Tải bản đầy đủ

TÀI LIỆU THAM KHẢO NHÂN vật LỊCH sử VIỆT NAM THAM GIA PHONG TRÀO CHỐNG THUẾ ở TRUNG kỳ 1907 1908

NHÂN VẬT LỊCH SỬ VIỆT NAM THAM GIA
PHONG TRÀO CHỐNG THUẾ Ở TRUNG KỲ 1907 - 1908

T

Trần Quý Cáp

rần Quý Cáp còn có tên là Nghị, tự Dã Hàng, Thích Phu, hiệu Thái Xuyên. Ông sinh năm Canh
Ngọ (1870), quê ở thôn Thái La, làng Bát Nhị, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nay là
huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông thông minh, học giỏi, nhưng thi Hương ba khóa chỉ đậu Tú tài. Học trò
của ông thi đỗ cử nhân ở trường thi Huế, Bình Định. Vì nhà nghèo, ông phải đi dạy học thêm ở nhà Bố chánh
Nguyễn Mại. Trong "Tiểu sử Trần Quý Cáp" có ghi lại sự kiện này: "Lúc bấy giờ có Nguyễn Mại đương chức
Bố chính ở tỉnh Quảng Nam có mời tiên sinh về dinh dạy con được 2 tháng. Thường ngày tiên sinh thấy trống
đánh ba hồi xong, quan ra ngồi chễm chệ giữa công đường. Xã dân đến hầu thì mỗi người bưng một mâm lễ đặt
ở dưới đất ngoài sân cho quan ngó thấy coi, sắp hàng lạy. Đối với dân thì quan hầm hét: nào giăng nọc đánh,
nào hăm dọa chặt đầu, gông cổ v.v… Đã thế, nhưng điều đáng buồn là khi nghe có ông Tây nào đến, thì ôi thôi,
áo không kịp gài, giày không kịp mang, chỉ biết đứng nghe. Tên thông ngôn nói chỉ dạ.
Thấy thế, tiên sinh phát tức đã nổi nóng mắng chửi tàn tệ, làm cho ông Bố phải ra lệnh nghỉ dạy, rồi đem
lòng căm tức tiên sinh từ đấy…".
"… Vì phải đi dạy học để có tiền hôm sớm phụng dưỡng mẹ già. Nhà nghèo, mấy sào ruộng công điền dân
làng cấp không đủ chi phí trong gia đình, nên phải bút canh (dạy thuê). Bình nhật tiên sinh háo khách. Hễ có

khách đến thì dọn cơm, nhưng đồ ăn đãi khách rất đơn sơ, những món ăn ngon ngọt đều để phụng dưỡng mẹ
già. Trong thời gian ba năm, tiên sinh dạy tại nhà không những học trò trong tỉnh như các ông Phan Bá Cảnh,
Trần Thúc Tịch, Lê Huân, Trần Tử Kính đều thành tài, mà các nhân sĩ ở miền Sông Cầu, Nha Trang như các
ông Huỳnh Thường Trung, Trương Trọng Cầu, Huỳnh Thường không nề đường sá xa xôi nghe tiếng tiên sinh
cũng ra thụ giáo đều thành đạt cả"1.
Trần Quý Cáp muốn tìm hiểu sự cường thịnh của các nước phương Tây và của Nhật Bản cũng như của một
số nhà cách mạng Trung Hoa như Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu đang thực hiện để tìm mọi cách đọc các tân
thư, tân báo nên ông đã tìm mọi cách để tiếp cận nguồn tân thư tân báo trên. Lần thứ nhất, ông tìm đến Nguyễn
Thành ý, người làng Túy La, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam làm lãnh sự Việt Nam tại Sài Gòn, Gia Định và
đảm nhận nhiều sứ mệnh thương thuyết khác nhau với các nước châu Âu nên có rất nhiều sách tân thư. Trần
Quý Cáp làm quen với các cậu ấm của Nguyễn Thành ý không ngoài mục đích thâm nhập số tân thư trong tủ
sách của Nguyễn Thành ý1.
Thứ hai là ông giả điên để được học trò đưa đến tĩnh dưỡng tại chùa Phước Lâm ở ngoại vi Hội An để được
đàm đạo với hòa thượng Vĩnh Gia một người yêu nước và là nơi lưu giữ rất nhiều tân thư, tân báo từ Trung Hoa
gửi sang cho số Hoa kiều - Minh hương qua trung gian Châu Văn Đạt (tức Châu Thượng Đồng). Thứ ba là khoa
thi năm Giáp Thìn - Thành Thái thứ 16 (1904), đi thi Hội ở Huế do sự giới thiệu của Phan Chu Trinh ông đã
làm quen để đọc tân thư2 tại hai tủ sách Đào Nguyên Phổ và Thân Trọng Huề tại kinh đô Phú Xuân.
1
1

. Sách Giai thoại làng nho viết hai ông gặp nhau khoảng năm 1895.

. Theo bài mộ chí Trần Quý Cáp viết năm 1938.

2

. Những tân thư được ghi nhận: Dinh hoàn chí lược của Từ Kế Sư, Thái tây tân học sử, Dân ước của Lư Thoa, Vạn

pháp tinh lý của Mạnh Đức Tư Cưu, Hải quốc đồ chí của Ngụy Nguyên, Vạn quốc sử cương mục, Hải quốc bình đàm, Thiên
diễn luận, Tây dương sự tình, Nhật Bản tam thập niên sử… cùng các trước tác của Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu trong
Thanh Nghị báo, Trung Quốc hồn, Tân Dân tùng báo, ẩm băng thất tùng trước, v.v…


Trần Quý Cáp đỗ tú tài liền ba khóa, theo lệ coi như đã đỗ Cử nhân, được vào thi Hội. Ông đỗ Tam giáp tiến
sĩ khoa Giáp Thìn (Thành Thái thứ 16-1904). Kỳ thi này Trần Quý Cáp đứng đầu, trên cụ Huỳnh và một người
nữa. cụ Huỳnh đứng thứ 3 trên bảng hệ tam giáp. Vì vậy ông được Đình nguyên Hoàng giáp Đào Nguyễn Phổ
tặng đôi câu đối:
Tố tiến sĩ khước dị, tố cử nhân khước nan,
ức ức dương dương, vô phi tạo ý
áp Hội nguyên ư Đình, áp Đình nguyên ư Hội


vinh vinh quý quý, hà tất khôi khoa.
Tạm dịch:
Đỗ tiến sĩ thì dễ, đỗ cử nhân lại khó, chìm bổng ở tay tạo hóa;
Đè Hội nguyên ở Đình, đè Đình nguyên ở Hội, hiển vinh lọ phải khôi nguyên!
Trần Quý Cáp không muốn làm quan, mà dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng. Thời gian đầu Trần
Quý Cáp thuộc nhóm Duy Tân hội (bạo động - cầu ngoại viện) của Phan Bội Châu. Song vì ông còn mẹ già nên
không theo Phan Bội Châu sang Nhật Đông du được. Trần Quý Cáp hưởng ứng phong trào cải cách do Phan
Chu Trinh khởi xướng và trở thành một nhân vật nhiệt thành với sự nghiệp cải cách.
"Tháng 10 năm Giáp Thìn (1904), tiên sinh cùng hai cụ Phan, Huỳnh đi thức tỉnh miền thượng du tỉnh nhà,
vận động tài chính cho việc Đông du. Lên nguồn Phước Sơn rồi trở xuống Thạnh Mỹ đặng gặp cụ Tiểu La. Lúc
đi đường, tiên sinh tức cảnh một câu:
Lúc lắc đò đưa Tý, Sé, Kẽm.
Gập ghềnh chân bước Gành, Truông, Đèo"1
Câu ấy tuy tiên sinh tả cảnh mà còn ngụ ý vận động Duy Tân thời gian ban đầu cũng gian nan, hiểm trở như
vậy. Hai cụ Phan, Huỳnh ngợi khen câu ấy rằng: "Không những cảnh tình đầy đủ mà ba chữ trắc đối với ba chữ
bình đã khó lại hay". Trong quyển Việt Nam Vong quốc sử cụ Sào Nam cũng cho câu ấy là Danh ngôn.
Lúc đến nhà cụ Tiểu La gặp Kỳ Ngoại hầu Cường Để và Tăng Bạt Hổ, các cụ cùng bàn với nhau: Cụ Sào
Nam lo việc Đông du, còn tiên sinh (Trần Quý Cáp) ở lại trong nước vận động mưu đồ.
Năm ất Tỵ (1905), ba nhà ái quốc Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng lên đường vào Nam
du để tuyên truyền cách mạng, quyên góp tiền vào quỹ Đông du. Qua Bình Định, gặp kỳ khảo hạch ở tỉnh, ba
ông trà trộn vào thi. Đề thi gồm một bài thơ: "Chí thành thông thánh" và một bài phú "Lương ngọc danh sơn".
Ba ông cùng làm chung một quyển, ký tên là Đào Mộng Giác, bài Phú lấy tên là Lương Ngọc danh sơn phú.
Chúng tôi trích dịch một số đoạn:
Nguyên Việt Nam từ xưa dựng nước
Cõi á Đông hùng cứ một phương
Dưới xuống Trần, Lý, trên từ Hồng Bàng
Nhân tâm thuần phác, sĩ khí quật cường
Đuổi Tô Định khỏi đất Lĩnh Biểu1
Bắt Mã Nhi trên sông Phú Lương2
1

. Đây là địa danh các khu vực đi lại gian nan nhất của Quế Sơn.

1

. Ngoài Lĩnh Nam: ngoài cõi Việt Nam.

2

. Phú Lương tức sông Nhị Hà, thực ra Trần Hưng Đạo bắt Ô Mã Nhi ở sông Bạch Đằng.


Kéo cờ mà nước Chiêm Thành mất hiểm
Vẫy giáo mà đất Chân Lạp mở mang.
Mạnh thay nước Việt, ai dám xem thường,
Bởi một thời làm sai chính sách,
Để muôn đời cam chịu tai ương
Tục chuộng văn chương, sĩ đua khóa mục
Đại cổ3 tiểu cổ4 trọn ngày miệt mài,
Ngũ ngôn, thất ngôn cùng năm gạn gục5
Văn sách lòng hơi chủ khảo, Thuấn, Chích 6 tùy ý khen chê,

Xem cái việc sở hành, tìm các điều sở dục;
Quân đội lấy gì hùng cường, tài chính lấy gì sung túc
Dân trí lấy gì mở mang, nhân tài lấy gì giáo dục
Than ôi, đau xót thay! Dần dà cho đến ngày nay chịu điều khổ nhục
Ai gây nên tai vạ và truyền giống ác độc vậy?
Sự thế đến nay, nhân tình phẫn uất;

Vừa hát vừa khóc, cầm bút lệ đầy,
Lại cần gì "Chí thành thập thánh", "Lương ngọc danh sơn" vậy thay!.
Qua tân thư, tân báo, Trần Quý Cáp và các nhà nho thức thời đã có ý hướng về Nhật Bản - một nước châu á
cùng máu đỏ da vàng đã duy tân thắng lợi để thành một nước quốc phú, dân cường. Năm 1905, Hải quân Nhật
đánh tan hạm đội Nga trên eo biển Đối Mã (Détroit de Tsoushima) như một tiếng sấm làm bừng tỉnh và nức
lòng đối với sĩ phu thức thời Việt Nam đang tìm đường cứu nước.
Theo lời cung khai của Nguyễn Tư Trực còn lưu giữ tại "Trung tâm Lưu trữ quốc gia Hải ngoại" bên Pháp
thì thời biểu 1905 ấy, Trần Quý Cáp cùng với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Huỳnh Thượng Trung dưới
dạng cải trang - có ý định đến miền Nam Trung Bộ (Nha Trang - Bình Thuận) 1 tìm đường sang Nhật Bản để tìm
hiểu tại chỗ công cuộc duy tân của nước này.
Trong việc tìm đường sang Nhật, Trần Quý Cáp có quan hệ với một người Nhật sinh sống, làm ăn tại Đà
Nẵng hoạch định kế hoạch đi Đông. Hai người đối xử với nhau rất thân tình. Trần Quý Cáp còn tặng ông đôi
câu đối1.

3

, 4. Vế lớn vế nhỏ.

5

. Tiếng miền Trung: Luẩn quẩn làm việc đó.

6

. Vua Thuấn là hiền đức, Chích là kẻ trộm, ý nói muốn khen chê thế nào cũng được.

