Tải bản đầy đủ

Lãnh đạo theo quan điểm của hersey

MÔN HỌC LÃNH ĐẠO

BÀI TẬP NHÓM 4

Câu hỏi:
Hãy phân tích sự lãnh đạo của một đơn vị hoặc doanh nghiệp mà anh chị biết
theo quan điểm của Hersey. Nêu biểu hiện và tình huống cụ thể minh hoạ

Danh sách thành viên nhóm 4

1.

KHÁI QUÁT VỀ LÃNH ĐẠO VÀ PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO

1.1. Lãnh đạo là gì?
1.1.1. Khái niệm
Lãnh đạo là khả năng thuyết phục và gây ảnh hưởng đến người khác để hoàn thành
những mục tiêu mong muốn. Nói cách khác, lãnh đạo thiên về khía cạnh nhân bản và nhắm
đến “người” để nối kết họ thành một đội ngũ và động viên họ tiến tới mục tiêu mong muốn.
1.1.2. Phân loại
Có hai loại lãnh đạo là lãnh đạo chính thức và lãnh đạo không chính thức.

- Lãnh đạo chính thức là người lãnh đạo có thực quyền, là người đồng thời đóng vai trò
quản trị viên trong một tổ chức, được trao ban quyền hạn và chức năng hành xử trên người
khác để thi hành một công tác theo hoạch định.
- Người lãnh đạo không chính thức hay còn gọi là lãnh đạo tự nhiên, là người lãnh đạo
do thiên phú với phong cách lôi cuốn người khác. Tuy họ không có quyền hạn chính thức để
sai khiến, nhưng lời nói của họ có giá trị, được người khác lắng nghe và thực hiện. Những


người lãnh đạo tự nhiên này thường được người khác ngưỡng mộ như một chứng nhân
gương mẫu về cách tổ chức và thực hiện đối với đời sống cá nhân cũng như xã hội.
1.2. Phong cách lãnh đạo
1.2.1. Phong cách lãnh đạo là gì ?
Từ góc độ lý luận cũng như thực tiễn tâm lý học, vấn đề quản lý, trong đó nổi bật là
phong cách lãnh đạo, đã được bàn nhiều trong các công trình khoa học. Khái niệm phong
cách lãnh đạo thường được hiểu theo các góc độ sau:
-Được coi là một nhân tố quan trọng của người quản lý, lãnh đạo, nó gắn liền với kiểu
người lãnh đạo và nghệ thuật lãnh đạo, quản lý con người.
- Phong cách lãnh đạo không chỉ thể hiện về mặt khoa học và tổ chức lãnh đạo, quản lý
mà còn thể hiện tài năng, chí hướng, nghệ thuật điều khiển, tác động người khác của người
lãnh đạo.
- Phong cách lãnh đạo là cách thức làm việc của nhà lãnh đạo.
- Phong cách lãnh đạo là hệ thống các đấu hiệu đặc trưng của hoạt và động quản lý của
nhà lãnh đạo, được quy định bởi các đặc điểm nhân cách của họ.
- Phong cách lãnh đạo là kết quả của mối quan hệ giữa cá nhân và sự kiện, và được biểu
hiện bằng công thức: Phong cách lãnh đạo = Cá tính x Môi trường.
Nhìn chung, những định nghĩa trên đã đề cập và phản ánh khá rõ nhiều mặt, nhiều đặc
trưng khác nhau của phong cách lãnh đạo. Tuy nhiên, phần lớn các định nghĩa chỉ nhấn
mạnh đến mặt chủ quan, mặt cá tính của chủ thể lãnh đạo chứ chưa đề cập, xem xét phong
cách lãnh đạo như một kiểu hoạt động. Kiểu hoạt động đó được diễn ra như thế nào còn phụ
thuộc vào yếu tố môi trường xã hội, trong đó có sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng, của nền văn
hoá... Như vậy, chúng ta có thể đính nghĩa như sau: Phong cách lãnh đạo là kiểu hoạt động
đặc thù của người lãnh đạo được hình thành trên cơ sở kết hợp chặt chẽ và tác động qua lại
biện chứng giữa yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnh đạo và yêu tố môi trường xã hội
trong hệ thống quản lý.
1.2.2. Phân loại Phong cách lãnh đạo
Theo Lewin có 3 hình thức lãnh đạo sau đây :
- Phong cách lãnh đạo độc đoán
Kiểu quản lý mệnh lệnh độc đoán được đặc trưng bằng việc tập trung mọi quyền lực vào
tay một mình người quản lý, người lãnh đạo - quản lý bằng ý chí của mình, trấn áp ý chí và
sáng kiến của mọi thành viên trong tập thể.


