Tải bản đầy đủ

BÀI TIỂU LUẬN 2019 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ sử DỤNG đất

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

BÀI TIỂU LUẬN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT
Ở PHƯỜNG ......., ......., TỈNH .......

Môn : Kinh tế đất


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

LỜI CÁM ƠN:
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự
hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Với
lòng biết ơn sâu sắc nhất, chúng em xin gửi đến quý Thầy Cô đã cùng với tri
thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em
trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt, trong học kỳ này, Khoa đã tổ
chức cho chúng em được tiếp cận với môn học mà theo chúng em là rất hữu ích
đối với sinh viên chuyên ngành cũng như tất cả các sinh viên. Đó là môn học
“Kinh tế Đất ”.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy đã tận tâm hướng dẫn chúng em qua từng

buổi học trên lớp cũng như những buổi hướng dẫn làm báo cáo tiểu luận Đánh
giá hiệu quả sử dụng đất. Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của Thầy
thì em nghĩ bài thu hoạch này của em rất khó có thể hoàn thiện được. Một lần
nữa, em xin chân thành cảm ơn Thầy.
Bài báo cáo được thực hiện trong khoảng thời gian gần 3 tuần. Bước đầu đi
vào thực tế, tìm hiểu về lĩnh vực sáng tạo trong nghiên cứu khoa học, kiến thức
của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ. Do vậy, không tránh khỏi những thiếu
sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu
của quý Thầy và các bạn học cùng lớp để kiến thức của chúng em trong lĩnh vực
này được hoàn thiện hơn.


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

TÊN THÀNH VIÊN NHÓM:


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

MỤC LỤC

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng
cho con người. Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế
xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà cón là tư liệu sản xuất không thể
thay thế đươc, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp. Đất là cơ sở của sản
xuất nông nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất
nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực thực
phẩm nuôi sống con người. Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở
thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai
cho hiện tại và cho tương lai.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng
về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con
người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày
càng tăng đó. Vậy là đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích
nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý
thức của con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về
diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong
khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế. Do vậy, việc đánh giá hiệu quả


sử dụng đất sản suất nông nghiệp từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất có
hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang
trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế
giới quan tâm. Đối với một nước có nền nông nghiệp chủ yếu như Việt Nam,


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp càng trở nên
cần thiết hơn bao giờ hết.
....... là phường nằm ở phía Tây ....... với tổng diện tích tự nhiên là 248.6 ha.
Là một Phường kinh tế nông nghiệp giữ vị trí quan trọng, chiếm gần 1/3 tổng
sản lượng lúa của ........ Vì vậy việc định hướng cho người dân trong huyện khai
thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp là một trong những
vấn đề hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Để giải quyết vấn đề
này thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm đề xuất hướng sử
dụng đất và loại hình sử dụng đất thích hợp là việc rất quan trọng.
Vậy nên được sự hướng dẫn của Thầy giáo nhóm chúng em thực hiện đề
tài:
“Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phường ....... , .......”. Nghiên
cứu đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá mức độ của các loại
hình sử dụng đất để tổ chức hợp lý có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững
làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển sản
xuất nông nghiệp.
2. Mục đích, mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu:
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp , từ đó đề xuất các
giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại phường .......,
TP Huế, TỈNH ........
2.2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất sản xuất nông
nghiệp ở phường ........
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn
phường ........
- Đề xuất các loại hình sử dụng đất và các giải pháp cụ thể ở địa phương
góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
2.3 Yêu cầu nghiên cứu:
- Nắm rõ được điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hôi xã phường ....... , .......,
TỈNH ........


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Đánh giá đúng, khách quan, khoa học và phù hợp với tình hình thực tiễn
ở địa phương.
- Phải thu thập số liệu một cách chính xác và tin cậy.
- Các giải pháp đề xuất phải khoa học và có tính khả thi.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn :
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả góp phần cung cấp cơ sở để đánh giá về thực trạng và hiệu quả
các loại hình sử dụng sản xuất nông nghiệp.
- Kết quả cung cấp thông tin về hiện trạng hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp hiện nay
3.2. Ý nghĩa thực tiễn :
- Tạo bước đệm để sinh viên có kiến thức và kĩ năng trong việc đi thực tế
tại địa phương và làm một bài báo cáo khoa học.
- Tạo ra một tài liệu để mọi người tham khảo nếu có nhu cầu cần đến.
4. Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu
4.1.Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
4.1.1 Cơ sở lý luận
 Khái niệm về đất đai
Luật đất đai hiện hành đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của
môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Như vậy đất đai là điêu kiện
chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Nói cách
khác, không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại của chính
con người.
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận như một
nhân tố sinh thái (FAO, 1976). Trên quan điểm nhìn nhận của FAO thì đất đai
bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh
hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Như vậy, đất được
hiểu như một tổng thể của nhiều yếu tố bao gồm: (khí hậu, địa mạo/địa hình, đất,