1

. Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Nxb Đà Nẵng, 2001, tr. 38, 42, 43, 45, 47, 48, 49, 50, 57, 60,

73-79, 102, 221, 222.
1

. Theo Nguyễn Sinh Duy: quảng Nam và những vấn đề sử học.


Vào năm 1905-1906, cụm từ "đồng chủng, đồng văn" ý nói cùng giống máu đỏ da vàng thương yêu, giúp đỡ
nhau rất phổ biến trong giới sĩ phu Việt Nam ở đầu thế kỷ XX. Khi Phan Bội Châu xuất dương sang Nhật, trong
buổi tiễn đưa, Trần Quý Cáp có làm thơ tiễn và cũng là nhắc nhở người ra đi:
"Đã không vượt biển sang Đông thổ
Thì ở nhà lo việc Quảng Nam
Phục Sở3 quản chi rơi huyết lệ
Nghinh lang là kế chẳng nên làm...".
Từ đầu năm 1905, Trần Quý Cáp hăng hái hoạt động trong phong trào Duy Tân, vận động thanh niên Đông
du, quyên góp tiền cho quỹ Đông du ủng hộ chương trình giáo dục cải cách.
Mở đầu cho chương trình cải cách là Trần Quý Cáp và các nhà chí sĩ ở Quảng Nam là kêu gọi dân chúng
góp vốn mở trường học (sau đó là hội buôn, xưởng công nghệ, hội nông; việc mở trường được coi là công việc
hàng đầu là khai dân trí. Trường học còn là nơi diễn thuyết cổ động dân quyền, tự chủ, đổi mới cách sinh hoạt.
Trường không dạy Tứ thư, Ngũ kinh mà dạy chữ quốc ngữ, chữ Pháp, toán pháp, lịch sử, địa lý Việt Nam và các
môn cách trí, kiến thức khoa học tự nhiên, thể dục, hát.
Năm 1907, Nguyễn Trọng Lộc mở trường tư thục Dục Thanh do Nguyễn Quý Anh làm giám đốc. Nguyễn
Tất Thành có dạy học ở đây một thời gian.
Ngoài trường trên, ở tỉnh Quảng Nam còn có nhiều trường do sĩ phu tự lập. Đến năm 1908 ở Quảng Nam
đã có tới hơn 40 trường. Nổi tiếng nhất là trường Diễn Phong, Phước Bình, Phú Lâm. Trường Phước Bình lập ở
Quế Sơn, giám đốc là Trần Hoành (nhân viên mỏ than Nông Sơn bỏ về).
Trần Quý Cáp kiên trì phản đối lối học từ chương, khoa cử, ông khuyến khích nhân dân học chữ quốc ngữ
để tiếp thu đường lối chính trị, khoa học tiên tiến của thế giới.
Các trường học do Trần Quý Cáp chủ trương phát triển rộng rãi ở khắp các huyện trong tỉnh Quảng Nam,
khiến cho bọn cầm quyền Pháp và Nam triều tức tối, chúng thấy cần phải ngăn chặn làn sóng trường học đang
lan rộng. Ra mặt cản phá hoạt động của các trường đầu tiên là Tri phủ Điện Bàn, Trần Văn Thống. Hắn ra lệnh
hết sức vô lý rằng: trống phủ mới được đánh ba hồi để quan thăng công đường, còn trống ở trường học chỉ được
đánh một hồi. Trần Quý Cáp vào trường nghe cái lệnh kỳ quái đó liền viết bài thơ trên bảng:
Trống trường, trống phủ, trống lung tung
Trống cũng quan dân mới lạ lùng
Trống đánh mấy hồi mà lớn tiếng?
Dăm mòn, da mỏng cũng như không.
Nghe tin Phủ Thống tức tối, phát văn thư thương nghị tòa sứ Hội An đóng của trường Quảng Phước. Nhờ
trợ giáo trường là người có đạo tên là Nguyễn Phiên vận động linh mục nhà thờ An Ngãi điều đình với công sứ
Quảng Nam cho trường tiếp tục dạy.
Trần Quý Cáp cùng các cộng sự đã tổ chức Nông hội. Thoạt đầu các ông định xây dựng ở rẫy Cơ Vĩ tại
vùng rừng núi phía tây Quảng Nam từng là căn cứ của nghĩa hội Quảng Nam Nguyễn Duy Hiệu. Song đường
lên đó rất khó khăn, đã được ông và các đồng chí thể hiện trong hai câu thơ:
Lúc lắc đò đưa Tý, Sé, Kẽm
3

. Phục Sở là Trần Quý Cáp muốn nói tới Phan Bội Châu đi Nhật cầu viện là cực kỳ khó khăn, gian khổ, chẳng khác nào

Thân Bao Tư quỵ lụy triều Tần ngày xưa. Nhưng ông đã nhắc Phan Bội Châu phải cảnh giác, chớ có (nghinh lang) là kế
không nên làm.


Gập ghềnh chân bước Râm, Ri, Liêu
Song Cơ Vĩ cách xa phong trào Duy Tân của tỉnh, việc giao thông cách trở, không tiện cho các nhà nho qua
lại. Vì vậy ông chuyển địa bàn Nông hội về Yến Nê ở huyện Hòa Vang là vùng đồng bằng. Ban đầu Nông hội
chỉ rộng có 20 mẫu ta. Ông đã thuyết phục các tổng lý, hào phú trong vùng giáp ranh Hòa Vang, Điện Bàn, hiến
rộng đất, tiền bạc, nhân công để mở mang diện tích ở Yên Nê. Để khuyến khích, mở rộng phong trào, ông sáng
tác bài ca trù:
Khuyến nông ca
Phú quý nhược tùng lan thủy khí
Công danh giai thị đằng phù vân
úy thôi thôi, phải trớt ánh hồng trần,
Ngày thong thả dạo chơi miền Nam Mẫu
Tơ nọ một đôi thằng, ruộng kia năm bảy mẫu
Mặc dầu là nông phố vẫn phong lưu
Xuân rồi hạ, hạ rồi thu
Mía đương tơ, dâu đứng trái, lúa con gái, bắp chân chàn,
Lấy ba giá nhuốm chơi màu thanh tú
Việc này hỏi, có ai hơn rứa hử?
Về mu nhà khuyên điểm lấy ông hay.
Hoách chân dựa lấy chuôi cày
Vỗ tay hát khúc Nam Sơn, ừ cũng thú!
Nói chi nữa đến ngày hoa vụ,
Gà lợn, cu quay, xôi vò, rượu hũ.
Vui cùng nhau ăn cơm mới nói chuyện xưa!
Khi Lịch Sơn, lúc Tân giả cày bừa
Nghĩ cho biết bao nhiêu mùi kinh tế
Việc xử thế phải sạch câu hành chí
Sau khi Nông hội Yến Nê đi vào hoạt động, Trần Quý Cáp và các cộng sự tiếp tục khai trương Nông hội
Biểu Sơn ở huyện Đại Lộc và Nông hội tháp Mỹ Sơn ở huyện Duy Xuyên rộng gần 50 mẫu.
Cùng với Nông hội thì Thương hội cũng ra đời. Mở đầu là hội Thương Diên Phong ở Điện Bàn do Trần Quý
Cáp, Phan Thúc Duyện, Phan Thành Tài, Mai Dỵ cùng cộng tác. Tiếp đó là hội Thương Hội An do Bang Kỳ
Nam Nguyễn Đình Tán (quê ở sát làng Bất Nhị quê Trần Quý Cáp) điều hành ra đời để cạnh tranh với Hoa
thương.
Năm 1906, Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Hiệt Chi thành lập công ty Liên Thành làm nước mắm
ở Phan Thiết.
Tốc độ phát triển của hội thương phát triển nhanh chóng, chỉ trong vòng 2 tháng toàn tỉnh Quảng Nam đã
lập thương hội được 72 nơi.
Như vậy là ở Quảng Nam cả ba loại hội: hội học, hội nông, hội thương đều phát triển. Trần Quý Cáp đã mời
cử nhân Dương Bá Trạc từ Hà Nội vào Quảng Nam để trao đổi kinh nghiệm tổ chức, kinh doanh các hội. Sau


đó ông lại cử Hồ Thanh Vân đi theo đoàn buôn ra Bắc Kỳ đem theo thơ văn cuộc vận động Duy Tân Tự Cường
ở Quảng Nam ra trao đổi kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau với phong trào Duy Tân ở các tỉnh Bắc Kỳ.
Cùng với việc thành lập ba hội trên, Trần Quý Cáp còn vận động, kêu gọi mọi người cắt tóc ngắn, mặc quần
áo ngắn, mặc Âu phục, đi giày thay cho guốc gỗ và dép rơm.
Những hoạt động của các hội cùng phong trào cắt tóc ngắn, mặc quần áo ngắn do Trần Quý Cáp và các nhà
lãnh đạo phong trào Duy Tân Tự Cường ở Quảng Nam đã làm thức tỉnh lòng người ở Quảng Nam nên Tòa sứ
Quảng Nam và Tổng đốc Quảng Nam lo ngại cho mật thám theo dõi, giám sát ông chặt chẽ.
Trước sự hoạt động có hiệu quả của Trần Quý Cáp, bọn thống trị Pháp và Nam triều tức tối. Chúng bàn cách
"đẩy" ông ra khỏi địa bàn hoạt động của ông là phủ Điện Bàn. Chúng bổ nhiệm ông làm giáo thọ phủ Thăng
Bình là một huyện chỉ có cát trắng và núi non, song nơi đây cũng chịu ảnh hưởng của Huỳnh Thúc Kháng với
các trường học ở Phú Lâm, Tây Lộc, Phước Bình, Thạnh Bình và nhiều nông hội kinh doanh nghề trồng chè và
trồng quế.
Trần Quý Cáp vừa đến nhiệm sở mới, ông liền cho mời thầy dạy chữ Pháp và chữ quốc ngữ tổ chức dạy tân
học ngay trong trường công lập là trường Giáo phủ Thăng Bình. Ông còn tranh thủ ngoài giờ hành chính đi diễn
thuyết ở các trường trong địa hạt.
Các hoạt động của Trần Quý Cáp đều bị thực dân Pháp và Nam triều giám sát chặt chẽ. Trong mật báo của
công sứ Quảng Nam Sáclơ1 số 167 ngày 7 tháng 11 năm 1907 viết: "Hội buôn Quảng Nam mà các thành viên tự
xưng là "những người cắt tóc" theo cách họ nhận biết nhau. Hội này tập hợp tất cả những phần tử đối lập với
ảnh hưởng của Pháp, những viên quan trong đảng "Cần Vương" An Nam cũ… Hội ấy hoạt động ráo riết. Các
thành viên đi khắp các làng, đề nghị dân chúng cắt tóc, mặc Âu phục và khuyên họ tự giải quyết mâu thuẫn,
không cần đến cửa quan hoặc các tòa công sứ… Theo ý tôi (Charles) thì cuộc vận động của họ không hề xuất
phát từ ý đồ tha thiết đem hệ thống cai trị của Pháp thay cho hệ thống cai trị An Nam, cũng không phải do mong
muốn bức xúc thay đổi các phong tục tập quán của xã hội Việt Nam. Chính là một cuộc chiến đấu chống lại ảnh
hưởng và quyền lực của nước Pháp mà họ phát động và khi họ tấn công vào quay lại thì họ không chỉ nhằm vào
những kẻ tham nhũng mà họ nhằm vào những kẻ phục vụ nước Pháp là chính. Và khi tấn công những người này
thì họ nhằm vào chúng ta… hoạt động của hội này thực hiện nhiều nhất ở hai phủ Thăng Bình và Tam Kỳ và
đặc biệt ở hai vùng giáp giới giữa hai phủ này. Chính đây là nơi Phan Chu Trinh ở. Các buổi họp công khai
được tổ chức để các diễn giả dạy cho bọn nhà quê thật thà những cách thức mới để đưa đất nước An Nam tiến
bộ bằng những con đường chắc chắn. Theo tôi đã thật sự đến lúc phải chấm dứt cuộc tuyên truyền phá rối trị an
và phá hoại tất cả quyền lực của chúng ta".
Tờ trình của mật thám Đông Dương gửi phủ Toàn quyền - Ký hiệu CAOM - SPCE 372 báo cáo: "Các hội
buôn được tổ chức trong các thôn, xã, các cuộc quyên góp được mở ra, các cuộc diễn thuyết công khai diễn ra.
Và dưới chiêu bài "mở mang thương mại, nông công, nghiệp" hay hay dưới chiêu bài "phát triển học vấn giáo
dục đào tạo, luân lý", họ tấn công quan lại, chỉ trích nhà nước bảo hộ".
Báo cáo của công sứ Quảng Nam Sáclơ số 184 đề ngày 5 tháng 12 năm 1907 phân tích: Số người gia nhập
hội (buôn và nông) ở Quảng Nam ngày càng tăng… có những nơi toàn xã cùng gia nhập. Hàng tháng, hội họp
vào những ngày nhất định, mùng 1 và 15 rất đều đặn. Họp ở các chợ chính. Có cuộc số dự lên đến cả ngàn
người… Họ ca ngợi nông nghiệp và thương mại như những phương thức để làm giàu và nhờ đó mà trở nên
mạnh. Nhưng chính trong những cuộc hội họp đó mà những người lãnh đạo tiếp xúc với dân chúng, làm cho
dần quen nghe theo lời khuyên của họ và sau này sẽ tuân theo mệnh lệnh của họ".