Phong cách lãnh đạo này xuất hiện khi các nhà lãnh đạo nói với các nhân viên chính xác
những gì họ muốn các nhân viên làm và làm ra sao mà không kèm theo bất kỳ lời khuyên
hay hướng dẫn nào cả. Hình thức này thường phù hợp với lối quản trị cổ điển, hoặc khi tổ


chức đang trong tình trạng canh tân nội bộ để loại trừ những phần tử làm lũng đoạn sinh
hoạt chung, vv… Nhất là khi tinh thần kỷ luật và trật tự của tổ chức lỏng lẻo cần sửa đổi.
Đặc điểm: Nhân viên ít thích lãnh đạo. Hiệu quả làm việc cao khi có mặt lãnh đạo, thấp
khi không có mặt lãnh đạo. Không khí trong tổ chức: gây hấn, phụ thuộc vào định hướng cá
nhân.
- Phong cách lãnh đạo dân chủ
Kiểu quản lý dân chủ được đặc trưng bằng việc người quản lý biết phân chia quyền lực
quản lý của mình, tranh thủ ý kiến cấp dưới, đưa họ tham gia vào việc khởi thảo các quyết
định. Kiểu quản lý này còn tạo ra những điều kiện thuận lợi để cho những người cấp dưới
được phát huy sáng kiến, tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, đồng thời
tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực trong quá trình quản lý.
Đặc điểm: Nhân viên thích lãnh đạo hơn Không khí thân thiện, định hướng nhóm, định
hướng nhiệm vụ Năng suất cao, kể cả không có mặt của lãnh đạo.
- Phong cách lãnh đạo tự do
Với phong cách lãnh đạo này, nhà lãnh đạo sẽ cho phép các nhân viên được quyền ra
quyết định, nhưng nhà lãnh đạo vẫn chịu trách nhiệm đối với những quyết định được đưa ra.
Phong cách lãnh đạo này được sử dụng khi các nhân viên có khả năng phân tích tình huống
và xác định những gì cần làm và làm như thế nào. Bạn không thể ôm đồm tất cả mọi công
việc! Bạn phải đặt ra các thứ tự ưu tiên trong công việc và uỷ thác một số nhiệm vụ nào đó.
Đặc điểm: Nhân viên ít thích lãnh đạo. Không khí trong tổ chức thân thiện, định hướng
nhóm, định hướng vui chơi. Năng suất thấp, người lãnh đạo vắng mặt thường xuyên.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới phong cách lãnh đạo
Có nhiều yếu tố ảnh hướng tới phong cách lãnh đạo của các nhà lãnh đạo, trong đó có
các yếu tố chủ đạo như:
- Thời gian là bao nhiêu?
- Các mối quan hệ được dựa trên sự tôn trọng và tin tưởng hay dựa trên sự thiếu tôn
trọng?
- Ai là người nắm giữ thông tin - bạn, các nhân viên, hay cả hai?
- Các nhân viên được huấn luyện ra sao và bạn hiểu rõ các nhiệm vụ như thế nào?
- Các mâu thuẫn nội bộ
- Mức độ sức ép
- Kiểu nhiệm vụ. Đó là kiểu cấu trúc, phi cấu trúc, phức tạp, hay đơn giản?
- Luật lệ hay các quy trình thủ tục được thiết lập

Phần này nói chi tiết hơn đc ko??


2.