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật tự nhiên, những biến đổi
của đất do hoạt động của con người).
“Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu
thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt như: khí hậu, bề mặt,
thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước
ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư
của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại
(san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá,...)”.
Như vậy đất đai là một khoảng không gian có giới hạn theo chiều thẳng
đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật,
nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều
ngang trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng
nhiều thành phân khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt
động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người.
 Đặc tính của đất đai
• Đặc điểm tạo thành: Đất đai là một vật thể tự nhiên mang tính lịch sử
Đất đai là một sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện và tồn tại ngoài ý chí và
nhận thức của con người. Song song với quá trình hình thành loài người thì đất
đai vẫn tuân thủ các quy luật mà con người không thể can thiệp được.
Đất đai gắn liền với con người từ buổi sơ khia do quá trình con người sử
dụng sức lao động của mình tác động vào đất nhằm thu lại sản phẩm.Và chính
trong quá trình này con người đã chuyển tải giá trị sức lao động của mình và làm
cho đất tham gia vào các mối quan hệ xã hội. Do vậy lúc này đất đai từ một vật
thể tự nhiên đã chuyển thành vật thể lịch sử. Tính tự nhiên và tính lịch sử luôn
tồn tại bên nhau, vì đất là sản phẩm của tự nhiên nhưng lại luôn được tái tạo bởi
sức lao động và tham gia vào các mối quan hệ xã hội.


Độ phì nhiêu của đất: Đây là đặc tính quan trọng làm cho đất khác hẳn

với các tư liệu sản xuất khác. Độ phì là khả năng của đất có thể cung cấp cho


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

cây trồng thức ăn, nước và các điều kiện khác cần thiết cho sự sinh trưởng và
phát triển của cây trồng.
Độ phì của đất có hai loại đó là độ phì tự nhiên và độ phì nhân tạo.
× Độ phì tự nhiên là kết quả của quá trình hình thành đất lâu dài àm có. Độ
phì tự nhiên đặc trưng bở các tính chất hóa học , lý học và sinh học trong đất, nó
liên quan với các điều kiện khí hậu. Độ phì tự nhiên là cơ sở của độ phì kinh tế
nhưng nó chưa phải là chất lượng thực tế của đất vì trong đất có thể có rất nhiều
chất dinh dưỡng nhưng do nhiều nguyên nhân ví dụ như thiếu hoặc thừa độ ẩm,
nhiệt độ,…mà dạng dinh dưỡng này tồn tại hấp thụ hoặc khó hấp thụ được đối
với cây trồng.
× Độ phì kinh tế: là độ phì mà con người có thể khai thác sử dụng được ở
một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất bằng cách sử dụng các
phương thức canh tác khác nhau.
Trong quá trình sản xuất, nhằm tăng hiệu quả kinh tế con người luôn tìm
cách tác động lên các tính chất lý học, hoá học, sinh học của để độ phì tự nhiên
chuyển từ độ phì tiềm tàng sang độ phì thực tế.
• Tính

giới hạn về số lượng: Cùng với sự phát triển của sức sản xuất, các tư

liệu sản xuất khác không ngừng được tăng lên về số lượng riêng đất chỉ có số
lượng giới hạn trong phạm vi ranh giới lục địa.


Tính cố định về vị trí: Đất là tư liệu sản xuất có vị trí không thể thay đổi

trong không gian. Đây là một tính chất rất đặc thù của đất, làm cho những mảnh
đất ờ những vị trí khác nhau có giá trị không giống nhau.


Tính không thể thay thế: Trong quá trình sản xuất, người ta có thể thay thế

tư liệu sản xuất này bằng tư liệu sản xuất khác, nhưng đất là tư liệu sản xuât
không thể thay thế đặc biệt trong nông lâm nghiệp.


Đất có khả năng tăng tính sản xuất: Trong quá trình sản xuất, mọi tư liệu

sản xuất khác đều bị hao mòn, hư hỏng và dần dần bị đào thải để thay thế vào đó
là một tư liệu sản xuất khác tốt hơn. Riêng đất, nếu xét về mặt không gian thì đất
là tư liệu vĩnh cửu không chịu sự phá huỷ của thời gian. Nếu sử dụng đất hợp lý


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

thì độ phì nhiêu của đất được tăng lên.
Như vậy đất đai là tư liệu sản xuất cực kì quan trọng đối với con người.


