Tải bản đầy đủ

GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC 8

CHUYÊN ĐỀ: GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG
GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC 8.

MỤC LỤC
Phần
1. Lời giới thiệu
2. Tên chuyên đề
3. Tác giả chuyên đề
4. Chủ đầu tư tạo ra chuyên đề
5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
6. Ngày chuyên đề được áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng
thử
7. Mô tả bản chất của chuyên đề
Phần A. Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích của đề tài
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
IV. Đối tượng nghiên cứu
V. Phạm vi nghiên cứu
VI. Phương pháp nghiên cứu
VII. Địa điểm, thời gian nghiên cứu.

1. Địa điểm nghiên cứu.
2. Thời gian nghiên cứu.
Phần B. Nội dung
I. Cơ sở lý luận
1. Kỹ năng sống là gì?
2.Vì sao kỹ năng sống quan trọng?
3. Giáo dục KNS
4.Tổ chức GDKNS
II. Thực trạng của vấn đề
III. Sự tất yếu phải có giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS

Trang
4
4
4
4
4
4
5
5
5
5
5
6
6
6
6
6
6
6
6
7
7
7
8

1


IV. Các giải pháp thực hiện.


9
1. Giải pháp
9
2. Các bước tiến hành cụ thể
10
2.1. Phân loại kiến thức kĩ năng sống
10
2.2. Xác định các bài dạy trong chương trình sinh học 8 có thể
lồng ghép giáo dục kĩ năng sống:
10
2.3. Vận dụng kĩ năng sống thông qua bộ môn
12
V. Kết quả nghiên cứu
18
Phần C. Kết luận và kiến nghị
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO

20

2


BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Số thứ tự

Chữ cái viết tắt

Nội dung

1.

CNTT

Công nghệ thông tin

2.

THCS

Trung học cơ sở

3.

GV

Giáo viên

4.

HS

Học sinh

5.

GDKNS

Giáo dục kĩ năng sống

6.

KNS

Kĩ năng sống

7.

BS

Bác sĩ

8.

NXB- GD

Nhà xuất bản giáo dục

SGK
EQ
IQ
SQ

Sách giáo khoa
Trí thông minh cảm xúc
Chỉ số thông minh
Thông minh xã hội

9.
10.
11.
12

3


CHUYÊN ĐỀ: GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG
GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC 8.
1. Lời giới thiệu: Hiện nay như tôi quan sát nhiều em thiếu kỹ năng sống, thiếu
khả năng phân tích và khả năng nhận thức đúng – sai các vấn đề đã mang lại thiệt
hại rất lớn, trước tiên các em sẽ bị lúng túng, không biết cách xử lý các tình huống
thường gặp trong cuộc sống. ngoài ra còn khiến cho các em trở nên vụng về, thô
thiển trong giao tiếp,thiếu tự tin giải quyết các vấn đề, tính tự giác chưa cao, dễ bị
các thói hư tật xấu, các tệ nạn xã hội lôi kéo. Chưa kể tới tình trạng bạo lực học
đường, gian lận trong thi cử…..
Trong chương trình phổ thông chưa có môn học riêng về kĩ năng sống và
trong quá trình giảng dạy tôi thấy nhiều em học sinh còn thiếu hụt về kĩ năng sống
nên tôi đã đưa ra sáng kiến này.
2. Tên chuyên đề:
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong giảng dạy môn sinh học 8
3. Tác giả chuyên đề:
- Họ và tên: Nguyễn Thị Hương
- Địa chỉ tác giả chuyên đề: Trường TH&THCS Bồ Sao- Vĩnh Tường- Vĩnh Phúc
- Số điện thoại: 0345.200.838.E_mail: tuhuongsang@gmail.com
4. Chủ đầu tư tạo ra chuyên đề: Nguyễn Thị Hương
5. Lĩnh vực áp dụng chuyên đề: Môn sinh học 8.
6. Ngày chuyên đề được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử: Tháng 1/2018
7. Mô tả bản chất của chuyên đề:
- Nội dung chuyên đề:
PHẦN A. MỞ ĐẦU
I . Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia
tăng. Những biến đổi về tâm sinh lý ảnh hưởng mạnh đến lối sống, nếp sinh hoạt,
quan hệ xã hội và sự phát triển nhân cách của các em. Trong trường học xuất hiện
những vụ gây gỗ, đánh nhau cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh
và nạn nhân chính là bạn học và thầy cô giáo của họ. Bên cạnh đó còn có hiện
tượng học sinh hút thuốc lá, uống rượu, đuối nước, mang thai ở tuổi vị thành niên
…một phần do các em chưa được trang bị kĩ năng sống cho bản thân.
Thực tế nhiều em học có điểm số cao nhưng khả năng tự chủ và khả năng
giao tiếp lại không linh hoạt, nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu kĩ năng sống.
Hiện nay chương trình đổi mới phương pháp dạy học của ngành giáo dục là
lấy học sinh làm trung tâm, nhiều nội dụng dạy học có thể lồng ghép giáo dục kỹ