LÃNH ĐẠO THEO TÌNH HUỐNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO THEO QUAN ĐIỂM CỦA
HERSEY
2.1. Thế nào là lãnh đạo theo tình huống ?
Nhiều nhà lãnh đạo đang cố lựa chọn cho mình một phong cách lãnh đạo hoàn hảo để áp
dụng với tất cả các nhân viên của mình? Nhưng thực tế cho thấy rằng không có phong cách
nào là tốt nhất cho tất cả các nhân viên. Việc lãnh đạo hiệu quả đòi hỏi nhà lãnh đạo nên sử
dụng nhiều phong cách quản lý khác nhau một cách linh hoạt và phù hợp với từng đối tượng
và hoàn cảnh cụ thể.
Quan điểm của lý thuyết lãnh đạo theo tình huống dựa trên ý kiến cho rằng phong cách
lãnh đạo phù hợp nhất sẽ phụ thuộc vào tình huống. Hầu hết các thuyết lãnh đạo theo tình
huống đều giả định rằng người lãnh đạo hiệu quả phải vừa sáng suốt và vừa linh động.
Kỹ năng lãnh đạo theo tình huống đang được nhiều nhà quản trị sử dụng.Vậy thế nào là
lãnh đạo theo tình huống? Lãnh đạo theo tình huống bao gồm việc sử dụng bốn phong cách
quản lý khác nhau: Quản lý kiểu hướng dẫn, Quản lý kiểu tư vấn hay kiểu “ông bầu, Quản
lý kiểu hỗ trợ Phong cách phân cấp hay uỷ quyền.
- Quản lý kiểu hướng dẫn : Nhà quản trị sẽ hướng dẫn nhân viên làm thế nào để hoàn
thành công việc, kiểm tra chặt chẽ hoạt động của nhân viên và tự mình đưa ra hầu hết quyết
định. Đây là phong cách thích hợp nhất để quản lý nhân viên mới vào nghề hoặc đối với
những người thực hiện công việc không tốt. Tuy nhiên, nếu nhà quản lý chỉ sử dụng một
phong cách này thì sẽ trở thành tiểu tiết, độc đoán.
- Quản lý kiểu tư vấn hay kiểu “ông bầu” : Nhà quản trị liên tục đưa ra các định hướng
và buộc nhân viên cùng tham gia giải quyết vấn đề và tham gia vào quá trình ra quyết định.
Để thực hiện được điều này, cần lôi kéo ý kiến của nhân viên, trả lời các câu hỏi được nêu
ra và thể hiện sự hứng thú bàn bạc công việc với từng cá nhân. Phong cách này thích hợp
khi nhân viên không còn là người mới đối với công việc nhưng cũng chưa đủ khả năng hoặc
sự tự tin về khả năng thực hiện công việc của mình.
- Quản lý kiểu hỗ trợ: Nhà quản trị sử dụng phong cách này khi nhân viên của anh ta
đã có khả năng thực hiện một công việc được giao nhưng còn thiếu tự tin. Theo phong cách
này, nhà quản lý là nơi để nhân viên nêu ra những lo ngại và để bàn bạc về những khó khăn.
Tuy nhiên, thay vì giải quyết hộ, nhà quản lý chỉ hỗ trợ họ. Làm như vậy sẽ tăng cường tính
độc lập và sự tự tin của nhân viên.
- Phong cách phân cấp hay uỷ quyền Sử dụng đối với nhân viên có cả kỹ năng và sự tự
tin trong việc xử lý công việc. Tuy nhiên, nếu bạn sử dụng phong cách này trước khi nhân
viên của bạn sẵn sàng cho công việc thì họ có thể sẽ cảm thấy rằng, bạn đã bỏ rơi họ.
2.2.

Học thuyết tình huống của Hersey và Blanchard (1977):

Bản chất thuyết lãnh đạo tình huống của Hersey và Blanchard là dựa trên hai chuỗi liên
tục - mức độ yêu cầu về giám sát và động lực cần thiết để huấn luyện người lao động trong
các tình huống cụ thể để họ thể hiện tốt nhất. Đồng thời chọn ra một phong cách lãnh đạo
phù hợp với mức độ sẵn sàng của người phục tùng, chẳng hạn như trình độ học vấn và kĩ
năng, kinh nghiệm, sự tự tin, và thái độ làm việc của họ.