1

. Sáclơ sau được thăng Khâm sứ Huế, rồi về Pháp trở thành người đỡ đầu cho Bảo Đại ấu học tại Pháp.


Thực dân Pháp và Nam triều muốn giết ông, nhưng chưa tìm được chứng cớ. Sách Việt Nam nghĩa liệt sử,
Đặng Bằng Đoàn và Phan Bội Châu ca ngợi ông: "… Nhờ ông diễn giảng nhiều, nên các danh từ "dân quyền,
công lý" rộng khắp dân gian, người Pháp rất căm ghét. Chúng cho mật thám lẫn lộn trong quần chúng để nghe
ông nói những gì rồi tìm cớ buộc tội 1. Nhưng ông không nói gì phạm đến chính phủ cả, cho nên Pháp không thể
buộc tội ông vào đâu được. Vừa lúc đó có tên đại mật thám ghét ông mà nói với người Pháp: "Không giết người
này, vài năm nữa nhân dân Nam - Ngãi không thể trị được nữa". Người Pháp vẫn muốn giết ông, song không có
cớ gì. Nay nghe tên mật thám kia nói thì mừng mà nói rằng: "Hãy đuổi hắn đi xa để hắn không làm gì được, rồi
hãy tìm cớ mà giết đi. Tôi cho anh ở cùng với hắn, theo dò xét hắn, thì tính mạng hắn chỉ nay mai là xong đời" 2.
Vậy là Trần Quý Cáp từ phủ Thăng Bình bị đuổi vào phủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Song vào đến Ninh
Hòa ông vẫn tiếp tục cổ xúy tân học, vận động Duy Tân. Báo cáo của công sứ tỉnh Khánh Hòa trình Khâm sứ
Trung Kỳ để Nha Trang ngày 6 tháng 5 năm 1908, ký hiệu CAOM - SPCE 373 viết: "Cuối cùng sau tất cả
những chuyến đi lại đó, thì Trần Quý Cáp có vẻ như là một trong những tên sách động 1 của Quảng Nam đang
làm Giáo thọ phủ Thăng Bình, được đổi vào chức Giáo thọ ở Ninh Hòa… Trần Quý Cáp đã thận trọng bổ dụng
một số người hoàn toàn tin cẩn của y. Những người tích cực nhất trong việc xây dựng các trường học sẽ được
thưởng bằng một chức quan: Như thế là đủ để cho Giáo thọ có trách nhiệm trông coi các trường này có trong
tay một công cụ tuyên truyền ghê gớm".
Vào tháng 3, 4 năm 1908, phong trào chống thuế ở Quảng Nam phát triển rầm rộ, thực dân Pháp và Nam
triều lợi dụng cơ hội đó vu cho ông là người lãnh đạo chủ chốt phong trào chống thuế ở Quảng Nam để thực
hiện âm mưu hãm hại ông. Nay thời cơ đã đến nên chúng ra tay ngay. Trong báo cáo của Toàn quyền Đông
Dương lâm thời Bonhoure gửi bộ trưởng bộ thuộc địa viết: "… Ngày 17 tháng 4 công sứ Nha Trang đã cho bắt
trong tỉnh ông ta một kẻ lãnh đạo chủ chốt của Quảng Nam tên là Trần Quý Cáp cho thấy y đến để tổ chức
phong trào ở các tỉnh phía Nam. Nhờ các thông tin lấy được trong các giấy tờ đó, những tên bản xứ có thế lực
đến Phan Thiết để tổ chức nổi dậy đã bị bắt.
Phạm Ngọc Quát giam ông ở nhà lao Tân Định. Tôn Thất Doãn - tri phủ Tam Kỳ là bạn của Trần Quý Cáp,
bí mật tham gia phong trào Duy Tân, không quản nguy hiểm đã đến nhà lao thăm bạn.
Trần Quý Cáp bị bắt khiến dư luận phản ứng mạnh mẽ đòi đưa Trần Quý Cáp ra xét xử công khai. Song tên
công sứ Brêđa (Bréda) và Phạm Ngọc Quát đã vu khống cho Trần Quý Cáp tội "Có hành động tạo phản chống
Nam triều và Chính phủ Bảo hộ".
Trong châu bản1 triều Duy Tân thứ 2 (1908) đề ngày 20 tháng 5, phủ Phụ chính đại thần Nam triều có đệ
chuyển qua Khâm sứ Huế Lêvéc bản án văn đề ngày 19 tháng 4, do chính quyền đương đạo tỉnh Khánh Hòa đề
nghị như sau:
"Trần Quý Cáp là người trong hàng khoa mục, dám mưu toan việc bất quỷ, trước thì cùng Huỳnh Thúc
Kháng, Phan Châu Trinh và Hoàng Thượng Trung lén theo nước khác mưu làm phản nghịch, tuy mưu mà chưa
thực hành, nhưng nghiệm thi văn do y soạn, từ khi lột mạn 2 nay lại lén tàng trữ ngụy chỉ (các tập văn của Sào
Nam Tử); vả lại, thân làm phụng mà ép người cắt tóc, thì gần đây dân đảng Nam Ngãi làm càn, chưa chắc là

1

. Báo cáo số 14 ngày 1 tháng 11 năm 1907 của đại úy Pháp tại Tam Kỳ.

2

1

. Đặng Đoàn Bằng và Phan Thị Hán, Việt Nam nghĩa liệt sử, Nxb Văn học, Hà Nội, 1972, tr. 45-46.

. Sách động tức là hoạt động chống đối một cách quyết liệt.

1

. Tờ tâu của các địa phương dâng lên vua, vua phê chuẩn bị son bên cạnh.

2

. Lời lễ ngạo mạn.


không phải do bọn ấy bình nhật thế hoặc dân chúng sinh sự mà ra, chứng cứ minh bạch, sự tích rõ ràng, tội thật
không oan uổng… Vậy Trần Quý Cáp xúi chiến luật "mưu phản đại nghịch", xử lăng trí, xử tử… 1.
Sau khi trình sao y án của tỉnh Khánh Hòa cáo buộc tội trạng Trần Quý Cáp như trên, phủ Phụ chính Nam
triều đề nghị với khâm sứ Huế:
"Phủ chúng tôi thương đồng phụng duyệt bản án nói trên, thì Trần Quý Cáp mưu toan phản nghịch, đã do
tỉnh ấy xét nghĩ, vậy Trần Quý Cáp xin y chiếu luật ấy (mưu phản đại nghịch) xử trảm lập quyết, miễn lăng trì.
Phủ chúng tôi, tư thương quý Khâm sứ đại thần Phụ quốc công Lê Viết 1 thẩm duyệt phú y".
Phạm Ngọc Quát biết thế nào phủ Toàn quyền Đông Dương cũng can thiệp, nên hắn tính: "Làm sự đã rồi".
Ngày 17 tháng 5 năm 1908 nghĩa là 2 ngày sau khi Trần Quý Cáp bị bắt, hắn thông báo sẽ xử theo hình thức
"yêu trảm" nghĩa là chém ngang lưng ở bãi Sông Cạn bên cầu Phước Thanh, tục gọi là "Gò chết chém", nơi mà
23 năm trước (1885), giặc Pháp đã chém Đề Phong (Trịnh Phong) thủ lĩnh phong trào Cần Vương tỉnh Khánh
Hòa. Trước khi bị chém ông ung dung đọc bài thơ Tuyệt mệnh:
"Ai mà sợ chết, chết như chơi
Chết cũng vì vua, chết bởi thời
Chết hiếu đã đành xương thịt nát,
Chết trung bao quản cổ đầu rơi
Chết nhân tiếng để hiền muôn thuở
Chết nghĩa danh bêu biết mấy đời
Thà chết, chết trong hơn sống đục,
Ai mà sợ chết, chết như chơi.
Hôm đó là ngày 5 tháng 5 năm 1908, khi ông mới 38 tuổi.
Các đồng chí có câu đối viếng:
"Tây học trung lãnh tụ hốt thất thủ nhân, lợi lại tiền đồ, cử quốc thiếu niên tề nhất đồng.
Thọ khảo dữ lệnh danh, chung non lưỡng đắc, dao dao nhất hoạn ỷ lư từ mẫu tới thương tâm".
Dịch:
"Đàn anh phái Tây học, bỗng mất một tay, muôn dặm mịt mù, bạn trẻ trông sau rầu rĩ khóc
Đời thọ với danh thơm, khó toàn hai ngả, một chức nho nhỏ, mẹ già tựa cửa xót xa đau".
Cái chết của ông gây xúc động trong giới sĩ phu và nhân dân, thơ ca phúng viếng rất nhiều. Giới trí thức tôn
ông là lãnh tụ trong nhóm tân học. Các ông Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hàm (Nguyễn Thành) cũng bị bắt
trong vụ này và bị kết án chung thân đày ra Côn Đảo. Khi còn bị giam ở nhà lao Quảng Nam, Huỳnh Thúc
Kháng nhận được tin, thực dân Pháp xử tử hình Trần Quý Cáp đã xúc động làm bài thơ:
Dịch thơ:
Khóc ông Trần Quý Cáp
Gươm sách xăm xăm tếch dặm miền,1
1

. Theo "Phong trào kháng thuế miền Trung năm 1908 qua các châu bản triều Duy Tân , Bộ Văn hóa - Giáo dục, Thanh

niên Sài Gòn, 1973.
1

. Tức Khâm sứ Trung Kỳ Sylvain Levêque.

1

. ý nói ra làm quan.


Làm quan vì mẹ, há vì tiền2
Quyết đem học mới thay nô kiếp,
Ai biết quyền dân nảy họa nguyên
Bồng đảo gió chưa đưa giấc mộng3
Nha Trang cỏ đã khóc hồn thiêng,
Chia tay chén rượu còn đang nóng
Đà Nẵng đưa nhau lúc xuống thuyền
(Tác giả tự dịch)
Về sự kiện Trần Quý Cáp tham gia phong trào chống thuế năm 1908 ở tỉnh Quảng Nam, bị thực dân Pháp
xử tử hình, được Nguyễn Thượng Hiền viết trong "Tang hải lệ đàm" (Giọt lệ bể dâu) như sau:
"Quảng Nam một tỉnh ở phía Nam kinh thành nước tôi, dân bị đánh thuế quá nặng mới kéo đến dinh công
sứ, xin tha số thuế mới tăng, công sứ không nghe lại sai lính ra xua đuổi, bị đẩy sa xuống sông, chết đuối mất ba
người. Nhân dân căm giận, đem ba xác chết đặt trước cửa dinh công sứ, rồi mấy nghìn người bận khăn áo trắng,
xúm quanh kêu khóc vang trời, động đất đến một tuần lễ không thôi. Họ còn nằm ngổn ngang trên các đường
phố. Viên công sứ phải đánh điện trình khâm sứ. Khâm sứ đến hỏi: "Vì sao chúng bay làm loạn?" Dân đáp:
"Chúng tôi không có mẩu sắt trong tay, sao gọi là làm loạn? Chỉ vì thuế khóa quá nặng, không thể nộp được,
cho nên chúng tôi phải cùng nhau đến kêu". Khâm sứ nói: "Chúng bay nghèo nàn đến nỗi không nộp được thuế
cho nhà nước, thì chết đi còn hơn". Nói rồi liền sai lính Pháp vây bắn, chết đến mấy trăm người, máu chảy
thành vũng, bấy giờ dân mới chịu tan. Trong vụ này, ngoài số dân bị bắn ở đây có cả Bố chính cũ Lê Khiết và
ông tiến sĩ Trần Quý Cáp đều bị bọn Pháp giết. Ông Lê vốn xưa căm tức về chính trị tàn ngược của người Pháp,
còn ông Trần khi nghe việc này có viết ra bảy chữ: "Ngô dân thử cử khoái! khoái! khoái!" (Dân ta làm việc này
hay, hay, hay!). Bọn Pháp biết được, buộc cho là phản nghịch, trái đạo, bắt chém. Ôi! kẻ tay chân, không đến
kêu cầu, người nói câu khảng khái bị chặt đầu. Tính mạng của dân tôi, thật không bằng cỏ rác" 1.
Trong "Trung Kỳ dân biến thỉ mạt ký", Phan Chu Trinh viết cụ thể sự kiện này như sau:
"Tiến sĩ Trần Quý Cáp người tỉnh Quảng Nam trước làm giáo thọ phủ Thăng Bình tỉnh ấy. Năm 1907 đổi
vào Khánh Hòa cũng giữ chức giáo thọ một phủ. Sau khi tới nhận chức thì ông diễn thuyết với sự ích lợi về việc
học, khuyên nhân dân mở nhiều trường học. Ban đầu thì công sứ Pháp và Nam triều trong tỉnh cũng khen và
khuyến khích ông. Đến khi dân Quảng Nam nổi dậy, tuy có lan ra các tỉnh gần, mà dân tỉnh Khánh Hòa thì ở
yên như thường. Không ngờ quan Pháp và quan Nam tỉnh ấy, dụng tâm ám hiểm, bắt ông giáo thọ ấy giam
không đầy một ngày đêm, tòa không xét hỏi gì, liền kết án xử tử, lập tức đem chém tại chỗ. Nghe nói đích xác
là mới đầu quan tỉnh là Phạm Ngọc Quát xử án "lăng trì", rồi sau đổi ra "trảm quyết". Chém được một giờ, thì
được dây thép quan toàn quyền sức giải đi Côn Lôn, nhưng mà đã giết chết rồi không sao mà sống lại được!
Đến nay thì các án ấy hoàn toàn giấu mất, không đem ra tuyên bố cho ai biết, còn thây và đầu cũng không cho
người nhà nhận lãnh (khi đó có người nhà đi theo, chém xong rồi thì bắt ngay người nhà giải về Quảng Nam lập
tức) mà cũng không biết chôn ở chỗ nào"1.
Đối với vụ án Trần Quý Cáp, lãnh tụ Nguyễn ái Quốc viết như sau: "Sau những cuộc biểu tình ở miền Nam
Trung Kỳ, nhiều nhà văn thân đã bị xử tử hoặc bị đày biệt xứ. Trong số đó có ông nghè Trần Quý Cáp, một nhà
2