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Vai trò của đất đai trong các ngành sản xuất
• Đối với ngành phi nông nghiệp: đất đai giữ vai trò thụ động với chức
năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng
dự trữ trong lòng đất. Đối với ngành này, quá trình sản xuất và sản phẩm được
tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất cũng như chất lượng
thảm thực vật và tính chất tự nhiên sẵn có trong đất.
• Đối với ngành nông – lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá
trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng
lao động ( luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo...)
và công cụ hay là phương tiện lao động ( sử dụng để trồng trọt hay chăn nuôi...).
Quá trình sản xuất nông lâm nghiệp luôn quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và
quá trình sinh học của đất.
• Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế - xã hội, khi mức sống con người
còn thấp, công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào sản xuất vật chất đặc
biệt trong sản xuất nông nghiệp. Thời kỳ cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao
công năng của đất đai từng bước mở rộng, sử dụng đất đai cũng phức tạp hơn
vừa là căn cứ của khu vực 1, vừa là không gian và địa bàn của khu vực 2. Điều
này có nghĩa, đất đai đã cung cấp cho con người tư liệu vật chất để sinh tồn và
phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đáp ứng nhu
cầu cho cuộc sống của nhân loại. Mục đích sử dụng đất nêu trên được biểu lộ
càng rõ nét trong các khu vực kinh tế phát triển.
Kinh tế - xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho
mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của
con người trong quá trình sử dụng đất ( có ý thức hoặc vô ý thức ) dẫn đến hủy
hoại môi trường đất, một số công năng nào đó của đất bị yếu đi, vấn đề sử dụng
đất đai càng trở nên quan trọng và manh tính toàn cầu. Với sự phát triên không
ngừng của sức sản xuất, công năng của đất đai cần được nâng cao theo hướng đa
dạng nhiều tầng nấc, để truyền lại lâu đời cho các thế hệ sau.

10


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng,…một mặt bị sự chi
phối bởi các điều kiện và các quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế
bởi các điều kiện quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy, có thể
khái quát những điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất theo 3 nội
dung sau:
× Nhân tố điều kiện tự nhiên:
Khi sử dụng đất đai ngoài bề mặt không gian (như diện tích trồng trọt, mặt
bằng xây dựng...), cần chú ý tới việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật
sinh thái tự nhiên cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất (như nhiệt độ, ánh
sáng, lượng mưa, không khí và các khoáng sản trong lòng đất). Trong điều kiện
tự nhiên, khí hậu là yếu tố hạn chế hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là
điều kiện đất đai ( chủ yếu địa hình, thổ nhưỡng ) và các yếu tố khác. Đặc thù
của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực. Vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt
về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ
quyết định đến khả năng, công năng và hiệu quả sử dụng đất đai. Vì vậy trong
thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm
đạt hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường, kinh tế. Trình trạng hiện nay là
nhiều địa phương sử dụng đất chưa họp lý, đặc biệt trong công cuộc đổi mới một
số địa phương đã sử dụng đất nông nghiệp để phát triển, mở rộng các khu công
nghiệp, khu kinh tế, xây dựng và phát triển đô thị một cách tràn lan thiếu tính
toán, nhiều nơi dành đất rỗi để trống không sử dụng, gây lãng phí đất canh tác,
phá hoại môi trường.
× Nhân tố kinh tế xã hội:
Bao gồm các yếu tố như xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý
chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất
và trình độ phát triển kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các
điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, sự
phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện
11


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học
vào sản xuất,…Điều kiện kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo
với việc sử dụng đất đai. Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết định
bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Điều
kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng vê phương thức
sử dụng đất. Còn sử dụng đất như thế nào, được quyết định bởi sự năng động
của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có; quyết định bởi
tính hợp lý, tính khả thi về kinh tế kỹ thuật và mức độ đáp ứng của
chúng...Quyết định bởi nhu cầu thị trường.
× Nhân tố không gian:
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất và chi phí vật chất ( như các
ngành nông nghiệp, công nghiệp, khai khoáng, xây dựng, mọi hoạt động kinh tế
và hoạt động xã hội) đều cần đến đất đai như điều kiện không gian để hoạt động.
Không gian bao gồm cả vị trí và mặt bằng. Đặc tính cung cấp không gian của
đất là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho xã hội loài người. Vì vậy,
không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử
dụng đất. Không gian mà đất đai cung cấp có đặc tính vĩnh cửu, cố định vị trí
khi sử dụng và số lượng không thể vượt phạm vi hiện có. Do vị trí và không
gian của đất đai không bị mất đi và cũng không tăng thêm trong quá trình sử
dụng, nên phần nào đã giới hạn tải nhân khẩu và số lượng người lao động, có
nghĩa tác dụng hạn chế của không gian đất đai sẽ thường xuyên xảy ra khi dân
số và khi kinh tế xã hội luôn phát triển.
Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Dân số tăng nhanh diện tích đất nông nghiệp giảm dần, hiệu quả sản xuất
trên một đơn vị diện tích đất trở nên rất quan trọng.
Điều tra, nghiên cứu để nắm vững số lượng và chất lượng, bao gồm: Điều
tra lập bản đô đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá và phân hạng đất
đai và quy hoạch sử dụng đất...