2.2.1. Tác phong lãnh đạo dựa trên tính sẵn sàng của nhân viên theo quan điểm của
Hersey
Hersey đã nhận định 4 tác phong lãnh đạo cụ thể tuỳ theo tính sẵn sàng của nhân viên:
- Chỉ Đạo (nhiệm vụ cao-quan hệ thấp). Đặc điểm của tác phong này là đưa ra rất nhiều
chỉ thị cho thuộc cấp, cũng như chú trọng nhiều vào việc định nghĩa một cách rõ ràng vai trò
của nhân viên và mục tiêu công việc. Mức độ chỉ đạo phụ thuộc vào năng lực và kĩ năng
của nhân viên. Mục đích của việc chỉ đạo là đạt được đến vùng phối hợp tối ưu. Mức độ chỉ
đạo thấp dẫn đến việc cấp dưới dễ hiểu nhầm, thiếu sự phối hợp và không hiểu cấp trên, mà
cấp trên thì không quan tâm tới những vấn đề đó. Trái lại, mức độ chỉ đạo quá cao sẽ kìm
hãm sáng kiến, nảy sinh oán giận, và làm nhụt chí nhân viên. Phương cách này thường
được dùng khi có nhân viên mới, hay cho các công việc dễ dàng và lặp đi lặp lại, hay cần
hoàn tất trong khoảng thời gian ngắn. Thuộc cấp trong trường hợp này được xem như không
có khả năng hay không sẵn lòng làm tốt công việc. Do đó, mục tiêu của cấp trên là chỉ đạo
cấp dưới một cách đúng mực, phụ thuộc vào năng lực và kĩ năng của nhân viên.
- Thuyết Phục (nhiệm vụ cao-quan hệ cao). Ở đây, dù là người lãnh đạo cũng cần phải
ra chỉ thị, nhưng cũng cố gắng khuyến khích mọi người "tự nguyện" nhận đó là công tác của
chính họ. Tác phong lãnh đạo này đôi khi còn được gọi là phương cách của huấn luyện viên
khi mọi người sẵn lòng chịu làm việc hay được động viên tinh thần để thi hành công tác,
nhưng thiếu sự "trưởng thành" hay "khả năng chuyên môn" cần có.
- Tham Gia (nhiệm vụ thấp-quan hệ cao). Ở đây, quyền quyết định được chia sẻ giữa
những người lãnh đạo và những người đi theo - vai trò chủ yếu của người lãnh đạo là điều
hợp và liên lạc. Phương cách này đòi hỏi sự ủng hộ cao và ít chỉ đạo, áp dụng khi mọi người
có khả năng nhưng có lẽ không hài lòng làm việc hay cảm thấy họ không được tin cậy (mức
độ trưởng thành của họ từ khá đến cao) (Hershey, 1984).
- Ủy Thác (nhiệm vụ thấp-quan hệ thấp). Người lãnh đạo cũng vẫn cần xác định vấn đề
cần giải quyết, nhưng trách nhiệm thực hành thì giao cho các thuộc cấp. Phương cách này
đòi hỏi mức độ cạnh tranh và truởng thành cao (những người biết việc gì cần làm và sẵn
sàng thi hành).
2.2.2. Tính sẵn sàng (SS) của Người phục tùng (cấp dưới)
Đối với tính sẵn sàng (SS) của Người phục tùng (cấp dưới), sẽ có 4 tình huống như sau:
– SS1: Mức độ sẵn sàng thấp
Người phục tùng ở mức độ sẵn sàng thấp nghĩa là họ có năng lực hoặc kĩ năng kém, ít
kinh nghiệm, không đảm bảo, và không nhiệt tình để nhận lấy trách nhiệm cho hành vi công
việc của chính họ. Trong tình huống này phong cách chỉ huy là phù hợp. Khi đó, nhà lãnh
đạo càng cần phải cụ thể, tỷ mỉ, nói cho những người phục tùng biết chính xác điều họ cần
làm, làm như thế nào và khi nào.