. ý nói ra làm quan vì nhà nghèo, có mẹ già.

3

. Trần Quý Cáp đã có lúc toan sang Nhật cùng Phan Bội Châu, nhưng vì có mẹ già lại thôi.

1

. Nguyễn Thượng Hiền, Tang hải lệ đàm (Giọt lệ bể dâu).

1

. Phan Chu Trinh, Trung Kỳ dân biến tụng oan thủy mạt ký.


nho thanh cao ai cũng mến phục. Ông Cáp bị bắt trong khi còn dạy học, không xét hỏi gì cả, người ta đem chém
ông hai mươi bốn giờ sau khi bị bắt. Chính phủ giết chết ông chưa đủ, còn hành hạ mãi, không chịu giao trả thi
hài ông cho gia đình"1.
Để nhớ ơn ông nhiều địa phương lấy tên ông đặt cho trường học, đường phố. Hà Nội có phố Trần Quý Cáp.

1

. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tr. 312.


Huỳnh Thúc Kháng

H

uỳnh Thúc Kháng thuở nhỏ tên là Huỳnh Hanh hiệu Mính Viên (vườn chè), đôi khi được viết
là Minh Viên, tự Giới Sanh, Đới Sinh, sinh năm Bính Tý (1876), ở làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng,
huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
Nhà nghèo nhưng ông học rất giỏi. Tằng tổ cày ruộng, ham đọc sách, thời Gia Long được liệt vào hạng thân sĩ.
Ông nội là một hào phú, tính tình khoan hậu, rộng rãi, được thôn xã mến phục. Thân phụ là Huỳnh Tấn Hữu nối
tiếp nhà làm ruộng, đồng thời theo đòi thi thư, nhưng đi thi nhiều năm không đậu. Huỳnh Thúc Kháng rất giỏi
văn, 13 tuổi đã biết làm văn trường ốc. Năm Canh Tý (1900), ông 24 tuổi, lều chõng đi thi Hương, nổi tiếng là
một trong ba danh sĩ thiếu niên (Tam hùng). Ông đỗ cử nhân (Giải nguyên) năm Giáp Thìn (1904), 28 tuổi đỗ
đầu kì thi Hội (Hội nguyên) rồi đỗ Tiến sĩ Đệ Tam giáo ở kỳ thi Đình. Ông được giới sĩ phu và nhân dân xếp là
"Tứ Hổ" ở đất Quảng (bốn người học giỏi là Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiên, Phạm
Liệu).
Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ nhưng không ra làm quan. Ông giao du với các nhà yêu nước như Trần Quý
Cáp, Phan Chu Trinh. Ông đọc nhiều tân thư, chịu ảnh hưởng các tác phẩm của Nguyễn Lộ Trạch như "Thời vụ
sách", "Thiên hạ đại thế luận" và các tác phẩm của Phan Bội Châu như: "Lưu cầu huyết lệ thư", "Hải ngoại
huyết thư". Ông còn đọc các tác phẩm của Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu (Trung Quốc). Trong tác phẩm của
mình, Phan Bội Châu nhấn mạnh: "Những thảm trạng thành tan, nước mất", "Những nỗi nhơ nhuốc đổi chúa
làm tôi".
Sau này Huỳnh Thúc Kháng có kể về việc đó: "Thời bấy giờ Trung Quốc có "Mậu Tuất chính biến" và
"Canh Tý liên binh" sĩ phu hơi tỉnh ngộ, phong triều (trào) loan, nghênh Âu học chuyển động toàn quốc… Năm
trước đó có quan Thị lang Thân Trọng Huề (từng sang Pháp du học), có tờ sớ xin bỏ khoa cử tại kinh (Huế), có
Đào Nguyên Phổ mua được nhiều sách mới (như Mậu Tuất chính biến, Trung Quốc hồn, nhất là Phan quân Tây
Hồ (tức Phan Chu Trinh) tùy tâm bàn Tây học, thường với Tây Hồ đến nhà Đào Nguyên Phổ, có bao nhiêu tân
thư đọc hết, biết được đôi chút biến thiên của thế giới bắt đầu từ năm ấy" 1. Từ đó Huỳnh Thúc Kháng trở thành
bạn tâm phúc với Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế.
Đầu năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng tham gia "Duy Tân Tự cường" cùng Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế.
Khác với Phan Bội Châu chủ yếu là bạo lực cách mạng, Huỳnh Thúc Kháng vận động phát khởi phong trào
Duy Tân cải cách văn hóa - xã hội theo hướng "khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh" (khẩu hiệu và mục tiêu
của phong trào Duy Tân do Phan Chu Trinh đề xướng), Huỳnh Thúc Kháng không phản đối đường lối "bạo
động xuất dương cầu ngoại viện" của Phan Bội Châu, cũng không hoàn toàn tin theo đường lối "bất bạo động,
bất ngoại vong" của Phan Chu Trinh. Nếu Phan Chu Trinh tỏ ra là người cực đoan thì Huỳnh Thúc Kháng lại là
người có vai trò: "điều hòa mâu thuẫn" giữa hai đường lối của hai cụ Phan.
Ngay sau khi thi đỗ tiến sĩ, Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan, tháng 10 năm Giáp Thìn (1904), Huỳnh
Thúc Kháng cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp đi khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam cổ động cho phong trào
Duy Tân.
1

. Nguyễn Thiện Tường, Bước đầu tìm hiểu phong trào Duy Tân vùng Nam - Ngãi đầu thế kỷ XX.


Tháng 2 năm ất Tỵ (1905), Huỳnh Thúc Kháng lại cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp thực hiện cuộc
"Nam du". Đến nơi nào ba nhà Duy Tân cũng "cổ xúy tân học không chán". Ba ông quyết định đi Bình Định,
Phan Thiết. Khi qua Cam Ranh, được tin chiến hạm Nga đậu tại đó, ba ông mua trứng gà, trái cây giả làm người
bán hàng thuê thuyền đánh cá, lên tàu Nga để xem. Sự kiện này đã để lại trong lòng ba ông ấn tượng sâu sắc,
củng cố lòng tin vào con đường duy tân cải cách mà các ông đã chọn, Huỳnh Thúc Kháng đã nhận xét là "rất
khoái"1.
Khi đến Phan Thiết, Phan Chu Trinh cổ động cho việc thành lập công ty "Liên Thành" và "hội Dục Anh"
làm kinh tế và là nơi hội họp cho hội Duy Tân. Trên đường trở về Quảng Nam, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý
Cáp ở lại Quảng Ngãi gây dựng một số cơ sở của hội Duy Tân. Huỳnh Thúc Kháng và Lê Vĩnh Huy thành lập
"Thương học công ty" công ty này có chi nhánh ở khắp các xã huyện Tiên Phước, tổ chức các lớp học, là nơi
liên lạc của những người yêu nước và gây quỹ giúp đỡ phong trào Đông Du.
Từ đầu thế kỷ XX thực dân Pháp bắt nhân dân hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi đào sông Cu Nhí để chở
than đá về thành phố Đà Nẵng, đắp đường tới mỏ vàng Bồng Miêu nên dân tình vô cùng cơ cực, thuế má chồng
chất. Từ năm 1907 các sĩ phu trong hội Duy Tân đã đề cập đến vấn đề khất thuế, giảm thuế. Các tư liệu ghi chép
trong đời vua Duy Tân ghi lại: "… Ngày nào đến kỳ thuế, trưng thu quá nặng, nhất tề không chịu, quý quan há
có lẽ giết hết được sao"2.
Cuộc cự sưu năm 1908 chống bảo hộ Pháp hy sinh cả xương máu. Nguyên nhân xảy ra chống thuế là do kẻ
thù bóc lột cùng cực, dân không thể chịu nổi, tự phát vùng lên, được kích thích bởi lòng tự tôn dân tộc, dân
quyền, dân chủ của các sĩ phu truyền bá.
Kẻ thù kết tội Huỳnh Thúc Kháng là: "Thông đồng với người bội quốc (Phan Bội Châu)" xướng thuyết dân
quyền cùng các cuộc khai thương, lập hội, kết án xử tử, phát Côn Lôn, ngọ xá bất nguyên 1.
Cụ cùng các bạn tù bị thực dân Pháp giam ở Khám Lớn, Sài Gòn chờ đi Côn Đảo. Cùng đi đày ở Côn Đảo
có 26 sĩ phu yêu nước như Nguyễn Thanh, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lê Văn Huân, Nguyễn Đình
Kiên… song Huỳnh Thúc Kháng vẫn nung nấu ý chí "Phục Việt".
Trong tù Huỳnh Thúc Kháng làm rất nhiều thơ, và còn thuộc nhiều thơ của các bạn tù, sau tập hợp trong
"Thi tù tùng thoại". Cụ làm bài thơ "Vô đề" đọc cho các bạn tù nghe:
Vô Đề
Hồi thủ giang sơn mộng vị tinh
Hốt giao kỳ tưởng nhập minh minh
Sở giang hữu khách huê cô kiếm,
Thục đạo hà niên khuểu Ngữ đinh
Vạn lũ Xuân tàm tâm bất tử,
Thiên niên cố trủng quỷ vô linh
Dĩnh trung chỉ giải ba nhân khúc
Bạch tuyết ca thành độc tự thinh
1

. Theo Đinh Trần Dương: Bài ý chí cứu nước của nhóm sĩ phu bị tù ở Côn Đảo đầu thế kỷ XX, Nghiên cứu lịch sử số

2-2003.
2

. Nguyễn Thiện Tường, tài liệu đã dẫn.

1

. Huỳnh Thúc Kháng, Thị tù tùng thoại, Nxb Nam Cường, Sài Gòn, 1951, trang 21 nói là xử tử, sau đổi là chung thân,

sau giảm xuống 13 năm (1908-1921).