4


năng sống cho học sinh .Theo tôi việc giáo dục kỹ năng sống được lồng vào trong
các môn học, các hoạt động giáo dục khác… là cần thiết, đúng mục tiêu.
Hiện tại trường trình giáo dục bậc trung học cơ sở chưa có bộ môn giáo dục
kĩ năng sông cho HS thì với biện pháp vừa truyền thụ tri thức, vừa giáo dục cho
học sinh có ý thức đối với bản thân, để hình thành nhân cách để giúp các em phát
triển toàn diện về cả thể chất và tâm hồn, đồng thời tích cực và chủ động trong việc
tiếp thu phát triển kĩ năng sống, từ đó các em có thể tự giải đáp những tò mò, thắc
mắc của bản thân và biết chăm sóc sức khỏe bản thân, tôi đã mạnh dạn thực hiện
tìm hiểu, thu thập thông tin, một số phương pháp dạy học lồng ghép nhằm khai thác
có hiệu quả nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua một số bài ở sách
giáo khoa sinh học 8.
Tôi chọn đối tượng nghiên cứu là học sinh khối lớp 8, thông qua giảng dạy
bộ môn sinh hoc lớp 8 để giáo dục kĩ năng sống cho học sinh vì đây là lứa tuổi
giao thời giữa thiếu niên và thanh niên, do vậy các em có nhiều chuyển biến về
nhận thức. Hơn nữa tôi nhận thấy chương trình môn sinh học lớp 8 – học về giải
phẫu sinh lí người nên có nhiều bài nhiều nội dụng có thể tích hợp giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh
Xuất phát từ thực tế đó, tôi xây dựng đề tài: “GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO
HỌC SINH TRONG GIẢNG DẠY MÔN SINH HỌC 8”.
II. Mục đích của đề tài.
Là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức, sức
khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp.
Góp phần giáo dục kĩ năng sống giúp cho học sinh có thể ứng xử, ứng phó
với những thay đổi của môi trường xã hội và môi trường tự nhiên. Cụ thể như: "biết
thu nhập thông tin, làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm, sưu tầm tư liệu, làm
các báo cáo nhỏ, trình bày trước tổ, lớp…,nhận dạng, đặt ra và giải quyết các vấn
đề gặp phải trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống, biết vệ sinh cá nhân, bảo vệ
cơ thể, phòng chống bệnh tật,... có thái độ hành vi đúng đắn đối với các vấn đề dân
số, sức khoẻ sinh sản, đạo đức - ứng xử của học sinh, phòng chống ma tuý, thuốc lá
và HIV/AIDS,...
III. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổ chức các hoạt động giảng dạy, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, đảm bảo
tính khoa học, cụ thể, thiết thực phù hợp với từng lớp học trong toàn trường.
- Tạo cơ hội thuận lợi để học sinh thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát
triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
- Học sinh biết, hiểu và vận dụng kĩ năng giao tiếp (thiết lập tình bạn, sự cảm
thông, đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè)
IV. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
- Nội dung, phương pháp, kỹ thuật lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
trong giảng dạy môn Sinh học 8.
5


V. Phạm vi nghiên cứu.
- Nội dung GDKNS và các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho HS là một vấn đề
rất mới và rộng. trong điều kiện thực hiện đề tài tôi chỉ lồng ghép giáo dục kĩ năng
sống trong giới hạn nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh lớp 8
thông qua giảng dạy môn Sinh học 8.
VI. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp điều tra quan sát thực tế: Thăm dò ý kiến của HS về những tiết dạy
có giáo dục kỹ năng sống.
- Nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến chủ đề như các văn
bản, nghị quyết, thông tư, tài liệu chuyên môn.
- Quan sát sư phạm: Quan sát thái độ, hành vi, kĩ năng xử lí tình huống, ứng phó
của học sinh sau các bài dạy có lồng ghép GDKNS
- Phương pháp thống kê: Thống kê số liệu điều tra.
VII. Địa điểm, thời gian nghiên cứu.
1. Địa điểm nghiên cứu.
- Đề tài được thực hiện với HS khối lớp 8,Trường THCS Bồ Sao - Huyện Vĩnh
Tường - Tỉnh Vĩnh Phúc.
2. Thời gian nghiên cứu.
- Đề tài được tiến hành từ tháng 1/2018
PHẦN B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
1. Kỹ năng sống là gì?
Kỹ năng sống là tập hợp các kỹ năng mà con người sử dụng để liên lạc và
giao tiếp với những cá nhân khác xung quanh họ, được hình thành và liên tục phát
triển trong môi trường sống trên cơ sở các giá trị và quy định xã hội nhất định.
Nói khác đi, kỹ năng sống là cách một cá thể “sống” giữa các cá thể khác:
cách bạn hành xử, cách bạn nói năng, thậm chí là cách bạn cảm nhận và nhìn nhận
về một sự vật hay hiện tượng diễn ra trong cuộc sống …
Định nghĩa theo khái niệm chuyên ngành Kỹ năng sống chính của một cá
nhân được thể hiện bằng EQ và SQ, đó chính là kiến thức mềm “ kiến thức xã hội”
mà bạn có để có thể có.
2.Vì sao kỹ năng sống quan trọng?
Chỉ vài năm trở lại đây, ở Việt nam mới xuất hiện khái niệm “ rèn luyện kỹ
năng sống” nhưng trên thế giới đặc biệt là các nước có nền giáo dục phát triển, vấn

