinh = Nhu cầu thô – Dự trữ ước tính.
Nhu cầu đặt mua = Nhu cầu tinh + Định mức dự trữ > Q chiếc
Ngày bắt đầu = Ngày đầu tiên của nhóm – Chu kỳ cung ứng.

Câu 6: Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics tại VN hiện nay
Theo điều 4, nghị định 163/2017/NĐ-CP, quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ
logistics: Điều 4. Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
1. Thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics theo quy định của
chính phủ phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với
dịch vụ đó.
2. Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng
phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác,
ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể theo quy định còn
phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.
3. Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics:
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện, quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, nhà đầu tư nước
ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới được cung cấp dịch
vụ logistics theo các điều kiện sau:
a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải
nội địa):
- Được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ
phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không
quá 49%. Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc
17


được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định
biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam.
- Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ
phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp.
b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển
(có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hoặc áp dụng thủ tục cấp phép tại các
khu vực này), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong
doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%. Nhà đầu tư
nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp
tác kinh doanh.
c) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương
thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn,
mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước
ngoài không quá 50%.
d) Trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành
lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn
góp của nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương
mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
đ) Trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn,
dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng;
dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp
hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu
tư trong nước.
e) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội
địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc
góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư
nước ngoài không quá 49%.
g) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, được
thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp
hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà
đầu tư nước ngoài không quá 51%. 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.
h) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện theo quy định của pháp
luật về hàng không.
i) Trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật
- Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực
hiện dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm
18


hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau
năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.
- Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện
vận tải.
- Việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu
vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.
4. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc tế có
quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, nhà đầu tư được lựa chọn áp dụng
điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước đó.
Câu 7: Mục tiêu và phương hướng phát triển ngành Log ở VN trong những năm tới
Theo điều 1, quyết định 200/QĐ-TTg, phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực
cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025,
Mục tiêu:
1. Đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 8%-10%, tốc
độ tăng trưởng dịch vụ đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí
logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về
logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên.
2. Tập trung thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng logistics, xây dựng các trung tâm logistics
cấp khu vực và quốc tế, nâng cao hiệu quả kết nối giữa Việt Nam với các nước. Đưa Việt Nam
trở thành một đầu mối logistics của khu vực.
3. Hình thành các doanh nghiệp dịch vụ logistics đầu tàu, có đủ sức cạnh tranh trên thị
trường trong nước và quốc tế, đồng thời hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp dịch vụ logistics theo
phương châm hiện đại, chuyên nghiệp.
4. Doanh nghiệp sản xuất, thương mại quản lý tốt chuỗi cung ứng, tiết kiệm nguyên vật liệu
và chi phí sản xuất, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa.
5. Ứng dụng các công nghệ mới trong logistics, đào tạo nhân lực chuyên nghiệp, trình độ
cao về logistics, góp phần thúc đẩy thuận lợi hóa thương mại, tái cấu trúc hoạt động sản xuất,
thương mại của doanh nghiệp.
6. Hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước, bao gồm các chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ
logistics, pháp luật điều chỉnh ngành, bộ máy quản lý tương xứng với trình độ phát triển của dịch
vụ logistics của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Phương hướng phát triển

19


1. Logistics là một ngành dịch vụ quan trọng trong cơ cấu tổng thể nền kinh tế quốc dân,
đóng vai trò hỗ trợ, kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của cả nước cũng như từng địa
phương, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
2. Phát triển dịch vụ logistics thành một ngành dịch vụ đem lại giá trị giá tăng cao, gắn dịch
vụ logistics với phát triển sản xuất hàng hóa, xuất nhập khẩu và thương mại trong nước, phát
triển hạ tầng giao thông vận tải và công nghệ thông tin.
3. Phát triển thị trường dịch vụ logistics lành mạnh, tạo cơ hội bình đẳng cho các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, khuyến khích thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước phù
hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
4. Phát huy tối đa lợi thế vị trí địa lý chiến lược, tăng cường kết nối để đưa Việt Nam trở
thành một đầu mối logistics quan trọng trong khu vực.
5. Tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics.
Phát triển các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics về số lượng, quy mô, trình độ nhân lực, có
năng lực cạnh tranh cao ở thị trường trong nước và quốc tế.
6. Nhà nước đảm nhiệm vai trò hỗ trợ, kiến tạo môi trường thuận lợi cho nâng cao năng lực
cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam.
Câu 8: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành log