12


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Xây dựng quy định về sử dụng và quản lý đất đai sao cho đất đai có thể
được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sản xuất của nó trong tương lai.
4.1.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
- Cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn xã hội: Thực tế cho thấy rằng
xã hội càng phát triển thì yêu cầu về dinh dưỡng do lương thực và thực phẩm
(đặc biệt là thực phẩm) ngày càng tăng nhanh. Một đặc điểm quan trọng của
hàng hóa lương thực, thực phẩm là không thể thay thế bằng bất kỳ một loại hàng
hóa nào khác. Những hàng hóa này dù cho trình độ khoa học - công nghệ phát
triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thê thay thế được. Lương thực,
thực phẩm là yếu tố đầu tiên có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con
người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Những hàng hóa có chứa chất
dinh dưỡng nuôi sống con người này chỉ có thể có được thông qua hoạt động
sống của cây trồng và vật nuôi hay nói cách khác là thông qua quá trình sản xuất
nông nghiệp.
- Quyết định an ninh lương thực quốc gia, góp phần thúc đẩy sản xuất
công nghiệp, các ngành kinh tế khác và phát triển đô thị:
• Nông nghiệp cung cấp các nguyên liệu cho công nghiệp, đặc biệt là công
nghiệp chế biến.
• Nông nghiệp là khu vực dự trữ và cung cấp nguồn lao động dồi dào cho
phát triển công nghiệp, các ngành kinh tế khác và đô thị.
• Nông nghiệp nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn cho hàng hóa
công nghiệp và các ngành kinh tế khác.
- Nguồn thu ngân sách quan trọng cho nhà nước: Nông nghiệp là ngành
kinh tế sản xuất có quy mô lớn nhất nước ta. Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng và
thu nhập quốc dân trong khoảng 25% tổng thu ngân sách trong nước. Việc huy
động một phần thu nhập từ nông nghiệp được thực hiện dưới nhiều hình thức:
Thuế nông nghiệp, các loại thuế kinh doanh khác,... Bên cạnh nguồn thu ngân
sách cho nhà nước việc xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp làm tăng nguồn thu
ngoại tệ góp phần thiết lập cán cân thương mại đồng thời cung cấp vốn ban đầu
cho sự phát triển của công nghiệp.

13


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

-

Hoạt động sinh kế chủ yếu của đại bộ phận dân nghèo nông thôn: Nước

ta với hơn 70% dân cư tập trung ở nông thôn họ sống chủ yếu dựa vào sản xuất
nông nghiệp, với hình thức sản xuất tự cung tự cấp đáp ứng như cầu cấp thiết
hàng ngày.
-

Tái tạo tự nhiên: Nông nghiệp còn có tác dụng bảo vệ tài nguyên thiên

nhiên va môi trường. Trong các ngành sản xuất chỉ có nông nghiệp mới có khả
năng tái tạo tự nhiên cao nhất mà các ngành khác không có được. Tuy nhiên
nông nghiệp lạc hậu và phát triển không có kế hoạch cũng dẫn đến đất rừng bị
thu hẹp, độ phì đất đai giảm sút, các yếu tố khí hậu thay đổi bất lợi. Mặc khác sự
phát triên đến chóng mặt của thành thị, của công nghiệp làm cho nguồn nước và
bầu không khi bị ô nhiễm trầm trọng. Đứng trước thảm họa này đòi hỏi phải có
sự cố gắng của cộng đồng quốc tế nhằm đẩy lùi thảm họa đó bằng nhiều phương
pháp, trong đó nông nghiệp giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong việc thiết lập
lại cân bằng sinh thái động thực vật. Vì thế phát triển công nghiệp phải trên cơ
sở phát triên nông nghiệp bền vững.
4.1.3 Cơ sở thực tiễn
 Khái quát tình hình sản xuất nông nghiêp ở Việt Nam
Việt Nam với diện tích đất tự nhiên là 33.123.077 ha, trong đó đất nông
nghiệp theo thống kê năm 2014 là 27.302.206 ha, chiếm 82.43% tổng diện tích
đất tự nhiên cả nước. Hiện nay do sự phát triển của xã hội và vấn đề đô thị hóa
nên diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, bình quân mỗi năm từ 800
ha đến 1.000 ha và nếu không có biện pháp quản lý một cách thích hợp thì
chẳng bao lâu nữa đất nông nghiệp sẽ chẳng còn bao nhiêu.
Hiện nay cả nước có khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nằm
trong các vùng kinh tế trọng điểm là những khu vực đất đai màu mỡ sản xuất 2
vụ lúa/năm. Nếu tính bình quân đầu người, đất canh tác ở nước ta vào mức thấp
nhất thế giới 0,12 %. Trong khi đó mỗi năm lại bị mất hàng chục ngàn héc ta đất
nông nghiệp. Quá trình đô thị hóa luôn đi liền với việc thu hồi đất giải phóng
mặt bằng để xây dựng nhà ở và các công trình dịch vụ. Cả nước đã thu hồi hơn
14