Dịch thơ
Không đề
Nghoảnh lại non sông giấc mộng nồng
Khiến người tơ tưởng giữa mênh mông
Sông sâu khách đã mang gươm tếch1
Núi hiểm năm nào mở nẻo thông2
Muôn mối tơ tằm lòng chết chửa
Ngàn năm mả tổ quỷ thiêng không.
Ba nhân khúc mẹ nhiều người họa,
Bạch tuyết ca rồi nghỉ ngóng trông
Huỳnh Thúc Kháng dịch
(Thi tù tùng thoại)
Huỳnh Thúc Kháng ở tù nhưng vẫn kiên cường bất khuất, cụ nói:
Dù đến lúc núi sập, biển lồi trời nghiêng đất ngả
Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn
Trăng kia khuyết đó lại tròn
Cụ nói với mọi người: "Côn Lôn là một trường học thiên nhiên. Mùi cay đắng trong ấy, làm trai giữa thế kỷ
XX này không thể không nếm cho biết" 1.
ở nhà tù Côn Đảo, nhận được tin Đặng Thái Thân vì nước hy sinh anh dũng, Huỳnh Thúc Kháng làm bài
thơ:
Điếu ngư hải
Bất độc liên quân diệc tự liên
Hà sơn tân khí bán tiêu nhiên;
Bạch y2 nan đắc ưu thời khách,
Hoàng họa kỳ như vị hối thiên
Tổ quốc trên đồ hà xứ để
Ngô Sài tố nguyện kỷ phần khiên,
Khả hiên trù nẵng thân bằng tại
Bán dật hà hương bán ngục khuyên
(Theo Vương Đình Quang - Thơ Văn Huỳnh Thúc Kháng, Nxb Văn học, Hà Nội 1965).

Dịch thơ
Điếu ngư hải
1

. Thơ Đường có câu: "Cậu tướng cô kiếm đáo Giang Thành" (gần đây đem cây gươm lẻ loi đến bến Giang Thành), ý

nói ông tướng đi đánh giặc. Đây nói Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh đã sang Nhật (1906).
2

. Ngày trước Thục sai Ngữ Đinh dọa đường đưa trâu sắt về, ý nói viên binh về giải phóng đất nước.

1

2

. Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, sđd.

. Bạch y: Áo trắng: (người không làm quan). Đây ý nói khó có những người còn chưa lộ mặt mà biết lo đời.


Không những người thương, tớ cũng thương,
Non sông nghểnh lại khéo mơ màng
Đổi đâu gánh vác phường dân trắng,
Trời chẳng ăn năn họa giống vàng
Nước tổ vận sau chưa định chỗ
Bọn ta lời hẹn cứ sai đường
Đau lòng thân hữu còn trơ đó,
Nửa mắc tù lao, nửa bỏ làng.
Các chí sĩ tham gia vụ chống thuế năm 1908 bị đày ra đảo đến năm 1911 là 3 năm. Trong dịp kỷ niệm ngày
tới đảo, các chí sĩ tổ chức xướng họa, Huỳnh Thúc Kháng có hai ba thơ, bài này là một.
Côn đảo tam niên kỷ niệm thi
Thệ tương chính thủ hoạch càn khôn
Hoán khởi xuy xuy trấp triệu hồn
Trượng kiếm tây phù truy lạc nhật
Thừa sà đông khứ nhã triệu đôn
Mãn xoang hoài bão do trù nẵng
Nhất ngọa sa đà kỷ hiểu hôn
Tất cánh khả vô tù kỷ niệm,
Tích niên kim nhật đáo Côn Lôn
(Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900-1930)
Dịch thơ
Thơ kỷ niệm ba năm đến Đảo Côn Lôn
Một tay thề quyết vạch trời con,
Gọi dậy bà con tỉnh mộng hồn
Gươm tếch núi chiều xua bóng xế
Thuyền phăng biển sớm rước vầng tròn
Nước non hẹn vẫn lòng ôm chặt
Năm tháng ngồi ghê tuổi chất đồn?
Trong ngục há đâu quân kỷ niệm
Ngày này năm ngoái đến Côn Lôn
Huỳnh Thúc Kháng bị giam ở Côn Đảo từ năm 1908. Tháng 2 năm 1921 cụ được tha. Cùng ra tù lần này với
có Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế và Trần Kỳ Phong. Ông làm bài thơ:
Quy Lộ
Cùng đảo tam thiên lý,
Kỵ tù thập nhị xuân
Đồng khứ nhị thập thất,


Đồng quy duy tứ nhân
Đỗ vu thanh Trung Quốc
Sa trùng kiếp hậu thân
Tu mi do tạc nhật
Hà dĩ báo Ngô dâu?
Dịch thơ:
Trên đường về
Mười hai năm tù ngục
Ba ngàn dặm bể khơi
Cùng đi hai mươi bảy
Cùng về chỉ bốn người
Tiếng quốc hồn đương bận
Mình sâu cát chửa vùi
Nợ bầy sao trả đặng?
Mày râu khỏi hổ người.
Khâm sứ Trung Kỳ Pasquier mời cụ giữ một chức quan ở viện Bác Cổ Huế. Cụ nói: " Tôi chỉ có một cái tội
là đậu tiến sĩ mà không đi làm quan, cho nên mới bị tù. Trước đã thế, huống chi bây giờ, xin ngài miễn nói đến
việc ấy"1.
Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục các hoạt động yêu nước. Cuối năm 1925 thực dân Pháp thành lập "Viện Nhân
dân đại biểu". Cụ Huỳnh Thúc Kháng và một số đồng chí của mình ra ứng cử. Cuộc bầu cử đưa đến kết quả là
cụ Huỳnh Thúc Kháng, Lê Văn Huân (Giải Huân), Hoàng Đức Trạch trúng cử. Cụ Huỳnh Thúc Kháng được
bầu là Viện trưởng. Trong 3 năm hoạt động với tư cách là Viện trưởng cùng nhóm dân biểu tiến bộ, đã ra sức
đấu tranh đòi ban hành Hiến pháp, ban bố những quyền tự do dân chủ, chống lại một số chính sách kinh tế - xã
hội của thực dân Pháp và Nam triều như đòi giảm thuế đinh, thuế điền, mở thêm trường học, công trình thủy lợi
bỏ độc quyền rượu, muối…
Tháng 12 năm 1926, cụ vận động thành lập một công ty tập hợp những người yêu nước tìm vốn kinh doanh
để tài trợ cho những hoạt động chính trị. Tháng 4 năm 1927, công ty Huỳnh Thúc Kháng được thành lập ở Đà
Nẵng với sự tham gia của nhiều nhân vật như Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Xương Thái… chuyên ngành in và
báo chí1.
Huỳnh Thúc Kháng lấy tư cách là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, đã xin phép xuất bản tờ Tiếng Dân
mà ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút. Ngày 10 tháng 8 năm 1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên. Tờ báo được
coi như cơ quan ngôn luận của Viện Dân biểu Trung Kỳ, nhưng trên thực tế, cụ Huỳnh đã sử dụng tờ báo này
làm diễn đàn đòi một số quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ những cải cách có tính chất tư sản và hợp pháp.
Cụ Huỳnh giải thích: "Đó là sự vui mừng, sự buồn tủi và sự chờ đợi ấp ủ trong lòng hàng triệu đồng bào. Dân là
đầu mối của nước. Tiếng Dân đi sát vào những vấn đề trong nước. Nếu Chính phủ biết rõ những nguyên nhân
vọng sâu sa của dân thì cần gì đối xử bất công với Tiếng Dân như đã từng đối xử với vài tờ báo đã ra mắt gần
đây và đã bị đóng cửa. Tờ báo này thật xứng đáng để mang tên là Tiếng Dân, vì trong thực tế phải nhờ đến báo
chí thì tiếng của Dân mới bộc lộ ra được".
1

. Vương Đình Quang, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, sđd.

1

. Dương Kinh Quốc, Việt Nam những sự kiện lịch sử, tập I, Nxb Khoa học xã hội, sđd.


Tại Viện Dân biểu, mặc dù những đề nghị cải cách vẫn nằm trong khuôn khổ những yêu sách cải lương,
nhưng nó đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của Nam triều và chính quyền thực dân, mà tiêu biểu là Khâm sứ
Trung Kỳ Giabui (Jabouille). Sau những lần xô xát với Phạm Quỳnh và Bùi Quang Châu tại kỳ hop thường niên
ngày 2 tháng 10 năm 1928, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng chỉ trích kịch liệt đường lối phản dân chủ của
bọn thực dân và cụ tuyên bố từ chức. Việc cụ từ chức đã dẫn theo sự ly khai của hàng loạt các dân biểu tiến bộ.
Bộ mặt của nền dân chủ giả hiệu của thực dân phơi trần trước dư luận.
"Việc xảy ra ở Viện Nhân dân đại biểu Trung Kỳ đã làm náo động dư luận Tây, Nam trong khắp cõi Đông
Dương"1.
Sau sự việc xảy ra, chính cụ Huỳnh Thúc Kháng như người vừa bừng tỉnh giấc mơ:
Cơ quan hợp tác chừng ra thế!
Chính thể văn minh thực ở đâu?
Biết chính tấm lòng dân ước mỏi
Đã qua năm trước ngắm năm sau2
16 năm tồn tại của báo Tiếng Dân luôn bênh vực dân, không theo gậy chỉ huy của toàn quyền, khâm sứ,
liêm phóng. Không viết bài cho phong trào "Cuộc rước đuốc thể thao"; không hưởng ứng phong trào Tán
dương Truyện Kiều của tên Chánh mật thám Sucny. Cả triều đình Huế cũng chống đối báo Tiếng Dân mà tiêu
biểu là khâm sứ Trung Kỳ. Sau những mâu thuẫn gay gắt với chế độ kiểm duyệt thực dân, cũng như thái độ gay
gắt của Huỳnh Thúc Kháng không chịu dùng tờ báo của mình phục vụ những mưu đồ của nhà cầm quyền. Tờ
Tiếng Dân bị đình bản bởi nghị định của Toàn quyền Đông Dương Đờ-cu (Decoux) ngày 21 tháng 4 năm 1943.
Song báo Tiếng Dân có hạn chế là đi theo đường lối cải lương không có lợi cho phong trào đấu tranh của
nhân dân lao động do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Cụ còn hiểu sai về sự bóc lột của thực dân Pháp.
Vì vậy trong Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930 đã chỉ rõ sự tai hại của
khuynh hướng tư tưởng này như sau:
"Mục đích của bọn này (bọn cải lương) là cốt làm cho quần chúng sinh mộng tưởng mà quên con đường
cách mạng. Nếu từ đây mà Đảng không tránh dân kịch liệt để kéo quần chúng ra khỏi ảnh hưởng quốc gia cải
lương thì ảnh hưởng ấy sẽ thành một sự nguy hiểm cho sự nghiệp phát triển của cách mạng"1.
Từ mùa thu năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Dân ta đã bị đế quốc Pháp áp bức cho nghèo
khổ, nay lại thêm một tầng áp bức nữa, khiến dân ta nghèo khổ hơn. Nhật mua chuộc cụ, nhưng cụ bất hợp tác
và cự tuyệt. Chúng thăm dò:
- Từ khi Pháp sang cai trị xứ này, người Việt Nam luôn luôn nổi dậy chống lại. Chúng tôi đã thấy các vùng
chống Pháp trong thời kỳ Pháp còn đang mạnh. Thế thì tại sao bây giờ Pháp đã thất thế, mà các ông không nhân
cơ hội này mà giải phóng?
Cụ Huỳnh trả lời:
- Xưa Pháp tuy mạnh, nhưng chỉ có một mình Pháp. Bây giờ Pháp yếu, nhưng lại có Đại Nhật Bản giúp sức
phòng thủ chung.

1

. Đông Pháp thời báo ngày 18-10-1928.

2

. Báo Tiếng Dân ngày 18-8-1928.

1

. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tập 2, tr. 98.