– SS2: Mức độ sẵn sàng trung bình.
Người phục tùng ở mức trung bình, ví dụ như họ có thể kém về trình độ học vấn và kinh
nghiệm đối với công việc nhưng họ lại hết sức tự tin, có khả năng, thích thú và nhiệt tình
học hỏi. Trong tình huống này phong cách lãnh đạo thuyết phục sẽ phát huy hiệu quả. Bởi
vì, với phong cách thuyết phục, nhà lãnh đạo đưa ra một số chỉ dẫn nhưng đồng thời cũng
phải tìm kiếm thêm đầu vào từ những cái khác bù đắp cho những thiếu hụt từ phía người
phục tùng, và chọn lọc nhiệm vụ công việc cho người phục tùng chứ không phải đơn thuần
là chỉ giới thiệu sơ qua và công việc được thực hiện
– SS3: Mức độ sẵn sàng cao.
Người phục tùng có thể đã có trình độ học vấn, kĩ năng và kinh nghiệm đạt yêu cầu
nhưng có thể họ còn cảm thấy chưa hoàn toàn tự tin đối với khả năng của mình, chưa có
những trải nghiệm cần thiết và cần có sự dìu dắt của nhà lãnh đạo. Bằng cách sử dụng
phong cách tham gia, nhà lãnh đạo có thể hướng dẫn sự phát triển của người phục tùng và
đóng vai trò như thể là người đưa ra các lời khuyên và sự trợ giúp.
– SS4: Mức độ sẵn sàng rất cao.
Là khi những người phục tùng có trình độ học vấn cao, có nhiều kinh nghiệm, và sẵn
sàng nhận lấy trách nhiệm đối với việc làm của họ. Nhà lãnh đạo có thể giao phó trách
nhiệm đối với các quyết định và sự thi hành đầy đủ cho người phục tùng - những người có
đủ kĩ năng, năng lực và thái độ tích cực để thực hiện. Phong cách lãnh đạo như vậy được
gọi là phong cách uỷ thác. Nhà lãnh đạo sẽ đưa ra những mục tiêu chung và quyền hành đủ
thẩm quyền để các cấp dưới có thể thực hiện nhiệm vụ công việc. Các nghề nghiệp chuyên
môn cao như: các luật sư, giảng viên đại học, những người làm công tác xã hội có thể là
những đối tượng điển hình nằm trong nhóm người phục tùng này
MÔ TẢ QUAN HỆ
ĐẶC TRƯNG CỦA NGƯỜI PHỤC TÙNG → PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO PHÙ HỢP
Mức độ sẵn sàng thấp

→ Chỉ huy (định hướng công việc cao, quan hệ thấp)

Mức độ sẵn sàng trung bình

→ Thuyết Phục (công việc cao, quan hệ cao)

Mức độ sẵn sàng cao

→ Tham gia (công việc thấp, quan hệ cao)

Mức độ sẵn sàng rất cao

→ Ủy thác (công việc thấp, quan hệ thấp)

Như vậy, tùy theo mức độ sẵn sàng của cấp dưới mà người lãnh đạo có thể áp dụng hình
thức chỉ đạo, thuyết phục, tham gia hay ủy thác. Phương thức lãnh đạo của Hersey cũng
nhấn mạnh một thực tế là mức độ sẵn sàng của cấp dưới tăng sau khi hoàn thành một nhiệm
vụ cụ thể nào đó. Nhà lãnh đạo nên tạo điều kiện cho cấp dưới nâng cao khả năng và sử
dụng quỹ thời gian hiệu quả. Khi cấp độ sẵn sàng của cấp dưới tăng, nhà lãnh đạo cũng cần
thay đổi để bắt nhịp với cấp dưới. Trong những tình huống đơn giản, nhà lãnh đạo có thể tùy


trường hợp mà lựa chọn phương thức lãnh đạo khác nhau. Nhà lãnh đạo đánh giá tác phong
làm việc của cấp dưới và chịu trách nhiệm trong việc điều phối công việc. Tuy nhiên, để vận
dụng hiệu quả phương thức này, nhà lãnh đạo phải hiểu rõ động cơ làm việc của cấp dưới và
nguyên nhân vì sao mức độ sẵn sàng của một cá nhân nào đó có thể khác nhau ở từng thời
điểm khác nhau vì không phải lúc nào nguyên nhân cũng liên quan đến công việc.