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

30.000 ha đất nông nghiệp để xây dựng các khu đô thị mới khu dân cư nông
thôn. Một trong những vấn đề được quan tâm nhất hiện nay chính là việc nhiều
địa phương đã thu hồi đất nông nghiệp không đúng so với chỉ tiêu được giao.
Đáng nói là đất nông nghiệp hiện nay còn rất manh mún với 70 triệu thửa. Sự
manh mún trầm trọng hơn do hình thành các khu công nghiệp khu chế xuất, sân
gôn... trên các cánh đồng, đã, đang và sẽ phá vỡ hệ thống thủy lợi và gây ô
nhiễm nặng tại các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Đồng thời nhiều diện
tích đất lúa gần các các khu công nghiệp, khu chế xuất bị ảnh hưởng trực tiếp từ
nước thải, khói bụi, ánh sáng khiến sâu bệnh gia tăng, năng suất giảm 15- 30%.
Theo tính toán, mỗi héc ta dành cho xây dựng các khu công nghiệp hoặc sân gôn
thường kéo theo khoảng 1 - 2 héc ta đất liền kề không sử dụng được do ô nhiễm.
Trung bình mỗi năm, người nông dân Việt Nam phải nhường 74 ngàn ha đất
nông nghiệp để xây dựng các công trình nhà ở, đô thị và khu công nghiệp.
Tốc độ mất đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa và biến đổi khí hậu
hiện nay là 1%. Với đà này, đến năm 2020 sản lượng lúa của Việt Nam chỉ còn
đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong nước, chứ không có khả năng xuất khẩu. Điều
đáng lo ngại hiện nay là không ít người nghĩ rằng càng làm lúa càng nghèo.
Điều này xuất phát từ thực tế hiện cả nước có 71% dân số làm nông nghiệp
nhưng số hộ nghèo chiếm tới 23,4%, trong khi bộ phận người phi nông nghiệp
chỉ có 5% hộ nghèo.
Một trong những vấn đề đảm bảo an ninh lương thực trong nước là chúng
ta phải nghĩ đến quy hoạch đất cho sản xuất nông nghiệp trước khi nghĩ đến đất
cho khu công nghiệp và đô thị. Đã đến lúc, việc quy hoạch chuyển đổi cơ cấu
sản xuất nông nghiệp và các ngành hàng để hình thành các vùng sản xuất nông
sản hàng hóa tập trung và thực hiện tích tụ đất nông nghiệp; thực hiện việc dồn
điền đổi thửa, cần có các cơ chế chính sách để tạo cơ sở pháp lý thực hiện hiệu
quả và bền vững. Có như vậy việc khai thác sử dụng, bảo vệ và giữ gìn tài
nguyên đất nông nghiệp mới bền vững lâu dài. Đồng thời các cấp, các ngành cân
tăng cường quản lý chặt chẽ quỹ đất nông nghiệp; để bảo đảm tài nguyên đât
15


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

nông nghiệp được sử dụng hợp lý, hiệu quả đúng pháp luật, đặc biệt là đối với
đất canh tác lúa.
 Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Thừa Thiên Huế
Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh là 503.320,53 ha với diện tích đất
nông nghiệp là 382.814,37 ha, chiếm 76,06 % diện tích đất tự nhiên của tỉnh.
Trong đó: Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 59.8285 ha, đất thủy sản là
5.895,4 ha, đất lâm nghiệp là lớn nhất 317.333,87 ha. Hiện nay vấn đề sử dụng
tài nguyên đất đai của tỉnh còn nhiều bất cập, đặc biệt là đối với đất nông
nghiệp, gây ảnh hưởng lớn đến mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và chất lượng
cuộc sống của người dân nông thôn.
Trong những năm trở lại đây, quỹ đất nông nghiệp của tỉnh đang dần bị thu
hẹp. Hàng ngàn ha đất nông nghiệp được thu hồi để nhường cho việc xây dựng
các nhà máy, các khu công nghiệp... như dùng vào xây dựng khu công nghiệp ở
Phong Điền, xây dựng hồ Tả Trạch ở Hương Thuỷ... ở thành phố, thị xã và các
huyện đã và đang xây dựng các khu công nghiệp vừa và nhỏ. Những cánh đồng
lúa rộng lớn, đất đai phì nhiêu, màu mỡ chỉ sau vài năm đã bị lấp kín bởi nhiều
công ty, nhà máy, khiến nhiều nơi không còn đất để cấy trồng.
Bên cạnh đó, do điều kiện khí hậu khắc nghiệt, trình độ canh tác của bà con
còn nhiều hạn chế làm cho đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị suy thoái
nhiều nơi không còn có khả năng canh tác. Từ đó ảnh hường lớn đến đời sống
của người dân.
4.2 Quan điểm về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Quan điểm về sử dụng đất bền vững
Theo FAO, nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý hiệu quả tài nguyên
cho nông nghiệp (đất đai, lao động...) để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của con
người đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên, môi trường và bảo
vệ tài nguyên. Hệ thống nông nghiệp bền vững phải có hiệu quả kinh tế, đáp ứng
nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đông thời giữ gìn và cải thiện môi trường
tài nguyên cho đời sau.
16