Nhật lợi dụng Cường Để viết thư về nước để khuyên cụ Huỳnh ra công tác với Hoàng quân để chấn hưng
Đại Đông á của người châu á. Cụ Huỳnh viết một bức thư dài trả lời Cường Để, nhờ viên phó lãnh sự Nhật
chuyển hộ…
Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Việt Nam Phục Quốc của Cường Để không tham gia, mà giao cho
Bảo Đại. Ngự tiền Chánh Văn phòng Bảo Đại mời cụ Huỳnh ra lập nội các, cụ cũng phản đối.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, cụ Huỳnh đã gần 70 tuổi. Sau ngày Quốc khánh mùng 2 tháng
9, cụ nói: "Sướng ơi là sướng! Thoát thân nô lệ mà làm chủ nhân sông. Vui thật là vui! Đổi quyền vua mà làm
dân quốc mới"!. Cụ khẳng định:
"Nói về mặt trận Quốc gia giải phóng thì độc lập ngày mùng 2 tháng 9 rõ ràng là toàn dân Việt Nam chúng
ta tranh đấu mà được"1.
Hồ Chí Minh mời cụ tham gia Chính phủ. Trước khi rời Quảng Nam cụ nói: "Tôi chỉ muốn gặp Cụ Hồ để
bày tỏ một vài ý kiến, còn việc gì khác thì tôi không thể nhận".
Nhưng qua những buổi tiếp xúc, cụ Hồ đã thuyết phục cụ Huỳnh Thúc Kháng nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội
vụ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Cụ còn giữ chức Hội trưởng Hội
Liên hiệp quốc dân. Cụ Huỳnh viết mấy lời tâm sự:
Thất thập tự tiếu
Huỳnh Thúc Kháng tiếu kha kha
Tứ phương tam kỳ chi gia
Quốc giả, hương giả, tộc giả? Hữu da? Vô da?
Đắc nhất tri kỷ
Kỳ nhi dã lão hà
Tự dịch:
Bảy mươi tuổi tự cười
Nghĩ ta, ta cũng nực cười,
Nhà nhà ba cõi, người người bốn phương
Hỏi đến nước, đến làng, đến họ,
Có hay không? không có? có không?
Bảy tuần đầu bạc như bông
Được người tri kỷ thôi xong đã già
Tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp
(cùng đi với đoàn đàm phán của Chính phủ do ông Phạm Văn Đồng dẫn đầu). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tín
nhiệm giao cho cụ Huỳnh làm quyền Chủ tịch nước, cũng là quyền Thủ tướng Chính phủ.
Sáng sớm ngày 5 tháng 3 năm 1946, đồng bào các giới đem cờ, ảnh ra sân bay Gia Lâm tiễn Chủ tịch Hồ
Chí Minh và đoàn đại biểu Chính phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nắm tay cụ Huỳnh Thúc Kháng nói: - Tôi vì
nhiệm vụ quốc gia giao phó, phải đi xa ít lâu. ở nhà trăm sự nhờ cụ và anh em giải quyết cho. Mong cụ " Dĩ bất
biến ứng vạn biến" (Lấy cái không thay đổi để đối phó với muôn sự thay đổi).

1

. Vương Đình Quang, Thơ Văn Huỳnh Thúc Kháng, Sđd.


Cụ Huỳnh rất cảm động trước sự tin cậy của vị lãnh tụ. Cụ đã giữ chức quyền Chủ tịch nước (và cũng là
quyền Thủ tướng) trong hơn 5 tháng, giữa lúc đất nước vẫn bị nạn đói đe dọa và có nguy cơ mất vào tay giặc
Pháp và bọn Việt Quốc, Việt Cách, tay sai của Tưởng Giới Thạch.
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, cụ đi thanh tra ở tỉnh Quảng Ngãi với tư cách là đại
diện Chính phủ. Cụ đột ngột mắc bệnh rồi qua đời tại nhà một người dân dùng làm trụ sở ủy ban Kháng chiến hành
chính Nam Trung Bộ (chợ Chùa) ngày 21 tháng 4 năm 1947.
Tang lễ cụ Huỳnh Thúc Kháng tổ chức tại Phú Vinh (chợ Chùa, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi).
Trong buổi lễ truy điệu, ông Phạm Văn Đồng đại diện Chính phủ ở Khu 5 mở đầu bài Điếu văn bằng câu: "Cụ
Huỳnh Thúc Kháng là một người lớn".
Thi hài cụ được an táng trên núi Thiên ấn huyện Sơn Tịnh là "Đệ nhất thắng cảnh" ở Quảng Ngãi.
Từ Chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết lời "Kêu gọi quân dân cả nước" có đoạn: "Cụ Huỳnh
là người giàu sang không làm xiêu lòng, không thèm làm quan, cả đời cụ chỉ phấn đấu cho dân tộc tự do, nước
được độc lập".
Huỳnh Thúc Kháng ngoài sự nghiệp chính trị, báo chí, có lẽ những chí sĩ đầu thế kỷ, sau Phan Bội Châu cụ
là người đóng góp nhiều nhất cho văn học cách mạng. Thơ văn của cụ gồm "Thi tù tùng thoại", "Thi tù thảo"
(Hai quyển này chủ yếu là thơ văn của cụ và các nhà cách mạng ở Côn Đảo). Nhờ có cụ ghi chép, tập hợp dịch
thuật, bình luận, in thành sách, mà đến nay chúng ta mới tiếp cận được những tác phẩm vô giá, phải đổi bằng
xương máu của chính những người yêu nước thời ấy. Những tác phẩm như "Trung Kỳ Sưu, cự ký" (Viết bằng
Hán văn), sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 chép lại và dịch ra tiếng Việt làm một chương trong tập " Một ít
dật sử trên đoạn lịch sử Việt Nam trong cách mạng và trong thời kỳ thuộc Pháp" (1885-1945), Trương Trung
Ưng (viết chung với Phan Thúc Duyên), Tây Hồ tiểu sử (viết sau khi Phan Bội Châu mất), "Niên phổ" (tự chép
tiểu sử mình), phần thơ, văn đăng trên báo Tiếng Dân. Ngoài ra còn một số bài văn viết sau Cách mạng tháng
Tám như "Thư kêu gọi đồng bào phụ lão kháng chiến"… Hiện nay thơ văn của cụ một số cũng bị thất truyền 1
Thực hiện huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chính phủ đã mở một lớp đào tạo cán bộ báo chí đầu tiên
mang tên cụ Huỳnh Thúc Kháng - người từng là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Tiếng Dân xuất bản ở Huế từ năm
1927 đến năm 1943. Ông Hoàng Quốc Việt nói rõ trong Lễ khai giảng: "Là để nhớ ơn và noi gương vị lão
thành ái quốc và đồng thời cũng là một nhà viết báo lâu năm, có danh tiếng, nêu một tấm gương cho các học
viên một đức tính học hỏi cần mẫn, một óc tổ chức tiến bộ, một chí khảng khái, bất khuất … là những đức tính
căn bản cho một ký giả".
Nhiều đường phố, trường học trong nước mang tên Huỳnh Thúc Kháng.

1

. Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 - 1930), Nxb Văn học, Hà Nội, 1974.


Lương Chấn - Trương Hoành Hứa Tạo

T

háng 7 năm 1885 cuộc khởi nghĩa ở kinh thành Huế do Tôn Thất Thuyết, Trần Xuân Soạn
lãnh đạo thất bại. Tôn Thất Thuyết rước vua Hàm Nghi ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị) xuống chiếu Cần
Vương. Nhân dân Trung Kỳ, Bắc Kỳ hưởng ứng phong trào, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, gây tổn thất nặng
nề cho giặc Pháp và triều đình Đồng Khánh. Tháng 12 năm 1895, Phan Đình Phùng chỉ huy nghĩa quân
Hương Sơn, thủ lĩnh cuối cùng của phong trào Cần Vương hy sinh, thì coi như kết thúc giai đoạn Cần
Vương.
Sau khi đè bẹp các cuộc khởi nghĩa (trừ khởi nghĩa Yên Thế), ổn định bộ máy cai trị ở Trung Kỳ và Bắc
Kỳ, thực dân Pháp thực hiện chương trình khai hóa thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914), chúng đã thực hiện
chính sách thuế rất nặng và hà khắc đối với nhân dân Việt Nam, trong đó các tỉnh Trung Kỳ bị đánh thuế
nặng nề nhất.
Đầu năm 1908, chính quyền thực dân ra Nghị định tăng 5% thuế điền. Tháng 4 năm 1908, lấy cớ phải đài
thọ lễ "Tứ tuần đại khánh" của vua Khải Định, chính quyền thực dân tăng thêm 30% các mức thuế, đồng
thời còn gia tăng thuế hàng năm bất kể ruộng tốt hay xấu, đinh nhiều hay ít. "Mặc dù đã có những lời hứa là
thuế sẽ được giữ nguyên ở mức đã quy định, nhưng đến năm sau thì thuế lại tăng và những năm kế tiếp lại
tăng thêm đều đều" 1.
Chỉ riêng hai thứ thuế đinh và thuế điền trung bình mỗi năm người nông dân phải nộp 10 quan tiền,
tương đương với 100 kilôgam gạo 2.
Thực dân Pháp đánh thuế đã nặng, bọn tham quan ô lại làm việc trong bộ máy chính quyền Bảo hộ của
Pháp và Nam triều muốn nhanh chóng thăng quan, tiến chức để làm vui lòng quan thầy nên chúng không từ
một thủ đoạn áp bức nào để thu thuế, bòn rút xương tủy của nhân dân.
Tức nước vỡ bờ, bị áp bức, đè nén quá nặng nề, tàn bạo, người dân đã phải vùng lên đấu tranh bằng
nhiều hình thức. Thoạt đầu làm đơn đề nghị với quan huyện, quan phủ, quan tỉnh đề kêu xin theo đúng như
chủ trương của phái Minh Xã (phái ôn hòa) trong Duy Tân hội do Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh
Thúc Kháng chủ trương.
Sự việc trên trước chỉ đơn lẻ trong từng làng, xã. Đến thượng tuần tháng 2 năm Mậu Thân (1908), ở
huyện Đại Lộc mấy hào lý cùng các ấm sinh là Lương Chấn, Lương Hoành, Hứa Tạo quê ở các làng Phiến
ái, Hà Lân, La Đái cùng ngồi ăn cỗ giỗ ở một gia đình. Trong bữa cỗ mọi người kể chuyện làng, chuyện xóm
rồi kêu ca về thuế khóa nặng nề. Các ấm sinh kể chuyện ở làng Trường An, phủ Tam Kỳ có hai ông tú tài là

1

. E Jolly, Những sự việc ở Trung Kỳ, báo Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) số 3934, tháng 4 năm 1908.

2

. Đinh Xuân Lâm, Đỗ Quang Hưng, Phong trào chống thuế năm 1908 ở Nghệ An. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 2-

1980, tr. 30.


Dương Thưởng, Dương Thạc đã làm đơn kiện quan phủ về tội ăn hối lộ. Vụ kiện thắng lợi, nhưng sau đó
nhà cầm quyền tìm cớ khác bắt các ông đi đày ở Côn Đảo 1.
Mặc dù biết việc này là nguy hiểm sẽ bị bắt đưa đi đày như anh em ông Dương Thưởng, Dương Thạc
song các ấm sinh vẫn hăng hái đề xuất việc làm đơn, lấy chữ ký cả các làng xã trong huyện tới tường trình
với tri huyện chuyển đạt lên dinh Tuần phủ và Tòa sứ giảm nhẹ sưu thuế quá nặng, dân không chịu nổi.
Ai nấy đồng tình kể cả mấy ông lý dịch. Lập tức ba ấm sinh thảo đơn, mọi người cùng ký vào. Sau đó
chia nhau tới các làng lấy chữ ký. Nhiều tổng lý cùng nhân dân đồng ký. Vì mỗi kỳ thu thuế, tổng lý cũng
phải đóng thuế, lại bị quan huyện cho lính về thúc ép buộc các ông đốc thúc dân làng nộp thuế. Không làm
căng thì quan trên phạt, mà làm căng thì dân chúng oán giận. Song các ấm sinh lấy được chừng hơn 30 chữ
ký thì lý trưởng làng La Đái lén đi báo quan huyện.
Việc đã đến thế, không thể dừng lại được, các ấm sinh cùng lý dịch mấy làng dẫn đầu một toán dân
chúng lên huyện nhờ quan huyện thay mặt dân xin với quan tỉnh giảm bớt thuế cho dân.
Đoàn người tới huyện thì thơ lại cho biết quan huyện đã xuống tỉnh bẩm báo về việc dân khởi loạn. Đám
đông bàn định, kẻ bảo về, người bảo ở lại chờ quan huyện. Cuối cùng các ấm sinh Lương Chấn, Trương
Hoành, Hứa Tạo đứng ra nói: "Quan đã đem việc bẩm tỉnh rồi, dù có tan về cũng không tránh khỏi tội tụ tập
đông người liên danh kí chỉ, chắc sẽ bị tra tấn lôi thôi, mang lấy cực lụy vô danh. Vậy ta cứ theo quan vác
đơn xuống tỉnh kêu xin, dầu không có kết quả tốt cũng còn có danh nghĩa tỏ cùng quan trên rõ thấu thực
trình xin giảm sưu thuế, chứ có điều gì trái phép" 1.
Từ Đại Lộc tới tỉnh đường dài hơn 10 cây số, đoàn xin xâu rầm rập tiến bước. Đoàn mỗi lúc một đông vì
dân dọc đường tham gia. Đoàn đến chợ Vĩnh Điện đã đông tới trên 600 người.
Đến tỉnh thì được quan tỉnh trả lời là quan huyện đã lên tòa công sứ khởi ngụy, khởi loạn rồi. Lập tức
đoàn người rậm rập kéo tới tỉnh lị Hội An - nơi có tòa công sứ Pháp đóng. Đến đây, đoàn biểu tình đã đông
đến hàng ngàn người. Công sứ sai lính ra ngăn lại, chỉ cho mươi đại biểu vào trong. Ba môn sinh là Lương
Chấn, Hứa Tạo, Trương Hoành lập tức đến ngay công sứ trình bày nguyện vọng của dân. Công sứ bảo dân
cứ về an cư, lạc nghiệp làm ăn, công sứ sẽ bẩm quan toàn quyền và triều đình Huế rồi trả lời sau. Dân không
nghe, công sứ giam các đại diện vào bốt và ngay chiều hôm đó bị đày đi nhà tù Lao Bảo 1.
Tin đoàn đại biểu Đại Lộc xin xâu ở Hội An bị đàn áp, lập tức truyền đi khắp nơi. Các hội viên tích cực
của hội Duy Tân ở các huyện kêu gọi đồng bào hưởng ứng cuộc biểu tình của đồng bào Đại Lộc. Dân Quảng
Nam vốn có truyền thống cách mạng, kể từ khi giặc Pháp sang xâm lược, nên lập tức hưởng ứng.
Tại phủ Điện Bàn, nhân dân kéo đến vây phủ bắt tri phủ Trần Văn Thống bỏ vào xe kéo lên tỉnh xin xâu.
Nhân dân phủ Thăng Bình do ông Hương Quần dẫn đầu kéo lên bao vây phủ, tri phủ Lê Bá Đằng sai lính
bắn làm mấy người bị thương. Hương Quần bị chúng bắt. Tại phủ Tam Kỳ ông Trần Thuyết người làng
Phước lãnh đạo. Quan phủ phái đề đốc Trần Tuệ về cùng tri phủ Kinh Tú đánh đập dân. Trần Tuệ vốn là tên
tàn bạo thường đánh đập dân trong "vụ án cắt tóc ngắn". Biết tin Đề đốc Trần Tuệ đi xe tới, ông Trần Thuyết
hô lớn: "Dân ta xin quan đại lý giao ông Đề cho dân ăn gan". Lập tức đám dân biểu tình dạ ran. Đề đốc Trần
Tuệ sợ quá hộc máu chết. Tại huyện Hòa Vang, ông ích Đường là con ông Tán Nhì, cháu cụ Ông ích Khiêm
dẫn dân vây bắt Lãnh Điềm nhưng tới nơi thì Lãnh Điềm nhận được tin đã sợ hãi bỏ trốn trước đó nửa giờ.
1