6


đề kỹ năng sống đã đươc coi trọng và đề cao trong các chương trình giáo dục và
đào tạo ở mọi trình độ và cấp bậc từ hàng chục năm nay.
Kỹ năng sống thực chất là “ kĩ năng mềm” của một cá nhân mà nhờ có nó
một cá nhân có thể thâm nhập, hoà nhập và khẳng định vị trí của mình trong một
tập thể. Vì thế kỹ năng này cần phải được phát triển và nâng cao song song với sự
trưởng thành về thể chất của con người. Càng lớn lên, môi trường giao tiếp, hoạt
động càng rộng hơn phức tạp hơn vì vậy kỹ năng sống càng phải được phát triển và
nâng cao.
Thiếu đi kỹ năng sống, con người khó có thể tiếp cận với môi trường xung
quanh, hoà nhập cũng như khẳng định mình. Vì thế, những tố chất tự thân chỉ là
điều kiện cần – mà chưa thể đủ nếu thiếu kĩ năng mềm để giúp bạn khẳng định
mình trong cuộc sống.
3. Giáo dục KNS
GDKNS là trang bị những kiến thức, thái độ, hành động giúp cho người học
hình thành được những KNS cần thiết, phù hợp với từng lứa tuổi, điều kiện kinh tế
- xã hội, môi trường sống,... GDKNS cho HS nói chung và cho học sinh THCS nói
riêng là việc rất quan trọng, ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển nhân
cách cho HS.
4.Tổ chức giáo dục KNS
Như chúng ta thấy giáo dục là quá trình bao gồm giáo dục và giáo dưỡng.
Trong giáo dục thì có giáo dưỡng, trong giáo dưỡng thì có giáo dục. Vậy để hai quá
trình này tạo thành một mục tiêu chung thì giáo dục đóng một vai trò chủ đạo, tích
cực để hướng tới mục tiêu đó. Trong phạm vi đề tài này thì tổ chức GDKNS được
hiểu là phương thức tiến hành lồng ghép GDKNS, đưa nội dung đó vào trong các
bài Sinh học 8. Phương thức này được xác định căn cứ vào mục tiêu, nội dung
GDKNS, cách thức nếu thực hiện một cách chặt chẽ, khoa học thì việc thực hiện
mục tiêu giáo dục toàn diện sẽ thuận lợi và đạt kết quả cao hơn.
II. Thực trạng của vấn đề:
Giáo dục kĩ năng sống đây là một trong nội dung của phong trào xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực. Là yêu cầu, là xu hướng của xã hội hiện
đại.
Trong thực tế giáo viên cũng nhận thấy rằng rất nhiều kĩ năng sống đã được
hình thành và phát triển cho học sinh ngay trong bài giảng, tuy nhiên những kĩ năng
này chưa được đề cập một cách rõ ràng với tư cách là kĩ năng sống mà chỉ ở dạng
các kĩ năng cơ bản cần thiết của bộ môn, chẳng hạn kĩ năng phát hiện và giải quyết
vấn đề, kĩ năng tư duy, kĩ năng giao tiếp cùng các kĩ năng phòng chống thiên tai,
dịch bệnh,…
Trong nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng đã có nhiều nội
dung liên quan tới giáo dục kĩ năng sống, đã chứa đựng các kĩ năng: kĩ năng giao
tiếp, kĩ năng chia sẻ kinh nghiệm học tập và rèn luyện, kĩ năng cùng tham gia các
hoạt động tập thể,…. Thực tế cho thấy các kĩ năng này đã được giáo viên chuyển
7


tải cho học sinh và các em dần chiếm lĩnh được chúng nhưng các em chưa định
hình rõ ràng KNS
Trong quá trình học tập và rèn luyện ở nhà trường có rất nhiều kĩ năng mà học
sinh luôn có nhu cầu được thể hiện như: kĩ năng tổ chức, kĩ năng tự khám phá, kĩ
năng tự giải quyết vấn đề,.... Ngoài ra các em còn có nhu cầu muốn khẳng định,
muốn được thể hiện, luôn mong muốn khám phá các năng lực của bản thân và
muốn phát huy những năng lực, sở trường của mình về một số lĩnh vực nào đó theo
những xu hướng phát triển nhân cách đã được hình thành.
Về nội dung giáo dục kĩ năng sống:
Trong nhà trường, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh được thể hiện
trên nhiều mặt từ hoạt động trên lớp, hoạt động ngoại khoá và các hình thức giáo
dục khác. Xu thế phát triển hiện nay vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
không phải là mới cũng không phải là việc gì to tác rộng lớn. Tuy nhiên nội dung
nào được đưa vào giáo dục cho các em, vấn đề cụ thể nào cần quan tâm đến việc
giáo dục kỹ năng sống hiện nay là cấp bách! Theo tôi vấn đề giáo dục đạo đức lối
sống, văn hoá con người, văn hoá dân tộc, văn hoá ứng xử là vấn đề cần quan tâm
nhất. Vì chúng ta thấy, ngày nay các em học sinh tiếp thu kiến thức nhanh và vận
dụng rất tốt nhưng việc ứng xử một số vấn đề mang tính văn hoá, mang tính xã hội
còn rất hạn chế. Trước đây hoạt động Đoàn thanh niên, Đội Thiếu niên… phong
phú về nội dung, đa dạng về hình thức và được dành nhiều thời gian còn hiện nay
thì giờ học trên lớp rất nhiều, thời gian cho hoạt động ngoại khoá rất hạn hẹp. Có
nhiều ý kiến cho rằng chúng ta nên có riêng môn học “Giáo dục kỹ năng sống”.
Qua khảo sát học sinh lớp 8 trường TH&THCS Bồ Sao tôi thấy:
Thái độ của các em khi nói đến những vấn đề liên quan đến kĩ năng sống còn rất
mơ hồ, các em chưa chủ động trong quá trình tìm hiểu hay tiếp thu những kiến thức
đó.
III. Sự tất yếu phải có giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS.
Trong thời kì hội nhập, xã hội Việt Nam đang có sự chuyển biến thay đổi
từng ngày.Với sự du nhập của nhiều luồng văn hoá, đặc biệt là những quan điểm
văn hoá đến từ phương tây. Tư tưởng tự do phóng khoáng, tôn trọng cá nhân của
văn hoá phương tây đã thổi những luồng gió mới về quan niệm đạo đức và lối sống
của một bộ phận giới trẻ.
Lứa tuổi vị thành niên là một giai đoạn ngắn nhưng lại ảnh hưởng rất lớn tới
sự phát triển toàn diện của cuộc đời mỗi người. Giai đoạn này được thể hiện bằng
sự phát triển nhanh chóng khác thường về cả thể chất lẫn trí tuệ, tâm sinh lí, quan
hệ xã hội và tinh thần
Xã hội hiện đại luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp và những vấn đề bất
định với con người. Nếu con người không có năng lực để ứng phó vượt qua những
thử thách đó và hành động theo cảm tính thì rất dễ rủi ro. Nếu con người có kiến