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Bền vững thường có 3 thành phần sau:
• Bền vững về an ninh lương thực trong thời gian dài trên cơ sở hệ thống
nông nghiệp phù hợp điều kiện sinh thái và không tổn hại môi trường.
• Bền vững về tổ chức quản lý, hệ thống nông nghiệp phù hợp trong mối
quan hệ con người hiện tại và cả cho đời sau.
• Bền vững thể hiện ở tính cộng đồng trong hệ thống nông nghiệp hợp lý.
- Mục tiêu và quan điểm sử dụng đất bền vững:
• An toàn lương thực, thực phẩm.
• Tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu theo
yêu cầu của thị trường.
• Phát triền môi trường bền vững: Ngày nay hiệu quả kinh tế cao cần được
xem xét kỳ lưỡng trước áp lực xã hội đòi hỏi trừ khử căn nguyên làm băng hại
sức khỏe loài người. Từ đó thấy rằng tính bền vững của sử dụng đất phải được
xem xét đồng bộ trên cà ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường.
- Việc quản lý và sử dụng đất bền vững bao gồm tổ hợp công nghệ, chính
sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế - xã hội với các quan tâm
về môi trường để đồng thời:
• Duy trì hoặc nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất).
• Giảm rủi ro sản xuất (an toàn).
• Có hiệu quả lâu bền (lâu bền).
• Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận).
Quan hệ giữa tính bền vững và tính thích hợp: Tính bền vững có thể coi là
tính hợp được duy trì lâu dài với thời gian.
- Nguyên tắc đánh giá bền vững:
× Tính bền vững được đánh giá cho một kiểu sử dụng đất nhất định.
× Đánh giá cho một đơn vị lập địa cụ thể.
× Đánh giá là một hoạt động liên ngành.
× Đánh giá cả 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường.
4.2. Vấn đề về hiệu quả và các chỉ tiêu tính hiệu quả sử dụng đất
Khái quát về hiệu quả sử dụng đất
Bản chất của hiệu quả là sự thể hiện yêu cầu tiết kiệm thời gian, trình độ sử
dụng nguồn lực xã hội. Các Mác cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật
có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Mọi hoạt
động cùa con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết định động lực phát triển

17


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

cùa lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời
sống con người qua mọi thời đại.
-

Hiệu quả kinh tế:

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt
được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần
giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần được xem xét cả về
phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ
giữa hai đại lượng đó.
Kinh tế sử dụng đất: Với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một
khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với lượng đầu tư chi phí về vật chất và
lao động nhầm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất cùa xã hội.
Hiệu quả kinh tế là mục tiêu chính cùa các nông hộ sản xuất nông nghiệp.
-

Hiệu quả xã hội

Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yêu được xác định
bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp, thu nhập
bình quân trên đầu người và bình quân diện tích trên đầu người.
-

Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hóa học,
sinh học, vật lý,... Chịu ảnh hường tổng hợp của các yếu tố môi trường của các
loại vật chất trong môi trường. Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây
nên gồm: Hiệu quả hóa học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường, hiệu quả
sinh vật môi trường.
× Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh
thái do phát sinh biến hóa của các loại yếu tố môi trường dẫn đến.
× Hiệu quả hóa học môi trường trường là hiệu quả môi trường do các
phản ứng hóa học gữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn
đến.
× Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác dộng vật lý
dẫn đến.
18


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá
- Chỉ tiêu hiệu quả về mặt kinh tế, bao gồm các chỉ tiêu sau:
× Chi phí sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
× Chi phí trung gian (IC): là khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng
tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng
trong quá trình sản xuất.
× Giá trị gia tăng (VA): là hiệu số giữa giá trị sản xuất (GO) và chi phí
trung gian (IC), là giá trị sản xuất xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất
đó: VA = GO – IC
× Hiệu quả chi phí tính trên một đồng chi phí trung gian: GO/IC; VA/IC
× Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi: GO/LĐ;
VA/LĐ
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị) bằng tiền theo thời
giá hiện hành và định tính (phân cấp) được tính bằng mức độ cao thấp.
Các chỉ tiêu đạt mức ngày càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn. Tập quán
canh tác cũng ảnh hường đến việc lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn
chủng loại cây trồng và sử dụng đầu vào nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế.
Trong trồng trọt, mỗi loại cây trồng đều có một phương thức canh tác khác nhau,
đòi hỏi cần phải nắm vững được yêu cầu các biện pháp kỹ thuật để canh tác thì
mới có hiệu quae, đồng thời loại bỏ những phương thức tập quán canh tác lạc
hậu gây tác hại cho đất, mang lại hiệu quả kinh tế thấp.
× Vốn đầu tư: Vốn đầu tư vào sản xuất, bồi dưỡng, cải tạo đất đối với một
người dân vẫn còn phải đối mặt với việc thiếu vốn để mua sắm các tư liệu sản
xuất, mua phân bón đầu tư cho cây trồng trong khi giá phân bón trong những
năm gần đây lại có xu hướng tăng cao. Từ đó, dẫn đến năng suất cây trồng
không cao trong khi độ phì nhiêu của đất ngày càng giảm,…
× Nhân tố thị trường: Thị trường là một nhân tố vô cùng quan trọng của
mọi ngành sản xuất kinh doanh. Hiện nay, cả thị trường đầu vào và đầu ra của
sản xuất nông nghiệp ngày càng được mở rộng và có tác động to lớn đến phát
triển sản xuất. Tuy nhiên, phần lớn vẫn còn mang tính tự phát, thiếu định hướng,