. Dương Thưởng và Dương Thạc là anh em ruột đều bị chết ở nhà ngục.

1

. Theo Nguyễn Quyết Thắng, Huỳnh Thúc Kháng con người và thơ văn.

1

. Theo Phan Chu Trinh viết trong "Trung Kỳ dân biển tụng oan thủy mạt ký" thì "… công sứ tỉnh Quảng Nam một mặt

lập tức đem kết án nặng lý trưởng của bốn, năm xã thuộc huyện Đại Lộc đã lần đầu tiên kiện xin xâu, đày ra Lao Bảo, tỉnh
Quảng Trị.


Phong trào xin xâu khởi đầu từ Đại Lộc đã nhanh chóng lan ra khắp các phủ huyện tỉnh Quảng Nam.
Xin xâu, cự sưu phù hợp với lòng dân nên lan nhanh về phía Nam tới Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,
Khánh Hòa, Bình Thuận. Về phía Bắc lan nhanh chóng qua Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, tới
Hà Tĩnh, Nghệ An Thanh Hóa. Thực dân Pháp và Nam triều đàn áp khốc liệt phong trào kháng thuế ở Trung
Kỳ. Nhiều nhân vật có tên tuổi trong Duy Tân hội bị xử chém như Trần Quý Cáp, Trùm Phước, Ông ích
Đường… Nhiều người bị đày ra Côn Đảo, Lao Bảo và các nhà tù khác, nhiều người bị hành hạ đến chết.
Trong công điện gửi Toàn quyền Đông Dương, ngày 31 tháng 3 năm 1908, Khâm sứ Trung Kỳ Lévecque
miêu tả: "Một đoàn năm, sáu trăm người đã vượt rào chắn tràn vào phòng công sứ, yêu cầu trả tự do cho
những người bị bắt. Họ bị đẩy lùi bằng đòn, gậy và từ đó đám biểu tình luôn đông người bị cản lại cách Hội
An khoảng một cây số" 1.
Toàn quyền Đông Dương Lăngnơxăng (Lannessan) viết trên báo: "Người Đông Dương" cũng thừa nhận
nguyên nhân dẫn đến cuộc biểu tình: "Chủ yếu là do thuế má quá nặng và những cuộc biểu tình đầu tiên đã
nổ ra ở Trung Kỳ vì ở đây người ta tăng thuế nhanh nhất, nhưng lại kém sáng suốt nhất. Thuế đã nặng lại
thêm cách thu thuế rất phiền phức" 2.
Trong tác phẩm: Cuộc kháng chiến ở Trung Kỳ năm 1908 Huỳnh Thúc Kháng đã viết: "Nhân dân các
phủ huyện trong tỉnh mang khoai mo, cơm gói, quần xách, áo măng kéo từng đoàn ra phố (Hội An), thay
nhau kẻ ở người về, cơm tiền, giúp nhau. Nhiều người bàn tán: "ở phố, toàn sứ đã đông lắm rồi, nay ở phủ
huyện nào vây phủ huyện nấy không phải kéo ra phố nữa" 3.

1

. Lê Thị Kính, Phan Chu Trinh qua tài liệu mới, Nxb Đà Nẵng, 2001, trang 156.

2

. Phan Chu Trinh, Đông Dương chính trị luận, in trong "Phan Chu Trinh - Cuộc đời và tác phẩm, Nxb Thành phố Hồ Chí

Minh, 1987, tr. 251.
3

. Hội nhà văn, Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng, Nxb Văn học, Hà Nội, 1994, tr. 78.


Lê Bá Trinh

L

ê Bá Trinh tự Lê Bính, hiệu Hàn Hải, sinh năm ất Sửu (1865). Ông thuộc dòng họ Lê gốc Thọ
Xuân, cháu Quan chưởng đạo hiệu Trung Quân. Quê ông ở xã Hải Châu Thượng, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng
Nam nay thuộc quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng, nhưng theo gia phả Lê Công tộc Hải Châu viết thì ông sinh
năm Mậu Dần (1878), ông thi đậu cử nhân khoa thi Hương, niên hiệu Thành Thái thứ 12 (1900) xếp hạng 4 trên
22 thí sinh khi ông mới 22 tuổi. Thi Hội ông chỉ đủ phân số để bổ nhiệm, không đỗ tiến sĩ.
Lê Bá Trinh sớm có lòng yêu nước từ khi tuổi còn trẻ, không chịu ra làm quan cho chính quyền thực dân
Pháp và Nam triều. Ông làm một cái nhà nhỏ ở chân núi Hành Sơn ngày ngày cày ruộng, tát nước làm kế sinh
nhai. Trần Quý Cáp là bạn thân với Lê Bá Trinh, đến nhà ông ở chân núi Hành Sơn chơi, mong muốn ông ra
hoạt động cách mạng, liền tặng bạn đôi câu đối:
"Hoàn hải sơ khai thiên cổ nhan
Cố nhân do ngọn Ngũ Hành sơn"
Dịch:
"Trời mới đã ra mối thế giới
Bạn xưa còn núp dưới Hành Sơn"
Lê Bá Trinh tỉnh ngộ, bèn ra dạy học ở nhà ông Thượng Liên ở Đà Nẵng. Từ đây về sau, các nhà ái quốc
trong Nam ra, ngoài Bắc vào đều lấy chỗ nhà ông Châu Thành và nhà ông Lê Bá Trinh làm căn cứ.
Từ đó ông giao kết với các nhà yêu nước có xu hướng canh tân như Thái Phiên, Phan Chu Trinh, Huỳnh
Thúc Kháng, Trần Quý Cáp. Ông cùng em trai là Lê Thúc Kỳ, dời nhà về làng Quảng Cái (Khái Đông) mở
trường dạy học theo chủ trương tân canh, thực dụng. Khi vua Thành Thái tuần du ở Ngũ Hành Sơn, ông dâng sớ
lên nhà vua tố cáo số quan lại thông đồng với thực dân Pháp ức hiếp, bóc lột dân. Thành Thái là ông vua yêu
nước, nên hai tháng sau sớ tố cáo của ông, nhà vua bổ ông làm tri phủ Điện Bàn, Lê Bá Trinh cố từ. Từ năm
1904, 1905 phong trào Duy Tân phát triển mạnh ở Quảng Nam. Khi Phan Bội Châu đi Nhật trở về đã phát động
phong trào Đông Du. Ông là người nhiệt thành tán trợ, tự mình đi vận động thanh, thiếu niên đi du học ở Nhật,
quyên góp tiền bạc cho phong trào.
Lê Bá Trinh cổ xúy cho phong trào Duy Tân với nội dung bài xích khoa cử, kêu gọi mở trường Tân học dạy
theo lối mới. Thoạt đầu ông mở trường ở làng Quán Khái dưới chân núi Ngũ Hành. Ông còn giúp các nhà nho
thức thời như tú tài Lê Quang Vĩ mở trường Vân Dương, ông Lâm Hữu Mẫn mở trường Cẩm Toại và nhiều nhà
nho khác mở các trường ở Lỗ Gián, Khương Mỹ, An Tân, Túy Loan, Bồ Bản 1. Các trường này dạy chữ Hán
song song với chữ quốc ngữ và những môn học khác như toán, sử ký, địa dư, các môn cách trí. Tài liệu giảng
dạy lấy từ các sách Bác vật chí giải thích về các môn khoa học thông thường như gió, mây, mưa, sấm chớp.
Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn viết về địa lý, nhân vật, văn thơ, đặc sản của các
tỉnh. Sách Đinh Hoàn chí lược của Trung Quốc viết về địa lý các nước trên thế giới. Học sinh còn học vẽ, nhạc,
1

. Dẫn theo Lê Thị Kinh, Phan Chu Trinh qua những tài liệu mới, Nxb Đà Nẵng Lịch sử Đảng bộ Hòa Vang (1928-

1954), Nxb Đà Nẵng, 1985.