8


thức, có thái độ tích cực mới đảm bảo 50% của sự thành công, 50% còn lại là
những kĩ năng cần cho cuộc sống mà ta gọi là kĩ năng sống.
IV. Các giải pháp thực hiện.
1. Giải pháp
Trong chương trình môn Sinh học có nhiều bài học có thể GDKNS cho các
em, đó là các kĩ năng giao tiếp xã hội, Kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng suy nghĩ sáng
tạo, kĩ năng ra quyết định và kĩ năng làm chủ bản thân được lồng cụ thể qua các
tình huống giao tiếp. GV chỉ gợi mở sau đó cho các em tự nói một cách tự nhiên
hoàn toàn không gò bó, áp đặt.
Qua một số bài chương tuần hoàn, tiêu hoá, hô hấp, sinh sản, bài tiết giáo
dục các em hiểu rằng ăn uống đủ chất và hợp lí giúp chúng ta khoẻ mạnh, biết cách
phòng tránh một số bệnh, biết những việc nên làm và không nên làm để phòng
tránh tai nạn đuối nước, sơ cứu khi bị thương, có ý thức tự giác làm vệ sinh hàng
ngày, tự giác thực hiện nếp sống vệ sinh, khắc phục những hành vi có hại cho sức
khỏe; biết tham gia các hoạt động và nghỉ ngơi một cách hợp lí… để có sức khỏe
tốt.
Để GDKNS cho HS có hiệu quả tôi đã lồng ghép GDKNS vào nội dung
môn học để những giờ học sao cho các em được làm để học, được trải nghiệm.
Giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác kiểm tra, đánh giá, phân loại hạnh
kiểm của HS, rèn cho HS khả năng tự học, tự chăm sóc bản thân, biết lễ phép, hiếu
thảo, tự phục vụ bữa ăn và vệ sinh cá nhân, các hành vi ứng xử phù hợp với nền
văn minh xã hội. Lối sống, hành vi như gọn gàng, ngăn nắp, nói lời hay làm việc
tốt, chăm sóc bố mẹ, ông bà, hợp tác, giúp đỡ, chia sẽ với bạn...
Tổ chức tốt hoạt động ngoại khóa mỗi năm học nên có một số chủ đề rèn
luyện KNS được triển khai. Đưa trò chơi dân gian, hát dân ca và các loại hình sinh
hoạt văn hóa dân gian vào trường học, qua đó mà rèn luyện KNS cho HS.
Để hình thành những kiến thức và rèn luyện KNS cho HS qua môn Sinh học
GV cần:
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính độc lập, sáng tạo
của HS gắn với thực tiễn, có tài liệu bổ trợ phong phú, sử dụng thiết bị dạy học và
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học khoa học, hiệu quả, luôn tạo cho các
em tính chủ động, tích cực, hứng thú trong học tập; phát huy tính sáng tạo, tạo được
bầu không khí cởi mở thân thiện của lớp của trường. Trong giờ học, giáo viên cần
tạo cơ hội cho các em được nói, được trình bày trước nhóm bạn, trước tập thể, nhất
là các em còn hay rụt rè, khả năng giao tiếp kém qua đó góp phần tích lũy KNS cho
các em. Cần sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, HS sẽ được tạo
cơ hội để thực hành, trải nghiệm nhiều kĩ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa
tuổi. Đó là lối sống lành mạnh.

9


Quán triệt mục tiêu giảng dạy bộ môn, nhất là hình thành các hành vi ở các
bài học có thể lồng ghép GDKNS
Thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về đạo đức, nhất là tấm gương về cách
ứng xử văn hóa, chuẩn mực.
10 kĩ năng cần thiết đối với học sinh THCS:
1. Kỹ năng tự phục vụ bản thân
2. Kỹ năng xác lập mục tiêu cuộc đời
3. Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả
4. Kỹ năng điều chỉnh và quản lý cảm xúc
5. Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân
6. Kỹ năng giao tiếp và ứng xử
7. Kỹ năng hợp tác và chia sẻ
8. Kỹ năng thể hiện tự tin trước đám đông
9. Kỹ năng đối diện và ứng phó khó khăn trong cuộc sống
10. Kỹ năng đánh giá người khác.

2. Các bước tiến hành cụ thể
Qua nhiều năm giảng dạy khi mà GDKNS chưa có một môn riêng biệt. Tôi
nhận thấy rằng để giáo dục các em phát triển toàn diện thì nên giáo dục kĩ năng
sống thông qua bộ môn. Để làm được điều đó tôi tiến hành:
2.1. Phân loại kiến thức kĩ năng sống:
Chương trình sinh học 8 có thể lồng ghép giáo dục kĩ năng sống. Chia làm 3 nhóm:
- Kĩ năng sống tự phục vụ, chăm sóc bản thân liên quan đến thể chất sức khỏe.
- Kĩ năng sống liên quan đến tự nhận thức, thực hành.
10


- Kĩ năng điều chỉnh và quản lí cảm xúc, tinh thần.

2.2. Xác định các bài dạy trong chương trình sinh học 8 có thể lồng ghép giáo
dục kĩ năng sống
- Lồng ghép có thể chỉ ở một phần của bài, hoặc toàn bài. Tùy bài mà đưa vào cho
phù hợp tránh gượng ép, miễn cưỡng.
a. Kĩ năng sống tự phục vụ, chăm sóc bản thân liên quan đến thể chất sức khỏe
gồm các bài:
- Phản xạ
- Chương: Vận động
- Vệ sinh hô hấp
- Tiêu hóa ở khoang miệng
- Tiêu hóa ở dạ dày
- Vitamin và muối khoáng
- Tiêu chuẩn ăn uống
- Vệ sinh hệ bài tiết nước tiểu
- Vệ sinh da
- Vệ sinh hệ thần kinh
- Sự diều hòa và phối hợp hoạt động của các tuyến nội tiết
- Các bệnh lây qua đường sinh dục
- Tìm hiểu đại dịch AIDS – Thảm họa của loài người
b. Kĩ năng sống liên quan đến tự nhận thức, thực hành gồm các bài như:

11


c. Kĩ năng điều chỉnh và quản lí cảm xúc, tinh thần gồm các bài như:

2.3. Vận dụng kĩ năng sống thông qua bộ môn:
Để việc lồng ghép kĩ năng sống thông qua bộ môn sinh học 8 đạt hiệu quả
cao, tránh gò bó, ôm đồm đi quá đà ảnh hưởng đến nội dung bài dạy thì đòi hỏi GV
cần phải chuẩn bị đầy đủ và đúng các quy trình của một tiết dạy. Khâu dặn dò rất
cần thiết. Có dặn dò kĩ các em mới chuẩn bị bài tốt và như thế tiết học mới đạt hiệu
12


quả cao.Và khâu chuẩn bị giáo án của GV cũng được đổi mới. GV phải đưa ra các
câu hỏi có phát huy tính tích cực phù hợp với mọi đối tượng, thực tế, gần gũi với
các em thì mới giáo dục kĩ năng sống có kết quả cao.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được thực hiện xuyên suốt cả năm
học nhưng để cô đọng tôi xin minh họa vấn đề này ở một số bài về một vài kĩ năng
sống. Cụ thể như:
a. Kĩ năng sống tự phục vụ, chăm sóc bản thân liên quan đến thể chất
sức khỏe
a 1. Giáo dục kĩ năng sống tư thế đứng thẳng:
* Ví dụ 1: Bài “Bộ xương”: Ngoài việc khai thác như sách giáo khoa tôi
còn đặt các câu hỏi:
Vì sao khi sai khớp phải chữa ngay không được để lâu? (để lâu bao khớp
không tiết dịch nữa, sau này có chữa khỏi xương vẫn cử động khó khăn). Qua đây
ta giáo dục được cho học sinh khi bị sai khớp phải điều trị ngay, không được chần
chừ vì như vậy sẽ ảnh hưởng đến việc đi lại.
* Ví dụ 2: Bài “Cấu tạo và tính chất của xương”: Một số câu hỏi cần đặt
ra để lồng ghép kĩ năng sống liên quan đến sức khỏe.
-Thức ăn có liên quan gì đến sự phát triển của xương?
-Vì sao trẻ em Việt Nam thường mắc bệnh còi xương?
-Đi, ngồi không đúng tư thế gây ra hậu quả gì?
Như vậy thông qua các câu hỏi trên sau khi học sinh trả lời, giáo viên điều
chỉnh thành đáp án đúng ta sẽ giáo dục cho học sinh một số kĩ năng như: ăn đủ chất
đặc biệt thức ăn giàu canxi; ngồi học đúng tư thế, lao động, thể dục thể thao vừa
sức, thường xuyên tắm nắng vào buổi sáng.
* Ví dụ 3: Bài “Tiêu chuẩn ăn uống nguyên tắc lập khẩu phần’
a 2. Kĩ năng về phòng tránh một số bệnh tật thông thường:
* Ví dụ : Bài “Vệ sinh mắt”:
-Tại sao không đọc sách nơi thiếu ánh sáng hay đang đi tàu xe?
- Nguyên nhân dẫn đến cận thị?
-Để không bị cận thị em cần phải làm gì?
Qua câu hỏi này giáo dục cho học sinh ngồi học đúng tư thế, đảm bảo
khoảng cách giữa mắt và sách, khi xem ti vi không ngồi gần; không đam mê trò
chơi điện tử, phải đọc sách nơi có ánh sáng; ....
- Nêu các cách phòng tránh bệnh đau mắt hột mà em biết? Từ đó giáo dục
cho các em không dụi tay bẩn vào mắt, không dùng chung khăn mặt, không tắm
sông, thường xuyên rửa mặt bằng nước muối pha loãng, ....
a. 3 . Kĩ năng về sức khỏe sinh sản:
13


* Ví dụ 1: Bài “Tuyến sinh dục”
Hoạt động 1: Tìm hiểu về chức năng của hoocmon sinh dục nam đôi với tuổi
dậy thì ở các em trai
Có 2 hoạt động nhỏ:
+ Tìm hiểu về vai trò của tinh hoàn. vai trò nội tiết của tinh hoàn là tiết hoocmôn
phụ sinh dục nam: TESTÔSTÊRÔN. hoocmôn do tế bào kẽ tiết ra để thực hiện tốt
phần này GV cho các em HS nam chuân bị trước ở nhà phiếu học tập ( bảng 58.1).
GV thu lại đề phát hiện một số em phát triển không bình thường để kịp thời có
lời khuyên thích hợp cho các em.
Hoạt động 2: . GV cần lưu ý các em gái trong việc vệ sinh cơ quan sinh dục.
-Vai trò nội tiết của buồng trứng là tiết hoocmôn phụ sinh dục nữ: ƠSTRÔNGEN
- Trong các dấu hiệu biến đổi của cơ thể ở tuổi dậy thì , thì dấu hiệu quan trọng
nhất là xuất tinh lần đầu ở các em nam và sự hành kinh lần đầu ở nữ. Đây là dấu
hiệu có khả năng sinh sản, song các em chưa thể sinh sản được. Vì sao? GV giải
thích rõ cho các em vì sao ở tuổi các em chưa sinh sản được. Đồng thời qua đó giáo
dục các em cần có lối sống trong sáng, lành mạnh, trong quan hệ bạn bè, trong
phim ảnh, vui chơi....
GV: Giải thích một số thắc mắc của HS cũng như một số hiện tượng thực tế: Pêđê
là do rối loạn hoạt động nội tiết (các tế bào kẽ không tiết hoocmon Testostêrôn hoặc
tiết quá ít đối với các em nam, hoặc nang trứng không tiết ra hoocmôn Ơstrrôgen
hoặc quá ít với các em nữ), các đặc tính sinh dục phụ có thể thay đổi do hoocmon
phụ sinh dục song cơ quan sinh dục là yếu tố quyết định giới tính không thể thay
đổi.
Như vậy trong quá trình dạy GV cố thể lồng ghép một số câu hỏi:
- Nêu những dấu hiệu xuất hiện ở tuổi dậy thì của nam, nữ ?
-Trong những biến đổi đó, biến đổi nào là quan trọng cần lưu ý?
* Ví dụ 2: Bài “Cơ sở khoa học của các biện pháp tránh thai”
Hoạt động: Những nguy cơ khi có thai ở tuổi vị thành niên.
* Phương pháp sử dụng: sắm vai, vấn đáp- tìm tòi.
Tình huống 1: Thấy đứa con gái của mình chạy ra khỏi bàn ăn. Ninh vừa gắp
miếng cá vào miệng. Bà hơi hoảng hốt nhưng cũng ráng lấy lại bình tĩnh để vào
phòng hỏi đứa con gái của mình.