3. Phân tích sự lãnh đạo của một đơn vị hoặc doanh nghiệp theo quan điểm của
Hersey
3.1. Nhìn nhận mô hình lãnh đạo theo quan điểm của Hersey tại doanh nghiệp
Trong bất kỳ một đơn vị hay doanh nghiệp nào, chúng ta cũng thấy biểu hiện rõ nét của
cả 4 hình thức lãnh đạo trên.


- Đối với những cá nhân thuộc diện SS1: đây thường là những cá nhân có ham muốn đạt
được kết quả nhưng lại không phải bỏ công sức ra nhiều, trong khi trình độ chưa đủ tốt, thái
độ làm việc kém. Đối với những cá nhân này người lãnh đạo phải trực tiếp giám sát, chỉ đạo
mọi hoạt động để có thể nắm bắt được tình hình một cách sát sao nhất, qua đó có những
phương thức xử lý đối với những trường hợp diện này.
- Đối với những cá nhân thuộc diện SS2: những cá nhân chưa có trình độ nhưng khao
khát làm việc cống hiến, trường hợp này có thể gặp ở nhiều sinh viên ra mới ra trường, khi
trình độ chưa đủ, năng lực chưa cao, lại có nhiệt huyết tuổi trẻ, muốn cống hiến cho công
việc. Những cá nhân kiểu này thì các nhà lãnh đạo cần phải tăng cường các hoạt động chỉ
đạo, dạy bảo để nâng cao năng lực trình độ làm việc. Tuy nhiên những cá nhân này theo thời
gian thường có xu hướng trở thành diện SS3, những cá nhân có năng lực nhưng thái độ làm
việc dần kém đí.
- Đối với những cá nhân thuộc diện SS3: đây là những người có trình độ tốt nhưng thái
độ làm việc chưa tốt, nguyên nhân có thể do chế độ đãi ngộ, cách thức quản lý, hay những
bất mãn khác trong công việc. Đối với những cá nhân này thì lãnh đạo thường chỉ hỗ trợ, do
người đó hoàn toàn có năng lực để làm được những nhiệm vụ đó, vấn để chỉ là họ có sẵn
lòng làm hay không, khi đó lãnh đạo sẽ là những người đồng hành hỗ trợ cho cá nhân đó
hoàn thành công việc được giao.
- Đối với những cá nhân thuộc diện SS4: thường là những cá nhân làm việc lâu năm, đã
được đào tạo bài bản, kết hợp kinh nghiệm làm việc thực tế nên trình độ rất tốt, luôn có thể
làm được mọi công việc được giao phó. Bên cạnh đó với trình độ như vậy nên thường được
giao những trọng trách cao cả, nắm giữ những vị trí then chốt. Đối với những cá nhân này
thì lãnh đạo thường rất quý mến, tin tưởng và thường ủy quyền giao cho đảm đương các
công việc vô cùng quan trọng.
3.2. Ví dụ cụ thể về sự lãnh đạo theo quan điểm của Hersey
Em nghĩ nhóm nên chọn 1 ví dụ sau đấy phân tích kỹ cho logic ạ
Ví dụ của chị Phương Anh:
Khi có nhận viên mới hoặc thực tập sinh mới vào làm tại doanh nghiệp. Môi trường
mới, họ còn lạ lẫm và chưa biết mình phải làm những gì. Lúc này, những người đi trước, có
thời gian làm việc lâu hơn tại doanh nghiệp sẽ căn cứ vào vị trí nhân viên mới được tuyển
vào để giao việc, có thể áp đặt phong cách hoàn thành công việc của mình lên người mới để
hình thành tác phong làm việc. Tình huống này cho thấy, người mới sẽ là không đủ khả
năng, tự tin vào công việc. Còn cấp trên sẽ thể hiện vai trò chỉ đạo công việc.
Sau đó sẽ bước vào giai đoạn 2, đào tạo hoặc hướng đẫn phải làm thế nào để hoàn thành
công việc. Lúc này, người mới đã có một chút động lực làm việc do đã biết mình được giao
cái gì nhưng làm cách nào để hoàn thành nó. Khí đó, cấp trên sẽ hướng dẫn hay chỉ ra cách
để làm việc.