tập thể dục. Nhiều trường còn mở các buổi bình văn thơ, diễn thuyết về sự nghiệp các anh hùng dân tộc, kêu gọi
mọi người cắt tóc ngắn, mặc quần áo ngắn, ăn ở hợp vệ sinh; kêu gọi mọi người hùm vốn mở trại mở xưởng thủ
công, lập hiệu buôn bán hàng nội hóa. Các trường còn dạy học sinh thực hành như đan rổ rá đóng cối xay lúa,
làm xe đạp nước. Các trường này cho học sinh nghỉ vào vụ thu hoạch lúa, để học sinh về giúp gia đình.
Lê Bá Trinh còn cùng Trần Quý Cáp, Phan Thúc Duyện, Nguyễn Đình Tán, Lâm Hữu Mẫn tổ chức khai
hoang ở vùng Đồng Xanh, Đồng Nghệ, Lâm Viên rộng trên 10 héc-ta, nông hội Yến Nê rộng hơn 20 mẫu, nay
thuộc xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang.
Lê Bá Trinh còn tổ chức các Thương hội để cổ động hàng nội hóa. Nay ta chỉ còn biết tú tài Đỗ Tự vì tham
gia Hội thương và diễn thuyết mà bị tước phẩm hàm, danh sắc 1, phải chịu sưu thuế.
Phong trào Duy Tân tự cường ở Hòa Vang còn đưa nội dung cải cách hương thôn vào các hương ước của
làng. Trong đó hương ước của làng Lỗ Gián có các khoản:
- Lập quỹ hỗ trợ tuần sương bảo vệ trị an và mùa màng.
- Lập quỹ công cho vay lãi nhẹ, hỗ trợ các gia đình gặp khó khăn.
- Nghiêm cấm trộm cắp, cờ bạc, rượu chè, thuốc phiện, mê tín, dị đoan.
- Trong làng có đám tang thì giúp đỡ mai táng, không lấy công, không ăn uống.
- Không trồng cây trên đất mồ mả, không cuốc đất giáp mồ mả để trồng cây.
- Không đánh cãi nhau, không thả trâu bò rông, không đơm bắt cá ở bờ ruộng.
- Các khu dân cư trồng cây cao không quá 3 mét, cây ngả sang nhà bên cạnh phải chặt bỏ.
- Không tảo hôn, thách cưới, ăn uống linh đình.
- Mở rộng đường làng.
- Tái thiết đình làng và nhà thờ tiên hiền1.
Các nhà lãnh đạo Duy Tân ở Quảng Nam, không chỉ thực hiện chủ trương của Duy Tân tự cường mà còn
tích cực tham gia Duy Tân theo phái bạo động - Đông Du. Lê Bá Trinh là người dẫn đầu việc quyên tiền ủng hộ
phong trào Đông Du. Nhà ông và nhà ông Châu Thành là nơi dừng chân của các nhà lãnh đạo phong trào Duy
Tân ở trong Nam, ngoài Bắc, là nơi cư trú của học sinh trước khi Đông Du. Nông hội Yên Nê còn đề ra mục
tiêu: "Lấy hoa lợi tiếp tế cho anh em du học".
Lê Bá Trinh không chỉ hoạt động ở tỉnh Quảng Nam mà còn có mối quan hệ mật thiết với sĩ phu trong Nam,
ngoài Bắc khi Trần Chánh Chiếu đứng ra hô hào thực hiện Duy Tân ở Nam Kỳ, Lê Bá Trinh đã có thư từ trao
đổi chủ tướng, kinh nghiệm với nhà thực hành cải cách này 1.
Những hoạt động của Lê Bá Trinh và các đồng chí của ông đã góp phần quan trọng vào ý thức tự tôn dân
tộc, ý thức dân chủ, dân quyền trong nhân dân Quảng Nam dẫn đến sự kiện vụ chống sưu cao, thuế nặng nổ ra ở
Quảng Nam tháng 3 năm 1908, lan nhanh ra toàn xứ Trung Kỳ và dẫn đến cuộc âm mưu khởi nghĩa ở kinh
thành Huế năm 1916 có rất nhiều nhân vật Quảng Nam tham gia.
Hoạt động của Lê Bá Trinh và các đồng chí ở Quảng Nam làm cho nhà cầm quyền Pháp ở Quảng Nam rất
lo lắng. Trong mật báo lên khâm sứ Trung Kỳ và Toàn quyền Đông Dương số 167 ngày 7 tháng 11 năm 1907,
công sứ Quảng Nam Sác-lơ nhận định nội dung những vận động của các nhà cải cách: "Chính là một cuộc chiến
1

. Danh sắc: người có học vị.

1

. Theo Hồ Tấn Tuấn, Làng Lỗ Gián, Tạp chí Văn nghệ dân gian đất Quảng số 1 - 2001.

1

. Phạm Long Điền, Vai trò của Nông cổ mìn đàm trong phong trào Duy Tân miền Nam . Giai phẩm Bách khoa, số 24-3-

1975; Dẫn theo Lê Thị Kinh: Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới. Q1, Tập 1, Nxb Đà Nẵng, 2001, tr. 228.


đấu chống lại ảnh hưởng và quyền lực của nước Pháp mà họ phát động, và khi họ tấn công vào quan lại thì họ
không chỉ nhằm vào những kẻ tham nhũng (mà ở nước nào, bộ máy cai trị nào cũng có), mà họ nhằm vào
những kẻ phục vụ nước Pháp là chính. Và khi tấn công những người này thì chính họ nhằm vào chúng ta" 1.
Đối với chủ trương hội Thương của Lê Bá Trinh và Phan Thúc Duyện, Nguyễn Đình Tán thì Sác-lơ báo cáo
rằng: "Tuy nhiên tôi phải báo cáo hành động của một nhóm nhà nho đã lợi dụng danh nghĩa để theo đuổi một
mục đích tôi chưa xác định rõ ràng, nhưng thấy đến lúc nào đó sẽ tạo ra cho chúng ta những khó khăn lớn nếu
chúng ta không chú ý đề phòng".
Từ cuối năm 1907 đến đầu năm 1908, Lê Bá Trinh đã cùng với Ông ích Đường đi vận động nhân dân các
làng xã ở huyện Hòa Vang liên danh ký chỉ1 phản đối chế độ sưu thuế hà khắc.
Khi phong trào chống thuế nổ ra ở Đại Lộc thì Lê Bá Trinh cùng với Ông ích Đường và nhiều yếu nhân
khác trực tiếp đến các đoàn biểu tình gánh vác vai trò lãnh đạo.
Khi phong trào chống thuế ở Quảng Nam bị đàn áp, Lê Bá Trinh cùng với nhiều người bị bắt giam. Lê Bá
Trinh bị kết tội: "người trong danh sách (có học vị) mà rủ ký hiệp thương, khuyến khích cải trang, tụ hội diễn
thuyết đồng thời cùng ký giấy tờ và "đi các xã thôn dụ dỗ các đoàn, lấy chữ ký, mà diễn thuyết tại các trường
học trong hạt phần nhiều là lời cuồng nghịch, bị xử 100 trượng (đánh 100 trượng) bị đày đi Côn Đảo, riêng ông
bị kết án 9 năm khổ sai. Tại nhà tù tàn bạo của thực dân Pháp, Lê Bá Trinh vẫn kiên cường liên tiếp đứng ra tổ
chức nhiều cuộc đấu tranh với bọn chúa đảo, đòi không được đánh đập tù nhân, không cho ăn gạo mục, cá thối,
mà phải cho ăn no, có rau, cá tươi.
Lê Bá Trinh bị tù ở Côn Đảo 7 năm, năm 1915 ông được trả tự do. Vừa về đến nhà, ông lại cùng hai người
em là Lê Trọng Đoàn và Lê Thúc Ky gia nhập tổ chức Việt Nam Quang Phục hội ở các tỉnh Nam Trung Kỳ do
Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo. Tại Đại hội thành lập Việt Nam Quang Phục hội ở Trung Kỳ, ông được
cử phụ trách ban Kinh tài thay cho Thái Phiên được bầu giữ chức chủ tịch.
Ông là một trong những người đã cùng Thái Phiên, Trần Cao Vân… tích cực chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa
ở kinh thành Huế có vua Duy Tân tham gia. Ngày 3 tháng 5 năm 1916, cuộc khởi nghĩa nổ ra bị thất bại, có 200
yếu nhân bị thực dân Pháp bắt. Các ông Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Để bị thực dân Pháp xử chém, vua
Duy Tân bị đày đi đảo Rêuyniông. Lê Bá Trinh cùng hai em là Lê Trọng Đoàn, Lê Thúc Kỳ bị đày đi Lao Bảo.
Trong nhà tù khắc nghiệt của đế quốc Pháp ông vẫn kiên cường dẫn đầu các cuộc đấu tranh với bọn chúa ngục.
Ông tích cực tham gia vụ cướp ngục năm 1918 do Hồ Bá Kiện và Liêu Thanh lãnh đạo. Thực dân Pháp đàn áp,
em ông là Lê Trọng Đoàn cùng nhiều chiến sĩ hy sinh trong vụ thảm sát. Ông bị chúng bắt lại ở rừng Lào bị
xích hai chân trong nhiều năm nên thành tật.
Sau khi mãn hạn trở về, ông mất tại Hòa Hải, Đà Nẵng vào ngày 29 tháng 6 năm Giáp Tuất (1934) hưởng
thọ 56 tuổi. Nay ở thành phố Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh đều có đường phố mang tên ông. Sách
Hương khoa lục viết ông bị cai ngục Lao Bảo thảm sát năm 1918 cùng với Lê Cơ, Lê Triêu, Dương Thưởng,
nhưng theo gia phả Lê Công tộc Hải Châu thì người bị sát hại ở Lao Bảo là Lê Trọng Đoàn tức Lê Kiên, em trai
ông (ở tù cùng với ông ở Lao Bảo khi ấy có hai người em trai là Lê Trọng Đoàn và Lê Thúc Kỳ).

1

1

. Dẫn theo Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Nxb Đà Nẵng, 2001, tập 1.

. Ký chỉ: tức là ký giấy. Đây là từ hay dùng đầu thế kỷ XX. Liên danh ký chỉ: tức là nhiều người ký.


dương thạc

D

ương Thạc hiệu Trường Đình, nên có tên là Dương Trường Đình hay Dương Đình Thạc, người
làng Chiên Đàn, huyện Tam Kỳ, phủ Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam1. Ông cùng anh (sinh đôi) là Dương Thưởng đều thông minh, cùng đỗ tú tài một khóa.
Theo sách "Huỳnh Thúc Kháng - con người và thơ văn" thì Dương Thạc sinh năm 1881, mất năm 1908. Ông
cùng anh đã khởi kiện Tri phủ Tam Kỳ, Tổng đốc Quảng Nam và Chánh phó thủ khảo khoa thi năm 1908 là Từ
Thiệp và Tạ Tương lấy đậu, hỏng là do tiên chứ không phải do học.
Tam Kỳ là một phủ xa tỉnh lỵ, quan phủ tác oai, tác quái ở bảy tổng từ lâu. Tam Kỳ tiếp giáp với vùng đồng
bào Thượng, từ thời Minh Mệnh đã liên tục nổi dậy chống triều đình. Tam Kỳ lại có đường bộ dẫn đến mỏ vàng
Bồng Miêu. Tam Kỳ giữ vị trí quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quân sự nên nhà cầm quyền Pháp và Nam
triều đã đóng hai đồn Trà Mi và đồn Phương Xá giáp ranh với vùng đồng bào Thượng do quan một người Pháp
chỉ huy. Gần dinh phủ lỵ còn có đồn Đại lý Pháp. Bọn cầm quyền còn phái Đề đốc Trần Tuệ giám sát con
đường dẫn tới mỏ vàng Bồng Miêu.
Từ nhiều năm nay, Tri phủ, Đề đốc Trần Tuệ, còn cấu kết với chánh phó tổng bảy tổng thả sức vơ vét của
cải, tài sản của nhân dân, đánh đập dân đi phu sửa đường, tróc nã dân thiếu thuế. Khi phong trào Duy Tân phát
triển tới Tam Kỳ được nhiều người hưởng ứng, như cắt tóc ngắn mặc áo ngắn, đều bị tri phủ tìm mọi cớ bắt
giam, hành hạ thành tàn phế.
Trần Tuệ là kẻ tàn bạo, hắn ưng ý ở nhà nào thì chủ nhà phải dọn đi nơi khác cho hắn chiếm đoạt, nếu chậm
trễ thì bị hắn đánh đập. Có hôm hắn vào nhà ông Nguyễn Kỳ ở xã Chiên Đà nghỉ trưa. Nghe tiếng trẻ con khóc,
hắn căng chủ nhà ra đánh rồi giải về giam ở phủ.
Dương Thạc, Dương Thương làm đơn kiện tri phủ cùng chánh phó tổng của bảy tổng tăng tiền thuế đinh,
thuế điền, ăn hối lộ, công khai cướp bóc của dân.
Vụ kiện chưa được bộ Hình và tỉnh đường Quảng Nam xét xử thì xảy ra cự sưu ở Đại Lộc và nhanh chóng
lan ra toàn tỉnh. Sẵn mối căm thù tri phủ và Đề đốc Trần Tuệ (còn gọi là Đề Sự) là những kẻ trực tiếp đàn áp,
bóc lột nhân dân Tam Kỳ, nên khi Dương Thạc, Dương Thưởng, ông Trùm Thuyết người làng Phước Lợi… kêu
gọi nhân dân kéo lên huyện biểu tình đòi giảm sưu thuế, bãi bỏ việc bắt dân đi xâu thì lập tức được mọi người
hưởng ứng, gia nhập đoàn biểu tình.
Khi thấy đoàn biểu tình bước đi rầm rập trên đường và hô vang các khẩu hiệu đòi giảm sưu, bãi bỏ đi xâu,
Trần Tuệ vội vàng chạy vào núp trong phủ Tam Kỳ.
Nhân dân kéo tới bao vây phủ, yêu cầu tri phủ và đề đốc ra cho dân chất vấn. Hai viên quan phụ mẫu sợ hãi
không dám ló mặt ra. Tòa Đại lý Pháp cách phủ đường 2 cây số, biết dân căm hờn Đề đốc Trần Tuệ liền cho
lính đem xe tới đón Tuệ. Khi xe của Đại lý ra khỏi cổng, nhân dân ập đến bao vây chặt. Ông Trùm Phước kêu

1

Kỳ.

. Sách "Huỳnh Thúc Kháng con người và thơ văn" của Nguyễn Quyết Thắng viết quê ông ở làng Trường An, phủ Tam


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×