Bà Thuý: Con bị sao thế? Mệt ở đâu à?

Ninh: Dạo này con hay mệt lắm, ăn không ngon,có khi vừa bỏ đồ vào miệng
lại thấy buồn nôn.

Bà Thuý: Cách đây vài tháng, con xin mẹ đi ăn sinh nhật nhà Thương. Đêm
đó, con không về, vậy đêm đó có xảy ra chuyện gì không?

14



Ninh...
Tình huống 2: Bà Thuý dẫn Ninh đến phòng khám tư nhân gặp bác sĩ phụ sản.

BS: Cháu đã không thấy kinh bao lâu rồi?

Ninh: Dạ đã hơn ba tháng rồi ạ.

Bà Thuý (xen vào): BS tôi biết ở độ tuổi của cháu mà mang thai thì tỉ lệ xảy
thai, đẻ non cao, nếu sinh con thì con sinh ra thường nhẹ cân, tỉ lệ tử vong cao. Nên
BS giúp cháu giải quyết sớm giùm tôi, vì cháu đang học lớp 8.

BS: Vì thai của cháu đã lớn, tôi khuyên chị hãy đưa cháu xuống bệnh viện
phụ sản để khám và phá thai luôn. Vì ở đó có trang thiết bị hiện đại và BS có
chuyên môn vững vàng.

Bà Thuý: Mong BS giúp cho không xuống đó xa quá.

BS: Tôi khuyên chị chân thành đó. Cháu mang thai vào lúc này đã là không
tốt chút nào rồi chị ạ. Cháu còn quá nhỏ, nếu phá thai không khéo sẽ dẫn đến những
tai biến thể chất trầm trọng như chảy máu, băng huyết, nhiễm trùng, viêm dính
buồng tử cung, tắc vòi trứng dẫn đến vô sinh. Bên cạnh đó còn ảnh hưởng đến việc
học tập, vị thế xã hội sau này, rồi tâm lí cháu nữa.

Bà Thuý.....
?Theo em, là HS cần phải làm gì để tránh mang thai ngoài ý muốn, hoặc phải
tránh nạo thai ở tuổi vị thành niên? Những hậu quả có thể xảy ra khi phải xử lý đối
với việc mang thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là gì?
- HS: trả lời theo suy nghĩ của cá nhân. Thông qua suy nghĩ GV giáo dục các em
cần có ý thức bảo vệ sức khoẻ bản thân cụ thể là sức khoẻ sinh sản. Để từ nhận
thức các em đi đến hành động là: không đi chơi qua đêm, không quan hệ tình dục ở
tuổi HS, giữ tình bạn trong sáng lành mạnh  không ảnh đến sức khoẻ sinh sản, tới
học tập, hạnh phúc gia đình trong tương lai. Hoặc nếu có thì cần phải đảm bảo tình
dục an toàn bằng cách lựa chọn cho mình biện pháp tránh thai phù hợp( sử dụng
bao cao su).
a. 4 Kĩ năng phòng ngừa tai nạn:
* Ví dụ : “Thực hành hô hấp nhân tạo”:
-Trước khi hô hấp cho người bị chết đuối, điện giật, ta cần phải làm gì?
-Trình bày phương pháp hà hơi thổi ngạt, phương pháp ép lồng ngực?
Qua đó giáo dục cho học sinh kĩ năng gặp người chết đuối phải xốc nước rồi
mới hô hấp. Trường hợp điện giật phải cắt cầu giao điện. Qua từng phương
pháp hô hấp học sinh nắm được các kĩ năng hô hấp nhân tạo.
Để tăng tính giáo dục giáo viên cho học sinh xem một số hình ảnh về tai
nạn chết đuối có thể xẩy ra khi các em tắm sông và tham gia giao thông đường thủy
không đúng qui định.
a. 5 Kĩ năng liên quan đến môi trường sống:
15


* Ví dụ 1: Bài “Vệ sinh hô hấp”.
- Trồng cây xanh có lợi gì trong việc làm sạch bầu khí quyển xung quanh ta?
Giáo dục học sinh trồng cây xanh.
* Ví dụ 2: Bài: “Vệ sinh da”.
-Để bảo vệ da ta cần phải làm gì?
Giáo dục học sinh vệ sinh thân thể: tắm rửa, thay quần áo. Vệ sinh
trường lớp, nhà ở, môi trường xung quanh, bảo vệ cây xanh.
b. Kĩ năng sống liên quan đến tự nhận thức, thực hành
b.1 Kĩ năng xây dựng nhân cách:
* Ví dụ: Bài “Vệ sinh hệ thần kinh”:
Giáo viên cho học sinh hoạt động nhóm để hoàn thành bảng 54.3 SGK
Chất kích thích