-

-


-


-



Giải pháp phát triển cơ sở lý thuyết về nghiên cứu và ứng dụng log trong kinh tế và kinh doanh ở
VN:
Thành lập cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực log với tư cách là 1 khoa học lien quan
đến cũng ứng các điều kiện vật chất và thông tin cho các quá trình kinh tế, phát triển log mang
tính chất hiện đại, hội nhập và phù hợp với đk kinh tế VN
Phát triển các tổ chức nghiên cứu và đào tạo log ở các cấp độ khác nhau nhằm phát triển nguồn
nhân lực log chuyên nghiệp, hiện đại, có kiến thức và kỹ năng giỏi, đáp ứng yêu cầu phát triển
của lĩnh vực trong bối cành hội nhập.
Giải pháp phát riển nguồn cung hang hóa của nền kinh tế
Cần phát triển các kênh phân phối hang hóa của nền kinh tế, tổ chức lien kết các doanh nghiệp
trong chuỗi cung ứng của các loại hang hóa nhằm thiết lập hệ thống phân phối, tiêu thụ sản
phẩm, tận dụng mạng lưới phân phối quốc tệ để đưa hang hóa VN ra nước ngoài nhằm mở rộng
sản xuất, phat triển xuất khẩu.
Giải páp phát triển hệ thống cung ứng dịch vụ log
Phát triển các loại hình dịch vụ log: các DN cung ứng dịch vụ cần phát triển các dịch vụ đa dạng
với giá trị gia tăng cao: nâng cao chất lượng đi đôi giảm giá thành, hương tới cung ứng dịch vụ
trọn gói hoặc tham gia vào toàn bộ chuỗi cung ứng của khách hàng, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của
KH
Tăng cường các hoạt động lien doanh, liên kết với các đối tác nước ngoài
Tăng cường mối liên kết, hợp tác giữa các DN cung ứng dịch vụ log và thành lập hiệp hội log.
Giải pháp phát triển thị trường tiêu dùng log
20



-




-


-

Tập trung vào 3 nhóm KH chủ yếu: DN sx KD trong nước, DN XNK trong nước, DN có vốn đầu
tư nước ngoài. Trong đó, phân khúc thị trường tiêu thụ trọng điểm mà các DN cung ứng dịch vụ
log cần hướng tới là DN sx KD trong nước và DN XNK trong nước. Cần tập trung liên kết toàn
bộ chuỗi cung ứng hang hóa của từng mặt hàng, từng thị trường, thuyết phục KH bằng chính
chất lượng, sự hiệu quả…để chiếm lĩnh đc thị trường.
Giải pháp phát triển kết cấu hạ tầng
Rà soát các quy hoạch, kế hoạch, đảm bảo tính đồng bộ của hạ tầng giao thông và dịch vụ vận tải với mục tiêu phát
triển ngành dịch vụ logistics

Tập trung nâng cao hiệu quả kết cấu hạ tầng giao thông hiện có.
Đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông cần nhấn mạnh phát triển hệ thống cảng và giải
quyết các nút cổ chai về kỹ thuật của hệ thống nhăm hướng đến mục tiêu hiệu quả, giảm chi phí
log.
Tăng cường và đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.
Tăng cường hợp tác với các đối tác nước ngoài để mở rộng kết nối hạ tầng logistics
Đẩy mạnh phát triển loại hình vận tải đa phương thức, vận tải xuyên biên giới, nhất là đối với hàng hóa quá cảnh.
Hiện đại hóa hệ thống đường sắt và nâng cao năng lực vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt. Tăng cường năng lực
vận chuyển và xử lý hàng hóa bằng đường hàng không
Giải pháp tạo dựng và hoàn thiện môi trường cạnh tranh thuận lợi cho phát triển log
Chính phủ cần thống nhất quan điểm đánh giá vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường nói chung và trong
lĩnh vực log nói riêng, xóa bỏ tư tưởng phân biệt đỗi xử đối với các DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, cần
xây dựng một chiến lược quốc gia về cạnh tranh có tính định hướng và ổn định lâu dài, đảm bảo phù hợp với các
quy định quốc tế.
Giải pháp hoàn thiện hệ thống luật pháp, thể chế, chính sách phát triển log
Rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách liên quan đến logistics. Rà soát, sửa đổi chính sách thuế, phí,
giá dịch vụ liên quan đến logistics. Rà soát các cam kết quốc tế về dịch vụ logistics tại WTO, ASEAN và các hiệp
định thương mại tự do (FTA)
Xây dựng phương án đàm phán cam kết về dịch vụ logistics tại các FTA trong tương lai. Phổ biến, tuyên truyền về
các cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến dịch vụ logistics.
Đẩy mạnh áp dụng Cơ chế Một cửa Quốc gia
Xây dựng Cổng thông tin thương mại: Nghiên cứu, xây dựngchính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ logistics tại địa
phương

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×