19


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

ngẫu nhiên và thiếu sự vận hành đồng bộ. Điều này đã gây không ít trở ngại, bất
lợi cho nông dân và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nông sản.
× Nhân tố không gian: Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất và phi
vật chất đều cần đến đất đai như điều kiện không gian để hoạt động, vì vậy
không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc sử
dụng đất. Do vị trí và không gian của đất đai không bị mất đi và cũng không
tăng thêm trong quá trình sử dụng không chỉ hạn chế khả năng mở rộng không
gian sử dụng đất mà còn chi phối giới hạn thay đổi của cơ cấu đất đai. Vì vậy,
cần phải thực hiện nghiêm nghặt nguyên tắc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, có
hiệu quả kết hợp bảo vê tài nguyên đất và môi trường.

PHẦN 2. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG
NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.
2.
-

Đối tượng nghiên cứu:
Các hộ dân làm nông nghiệp ở địa bàn Phường ......., .......
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Phường
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung : Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp ở các

nông hộ tại Phường .......
- Phạm vi không gian: Khu vực thuộc Phường ....... – .......
- Cụ thể : Diện tích sản xuất Nông nghiệp ở Phường
- Phạm vi thời gian : Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp từ năm
2015-2017
3. Nội dung nghiên cứu :
- Tình hình sản xuất nông nghiệp tại địa bàn

20


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

-

Hiệu quả kinh tế sử dụng đất Nông nghiệp ở Phường ....... giai đoạn

2015-2017
- Khuynh hướng chuyển đổi cây trồng khác
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao thu
nhập cho nông hộ.
4. Phương pháp nghiên cứu :
-Phương pháp điều tra khảo sát, thu thập
Đây là phương pháp dung để thu thập số liệu, thông tin qua các báo cáo
thống kê của các ban phòng, ban ngành để phục vụ cho quá trình thực hiện đề
tài.
-Phương pháp phân tích và xử lý số
Đây là phương pháp phâ tích xử lý các số liệu thô đã thu thập được để thiết
lập các bảng biểu để so sánh được sự biến động, hiệu quả sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp và tìm được nguyên nhân của nó.
-Phương pháp điều tra, phỏng vấn hộ nông dân
Đây là phương pháo tiến hành bằng cách sử dụng bảng câu hỏi để điều tra
ngẫu nhiên một số hộ nông dân nhằm đảm bảo tính thực tế, khách quan cũng
như chính xác của số liệu thu thập được.
-Phương pháp kế thừa
Đây là phương pháo mà trong quá trình thực hiệ nghiên cứu đề tài kế thừa
các phương pháp, các số liệu có sẵn để làm tài liệu tham khảo và nghiên cứu
nhằm phục vụ cho đề tài.
-Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
Tham khảo các ý kiến cùa cán bộ địa chính, cán bộ phòng tài nguyên, cán
bộ phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn và các chủ hộ sản xuất,...Để đưa
ra các định hướng sử dụng đất cùng như giải quyết các vấn đề còn tồn tại trong
quá trình sử dụng đất ở địa phương.
 Tiếp cận thực tế địa phương đến UBND Phường ......., Hợp tác
xã .......,...

21


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

 Điều tra số liệu thông qua mẫu hỏi : Tiến hành điều tra 30 mẫu hỏi tại
tổ 1,2,3,4,5,6,7,13,16 để thu thập các thông tin liên quan đến việc phát triển
nông nghiệp như diện tích đất sản xuất, các loại cây trồng chính, chi phí lợi
nhuận, thị trường tiêu thụ sản phẩm ,...
 Tới cơ quan để thực tế và xin số liệu thứ cấp
 Xử lý các số liệu đã thu thập và điều tra
 Phỏng vấn trực tiếp cán bộ và nông hộ để biết được những thuận lợi
khó khăn trong quá trình sản xuất để đưa ra các giải pháp nâng cao năng suất,
sản lượng.

22


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

PHẦN 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1. Khái quát khu vực nghiên cứu
Phường ....... là một phường nằm ở phía Tây ......., bên bờ của Bắc Sông
Hương. Trước đây là thủ phủ của các Chúa Nguyễn Đàng Trong. Nguyên trước
đây là xã Xuân Long, được tách ra từ xã Hương Long, huyện Hương Trà. Đến
năm 1983, được Hội đồng Bộ trưởng quyết định đổi tên từ xã Xuân Long thành
phường ....... theo Quyết định số 03-HĐBT, ngày 06 tháng 01 năm 1983.
Với tổng diện tích tự nhiên là 248,6 ha với tổng dân số: 15.332 nhân khẩu.
Toàn phường được chia làm 22 tổ dân phố với 7 khu vực dân cư.
Trên địa bàn phường có 03 cơ quan đơn vị của Tỉnh và Thành phố là Bệnh
viện tâm thần Tỉnh, Trường Trung cấp nghề Huế, Trung tâm y tế ........
Về cơ sở giáo dục: có 01 Trường Trung học cơ sở, 02 trường Tiểu học, 02
trường mầm non công lập, 02 trường mầm non tư thục.