Tên chất

Tác hại

- Nêu tác hại của rượu, thuốc lá, ma túy?
- Nêu những biểu hiện về cử chỉ và hành động của những người nghiện
rượu, thuốc lá, ma túy?
- Thông qua đó giáo viên giáo dục học sinh sống có nhân cách: không bê
tha, chửi thề, nói tục, trộm cắp, gây gỗ đánh nhau, ....
b.2 Kĩ năng xây dựng thói quen đúng giờ:
* Ví dụ: Bài “Phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện”:
- Em hãy cho ví dụ về một số phản xạ có điều kiện?
- Nêu sự thành lập và ức chế phản xạ có điều kiện?
-Điều đó có ý nghĩa gì?
- Sau khi học sinh cho ví dụ giáo viên điều chỉnh bổ sung từ đó cho các
em thói quen:
- Đi ngủ đúng giờ, dậy đúng giờ.
- Đi học đúng giờ.
- Có thời gian biểu học tập.
- Ăn đúng giờ, điều độ.
- Học bài và làm bài đầy đủ trước khi đến lớp
b.3 Kĩ năng giao tiếp, kĩ năng trả lời, kĩ năng giới thiệu bản thân, kĩ
năng diễn đạt ý kiến lắng nghe:

16


* Ví dụ: - Nhà em ở đâu? (Vĩnh Tường)
- Em thích học môn gì nhất ? ((Toán)
- Bộ xương người chia làm mấy phần ? (Ba)
Qua đó ta thấy rằng kĩ năng này học sinh còn hạn chế rất nhiều. Nhiều em
đứng lên phát biểu xây dựng bài nhưng không lặp lại câu hỏi, nội dung diễn đạt
không rõ ràng, không thu hút người nghe. Kĩ năng này tôi luôn rèn luyện các em
trong suốt quá trình dạy học trong bộ môn sinh 8 nói riêng và tất cả các khối lớp
nói chung.
b.4 Kĩ năng ứng xử có văn hóa:
Trong từng tiết dạy giáo viên luôn để ý cách trả lời hay những lúc nói
chuyện của học sinh trong giờ học, ra chơi mà uốn nắn kịp thời. Giáo viên luôn để
ý đến cách ăn mặc, tác phong, cử chỉ của từng em mà giáo dục.
b.5 Kĩ năng vận dụng kiến thức đã học vào việc giải thích các hiện
tượng trong thực tế đời sống, học tập và sản xuất:
* Ví dụ 1: Bài “Thân nhiệt”
Vì sao khi mùa hè, da người ta hồng hào, còn mùa đông, nhất là khi trời
rét, da thường tái hoặc sởn gai ốc? Qua đó các em hiểu được cơ chế tự điều hòa
thân nhiệt là trời lạnh da nổi gai ốc để giữ nhiệt, trời nóng mặt đỏ bừng vì thoát
nhiệt.
* Ví dụ 2: Bài “Vệ sinh tuần hoàn”
-Tại sao khi bước vào phòng thi tim em đập mạnh?
-Để hạn chế điều đó em cần phải làm gì?
Sau khi giải thích xong, giáo viên giáo dục học sinh phải học bài thật
tốt thì khi thi mới đạt kết quả cao.
* Ví dụ 3: Bài” Vệ sinh hệ bài tiết nước tiểu”
-Tại sao khi mùa lạnh ta thường đi tiểu nhiều?
-Vì sao ta không nên nhịn tiểu lâu?
* Ví dụ 4: Bài” Tiêu chuẩn ăn uống- nguyên tắc lập khẩu phần”
Qua đó giúp học sinh giải thích được hiện tượng thực tế và giáo dục
các em đi tiểu đúng lúc để tránh sỏi thận
b.6 Kĩ năng thực hành thông qua bộ môn:
Môn sinh học là môn học thực nghiệm, trực quan. Trong các tiết thực hành giáo
viên phải dạy chính xác, khoa học, không xén chương trình để thông qua bộ môn
này rèn cho học sinh kĩ năng thực hành, quan sát.
c. Kĩ năng điều chỉnh và quản lí cảm xúc, tinh thần :

17


Thông qua chương trình sinh học 8 giáo dục các em biết cách bảo vệ mình
và quan tâm, giúp đỡ mọi người chẳng may rơi vào các hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật
hay lầm lỡ. Giáo dục các em không phân biệt đối xử, xa lánh những nạn nhân HIV,
AIDS. Hãy gần gũi, thông cảm chia sẽ để nạn nhân này sống có ích trong những
ngày còn lại của đời mình.
* Ví dụ: Bài “HIV, AIDS, Đại dịch AIDS thảm họa của loài người”
-Ta có nên kỳ thị phân biệt đối xử với những người bị nhiễm HIV, AIDS
hay không? Vì sao?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên điều chỉnh bổ sung và để tăng giáo dục,
giáo viên cho học sinh đọc một lời tâm sự của nạn nhân AIDS.
- Thông cảm với người bị HIV, AIDS
- Không phân biệt đối xử với họ.
- Biết chia sẻ với nạn nhân AIDS.