Khi đã có thời gian tích lũy kinh nghiệm, lúc này không còn là người mới, vẫn cần sự
chỉ đạo của cấp trên nhưng ở mức độ giảm dần, có thể tự đưa ra ý kiến của bản thân. Mực
dù ý kiến đó có thể được lãnh đạo chấp nhận hay phản đối.
Cuối cùng, khi đạt đến trình độ được lãnh đạo tin tưởng, lãnh đạo có thể giao quyền hạn
trong một số quyết sách nhất định. Đó là kết quả của quá trình tích lũy kinh nghiệm, kiến
thức sau một thời gian làm việc, nỗ lực và phấn đấu để có vị trí hay chỗ đức trong doanh
nghiệp.
Và cuối cùng, mọi doanh nghiệp đều áp dụng phong cách lãnh đạo này, chỉ là tùy từng
thời điểm, từng công việc mà chọn ra phong cách phù hợp cho danh nghiệp mình.
Ví dụ của Anh Đạt
Thực tiễn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – CN Hoàn Kiếm.
Hiện tại, tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Hoàn Kiếm, Giám đốc là anh Nguyễn Tuấn
Anh, Đối với phong cách lãnh đạo của anh, tôi nhận định anh đang thiên về phong cách lãnh
đạo theo hướng Ủy Quyền, tuy nhiên tùy từng tình huống cụ thế, và giai đoạn cụ thế, các
phong cách lãnh đạo như chỉ đạo, hướng dẫn và tham gia cũng được sử dụng linh hoạt.
Cụ thế, đối với phong cách lãnh đạo ủy Quyền, các công việc hiện tại liên quan đến hoạt
động kinh doanh anh đang ủy quyền cho cấp trưởng phó phòng tự quyết (Các cấp trưởng
phó phòng khi anh bổ nhiệm đều là những người có nhiều kinh nghiệm, năng lực, đạo đức
và tính cống hiến), tuy nhiên các trưởng phó phòng cần đảm báo các chỉ tiêu được giao phải
hoàn thành. => Ủy quyền
Trường hợp các trưởng phó phòng không hoàn thành chỉ tiêu, có dấu hiệu chán nản công
việc do áp lực, Anh trực tiếp tham gia kinh doanh cùng các phòng như đi gặp KH, chia sẻ
công việc với trưởng phó phòng để giảm áp lực công việc của nhân viên = >Tham gia
Các thời điểm dù các phòng ban kinh doanh đã cố gắng nhưng thị trường kinh doanh có
nhiều khó khăn dẫn đến các tình hình kinh doanh của chi nhánh chưa đạt kết quả tốt, anh có
hướng dẫn, định hướng kinh doanh cho các phòng ban để các phòng ban có kế hoạch cụ thể
phương hướng kinh doanh đạt hiệu quả. => Hướng dẫn
Đối với phong cách chỉ đạo rất ít khi anh sử dụng.
Kết quả kinh doanh của MB Hoàn Kiếm
Tính đến thời điểm hiện tại MB Hoàn Kiếm 3 năm liên tiếp ( từ thời điểm anh tiếp nhận)
đều đạt kết quả tốt trở lên trong hệ thống MB. Đây là kết quả phản ánh rõ phong cách lãnh
đạo của anh tại MB Hoàn Kiếm là rất phù hợp với môi trường và đặc thù của chi nhánh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×