23


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

1.1. Điều kiện tự nhiên –Tài nguyên thiên nhiên :
1.1.1 Vị trí địa lý
- Phía Bắc: Giáp phường An Hòa.
- Phía Đông: Giáp phường Phú Thuận.
- Phía Nam: Giáp Sông Hương - phường Phường Đúc.
- Phía Tây: Giáp phường Hương Long.
1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình của phường ....... tương đối bằng phẳng, độ nghiêng mắt đất phổ
biến từ 0,0005 đến 0,0001. Do nằm ở vị trí có nhiều sông chảy qua nên đất đai
màu mở, được bồi tụ phù sa hằng năm do những trận lũ lớn ở miền Trung.
1.1.3 Thổ nhưỡng
Toàn bộ đất đai của phường do phù sa sông của 3 con sông chảy qua địa
bàn là sông Hương, sông Vạn Xuân, sông Bạch Yến bồi đắp, nhìn chung đất đai
của Phường có màu nâu nhạt, thành phần cơ giới trung bình, đất thịt pha cát có
độ PH > 5.5 thành phần cơ giới thịt nặng và trung bình có PH<4.5-5.5.
1.1.4 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất:
Phường ....... có diện tích tự nhiên là 248,5 ha, chủ yếu là nhóm đất pha cát,
đây là nơi tập trung dân cư, các công trình văn hóa- xã hội, các nhà máy xí
nghiệp. Bên cạnh đó nhóm đất phù sa được bồi đắp hằng năm và nhóm đất biến
đổi do trồng lúa. Nhóm đất này phù hợp với sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là
các loại cây lúa, màu...
* Tài nguyên nước :
Nguồn nước mặt: Trên địa bàn phường ....... nguồn nuoức mặt chủ yếu là ở
các sông như Bạch Yến, sông Hương, sông Vạn Xuân, đây là nguồn cung cấp
nước chủ yếu cho địa bàn.
Nguồn nước ngầm: Tương đối dồi dào,ở độ sâu 20m với trữ lượng khoảng
6000-10000

/ ngày, chất lượng tốt có thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản

xuất cho người dân.
1.1.5 Khí hậu
Phường ....... năm trong vùng khí hậu miền Trung, có hai mùa rõ rệt. Khí
hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa.
- Chế độ nhiệt: Theo tài liệu đo đạc của khí tượng, nhiệt độ ở Huế thuộc
vùng tương đối cao, trung bình hằng năm từ 21độ C – 26 độ C
24


Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Độ ẩm: Độ ẩm tương đối khá lớn , giá trị trung bình khoảng 84-85%
- Chế độ mưa : Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/ năm. Mùa mưa
bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa cao nhất, chiếm
tới 30% lượng mưa cả năm.
1.2. Điều kiện Kinh tế - Xã hội :
1.2.1. Khu vực, Tổ dân phố
Có 7 khu vực dân cư với 22 tổ dân phố:
- Khu vực 1: gồm có các Tổ Dân phố sau: 1, 2, 3, 4.
- Khu vực 2: gồm có các Tổ Dân phố sau: 5, 6, 7.
- Khu vực 3: gồm có các Tổ Dân phố sau: 8, 9, 10.
- Khu vực 4: gồm có các Tổ Dân phố sau: 11, 12, 13.
- Khu vực 5: gồm có các Tổ Dân phố sau: 14,15, 16, 17.
- Khu vực 6: gồm có các Tổ Dân phố sau: 18, 19, 22.
- Khu vực 7: gồm có các Tổ Dân phố sau: 20, 21.
1.2.3. Cơ sở Tôn giáo
Phường có 07 cơ sở tôn giáo như sau:
- Niệm Phật Đường Vạn Phú
- Giáo xứ Xuân Long
- Đại Chủng Viện
- Đan viện Carmel
- Dòng Con Đức Mẹ Vô nhiễm
- Dòng Thánh Phao Lô
- Dòng Mến Thánh Giá
- Trung tâm nuôi dạy trẻ cô nhi, khuyết tật Sơn Ca.
1.2.4. Về kinh tế
Trước đây Phường ....... là một phường thuần nông, tuy nhiên với sự phát
triển của đô thị, Tỉnh và Thành phốđã thu hồi đất nông nghiệp để quy hoạch một
số khu dân cư, phát triển cơ sở hạ tầng đô thị tạo cho bộ mặt của phường ngày
càng được khang trang hơn.
Nông dân đang dần dần chuyển đổi mô hình sản xuất từ trồng khoai, sắn
sang trồng hoa và các nông sản khác theo nhu cầu của thị trường. Một số hộ tận
dụng nông nhàn chuyển sang phát triển các nghề làm bánh in, làm mức, nón lá
truyền thống của Huế. Đồng thời các cơ sở mộc mỹ nghệ, chạm điêu khắc đang
dần phát triển.
Hòa chung với sự phát triển của nền kinh tế thị trường các loại hình thương
mại, dịch vụ khác như: kinh doanh ăn uống, giải khát, dịch vụ du lịch, vật liệu
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×