18


V. Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy các em bước đầu hình thành những quan
niệm cơ bản về kỹ năng sống, phần đông nhận thức được kỹ năng sống giúp con
người có thể ứng phó với những tình huống diễn ra trong cuộc sống.
Bên cạnh đó, các em cũng nhận định được nguyên nhân chính dẫn đến
việc thiếu kỹ năng sống là do chưa có sự hòa hợp trong giao tiếp giữa các em với
cha mẹ, thầy cô. Đồng thời cũng bị ảnh hưởng bởi lối sống, quan niệm sống từ bạn
bè cùng lớp, cùng trường và từ các phương tiện thông tin đại chúng (mạng Internet,
báo chí, diễn đàn...).
Nhờ giáo dục kĩ năng sống thông qua bộ môn mà học sinh nắm được
những kĩ năng sống cơ bản. Các em đã biết cách sơ cấp cứu khi gặp tai nạn như sơ
cứu cầm máu, sơ cứu xương cẳng tay bị gãy, hô hấp nhân tạo khi gặp nạn nhân chết
đuối, điện giật. Đặc biệt các em biết cách phòng tránh một số bệnh tật thông thường
như: bệnh cong vẹo cột sống, bệnh đau mắt hột, cận thị. Biết phòng các bệnh như:
sỏi thận, viêm đường hô hấp, tim mạch.
Hơn nữa, các em đã biết giải thích những hiện tượng xảy ra chính trên cơ thể
mình như mặt đỏ bừng khi trời nắng, da tái ,nổi gai ốc khi trời lạnh, hay tại sao đến
tuổi dậy thì ở các bạn nữ cơ thể lại thay đổi nở nang, ra dáng thiếu nữ? lại có hiện
tượng kinh nguyệt? Ở cùng lứa tuổi các bạn nam lại chậm hơn? Tại sao ở các bạn
nam lại thay đổi giọng nói, mà chúng ta vẫn thường gọi là “vỡ giọng” và đến khi
nào thì hết vỡ giọng? tại sao khuôn mặt lại có nhiều trứng cá?... Từ đó, các em biết
cách rèn luyện thân thể, các em nữ biết cách giữ vệ sinh kinh nguyệt, phòng tránh
các bệnh phụ khoa. Giúp các em nhận thức rõ về giới, từ đó tránh được các điều
đáng tiếc xảy
Và cả những thắc mắc tâm lí như: Tại sao Nhi( bạn gái) lại cảm thấy
ngượng ngùng trước Hải( bạn trai cùng trường mà Nhi hơi mến)? Tại sao Hùng
(con trai) lại cảm thấy hồi hộp, mặt đỏ, bối rối mỗi khi nhắc đến tên của một bạn nữ
nào đó? Tại sao mình lại thích đi qua đi lại lớp đó? Tại sao mình lại thích gặp người
đó nhỉ? Tại sao người đó vui ta lại thấy vui, khi người ấy buồn mình cũng thấy
buồn? Và có hay không có tình bạn chân thành trong sáng giữa một bạn nam với
một bạn nữ?...Các em đã biết giữ vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường. Các em biết
được tác hại của rượu, thuốc lá, ma túy để khỏi lâm vào các tệ nạn xã hội. Không kì
thị, xa lánh những người chẳng may bị bệnh HIV-AIDS.
PHẦN C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đối với việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh chúng ta phải tiến hành
thường xuyên, kết hợp với theo dõi, kiểm tra, động viên, nhắc nhở. Do trình độ của
học sinh không đồng đều, ý thức của mỗi em cũng khác nhau nên không thể một
sớm một chiều các em thay đổi được. Do vậy, trong từng tiết dạy tùy nội dung bài
mà giáo viên lồng ghép giáo dục kĩ năng sống sao cho phù hợp. tránh tình trạng ôm
19


đồm lo xoáy vào giáo dục kĩ năng sống mà quên đi truyền thụ nội dung chính của
bài học.Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chúng ta không có tham vọng thực hiện
giáo dục tất cả các kĩ năng sống. ( Bởi ở môn sinh học chỉ lồng ghép, và chúng ta
chưa có giáo trình riêng cho môn học này).
Giáo viên giảng dạy thông qua bộ môn tìm biện pháp lồng ghép linh hoạt,
nhẹ nhàng, hiệu quả nhằm giáo dục kĩ năng sống cho học sinh mà không ảnh hưởng
đến nội dung kiến thức của bài học. Do đặc trưng bộ môn nên việc thực hiện đề tài
này mang tính khả thi. Sau một kì thực hiện các em học sinh có chuyển biến rõ rệt
từ thái độ chuyển thành hình vi, nếp sống có văn hóa.
Tôi xin chân thành cảm ơn ý kiến đóng góp của thầy cô giáo.
2. Kiến nghị
Đối với Giáo viên: Để lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong bộ môn có
hiệu quả cần có sự đồng thuận của các thầy cô giáo ở tất cả các bộ môn. Kịp thời
nắm bắt tâm tư nguyện vọng của học sinh, giải đáp thắc mắc của các em.
Đối với nhà trường, phòng giáo dục: Tổ chức các hoạt động ngoại khoá
chọn các chủ đề nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh.
Bồ Sao, ngày 09 tháng 01 năm 2019

Bồ Sao, ngày 09 tháng 01 năm 2019

KT. Thủ trưởng đơn vị

Tôi xin cam đoan đây là chuyên đề của mình

(Ký tên, đóng dấu)

viết, không sao chép nội dung của người khác.

Tác giả chuyên đề
(Ký, ghi rõ họ tên)
Bùi Hoàng Phúc
Nguyễn Thị Hương

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO

TT Tài liệu tham khảo

Tên tác giả

Nhà xuất bản

Năm XB

1

Ôn kiến thức, luyện kĩ Đỗ Thu Hoài
năng sinh 8

Giáo dục

2008

2

Lí luận dạy học sinh GS-TS:
học ( phần đại cương) Đinh Quang Báo
Bùi Văn Sâm
Nguyễn Hữu Bỗng

Đại học Huế

2009

3

Lí luận dạy học sinh GS-TS:
học ( phần cụ thể)
Đinh Quang Báo
Bùi Văn Sâm
Nguyễn Hữu Bỗng

Đại học Huế

2009

4

SGV sinh học lớp 8

Ng. Quang Vinh

Giáo dục và đào 2004
tạo

5

SGK sinh học lớp 8

Ng. Quang Vinh

Giáo dục và đào 2004
tạo

6

Chương trình phát Vụ giáo dục trung Giáo dục và đào 2011
triển giáo dục trung học
tạo
học.

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×